Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao cho Công ty cổ phần thiết bị chuyên dùng Việt Nam phối hợp với các nhà khoa học của Trường Đại học Lâm nghiệp thực
Trang 1NGUYỄN VĂN TRUNG
NGHIÊN CỨU ĐỘNG LỰC HỌC ĐƯỜNG CÁP VẬN CHUYỂN TRÁI THANH LONG Ở VÙNG TÂY NAM BỘ
Trang 2NGUYỄN VĂN TRUNG
NGHIÊN CỨU ĐỘNG LỰC HỌC ĐƯỜNG CÁP VẬN CHUYỂN TRÁI THANH LONG Ở VÙNG TÂY NAM BỘ
Ngành: Kỹ thuật cơ khí
Mã số: 9.52.01.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS DƯƠNG VĂN TÀI
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Dương Văn Tài Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày16 tháng 06 năm 2021
Trang 4Trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án
Trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Lạc Hồng đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án này
Trân trọng cảm ơn Khoa Cơ điện và Công trình, Bộ môn Công nghệ và máy chuyên dùng Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn các nhà khoa học của Trường Đại học Lâm nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Học viện Kỹ thuật quân sự đã đóng góp ý kiếm quý báu để tôi hoàn thành luận án này
Trang 5MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG xi
DANH MỤC HÌNH xiii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của luận án 2
3 Những đóng góp mới của luận án 2
4 Ý nghĩa khoa học của những kết quả nghiên cứu của đề tài luận án 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài luận án 3
Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tình hình trồng và tiêu thụ thanh long ở Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình trồng thanh long ở Việt Nam 4
1.1.2 Tình hình tiêu thụ thanh long 4
1.2 Tổng quan về công nghệ và thiết bị thu hoạch thanh long ở Việt Nam 5
1.2.1 Công nghệ thu hoạch thanh long ở Việt Nam 5
1.2.2 Thực trạng về thiết bị thu hoạch thanh long ở Việt Nam 6
1.2.3 Những tồn tại trong thu hoạch và vận chuyển trái thanh long 9
1.3 Về tình hình nghiên cứu các thiết bị thu hoạch thanh long trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình nghiên cứu các thiết bị thu hoạch thanh long trên thế giới 10
1.3.2 Tình hình nghiên cứu thiết bị thu hái thanh long ở Việt Nam 11
1.4 Tổng quan về đường cáp sử dụng trong nông lâm nghiệp 11
1.4.1 Các kiểu đường cáp sử dụng trong lâm nghiệp [11] [15] 12
1.4.2 Cấu tạo chung và nguyên lý làm việc của đường cáp [1] 17
Trang 61.4.3 Một số loại đường cáp sử dụng trong nông nghiệp 20
1.5 Một số công trình nghiên cứu về đường cáp 22
1.6 Mục tiêu nghiên cứu 27
1.7 Nội dung nghiên cứu 27
1.7.1 Nội dung nghiên cứu lý thuyết 27
1.7.2 Nội dung nghiên cứu thực nghiệm 28
1.8 Đối tượng nghiên cứu 28
1.8.1 Vườn trồng thanh long 28
1.8.2 Đường cáp vận chuyển trái thanh long [21] 29
1.9 Phương pháp nghiên cứu 31
1.9.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 31
1.9.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 33
Kết luận chương 1 36
Chương 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÍNH TOÁN ĐỘNG LỰC HỌC CỦA ĐƯỜNG CÁP VẬN CHUYỂN TRÁI THANH LONG 37
2.1 Xây dựng mô hình tính toán cơ học đường dây cáp 37
2.2 Tính toán một số thông số cơ học của dây cáp tựa trên các gối đỡ có cùng độ cao, chịu tải phân bố đều 39
2.2.1 Tính toán một số thông số cơ học của dây cáp không chịu dãn, tải trọng phân bố đều 39
2.2.2 Tính toán một số thông số cơ học của dây cáp chịu dãn, trọng tải phân bố đều 42
2.2.3 Tính toán một số thông số cơ học của đường cáp không dãn, khép kín có nhiều nhịp đỡ có cùng cao độ, chịu tải phân bố đều có cường độ khác nhau trên các nhịp 45
2.3 Tính toán một số thông số cơ học của dây cáp không dãn, tựa trên các gối có cao độ lệch nhau, chịu tải phân bố đều 49
2.3.1 Tính toán một số thông số cơ học của dây cáp không dãn, tựa trên hai gối có cao độ lệch nhau, chịu tải phân bố đều 49
2.3.2 Tính toán một số thông số cơ học đường dây cáp khép kín tựa trên các gối có độ cao lệch nhau, chịu tải phân bố đều có cường độ khác nhau trên các nhịp 53
Trang 72.4 Mô hình động lực học của các giỏ đựng trái thanh long trong quá trình vận
chuyển trên ruộng khi thu hái 56
2.4.1 Phương trình vi phân chuyển động của giỏ đựng thanh long trong các nhịp khi cáp di chuyển có gia tốc và chịu tác động của lực gió theo mặt phẳng ngang 56
2.4.2 Phương trình vi phân chuyển động của giỏ đựng thanh long trong quá trình cáp chuyển hướng và chịu tác động của lực gió theo mặt phẳng ngang 63
2.5 Giải hệ phương trình vi phân dao động của giỏ đựng trái thanh long 65
2.5.1 Thuật toán giải gần đúng hệ phương trình dao động của giỏ đựng thanh long khi di chuyển trên đường cáp 65
2.5.2 Thuật toán giải gần đúng hệ phương trình dao động của giỏ đựng thanh long khi chuyển hướng chuyển động 67
2.6 Tính toán công suất tiêu thụ khi vận hành đường cáp 67
2.6.1 Công suất tiêu thụ cho việc di chuyển các giỏ đựng thanh long 67
2.6.2 Công suất tiêu thụ thắng lực cản ma sát 69
2.6.3 Công suất tiêu thụ cho toàn hệ thống cáp khép kín 69
Kết luận chương 2 70
Chương 3 : KHẢO SÁT MỘT SỐ THÔNG SỐ ĐỘNG LỰC HỌC CỦA ĐƯỜNG CÁP VẬN CHUYỂN TRÁI THANH LONG 71
3.1 Khảo sát phương trình độ võng dây cáp 71
3.1.1 Cho trước , f , q tính L 71
3.1.2 Cho trước f , H, q tính L , 72
3.1.3 Cho trước L , , q tính f , H 73
3.1.4 Áp dụng thuật toán chia đôi liên tiếp tìm nghiệm gần đúng độ võng đường cáp W(u)=0 74
3.2 Khảo sát độ dãn dài của nhịp dây khi chịu tải phân bố đều 75
3.3 Khảo sát một số thông số động lực học đường cáp khép kín có các gối đỡ có cùng cao độ 77
3.4 Khảo sát giá trị u trong phương trình độ võng dây tựa trên hai gối có độ cao chênh nhau 78
3.5 Khảo sát độ võng của đường cáp hai trụ đỡ có độ cao chênh nhau 84
Trang 83.6 Khảo sát một số thông số động lực học đường cáp kép kín các giối đỡ có độ cao
chênh nhau 84
3.7 Khảo sát dao động của giỏ đựng trái thanh long 86
3.7.1 Khảo sát miền cộng hưởng của dao động giỏ đựng trái thanh long 87
3.7.2 Khảo sát biên độ dao động cực đại các giỏ đựng thanh long 93
3.7.3 Sự ảnh hưởng của lực căng ngang H đến biên độ cực đại của dao động giỏ đựng thanh long 94
3.7.4 Sự ảnh hưởng của độ dài nhịp cáp đến biên độ cực đại của dao động giỏ đựng thanh long 96
3.7.5 Sự ảnh hưởng của độ dài đoạn dây treo giỏ đựng thanh long r đến biên độ cực đại của dao động giỏ đựng thanh long 97
3.7.6 Khảo sát công thức tính công suất hệ thống 98
Kết luận chương 3 99
Chương 4 : NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 101
4.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu thực nghiệm 101
4.1.1 Mục tiêu nghiên cứu thực nghiệm 101
4.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm 101
4.1.3 Đối tượng nghiên cứu thực nghiệm 102
4.2 Chọn phương pháp nghiên cứu 102
4.2.1 Chọn phương pháp thực nghiệm 102
4.2.2 Chọn hàm mục tiêu nghiên cứu 102
4.2.3 Chọn tham số ảnh hưởng đến hàm mục tiêu 103
4.3 Phương pháp xác định các đại lượng nghiên cứu và thiết bị đo 104
4.3.1 Phương pháp xác định biên độ dao động của giỏ đựng trái thanh long 104
