1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

12 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng: - Số lượng người tiêu dùng liên quan đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quả[r]

Trang 1

Tập

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Nghiêm Thị Hồ Thu - Cơ sở hình thành đặc điểm văn xuôi Ngọc Giao 3

Vũ Thị Hạnh - Từ ý thức về phái tính đến hình tượng người phụ nữ hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế

Phạm Thị Ngọc Anh - Ứng dụng hoa văn thủy ba trong điêu khắc tượng đài đương đại ở Việt Nam 15

Phùng Phương Nga, Đoàn Đức Hải - Biểu tượng trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh (Khảo sát qua Hồ Quý

Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa) 21

Vũ Thúy Hằng, Đoàn Thị Hồng Nhung - Luận bàn về cách phân loại tín ngưỡng thờ Mẫu 25 Phạm Văn Hùng, Nguyễn Huy Hùng, Nguyễn Thị Thu Hương - Đại học Thái Nguyên với hoạt động đánh

giá đầu ra của chương trình đào tạo qua mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp 31

Hoàng Duy Tường - Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Y Dược - Đại

Hoàng Thu Thuỷ, Lý Trung Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh – người đặt nền móng cho quan hệ đặc

biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 45

Trần Thị Lan - Vận dụng thuyết kiến tạo trong dạy học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”

Nguyễn Thanh Tú - Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh tại trường Đại học Giao thông

Nguyễn Thị Hoài Thu - Một số phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển kỹ năng nói tiếng Việt một cách hiệu

quả cho học viên quốc tế tại Học viện Kỹ thuật Quân sự 61

Ngô Thị Lan Anh, Võ Văn Trí - Sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho thanh

niên ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 67

Lê Văn Hiếu - Công tác tuyên truyền qua mô hình “ban tuyên vận” xã, phường, thị trấn và “tổ tuyên vận” thôn,

bản, tổ dân phố ở huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai) 73

Trần Hoàng Tinh, Trần Văn Khánh, Nguyễn Trung Kiên - Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt

động giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trong giai đoạn hiện nay 79

Nguyễn Mai Anh, Nguyễn Thị Hoàng Lan - Đổi mới nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình đào tạo

cử nhân giáo dục chính trị của trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đáp ứng yêu cầu của chương

Đỗ Thị Ngọc Phương, Trần Thị Thảo - Phát huy thế mạnh đề án trong ngôn ngữ viết được sử dụng bởi sinh

viên chuyên ngữ năm 2, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 91

Vũ Đình Bắc, Lý Mai Hương, Hoàng Thị Hồng Hạnh - Sử dụng hoạt động nhóm để nâng cao kĩ năng nói cho

sinh viên chuyên ngữ năm nhất trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 97

Nguyễn Thị Hằng, Lê Thị Quyên, Nguyễn Lệ Mai, Vũ Thị Lếnh - Tổ chức học trải nghiệm chủ đề “sâu,

bệnh hại cây trồng” (Công nghệ 10 - THPT) 103

Nguyễn Thị Khương - Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trung học

Lại Thu Uyên, Vũ Đình Bắc, Nguyễn Thành Long - Nâng cao ngữ pháp cho sinh viên chuyên ngữ năm 3

trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên thông qua kiểm tra chéo 115

Nguyễn Thị Hồng Chuyên, Hà Thị Như Quỳnh - Sử dụng kỹ thuật bắt chước trong việc nâng cao khả năng nói

tiếng Anh của sinh viên năm 2 không chuyên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 121

Journal of Science and Technology

179 (03)

N¨m 2018

Trang 3

Nguyễn Nam Hà, Nguyễn Thị Thủy - Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên Đại học Thái Nguyên 127

Vũ Thị Thanh Thủy, Chu Văn Trung, Cao Thùy Linh - Nghiên cứu thực trạng và tiềm năng phát triển du

Trần Thị Ngọc Hà - Nghiên cứu mô hình kinh tế nông hộ nhằm quản lý và sử dụng đất dốc bền vững tại vùng

trồng chè La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên 139 Nguyễn Văn Tâm, Hà Thị Hòa, Bùi Thị Minh Hà, Lê Thị Hoa Sen, Đặng Thị Hương - Ảnh hưởng của yếu

tố nguồn lực đến đa dạng sinh kế nông hộ trồng chè trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 143 Hoàng Văn Hải, Hoàng Thị Thu Hằng - Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất lúa tại Thái Nguyên 149 Đặng Thương Hoài Linh, Lý Thu Trang - Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật quốc tế và pháp

Đỗ Tuyết Ngân - Vai trò của phụ nữ trong phát triển du lịch cộng đồng ở thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái 163

Vũ Thị Thu - Đánh giá sự thay đổi sử dụng đất nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu tại huyện Giao Thuỷ,

Phạm Thị Thanh Mai, Trần Lệ Kim, Nguyễn Thị Lan - Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ

trong sản xuất chè tại thành phố Thái Nguyên 175 Nguyễn Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thị Thu Thủy - Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp

xã Yên Phúc, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 181 Đặng Quỳnh Trinh, Trần Văn Hùng - Công tác kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 187

Trang 4

BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, sự cạnh tranh giữa các loại hàng hóa và dịch vụ ngày càng trở nên khốc liệt Nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu nổi tiếng đóng vai trò quan trọng trong việc phân biệt giữa hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau Nhãn hiệu nổi tiếng được biết đến rộng rãi trên toàn cầu cùng với việc không có quy định cụ thể về bảo hộ nên xảy ra rất nhiều vụ việc xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Việc tìm hiểu, nghiên cứu, so sánh pháp luật của một số quốc gia và Việt Nam sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng

Từ khóa: nhãn hiệu nổi tiếng, luật sở hữu trí tuệ, pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật Nhật Bản, pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ *

Trong xu thế hội nhập đang diễn ra ngày càng

mạnh mẽ, nhiều nhà đầu tư nước ngoài mang

sản phẩm gắn nhãn hiệu của mình trong đó có

cả các nhãn hiệu nổi tiếng vào thị trường Việt

Nam như: Ford, Mercedes, Pizza Hut… Nếu

làm tốt việc bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt là

nhãn hiệu nổi tiếng cùng với sự tham gia vào

các sân chơi về sở hữu trí tuệ trên thế giới sẽ

khiến các tổ chức, cá nhân nước ngoài yên

tâm đầu tư vào Việt Nam Điều này đem lại

lợi ích rất to lớn giúp nền kinh tế Việt Nam

thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới,

chuyển giao công nghệ,… Các công ước, hiệp

định quốc tế đã đưa ra những quy định về

nhãn hiệu nổi từ rất sớm nhưng đáng tiếc, là

một thành viên nhưng cơ chế bảo hộ và thực

thi quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu nổi

tiếng của Việt Nam vẫn còn khá mờ nhạt

Trong bài báo này, nhóm tác giả sẽ tập trung

nghiên cứu tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi

tiếng và cơ chế bảo hộ của pháp luật quốc tế,

một số quốc gia và Việt Nam để đưa ra những

kiến nghị giúp hoàn thiện cơ chế bảo hộ nhãn

hiệu nổi tiếng tại Việt Nam

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ

NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG

Hiện nay, cách hiểu về nhãn hiệu nổi tiếng

vẫn chưa được quy định cụ thể, rõ ràng trong

*

Tel: 0936.578.985, Email: dthlinh@ictu.edu.vn

pháp luật Điều 6.1bis Công ước Paris đề cập đến khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng lại không đưa ra một khái niệm cụ thể về nhãn hiệu nổi tiếng cũng như không quy định về tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng Thông qua các quy định tại Điều 2.1.b của Khuyến nghị chung về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng cho các quốc gia thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới năm 1999, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét dựa trên sáu yếu tố để xác định nhãn hiệu nổi tiếng [1]

Tiêu chí đầu tiên mà Khuyến nghị này đưa ra: mức độ nhận biết hoặc công nhận của nhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan” Theo Điều 2.2.a Khuyến nghị chung,

bộ phận công chúng có liên quan bao gồm: (i) người tiêu dùng thực tế và/hoặc tiềm năng đối với các loại hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu; (ii) người tham gia các kênh phân phối các loại hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu; và (iii) vòng tròn kinh doanh đối với các loại hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu Mức độ nhận biết hoặc thừa nhận một nhãn hiệu có thể được xác định thông qua cuộc điều tra khách hàng hay những cuộc thăm dò ý kiến Điều này sẽ được xem xét thừa nhận qua một vài phương pháp mà không áp đặt bất kỳ tiêu chuẩn nào đối với những phương pháp được

sử dụng hoặc số lượng kết quả phải đạt được Tiêu chí thứ hai được quy định đó chính là