4.3.2 Xác định độ võng lớn nhất của đường cáp 106
4.3.3 Xác định lực căng ngang của đường cáp 106
4.3.4 Xác định vận tốc giỏ đựng trái thanh long và chiều dài nhịp 107
4.4 Thiết bị khuếch đại và chuyển đổi A/D 107
4.5 Phương pháp xử lý kết quả thí nghiệm 108
4.5.1 Xác định số lần thí nghiệm 108
Trang 94.5.2 Xác định mô hình toán học 109
4.5.3 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai 109
4.5.4 Kiểm tra giá trị có nghĩa của hệ số hồi quy 110
4.5.5 Kiểm tra tính tương thích của phương trình hồi quy 110
4.5.6 Kiểm tra khả năng làm việc của mô hình hồi quy 111
4.5.7 Chuyển phương trình hồi quy về dạng thực 111
4.6 Tổ chức tiến hành thí nghiệm 111
4.6.1 Tổ chức thí nghiệm 111
4.6.2 Kết quả đo lực căng, độ võng của dây cáp và biên độ dao động giỏ đựng trái thanh long 113
4.7 So sánh kết quả nghiên cứu lý thuyết với kết quả thực nghiệm 114
4.7.1 So sánh ảnh hưởng của chiều dài nhịp đến độ võng đường cáp trong trường hợp không tải 114
4.7.2 So sánh dao động của đường cáp 114
4.8 Xác định một số thông số hợp lý của đường cáp vận chuyển trái thanh long 115 4.8.1 Kết quả thực nghiệm đơn yếu tố 115
4.8.2 Kết quả thực nghiệm đa yếu tố 124
4.8.3 Xác định giá trị hợp lý của tham số ảnh hưởng 134
Kết luận chương 4 136
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137
1 Kết luận 137
2 Kiến nghị 138
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN 139 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
γ N/m Trọng lượng riêng của cáp
q N/m Tải trọng phân bố đều
k
q N/m Tải trọng phân bố đều nhịp thứ k
Q N Tổng tải trọng trên đường cáp
P N Tổng trọng lượng của dây cáp
T N Lực kéo cáp theo phương tiếp tuyến
cm Khoảng cách giữa 2 puly
k cm Khoảng cách giữa 2 puly ở nhịp thứ k
H N Lực căng chiếu theo phương ngang ( gọi tắt là lực căng ngang)
R N Lực căng chiếu theo phương thẳng đứng
R y N Lực theo phương thẳng đứng tại puly
R k N Lực theo phương thẳng đứng tại nhịp thứ k
T(x) N Lực căng dây tại x
f cm Độ võng nhịp cáp tại điểm giữa (hai gối đỡ ngang nhau)
f k cm Độ võng cáp ở nhịp thứ k tại điểm giữa (hai gối đỡ ngang nhau)
f c cm Khoảng chênh độ cao từ C điểm thấp nhất của dây với puli đỡ
đầu cao của nhịp cáp (hai gối đỡ có độ chênh cao )
f w cm Khoảng chênh độ cao của điểm thấp nhất C của nhịp đường cáp
với điểm puli đỡ đầu cáp di chuyển ra khỏi nhịp
cm Độ dãn dài của cáp khi chịu dãn
L 0 cm Chiều dài đoạn dây cáp khi chưa có tải
Trang 11L cm Chiều dài dây cáp ở lần lặp thứ k
E N/cm2 Mô-đul đàn hồi dây cáp
F cm2 Diện tích thiết diện ngang dây cáp
h cm Độ cao chênh lệch giữa hai puli đỡ
độ Góc hợp bởi tiếp tuyến với dây cápvà phương Ox
Pmax N Trọng lượng các giỏ tối đa
độ Góc hợp bởi đường nối 2 trụ đỡ và phương OX
Fc N Lực sinh công khi cáp di chuyển
M kg Khối lượng của dây cáp tại nút A, N
m kg Khối lượng của giỏ chứa và trái thanh long
g m/s2 Gia tốc trọng trường
độ Góc lệnh giữa giỏ chứa trái thanh long với phương đứng
r cm Chiều dài dây treo giỏ chứa trái thanh long
S cm Khoảng cách giữa hai giỏ thanh long
A cm Biên độ dao động cực đại của các giỏ đựng thanh long
Trang 12W Nm/s Công suất tiêu thụ
Wm Nm/s Công suất tiêu thụ thắng lực ma sát
Wk Nm/s Công suất cần có để di chuyển cáp trên nhịp cáp
atb m/s2 Giá trị gia tốc cực đại trung bình
ai m/s2 Giá trị gia tốc lần đo thứ i
X Trị số trung bình mẫu tổng thể
S2
m Phương sai lớn nhất trong tổng số thí nghiệm
S2 Phương sai thực nghiệm thứ u với số lần lặp lại u
Sbi Phương sai của hệ số hồi qui
2
e
mu Số lần lặp lại ở mỗi điểm thí nghiệm thứ u
ui
Y Giá trị của thông số ra ở điểm u
u
Y Giá trị trung bình thông số ra tại điểm u
Gtt Giá trị Kohren theo tính toán
Ftt Giá trị Fisher theo tính toán
Trang 13DANH MỤC BẢNG
3.1 Độ dài L (cm) dây cáp tính theo các giá trị của f và 71
3.2 Độ võng f (cm) tính theo lực căng ngang H (N) và (cm) khi tải
3.3 Các bước giải gần đúng các phương trình W( ) 0u 75 3.4 Độ dãn dài L và độ võng f theo độ dài ban đầu L 0 và tải trọng q 76
3.5 Sai số các giá trị L và f giữa hai lần lặp thứ 4 và 5 76
3.6 Lực căng ngang H và phản lực Ry tại giá đỡ đường cáp khép kín có
3.7 Tính độ võng f , Rc, Rt trên nhịp cáp có gối có độ cao chênh nhau 84 3.8 Kết quả tính cho đường cáp khép kín với 23 nhịp, độ dài 50000 cm 85 3.9 Vùng tần số cộng hưởng dao động ngang, dọc của giỏ trên nhịp 90 3.10 Biên độ dao động cực đại của các giỏ theo các vị trí treo trên cáp 93 3.11 Biên độ dao động cực đại (m) của giỏ ứng với các giá trị H 95
3.12 Biên độ dao động cực đại (m) của giỏ ứng với các giá trị khi
3.13 Biên độ dao động cực đại (m) của giỏ ứng với các giá trị r 97
3.14 Công suất tiêu thụ của hệ thống cáp ứng với tổng độ dài đường cáp
4.1 Kết quả so sánh ảnh hưởng của chiều dài nhịp và lực căng ngang đến
4.2 Kết quả so sánh ảnh hưởng của chiều dài nhịp và lực căng ngang đến
4.3
Ảnh hưởng của lực căng đường cáp đến độ võng khi chiều dài nhịp
=2200 cm và tải trọng phân bố đều q = 0,2 N/cm 115
4.4 Ảnh hưởng của lực căng ngang đường cáp đến biên độ dao động cực
Trang 144.5 Ảnh hưởng của chiều dài nhịp đến độ võng khi lực căng ngang
4.6 Ảnh hưởng của chiều dài nhịp cáp đến biên độ dao động cực đại 122
4.8 Bảng ma trận thí nghiệm độ võng f phụ thuộc lực căng ngang H và
4.9 Bảng ma trận thí nghiệm biên độ dao động cực đại của giỏ tại điểm treo
giữa nhịp phụ thuộc lực căng ngang H và chiều dài nhịp 125
Trang 15DANH MỤC HÌNH
1.1 Sơ đồ công nghệ thu hoạch thanh long 5
1.2 Cắt trái thanh long bằng kéo 7
1.3 Di chuyển trái thanh long bằng mang vác thủ công 7
1.4 Di chuyển trái thanh long bằng xe đẩy 8
1.5 Di chuyển trái thanh long bằng máy kéo 8
1.6 Bốc xếp trái thanh long vận chuyển đến nơi tiêu thụ 8
1.7 Trái thanh long được đổ thành từng đống hoặc xếp trong thùng nhựa 9
1.8 Sơ đồ đường cáp một dây căng cố định 12
1.9 Sơ đồ đường cáp một dây kéo căng - thả chùng 13
1.10 Sơ đồ đường cáp một dây chuyển động kiểu con thoi 14
1.15 Sơ đồ cấu tạo của đường dây cáp 3 dây vận chuyển tuần hoàn liên tục 18
1.16 Vận chuyển na bằng dây cáp ở Chi Lăng, Lạng Sơn 20
1.20 Mô hình đường cáp vận chuyển trái thanh long 29
2.1 Mô hình đường cáp vận chuyển trái thanh long 37
2.2 Mô hình tính toán đường cáp khép kín 38
2.3 Dây cáp tựa trên hai gối có cùng độ cao 40
2.4 Mô hình tính lực căng của dây cáp 40
2.5 Tính độ dãn dài của cáp 42
2.6 Mô hình tính toán đường cáp khép kín 45
2.7 Mô hình tính độ võng dây tựa trên các gối có độ chênh cao 49
Trang 162.8 Sơ đồ động lực học đường cáp vận chuyển trái thanh long 57
2.9 Sơ đồ phân tích lực trong tính toán dao động của giỏ đựng thanh long 58
2.10 Sơ đồ phân tích lực tác động vào giỏ trong quá trình đường cáp chuyển
2.11 Mô hình tính công suất tiêu thụ để di chuyển giỏ đựng thanh long trên
3.1 Tính độ dãn dài của đường cáp 75
3.2 Các trường hợp đường cáp tựa trên hai gối có có độ chênh cao 79
3.3 Đồ thị phương trình độ võng dây cáp khi gối đỡ có độ cao chênh nhau 84
3.4 Đồ thị biểu diễn dao động của giỏ ở vị trí giữa nhịp cáp 87
3.5 Hiện tượng phách của dao động ngang khi tần số gió f z = 5,4 90
3.6 Hiện tượng cộng hưởng của dao động ngang khi tần số gió fz = 5,9 91
3.7 Hiện tượng phách của dao động dọc khi tần số gió fx = 5,3 91
3.8 Hiện tượng cộng hưởng của dao động dọc khi tần số gió fx = 5,4 91
3.9 Hiện tượng phách của dao động khi giỏ chuyển hướng với tần số gió f
3.10 Hiện tượng cộng hưởng của dao động khi giỏ chuyển hướng với tần số
3.11 Đồ thị biên độ dao động ngang cực đại của giỏ đựng thanh long theo
3.12 Đồ thị biên độ dao động cực đại của giỏ treo ứng với các lực căng
ngang khác nhau, với độ dài r = 0,3 m, = 2400 cm 95
3.13 Đồ thị biên độ dao động cực đại của giỏ ứng với thay đổi 96
3.14 Đồ thị biên độ dao động cực đại của giỏ treo ứng với độ dài dây giỏ r
khác nhau, khi lực căng ngang H = 3500N, = 2400 cm 97
3.15 Đồ thị biểu thị sự phụ thuộc công suất tiêu thụ vào lực căng ngang dây
cáp và số các puli chuyển hướng 99
4.1 Sơ đồ cấu trúc dạng khối của thiết bị thí nghiệm 104
4.2 Cảm biến đo biên độ dao động B12/1000 105
4.3 Thiết bị đo độ võng - máy thủy bình 106
Trang 174.4 Mô hình thí nghiệm xác định lực căng ngang (H) và độ võng (f) dây
cáp bằng cảm biến đo lực và máy đo thủy bình 106
4.5 Cảm biến đo lực kéo HBM 107
4.7 Bố trí thí nghiệm đo lực căng ngang và độ võng đường cáp 112
4.8 Quá trình đo độ võng và lực căng dây cáp và biên độ dao động của giỏ
4.9 Kết quả đo lực căng dây cáp 113
4.10 Kết quả đo gia tốc của giỏ đựng trái thanh long 113
4.11 Đồ thị tương quan giữa độ võng lớn nhất và lực căng ngang của dây
4.12 Đồ thị tương quan giữa với biên độ dao động cực đại của giỏ đựng
thanh long ở giữa nhịp cáp với lực căng ngang 119
4.13 Đồ thị tương quan giữa độ võng lớn nhất và chiều dài nhịp dây cáp 121
4.14 Đồ thị tương quan giữa biên độ dao động cực đại của giỏ treo tại giữa
nhịp với chiều dài nhịp cáp (cm) 123
4.16 Đồ thị độ biên độ dao động cực đại của giỏ phụ thuộc H và 133
Trang 18
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là nước có điều kiện về khí hậu, đất đai và thổ nhưỡng cho việc phát triển các loại cây ăn quả, hiện Việt Nam có nhiều loại cây đặc sản có giá trị cao, đã được công nhận chỉ dẫn địa lý và đã xuất khẩu sang một số nước như Nhật Bản,
Mỹ, các nước trong khối Asean
Theo số liệu của Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2018 ước đạt 2,8 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu các loại quả đạt 1,5 tỷ USD, dự báo của ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn, kinh ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2019 ước đạt 3,2 tỷ USD [2]
Thanh Long là loại cây ăn quả đặc hữu của Việt Nam, được trồng ở cả ba miền Bắc- Trung - Nam, giá trị trái thanh long cao, trái thanh long đã được xuất khẩu sang Nhật bản, Úc và Mỹ mang lại giá trị kinh tế cao
Sản phẩm thanh long lưu thông trên thị trường chủ yếu ở dạng trái tươi Ở Việt Nam, thị trường nội địa chiếm khoảng 15-20% sản lượng, 80-85% còn lại được xuất khẩu Với sản phẩm thanh long xuất khẩu đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng Ngoài các yêu cầu về chất lượng của trái là: Không có ruồi đục trái và các sâu hại khác, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật dưới mức cho phép…, còn có yêu cầu trái không bị
dập, hình dạng các tai của trái cây phải được giữ nguyên Để giữ được trái thanh
long không bị dập, các tai của trái cây được giữ nguyên, thì khâu thu hái vận chuyển trái cây đóng vai trò rất quan trọng
Trong chuỗi sản xuất thanh long thì khâu còn nhiều tồn tại đó là khâu thu hái, vận chuyển trái thanh long Qua khảo sát, hiện nay việc thu hái chủ yếu bằng thủ công, việc vận chuyển trái thanh long từ vườn trồng đến nơi tập kết chủ yếu bằng vận chuyển bằng xe đẩy hoặc chuyển bằng bưng bê trực tiếp, xe công nông, từ đó trái thanh long có thể bị dập, tổn thương dẫn đến chất lượng thấp, thời gian bảo quản ngắn, trái thanh long không xuất khẩu được
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần để đảm bảo chất lượng cho trái thanh long
ở khâu vận chuyển không bị dập, cũng như giảm công sức cho người lao động và tăng năng suất thu hái trái cây thanh long, việc thiết kế hệ thống thiết bị vận chuyển đáp ứng được các yêu cầu trên là cần thiết và mang tính cấp bách hiện nay
Trang 19Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao cho Công ty cổ phần thiết bị chuyên dùng Việt Nam phối hợp với các nhà khoa học của
Trường Đại học Lâm nghiệp thực hiện đề tài cấp Nhà nước: "Nghiên cứu thiết kế
chế tạo một số thiết bị cơ giới hóa, tự động hóa một số khâu trong thu hoạch một số loại cây ăn quả tại vùng Tây Nam Bộ", kết quả của đề tài đã thiết kế chế tạo được
hệ thống đường cáp vận chuyển trái thanh long đáp ứng được yêu cầu về năng suất
và không bị dập, không bị tổn thương Sau khi được áp dụng vào thực tế sản xuất thì đường cáp này còn nhiều tồn tại đó là: Độ võng của dây cáp, chiều dài nhịp, lực căng của dây cáp chưa hợp lý Ngoài ra, dưới tác động của gió, vận tốc chuyển động của dây cáp không đều nên giỏ đựng trái thanh long dao động lớn va chạm vào trụ
đỡ ảnh hưởng đến chất lượng vận chuyển
Đề tài cấp Nhà nước chỉ tập trung vào phần tính toán thiết kế và chế tạo, chưa
có nghiên cứu về động lực học của đường cáp Để có cơ sở khoa học cho việc, hoàn thiện hệ thống đường cáp vận chuyển trái thanh long nói trên và khắc phục được một số tồn tại nêu trên, cần thiết phải có nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về đường cáp này, đặc biệt là nghiên cứu động lực học của đường cáp để là cơ sở khoa học cho việc tính toán đường cáp cũng như hoàn thiện đường cáp đề tài đã thiết kế chế tạo
Với lý do đã trình bầy ở trên, chúng tôi chọn và thực hiện đề tài: "Nghiên cứu động lực học đường cáp vận chuyển trái thanh long ở vùng Tây Nam Bộ"
2 Mục tiêu của luận án
Xây dựng mô hình, thiết lập các phương trình cơ học, động lực học của đường
cáp, khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến các thông số động lực học của đường cáp, để tính toán xác định một số thông số hợp lý của đường cáp vận chuyển trái thanh long do Việt Nam thiết kế chế tạo
3 Những đóng góp mới của luận án
1 Đã xây dựng được mô hình động lực học và thiết lập được hệ phương trình tính toán một số thông số cơ học của đường dây cáp vận chuyển trái thanh long trong trường hợp chiều cao hai trụ đỡ bằng nhau và có có độ chênh cao, đã xác định được chiều dài nhịp và lực căng hợp lý của đường cáp
Trang 202 Đã xây dựng được mô hình động lực học và thiết lập được phương trình vi phân chuyển động của giỏ đựng trái thanh long khi di chuyển trong khoảng hai nhịp
và khi di chuyển qua bánh chuyển hướng chịu lực tác động của gió và có gia tốc, đã
đề xuất giải pháp giảm biên độ dao động và tránh xẩy ra hiện tượng công hưởng của đường dây cáp vận chuyển trái thanh long
3 Đã xây dựng được mô hình nghiên cứu thực nghiệm động lực học của đường cáp vận chuyển trái thanh long, đã xác định được một số thông số động lực học của đường cáp phục vụ cho bài toán khảo sát và kiểm chứng mô hình tính toán lý thuyết