“thời gian, quy mô và phạm vi địa lý sử dụng nhãn hiệu” Việc xác định tiêu chí phụ thuộc

Trang 5

Đặng Thương Hoài Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 179(03): 155 - 161

vào bộ phận công chúng có liên quan Tại

Điều 2.3.a.i quy định rằng việc xem xét

không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc

gia mà còn có thể ở một quốc gia mà nhãn

hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu nổi tiếng Các

quốc gia này có thể là quốc gia láng giềng có

cùng ngôn ngữ hoặc hoặc quốc gia có kênh

truyền thông tương tự nhau (ti vi hoặc báo chí

xuất bản), hoặc quốc gia có mối quan hệ

thương mại mật thiết liên quan đến việc thiết

lập nhận biết nhãn hiệu

Tiêu chí thứ ba quy định “thời gian, quy mô

và phạm vi địa lý thúc đẩy nhãn hiệu, bao

gồm quảng cáo và giới thiệu hàng hóa/dịch vụ

mang nhãn hiệu tại các hội chợ hoặc triển

lãm” Theo tiêu chí này, “thúc đẩy nhãn hiệu”

có thể được xem xét để hình thành việc sử

dụng nhãn hiệu nổi tiếng Ví dụ như quảng

cáo trên truyền thông điện tử (bao gồm cả

Internet) là một hình thức thúc đẩy Một hình

thức thúc đẩy khác như trưng bày các hàng

hóa/sản phẩm tại hội chợ hoặc triển lãm Bởi

vì người thăm quan tại một triển lãm có thể

đến từ nhiều quốc gia khác nhau (ngay cả khi

triển lãm đó bị giới hạn trong một quốc gia

như hội chợ, triển lãm quốc gia), “thúc đẩy”

theo nghĩa ở tiêu chí số 3 không bị giới hạn

bởi hội chợ hoặc triển lãm quốc tế

Thứ tư, “thời gian và khu vực địa lý của bất kỳ

sự đăng ký, và/hoặc các đơn đăng ký nhãn

hiệu, đến quy mô mà ở đó có phản hồi lại việc

sử dụng hoặc công nhận nhãn hiệu” Theo đó,

số lượng đăng ký nhãn hiệu tiến hành trên toàn

cầu và thời gian đăng ký được xem như một

chỉ dẫn trong việc xem xét nhãn hiệu nổi tiếng

Các nước đăng ký phải thích hợp, không bắt

buộc phải đăng ký cùng một chủ sở hữu, một

nhãn hiệu được sở hữu bởi nhiều quốc gia

khác nhau bởi nhiều công ty thuộc về cùng

một nhóm Việc đăng ký chỉ thích hợp trong

phạm vi các đăng ký phản ánh việc sử dụng

hoặc công nhận nhãn hiệu, như nếu nhãn hiệu

thực sự được sử dụng trên quốc gia được đăng

ký hoặc đăng ký sử dụng có thiện ý

Ở tiêu chí thứ năm lại quy định về “ghi nhận

các quyền hợp pháp đối với nhãn hiệu, đặc

biệt, quy mô mà ở đó nhãn hiệu đã được ghi

nhận nổi tiếng bởi các cơ quan có thẩm

quyền” Nhãn hiệu nổi tiếng có hiệu lực dựa trên cơ sở quốc gia Việc thực thi mang hàm ý phân tích rộng như việc đáp ứng các chỉ dẫn

để xác định nhãn hiệu nổi tiếng trong từng quốc gia cụ thể, hay bao gồm các thủ tục phản đối trong việc chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng ngăn cản việc đăng ký nhãn hiệu xung đột

Và tiêu chí cuối cùng, Khuyến nghị chung đã quy định về “giá trị kết hợp với nhãn hiệu” Theo quy định tại điều khoản này, vẫn tồn tại

số lượng đáng kể các phương pháp khác nhau trong việc đánh giá nhãn hiệu Tiêu chí này không gợi ra cách sử dụng từng phương pháp

cụ thể Nó thừa nhận rằng giá trị kết hợp với nhãn hiệu có thể là một chỉ dẫn đối với việc xác định nhãn hiệu đó là nổi tiếng