đã lập, sai lệnh giữa kết quả tính theo lý thuyết và thực nghiệm nằm trong giới hạn cho phép, do vậy các mô hình tính theo lý thuyết phù hợp với thực tế, đảm bảo độ tin cậy cần thiết Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đã xác định được một
số thông số hợp lý của đường cáp vận chuyển trái thanh long đó là chiều dài nhịp
=20m; lực căng ngang H=5kN; độ võng f=21,5cm
4 Ý nghĩa khoa học của những kết quả nghiên cứu của đề tài luận án
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án đã xây dựng được mô hình, thiết lập được phương trình tính toán lực căng ngang (H), độ võng của dây cáp (f) và chiều dài nhịp ( ), hệ phương trình vi phân chuyển động của giỏ đựng trái thanh long khi
di chuyển trên đường cáp và qua bánh chuyển hướng dưới tác động lực gió và vận tốc không đều của dây cáp, từ các phương trình lập được, tiến hành khảo sát ảnh hưởng của một số thông số về lực căng ngang, chiều dài nhịp, vận tốc di chuyển của giỏ đựng trái thanh long đến các hàm mục tiêu động lực học của đường cáp Kết quả khảo sát lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã xác định được một số thông số hợp lý của đường cáp Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học cho việc tính toán thiết kế chế tạo và hoàn thiện đường cáp vận chuyển trái thanh long
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án được sử dụng cho việc thiết kế chế tạo và hoàn thiện đường cáp vận chuyển trái thanh long do đề tài cấp nhà nước thiết kế chế tạo, ngoài ra còn sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở thiết kế chế tạo đường cáp vận chuyển các sản phẩm nông sản khác
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình trồng và tiêu thụ thanh long ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình trồng thanh long ở Việt Nam
Cây thanh long là cây ăn trái thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc ở vùng sa mạc thuộc Mexico và Columbia, thuộc nhóm cây nhiệt đới khô Thanh long được người Pháp mang đến Việt Nam từ thế kỷ 19, trồng rải rác trong sân vườn, đến thập niên 1980 mới được trồng thương mại Phần lớn thanh long được trồng ở Việt Nam
là loài Hylocereus undatus, có vỏ đỏ hay hồng/ruột trắng, loại vỏ đỏ ruột trắng chiếm 95%, 5% còn lại là loại vỏ đỏ, ruột đỏ
Mùa thanh long từ tháng 4 đến tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 đến tháng 8 Nhiều giống thanh long được lai tạo để tăng năng suất, chất lượng và phù hợp đất đai và khí hậu từng vùng Tại Viện Cây ăn quả Miền Nam hiện đang bảo tồn 20 giống thanh long từ nguồn thu thập trong nước và du nhập từ nước ngoài cùng 40 giống thanh long lai, phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn gen, chọn tạo giống
Hiện tại, thanh long đã được trồng rộng rãi ở các tỉnh thành trên toàn quốc Tuy nhiên, diện tích tập trung lớn nhất là: Bình Thuận, Long An, Tiền Giang (3 tỉnh này
đã có hơn 37 ngàn ha) tiếp theo là Tây Ninh, Đồng Nai, Ninh Thuận một số tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc Ở phía Bắc, thanh long mới được đưa vào trồng ở một số nơi như Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa và Hà Nội Theo số liệu thống kế của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích trồng thanh long trong cả nước đạt 50.000 ha
1.1.2 Tình hình tiêu thụ thanh long
Sản phẩm thanh long lưu thông trên thị trường chủ yếu ở dạng trái tươi trong đó, thị trường nội địa chiếm khoảng 15-20% sản lượng; 80-85% sản lượng còn lại được xuất khẩu mà chủ yếu theo phương thức mua bán biên mậu với thương nhân Trung Quốc [3]
Thanh long được xuất khẩu sang khoảng 40 Nhà nước và vùng lãnh thổ khác nhau Ngoài các thị trường truyền thống xuất khẩu thanh long như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hà Lan và Đài Loan, thanh long còn được xuất sang
Trang 22các thị trường khó tính như Mỹ, Ý, Nhật, Singapore và đang thâm nhập một số thị trường mới như Ấn Độ, New Zealand, Úc và Chi Lê
Theo số liệu thống kê, năm 2019, Việt Nam xuất khẩu khoảng 980.000 tấn thanh long, chiếm 49,8% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm trái cây, đạt 887,33 triệu USD
1.2 Tổng quan về công nghệ và thiết bị thu hoạch thanh long ở Việt Nam
1.2.1 Công nghệ thu hoạch thanh long ở Việt Nam
Công nghệ thu hoạch trái thanh long hiện nay ở Việt Nam được thực hiện như sau:
Hình 1.1 Sơ đồ công nghệ thu hoạch thanh long Thuyết minh công nghệ
- Khâu hái quả, cắt quả: Trong thu hoạch thanh long hiện nay ở Việt Nam
khâu hái và cắt quả chủ yếu bằng thủ công, cắt quả thanh long bằng kéo chuyên dùng
- Khâu xếp quả đã thu hái vào thùng: Sau khi cắt, hái xong người thu hái
một tay cầm kéo, tay còn lại đỡ lấy quả đã cắt đặt vào thùng, xếp lần lượt từ dưới lên trên
- Khâu di chuyển sọt, thùng đã xếp đầy trái: Việc di chuyển các sọt, các
thùng đã xếp đầy trái sau thu hoạch từ trong vườn trồng ra nơi có thể bốc lên xe ô tô hoặc bốc xếp xuống tầu thuyền có thể bằng 3 hình thức sau:
+ Bằng thủ công: Sử dụng người để khuân vác (gánh, đội lên đầu);
Hái quả, cắt quả thanh long
Xếp quả
đã cắt vào sọt, thùng
Di chuyển sọt, thùng
đã xếp đầy trái
Bốc xếp sọt, thùng
đã chứa đầy trái lên
xe ô tô, hoặc lên
ghe
Trang 23+ Sử dụng xe công nông, máy kéo có rơ móoc, hoặc sử dụng xuồng 3 lá
- Khâu bốc xếp lên xe ô tô, lên tầu thuyền: Sau khi di chuyển các sọt, thùng
chứa sau thu hái đến bến bãi tập kết, các sọt, các thùng được bốc xếp lên xe ô tô hoặc bốc xếp lên tầu thuyền để vận chuyển đến nơi tiêu thụ, quá trình này được thực hiện chủ yếu bằng thủ công
- Khâu vận chuyển đến nơi tiêu thụ: Sản phẩm được bốc xếp lên xe, lên tầu
thuyền được vận chuyển đến nơi tiêu thụ, quá trình vận chuyển được thực hiện bằng đường bộ (ô tô) hặc đường thủy (tầu thuyền)
Nhận xét: Công nghệ thu hoạch trái thanh long hiện nay ở Việt Nam chủ
yếu bằng thủ công, năng suất thấp, lao động nặng nhọc, chất lượng sản phẩm thấp, quả bị dập vỡ, tổn thất sau thu hoạch lớn (khoảng 15%), chất lượng sản phẩm thấp
1.2.2 Thực trạng về thiết bị thu hoạch thanh long ở Việt Nam
Thanh long được trồng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam, thanh long được trồng ở ba miền, Miền Bắc, Miền Trung và ở Miền Nam, tổng diện tích trồng thanh long trong cả nước khảng 50.000ha, trong đó vùng Tây Nam Bộ có diện tích trồng thanh long khoảng 15.000 ha và chủ yếu tập trung ở hai tỉnh: Long An và Tiền Giang
Hiện nay công nghệ và thiết bị thu hoạch thanh long ở Việt Nam chủ yếu
là bằng dụng cụ thủ công do người dân địa phương cải tiến và sản xuất để sử dụng trong sản xuất, chưa có nghiên cứu khoa học, sau đây là công nghệ và thiết bị thu hoạch trái thanh long tại vùng Tây Nam Bộ
a) Đặc điểm của vườn thanh long đã đến thời điểm thu hoạch
- Thanh long được trồng theo hàng, khoảng cách giữa các hàng là 3m, khoảng cách giữa các cây trong hàng là 1,5m;
- Thanh long được trồng hai dạng đó là có trụ đỡ và dàn treo;
- Trên vườn trồng thanh long có hệ thống dây điện để chiếu sáng kích thích cây
ra trái;
- Nền đất trong vườn trồng thanh long là đất mềm, không bằng phẳng
Từ đặc điểm này việc áp dụng xe máy di chuyển trong vườn thanh long là không khả thi, ảnh hưởng đến độ chặt của đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây thanh long
Trang 24b) Khâu thu hái trái thanh long
Do đặc điển sinh trưởng và phát triển của trái thanh long, nên thu hái trái thanh long không đúng kỹ thuật thì quả nhanh bị hư hỏng, do vậy thu hái trái thanh long hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới đều bằng thủ công, sử dụng kéo chuyên dùng để cắt trái
Hình 1.3 Di chuyển trái thanh long bằng mang vác thủ công
- Di chuyển bằng mang vác thủ công: Di chuyển bằng thủ công thì trái thanh long không bị dập, nhưng năng suất thấp, lao động nặng nhọc
- Di chuyển trái thanh long bằng xe đẩy: Ở những nơi có điều kiện đường thuận lợi thì có thể sử dụng xe cút kít để di chuyển trái thanh long ra bãi tập kết, phương pháp này có thể làm cho thanh long bị dập
Trang 25Hình 1.4 Di chuyển trái thanh long bằng xe đẩy
- Di chuyển bằng máy kéo: Ở những nơi có điều kiện địa hình thuận lợi thì
di chuyển trái thanh long từ khu vườn ra đến nơi tập kết bằng máy kéo Phương pháp này cho năng suất cao nhưng trái thanh long dễ bị dập mát, tổn thất sau thu hoạch lớn
Hình 1.5 Di chuyển trái thanh long bằng máy kéo
- Bốc xếp trái thanh long lên xe vận chuyển: Thanh long sau khi tập kết ở
bãi bốc, sau đó được bốc lên xe ô tô vận chuyển đến nơi tiêu thụ
Hình 1.6 Bốc xếp trái thanh long vận chuyển đến nơi tiêu thụ
Trang 26d) Dụng cụ đựng trái thanh long sau thu hái vận chuyển
Trái thanh long sau thu hái được đựng trong giỏ bằng nhựa hoặc sọt đan bằng tre, trái thanh long được xếp nhiều lớp, giữa các lớp không có tấm cách, từ đó trọng lượng của lớp trái được xếp ở phía trên tác động lên lớp phía dưới, dẫn đến lớp phía dưới bị tổn thương, từ đó chất lượng sản phẩm giảm đi, trái thanh long nhanh bị hư hỏng
Tồn tại của dụng cụ chứa đựng này là khi xếp các thùng chứa đầy sản phẩm lên nhau để vận chuyển thì các trái thanh long ở thùng phía dưới bị bẹp, nếu như không xếp chồng lên nhau khi vận chuyển thì tốn diện tích (vì xếp được một lượt) nên năng suất thấp, giá thành vận chuyển cao Đây là một trong những tồn tại lớn trong dụng cụ chứa sản phẩm rau quả sau thu hoạch
Hình 1.7 Trái thanh long được đổ thành từng đống hoặc xếp trong thùng nhựa
1.2.3 Những tồn tại trong thu hoạch và vận chuyển trái thanh long
- Do thu hái bằng thủ công nên năng suất thu hái thấp, tốn công lao động, năng suất trung bình khoảng 300kg/công lao động, tính cho tất cả các khâu công việc từ thu hái, xếp vào giỏ, di chuyển ra bãi tập kết, bốc lên xe ô tô
- Các phương pháp di chuyển trái thanh long sau khi thu hái không hợp lý: Di chuyển bằng mang vác thì năng suất thấp, tốn công lao động, nếu sử dụng xe đẩy và máy kéo thì sản phẩm bị dập nát (do chạy trên đường xấu nhiều ổ gà), từ đó chất lượng sản phẩm thấp không đạt yêu cầu xuất khẩu
- Không có dụng cụ, thùng chứa hoặc giỏ chứa chuyên dùng nên ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm trái thanh long sau thu hoạch
Trang 27- Chất lượng sản phẩm thấp, sản phẩm nhanh bị hư hỏng nguyên nhân sau: Do cấu tạo giải phẫu trái thanh long rất mềm, nên khi xếp chồng thanh long lên nhau, khi di chuyển dưới tác động của trọng lượng trái thanh long phía trên đè lên lớp thanh long phía dưới, dưới tác động của rung động khi di chuyển bằng máy kéo, bằng xe đẩy thì ruột trái thanh long bị tổn thương, từ đó các phản ứng sinh hóa xẩy
ra nhanh, dẫn đến trái thanh long nhanh bị hư hỏng (nhiều lô thanh long của Việt Nam xuất khẩu đi nước ngoài không đạt yêu cầu bị trả về)
Tóm lại: Trong thu hoạch thanh long hiện nay còn hai khâu cần phải nghiên
cứu hoàn thiện đó là khâu di chuyển trái thanh long sao cho êm dịu năng suất cao giảm nhẹ sức lao động, không bị dập Dụng cụ chứa đựng trái thanh long sau thu hoạch và trong vận chuyển (thùng chứa) phải có các tấm ngăn để trọng lượng của lớp quả phía trên không tác động lớp phía dưới, từ đó dẫn đến trái thanh long không bị tổn thương Như vậy cần thiết phải có đề tài nghiên cứu hệ thống thiết bị di chuyển trái thanh long và giỏ chứa trái thanh long chuyên dùng để đáp ứng yêu cầu tăng năng suất và giảm tổn thất sau thu hoạch và đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm xuất khẩu
1.3 Về tình hình nghiên cứu các thiết bị thu hoạch thanh long trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu các thiết bị thu hoạch thanh long trên thế giới
Thanh long một loài cây được trồng chủ yếu để lấy quả và cũng là tên của một vài chi của họ xương rồng Thanh long là loài thực vật bản địa tại Mexico, các nước Trung
Mỹ và Nam Mỹ Hiện nay, các loài cây này cũng được trồng ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia (đặc biệt là ở miền tây đảo Java); miền nam Trung Quốc, Đài Loan và một số khu vực khác
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, cải tạo giống, lai tạo giống, phòng trừ sâu bệnh hại, kỹ thuật canh tác, kỹ thuật bảo quản trái thanh long sau thu hoạch, các công trình này đã được áp dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh
tế cao, góp phần nâng cao năng suất chất lượng trái thanh long
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về công nghệ và thiết bị thu hoạch thanh long trên thế giới còn hạn chế Ở một số nước như Trung Quốc, Philippines, Indonesia thu hái thanh long được thực hiện như sau [39]; [40]:
Trang 28- Sử dụng lao động thủ công cắt trái thanh long, sau đó cho trái thanh long vào thùng đựng, sau khi xếp đầy thùng đựng thì dùng xe cút kít hoặc sử dụng máy kéo chở ra ngoài đường vận chuyển sau đó bốc lên xe ô tô vận chuyển đến nhà máy hoặc nơi tiêu thụ
- Do đặc điểm của trái thanh long nên việc cơ giới hóa, tự động hóa khâu cắt trái thanh long là rất khó khăn, nên hầu hết các nước trồng thanh long đều thu hái bằng thủ công, khâu vận chuyển trái thanh long đã được cơ giới hóa bằng máy kéo hoặc xe đẩy
- Thùng chứa trái thanh long được làm bằng tre hoặc thùng nhựa không có vách ngăn, nên khi vận chuyển bằng máy kéo hoặc xe đẩy có thể bị dập, dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp
Tóm lại khâu thu hoạch thanh long trên thế giới hiện nay chủ yếu là hái bằng
thủ công, vận chuyển bằng sức người hoặc bằng máy kéo, xe đẩy
1.3.2 Tình hình nghiên cứu thiết bị thu hái thanh long ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về cây thanh long Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào qui hoạch trồng cây thanh long, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật chọn tạo giống, kỹ thuật chăm bón, kỹ thuật phòng trừ sau bệnh hại, nghiên cứu sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGap hoặc GlobalGap, các nghiên cứu trên do Sở Khoa học và công nghệ các tỉnh trồng thanh long là đơn vị chủ quản, các viện nghiên cứu, các trường Đại học, các doanh nghiệp thực hiện, các kết quả nghiên cứu trên đã góp phần phát triển diện tích, năng suất và chất lượng thanh long như hiện nay
Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu về thiết bị thu hoạch trái thanh long ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa có công trình đã công bố nghiên cứu về công nghệ, thiết bị thu hái vận chuyển trái thanh long ở trong vườn trồng
1.4 Tổng quan về đường cáp sử dụng trong nông lâm nghiệp
Vận chuyển bằng đường cáp có ưu điểm nổi bật đó là áp dụng nơi địa hình phức tạp việc làm đường ô tô khó khăn, những nơi hạn chế đào đắp, từ những ưu điểm đó có nhiều loại đường cáp được áp dụng trong thực tế như: Đường cáp vận chuyển gỗ, đường cáp vận chuyển người trong khu du lịch, đường cáp vận chuyển nông sản sau thu hoạch Trong các loại đường cáp nêu trên thì đường cáp vận chuyển gỗ được sử dụng khá phổ biến
Trang 291.4.1 Các kiểu đường cáp sử dụng trong lâm nghiệp [11] [15]
Đường dây cáp là một phương tiện vận xuất gỗ được sử dụng rộng rãi trong điều kiện địa hình núi cao hiểm trở không thuận lợi cho các phương tiện vận xuất khác như máy kéo hay súc vật kéo Theo phương pháp này người ta căng dây cáp với một độ căng cần thiết, trên đó có đặt xe chở gỗ Xe chở gỗ chuyển động được là nhờ có động lực đặt ở đầu hay cuối đường dây hoặc có khi không cần thiết phải dùng động lực bên ngoài mà nó tự chuyển động do độ dốc của đường dây tương tự như máng lao gỗ Khi chuyển động, gỗ và xe hoàn toàn chạy trên đường dây cáp không ảnh hưởng gì đến mặt đất
Hiện nay, trong vận xuất gỗ người ta dùng nhiều mô hình đường cáp khác nhau; Mỗi một mô hình sẽ đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật và kinh tế cho từng vùng, từng loại địa hình Căn cứ vào số lượng dây cáp được dùng, khả năng di động, người ta phân ra các mô hình (các kiểu) đường dây cáp sau đây:
a) Kiểu đường cáp một dây
- Đường cáp một dây căng cố định: Mô hình đường cáp một dây phổ biến
nhất hiện nay như hình 1.8 Người ta căng cố định một dây cáp lên 2 điểm cần thiết trên đỉnh dốc và chân dốc Gỗ được lao trên dây cáp từ đỉnh xuống chân dốc Tuỳ
độ dốc của đường dây lớn hay nhỏ mà xe chuyển động trên dây cáp có thể bằng các loại móc gỗ hay dùng puli bằng kim loại
Hình 1.8 Sơ đồ đường cáp một dây căng cố định
Trang 30- Đường cáp một dây kéo căng - thả chùng: Để giảm bớt sức lao động móc
gỗ lên đường cáp và giảm vận tốc gỗ lao ở cuối đường cáp, khi vận xuất các loại gỗ
có kích thước nhỏ như gỗ trụ mỏ, gỗ nguyên liệu giấy người ta sử dụng rất có hiệu quả kiểu đường cáp một dây hoạt động theo phương pháp kéo căng thả chùng (Hình 1.9)
Theo phương pháp này, một đầu dây cáp được cố định ở một điểm phía trên dốc còn đầu kia phía dưới dốc được quấn vào trống tời Lúc đầu dây cáp nằm sát mặt đất, dùng một puli có dây buộc gỗ mắc vào dây cáp, người móc gỗ phía trên dốc ra hiệu cho người điều khiển tời ở phía dưới dốc Tời quấn cáp cho tới khi nâng được khúc gỗ lên khỏi mặt đất và dần dần dây cáp đạt được độ dốc cần thiết để khúc gỗ tự lao được xuống chân dốc Khi gỗ chuyển động xuống chân dốc tới vị trí
đã định, người điều khiển tời nhả trống tời và khúc gỗ rơi xuống đất cùng với dây cáp Sau khi tháo khúc gỗ ra khỏi dây cáp, người móc gỗ ở trên đỉnh núi lại tiếp tục chuyến thứ hai tương tự như chuyến đầu Mỗi một lần lao gỗ cần một puli Mỗi đợt lao khoảng 20 chuyến là hết puli, ở phía đỉnh dốc, lúc này người móc gỗ ở trên đỉnh dốc phải xuống chân dốc để lấy số puli lên đỉnh núi để chuẩn bị cho đợt lao sau
Hình 1.9 Sơ đồ đường cáp một dây kéo căng - thả chùng
1,2- Trụ buộc cáp; 3- Dây cáp; 4- Puli chuyển hướng; 5- Bộ phận tăng lực; 6- Tời
thủ công; 7- Dây neo tời; 8-Puli; 9- Khúc gỗ
- Đường cáp một dây chuyển động kiểu con thoi: Khi vận xuất gỗ nhỏ hoặc
củi, nứa người ta còn có thể dùng kiểu đường cáp một dây mắc thành vòng kín Dây cáp được nối thành một vòng kín và được căng bằng 2 puli đặt ở 2 điểm trên dốc và dưới dốc (hình 1.10)
Trang 31Một đầu cáp buộc gỗ vào một nhánh dây, vì có độ dốc nên gỗ tự chuyển động từ đỉnh xuống chân dốc Trong khi phía dưới dốc tháo gỗ ra khỏi dây cáp thì phía trên dốc lại buộc gỗ vào nhánh kia của cáp và quá trình được lặp lại như ban đầu Kiểu sơ đồ đường cáp một dây mắc thành vòng kín này còn được gọi là sơ đồ chuyển động kiểu con thoi Với địa hình không đủ độ dốc tự lao, người ta có thể lắp động cơ để kéo một trong 2 bánh xe căng cáp
Hình 1.10 Sơ đồ đường cáp một dây chuyển động kiểu con thoi
- Đường cáp 1 dây lắp thành vòng kín: Được sử dụng để vận xuất gỗ nhỏ,
củi với cự li vận xuất 9001000m, 6 đến 8 người 1 ca, vận tốc 0,81m/s, tải được xếp cách nhau 56m, cho năng suất 5060m3/ca Sơ đồ cấu tạo của đường cáp một
dây lắp thành vòng kín như thể hiện trên hình 1.11
Hình 1.11 Đường cáp một dây lắp thành vòng kín
1- Tời; 2- Dây cáp; 3- Ròng rọc cánh
Ưu điểm lớn nhất của đường cáp loại này là: Đơn giản trong sử dụng, giữa các trụ đỡ không cần có độ cao chênh nhau
Trang 32Tuy nhiên, nó có nhược điểm là chỉ vận xuất được gỗ nhỏ
b) Kiểu đường cáp hai dây
Sơ đồ đường cáp hai dây có động lực kéo xe chở gỗ là kiểu đường cáp được dùng phổ biến rộng rãi hiện nay (hình 1.12) Theo sơ đồ này, dây cáp mang (6) được căng và cố định ở 2 điểm trên và dưới dốc, trên đó có lắp xe treo chở gỗ (8) Một đầu của cáp kéo buộc chặt vào xe chở gỗ còn đầu kia mắc vào trống tời của động lực (1) Ở 2 đầu dây cáp mang người ta còn mắc cơ cấu giữ xe treo (5) để phục vụ cho quá trình bốc gỗ lên xe và dỡ gỗ ra khỏi xe dọc tuyến cáp Vì có động lực kéo xe cho nên kiểu sơ đồ này ngoài việc thả gỗ từ trên đỉnh dốc xuống chân dốc người ta còn có thể kéo gỗ ngược dốc từ chân lên đỉnh núi
Hình 1.12 Đường cáp hai dây có động lực
1- Tời; 2- Trụ đỡ trên; 3- Trụ đỡ trung gian; 4- Yên đỡ cáp; 5- Cơ cấu giữ xe treo; 6- Dây cáp mang; 7- Cáp nâng kéo gỗ; 8- Xe treo; 9- Trụ đỡ dưới; 10- Bộ phận neo
giữ cáp mang; 11-Sàn để gỗ; 12- Đường vận chuyển
- Quá trình thả gỗ xuôi dốc: Cơ cấu giữ xe treo (5) được đặt ở phía trên sẽ giữ xe ở vị trí cần thiết, công nhân bốc gỗ sẽ kéo móc gỗ tới vị trí buộc gỗ, người điều khiển tời cho tời hoạt động để kéo bó gỗ nâng bổng lên xe Sau khi cơ cấu giữ
xe nhả khoá, dưới tác dụng của trọng lượng xe và gỗ, xe treo chở gỗ tự chuyển động xuống chân dốc Khi xe chuyển động tới gần trụ đỡ phía dưới (9), gỗ bị lết đất xe dừng lại người ta tiến hành dỡ gỗ Khi dỡ gỗ xong, người dỡ gỗ ở phía dưới dốc dùng tín hiệu bằng chuông điện báo cho người điều khiển tời ở phía trên dốc cho tời hoạt động để kéo xe không tải lên phía trên dốc và quá trình sẽ được lặp lại như cũ
Trang 33- Quá trình kéo gỗ ngược dốc: Nếu phải kéo gỗ ngược dốc thì quá trình cũng được thực hiện tương tự như trên, động lực vẫn đặt ở phía trên núi, chỉ có khác là động lực lúc này sản ra để kéo xe có tải từ chân dốc lên đỉnh dốc, còn chiều không tải xe tự trôi nhờ trọng lượng bản thân Nếu không đủ nặng để tự trôi xuống chân dốc thì người ta phải buộc thêm vật nặng vào xe Nói chung, bố trí kéo gỗ ngược dốc ít khi xảy ra
c) Kiểu đường cáp ba dây
Mô hình kiểu đường cáp ba dây dùng để vận xuất gỗ hiện nay ít được áp dụng vì rằng phải cần đến một số lượng khá lớn dây cáp và tốn kém rất nhiều công lắp đặt Đường cáp kiểu ba dây chỉ được áp dụng trong điều kiện lượng gỗ lấy ra của khu khai thác phải rất lớn và thời gian phục vụ của đường dây phải thật lâu dài
Trong trường hợp đường cáp có đủ độ dốc tự lao, có thể không cần sử dụng động lực kéo xe chở gỗ Người ta căng hai dây cáp đỡ ở các điểm trên và dưới dốc
Ở khoảng giữa phía trên dốc của hai dây cáp đỡ người ta đặt một puli chuyển hướng
để dẫn hướng cho dây cáp kéo Mỗi đầu của dây cáp kéo này được gắn vào một xe chở gỗ lăn trên dây cáp đỡ Xe có tải chuyển động từ trên dốc xuống dưới dốc do phân lực trọng lượng đồng thời là động lực để kéo xe không tải trên nhánh bên kia
từ chân dốc lên đỉnh dốc Hai xe chở gỗ trên 2 cáp mang lần lượt thay nhau kéo có tải và lúc không có tải khi lên và xuống dốc (hình 1.13)
Hình 1.13 Đường cáp ba dây không động lực
Đường cáp ba dây có động lực được áp dụng trong các điều kiện như: Địa hình khu khai thác bằng phẳng nhưng đất rừng bị lầy lội hoặc ở nơi đất dốc, địa
Trang 34hình chia cắt nhiều, máy kéo và các phương tiện vận xuất khác sử dụng không hiệu quả Cấu tạo đường cáp loại này được thể hiện ở hình 1.14, gồm hai trụ đỡ, dây cáp mang, dây cáp nâng tải, dây cáp kéo và tời hai trống Nguyên lý làm việc của đường cáp như sau: Để vận xuất gỗ, công nhân vận hành tời cho trống tời quấn dây cáp kéo (5) hoạt động, cáp kéo đưa xe treo đến vị trí cần gom, buộc gỗ và dừng lại Lúc này, công nhân vận hành tời nhả phanh cho trống tời quấn cáp nâng tải quay trơn để cho móc gỗ và ròng rọc động từ trên xe treo rơi xuống đất Tại đây, công nhân vận xuất kéo cáp và móc gỗ đến vị trí cây gỗ cần gom và sau khi buộc gỗ xong, ra hiệu cho công nhân vận hành cho tời hoạt động kéo cây gỗ về vị trí xe treo đỗ rồi tiến hành dỡ gỗ Khi đã gom đủ tải, công nhân vận xuất buộc bó gỗ và ra hiệu cho công nhân vận hành tời cho trống tời quấn cáp nâng tải hoạt động, kéo xe treo và gỗ về phía trụ đỡ phía dưới Khi xe treo tới vị trí cần thiết trống tời và cáp nâng tải dừng lại, gỗ tự rơi xuống mặt đất người ta tháo cáp và móc ra khỏi gỗ và tiến hành kéo chuyến gỗ tiếp theo
Hình 1.14 Đường cáp ba dây có động lực
1- Tời; 2- Dây cáp mang; 3- Dây cáp nâng tải; 4- Xe treo; 5 Dây cáp kéo xe treo
1.4.2 Cấu tạo chung và nguyên lý làm việc của đường cáp [1]
Đường cáp vận chuyển có nhiều loại, có loại đơn giản, có loại phức tạp, để có khái niệm chung về các bộ phận của một đường cáp, sau đây trình bày cấu tạo và nguyên lý hoạt động của một đường cáp tương đối hoàn chỉnh đó là đường cáp 3 dây chuyển động tuần hoàn liên tục
Trang 351.4.2.1 Cấu tạo chung của đường cáp 3 dây chuyển động tuần hoàn liên tục
Đường cáp 3 dây chuyển động tuần hoàn liên tục được thể hiện trên hình 1.15 bao gồm các bộ phận sau:
Hình 1.15 Sơ đồ cấu tạo của đường dây cáp 3 dây vận chuyển
tuần hoàn liên tục
1 - Dây cáp mang; 2 - Giá đỡ trung gian; 3 - Dây cáp kéo; 4 - Đối trọng
5 - Trạm bốc sản phẩm; 6 - Trạm dỡ sản phẩm; 7 - Xe treo ;
8 - Ròng rọc đỡ dây cáp kéo; 9 - Đường ray;
a) Dây cáp mang: Là dây cáp mắc trên không dùng để làm đường cho xe
chở sản phẩm chạy qua lại Hệ thống dây cáp 3 dây thường phải mắc 2 dây cáp mang song song dài bằng nhau làm thành nhánh tải và nhánh không tải Dây cáp mang nhánh tải dùng để làm đường cho xe có tải chạy đi (kể từ trạm bốc), dây cáp mang nhánh không tải dùng để làm đường cho xe không tải chạy về
Một đầu của dây cáp mang gắn ở nơi có sản phẩm để vận chuyển, đầu gắn ở một địa điểm chọn sẵn bãi tập kết Căng dây cáp mang trên hai điểm như vậy có thể bằng hai phương pháp khác nhau
- Phương pháp căng cố định: Các đầu dây cáp buộc vào mố gắn có sẵn có hoặc chôn chặt xuống đất
- Phương pháp dùng đối trọng: Một đầu dây cáp buộc cố định như phương pháp thứ nhất, còn đầu kia của dây cáp treo đối trọng
Nếu đường dây cáp luôn phải di chuyển thì áp dụng phương pháp căng cố định Những đường dây cáp sử dụng lâu năm ở một địa điểm thì thường áp dụng phương pháp treo đối trọng
Trang 36b) Giá đỡ trung gian: Các đường dây cáp có cự ly trên dưới 1.000 mét mà
địa hình cho phép có thể không cần xây dựng giá đỡ trung gian Nhưng với các đường dây cáp có cự ly dài hoặc địa hình không cho phép, để đảm bảo cho đầu cáp được treo ở độ cao nhất định, xe chạy không bị vướng đất, cần phải xây dựng các giá đỡ trung gian Trên giá đỡ có lắp các yên treo (móc treo) và các con lăn (hoặc ròng rọc) đỡ dây cáp kéo
c)Dây cáp kéo: Là dây cáp dùng để kéo xe treo chạy trên dây cáp mang Khi
hoạt động dây cáp kéo luôn luôn chuyển động trên những con lăn hoặc ròng rọc dẫn hướng
d) Đối trọng: Trong quá trình hoạt động vị trí của xe treo luôn luôn biến đổi
khiến cho lực căng của dây cáp mang cũng biến đổi theo Sự biến đổi thường xuyên
đó sẽ làm giảm tuổi thọ của dây cáp đi rất nhiều Để làm giảm sự biến đổi của lực căng đó ta treo đối trọng vào một đầu dây cáp mang Đối trọng thường làm bằng vật
có trọng lượng nặng, ở đường dây cáp lớn thì hệ thống dây cáp kéo cũng nên có đối
trọng để bảo đảm sức căng ban đầu ở trị số không đổi
e) Trạm dỡ sản phẩm vận chuyển: Trạm dỡ thường được đặt ở cuối đường
dây cáp, gồm có những thiết bị dỡ gỗ từ xe treo xuống và xếp sản phẩm vào thùng chứa
g) Trạm chuyển tiếp: Các đường dây cáp trên không vận xuất, vận chuyển
dài, do công suất của động lực có hạn, và để bảo đảm lực kéo trên các điểm của dây cáp mang đều được điều hòa bởi trọng lượng của đối trọng, người ta chia đường dây cáp ra nhiều đoạn để căng Tại đây sẽ đặt trạm chuyển tiếp nó gồm có: Thiết bị gắn chặt hoặc đối trọng, bộ phận động lực, đoạn ray nối cáp trên không
h) Xe treo : Xe treo chuyển động trên dây cáp mang sản phẩm cần vận
chuyển được gắn chặt lên xe treo để chuyển đến nơi tập trung Cấu tạo của xe treo trong mỗi loại đường dây cáp đều có những đặc đỉểm riêng phù hợp với nguyên tắc làm việc của loại đường dây cáp đó
i) Thiết bị động lực: Những đường dây cáp không thể lợi dụng được điều
kiện địa hình tự nhiên (dựa vào độ dốc và trọng lượng bản thân để lao ) đều phải có thiết bị động lực để kéo xe Thiết bị này gồm có: Động cơ, bộ phận giảm tốc, bánh
xe chủ động (hay trống tời), phanh
Ngoài ra, ở đường dây cáp còn có các bộ phận phụ thêm như đòn nối tiếp
Trang 37giữa dây cáp mang với đường ray trên không, bộ phận đóng mở cáp dùng để nạp
dây cáp kéo vào xe hoặc nhả dây kéo khỏi xe treo
1.4.2.2 Hoạt động của đường dây cáp ba dây chuyển động tuần hoàn liên tục
Hình 1.15 giới thiệu sơ đồ hoạt động của đường dây cáp, sản phẩm cần vận chuyển được tập trung tới trạm bốc Công nhân đưa sản phẩm vào xe treo rồi đẩy xe tới đầu nhánh tải, sau đó mắc dây cáp kéo vào xe treo, xe có tải sẽ được kéo tới trạm
dỡ ở cuối đường dây cáp Đối với đường dây cáp chuyển động tuần hoàn liên tục (dây cáp kéo không ngừng chuyến động) thì hai đầu dây cáp của nhánh tải và nhánh không tải có lắp bộ phận đóng mở cáp kéo Xe treo chạy qua bộ phận đóng mở cáp kéo sẽ được tự động nạp vào xe (khi xe treo chạy vào dây cáp mang) hoặc nhả ra khỏi xe (khi xe treo chạy khỏi dây cáp mang để vào trạm dỡ) Sau khi đã dỡ xong, công nhân đẩy xe treo không tới nhánh không tải và xe treo lại được kẹp chặt vào dây cáp kéo đề trở về trạm bốc Công nhân ở trạm bốc tháo xe ra để chuẩn bị bốc chuyến sau Đó là quá trình làm việc của một chuyến xe Ở đường dây cáp trên không vận chuyển cự ly dài có nhiều xe chạy trên tuyến đưòng trong cùng một lúc
1.4.3 Một số loại đường cáp sử dụng trong nông nghiệp
Trong nông nghiệp việc thu hoạch một số loại nông sản đã sử dụng đường cáp
để vận chuyển nông sản phẩm từ nơi thu hái về đến nơi tập kết, sau đây là một số đường dây cáp vận chuyển một số loại nông sản:
a) Đường cáp vận chuyển na ở Chi Lăng, Lạng Sơn: Một số hộ gia đình trồng
na ở Chi lăng, Lạng Sơn đã sử dụng đường cáp một dây căng cố định (hình 1.8) để vận chuyển na từ trên sườn núi xuồng chân núi, hình 1.16 Các thùng đựng quả na sau khi thu hái được treo lên xe treo, do đường dây cáp căng có độ dốc nên nhờ có phân lực trọng lượng mà thùng đựng sản phẩm chuyển động từ trên cao xuồng thấp
Mô hình đường cáp này do người dân tự thiết kế xây dựng, chưa có công trình nghiên cứu được công bố
Hình 1.16: Vận chuyển na bằng dây cáp ở Chi Lăng, Lạng Sơn
Trang 38b) Đường cáp vận chuyển cam ở Tuyên Quang; Một số nông dân trồng cam ở Hàm Yên, Tuyên Quang đã sử dụng đường cáp một dây căng cố định để đưa cam sau khi thu hoạch từ trên sườn núi xuống chân núi, hình 1.17, mô hình đường cáp này cũng do các hộ nông dân xây dựng và lắp đặt, chưa có công trình nghiên cứu được công bố
Hình 1.17: Đường cáp vận chuyển cam ở Hàm Yên
c) Đường cáp vận chuyển chuối: Trong thu hoạch chuối nhiều trang trại đã sử dụng đường cáp để vận chuyển để giảm nhẹ sức lao động và tránh sây sát quả chuối, đường cáp được sử dụng chủ yếu là mô hình đường cáp 2 dây có động lực kéo, chuyển động thành vòng tròn, buồng chuối sau khi thu hoạch được treo lên dây cáp kéo, dây cáp kéo được treo lên cáp mang (cáp tải), sau đó sử dụng động lực kéo cáp kéo chuyển động trên cáp tải, hình 1.18
Hình 1.18: Đường cáp vận chuyển chuối Long An
Trang 391.5 Một số công trình nghiên cứu về đường cáp
Tài liệu về Cơ khí hóa khai thác gỗ [1] đã trình bày phương pháp tính toán độ
võng, sức căng và chiều dài nhịp của cáp mang, tính toán cáp kéo và công suất động
cơ của một số loại đường cáp vận xuất gỗ, loại đường cáp này cho tải trọng lớn, cáp mang gắn chặt hai đầu, xe treo chuyển động, tải trọng tập trung, tài liệu chưa đề cập đến động lực học của đường cáp vận chuyển gỗ Các sơ đồ tính toán, kết quả tính toán một số thông số về đường cáp trong tài liệu này có thể vận dụng trong nghiên cứu động lực học của đường cáp vận chuyển trái thanh long
Tác giả Gordana Kastratović a,n, NenadVidanović a, VukmanBakić b, Boško
Rašuo trong công trình [34], đã giới thiệu về phân tích phần tử hữu hạn của dây cáp treo chịu tải trọng dọc trục cho đường dây cáp sử dụng các thiết bị trên tầu biển, kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng tính toán tải trọng phá hủy của dây cáp vận chuyển trái thanh long
Tác giả M Aufaure trong công trình [38] đã công bố kết quả về một phần tử cáp ba nút đảm bảo tính liên tục của căng ngang của một phần tử cáp kẹp, tính toán này ứng dụng trên đường dây cáp điện và dây cáp chuyên dùng
Tác giả Cheng Luo*, Xiangrong Fu, Jinsan Ju, Huipeng Liu trong công trình nghiên cứu [37] đã công bố kết quả nghiên cứu về Phân tích các yếu tố cáp trượt, bài báo này trình bày hai phương pháp để mô hình hóa các phần tử trượt cáp trên ròng rọc hoặc rãnh trên cáp treo
Tác giả Brian M McDonald1 and Alain H Peyrot, 2 Fellow trong công trình [25] đã công bố kết quả nghiên cứu một phương pháp mới để phân tích các loại cáp
có thể cuộn lại, trong phương pháp này, tác giả sử dụng ròng rọc phần tử mới có thể
mô hình chiều dài hữu hạn của cáp được hỗ trợ dọc theo chiều dài của cáp bằng một ròng rọc Phần tử ròng rọc đơn giản hóa các tính toán bằng cách tự động điều chỉnh
tỷ lệ cáp ở mỗi bên, kết quả nghiên cứu trên có thể sử dụng để tính toán đường cáp vận chuyển trái thanh long
Tác giả O’Brien, W T và Francis, A J trong công trình [23] đã công bố một phương pháp số được sử dụng để xác định hình dạng bị lệch của cáp treo chịu một tác động đồng thời hai chiều của các tải trọng tập trung Các phương trình cân bằng tĩnh cho các điểm tải cáp khác nhau, giữa các điểm tải được giải theo các yêu cầu
Trang 40tương thích hình học bằng phương pháp xấp xỉ liên tiếp với hệ thống các tác động thay đổi bao gồm: Thay đổi nhiệt độ, lực của các gối đỡ, trượt cáp tại các gối đỡ và tải phân bố đồng đều dọc theo các phần của nhịp Hai yếu tố tác động cáp treo được xem xét: Tải trọng được gắn tại các điểm được xác định dọc theo cáp và chuyển động dọc và ngang của cáp và vị trí ngang cuối cùng của các điểm tải và độ võng của các điểm chịu tải, tác giả chưa xét động lực học chuyển động của xe treo
Tác giả HalukOzdemir với nghiên cứu tiếp cận phần tử hữu hạn cho các vấn đề cáp năm 1979 [24] đã đề xuất phân tích phi tuyến tĩnh học và động học của các cấu trúc cáp Từ việc đo một số biến tĩnh và động học của cáp tác giả đã tìm ra các phương trình ứng suất của trạng thái cân bằng biến thiên Để phân biệt dạng phương trình cân bằng biến thiên này, các hàm Lagrangian được sử dụng để nội suy hình học cong của mỗi phần tử và chuyển vị giữa các nút phần tử Tác giả đã đưa ra các
ma trận phần tử hữu hạn cho các hoạt động của tuyến tính hóa và rời rạc Bằng cách đánh giá ma trận độ cứng của phần tử 2 nút, ma trận độ cứng của phần tử độc lập với việc cấu hình ban đầu hay cấu hình hiện tại được sử dụng trong mô tả các biến động và biến tĩnh
Năm 1994 tác giả J Lilien và Pinto Da Costa A đã nghiên cứu công trình [26] Tác giả đề cập đến một loại rung động của cáp gây ra bởi sự kích thích tham số (sự không ổn định động của cáp do chuyển động nhỏ của dầm) Cách tiếp cận được định hướng để tính toán biên độ và dao động căng cơ Các công thức biên độ ngẫu nhiên cũng như cho các chế độ trạng thái ổn định được xem xét và khảo sát Một số
mô phỏng quá trình theo thời gian từ những phần tử hữu hạn được trình bày (chuyển vị và độ căng của cáp) cũng được khảo sát Phân tích cho thấy trong các nhịp cầu nhịp lớn, kích thích tham số sẽ có thể xảy ra do sự hiện diện của nhiều tần
số thấp trong dầm và trong dây văng Kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng mới trong thiết kế cầu rất lớn
Tác giả A.Andreu cùng các cộng sự (2006) trong nghiên cứu [27] ‘yếu tố mới biến dạng dây xích để phân tích cấu trúc mạng cáp” đã trình bày công thức tính các
hệ thống lưới bao gồm nhiều dây cáp cho phép mô phỏng qua yếu tố dây xích biến dạng Công thức được đề xuất, xuất phát như một sự thay đổi các phương trình thông thường cho cáp không thể tách rời, đảm bảo trạng thái cân bằng chính xác sau