Khuyến nghị chung đã đưa ra quy định cụ thể

về các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng, bổ sung, làm rõ cho Công ước Paris và Hiệp định TRIPS Khi nhãn hiệu đã được xác định là nổi tiếng, theo quy định tại Điều 6bis Công ước Paris, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng

là bảo hộ tự động mà không cần đăng ký Ngoài

ra, bất kỳ nhãn hiệu nào trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng và có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng vì nhãn hiệu đó là sự sao chép, bắt chước, biên dịch của nhãn hiệu nổi tiếng thì sẽ bị từ chối, bị hủy bỏ việc đăng ký và những nhãn hiệu đó được coi là xung đột đối với nhãn hiệu nổi tiếng

Theo Công ước Paris và Hiệp định TRIPs, khi xác định việc đăng ký sử dụng nhãn hiệu đó

sẽ làm xung đột đến nhãn hiệu nổi tiếng hay

sử dụng với dụng ý xấu, chủ sở hữu có quyền yêu cầu hủy bỏ, ngăn cấm việc đăng ký thông qua quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 5 năm kể từ ngày nộp đơn và thời hạn được sửa đổi đối với yêu cầu hủy bỏ hoặc bảo hộ đối với một nhãn hiệu nổi tiếng không chính đáng là không giới hạn

PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG

Theo pháp luật Hoa Kỳ Hoa Kỳ là thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp nên những quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đều dựa trên Điều 6bis Đạo luật FTDA áp dụng đối

Trang 6

với nhãn hiệu nổi tiếng nhưng lại không đưa

ra một định nghĩa về khái niệm “nhãn hiệu

nổi tiếng” mà đưa ra 8 yếu tố để xác định

nhãn hiệu nổi tiếng

Trong Đạo luật nhiều tiêu chí còn khá mơ hồ

chưa được làm rõ, như yếu tố thời gian quảng

cáo, phạm vi địa lý sử dụng… Đạo luật này

cũng không chỉ rõ thời gian tối thiểu một

nhãn hiệu được sử dụng trước khi xem xét là

nhãn hiệu nổi tiếng Trên thực tế, một số Tòa

án đã xem xét nhãn hiệu lâu là 125 năm và

sớm là 25 năm để chứng minh sự nổi tiếng

Nhưng theo báo cáo của Ủy ban kiểm tra

nhãn hiệu thì nhãn hiệu cũng có thể trở nên

nổi tiếng chỉ sau một đêm như là kết quả của

quảng cáo và truyền thông lớn Như vậy, thời

gian ở đây vẫn còn sự mâu thuẫn

Hay để đánh giá tiêu chí “các kênh buôn bán

hàng hóa hoặc dịch vụ mà qua đó nhãn hiệu

được sử dụng”, Tòa án sử dụng mức độ phổ

biến của nhãn hiệu Nhãn hiệu được sử dụng

trên càng nhiều kênh thì càng dễ được xem

xét là nổi tiếng, trong vụ Panavision Int’l, L.P

và Toeppen, thực tế, Panavision đã trực tiếp

quảng cáo đến công chúng cùng với các công

ty trong công nghiệp giải trí, điều đó đã

thuyết phục tòa rằng nhãn hiệu Panavision là

nổi tiếng hay trong vụ American Express Co

và CFK, Inc, American Express đã sử dụng

nhãn hiệu “Don’t Leave Home Without It” có

thể được công nhận trong các lĩnh vực du

lịch, phí dịch vụ, séc du lịch, tour du lịch và

đặt phòng đã giúp xác định nhãn hiệu nổi

tiếng [2]

Sau khi xác định nhãn hiệu là nổi tiếng và

xứng đáng được bảo hộ khỏi sự vi phạm, theo

những quy định tại Điều 3 của Đạo luật

FTDA, chủ sở hữu của nhãn hiệu nổi tiếng có

quyền yêu cầu Tòa án đưa ra lệnh chống lại

mọi sự sử dụng nhằm mục đích thương mại

đối với nhãn hiệu nếu sự sử dụng bắt đầu sau

khi nhãn hiệu của chủ sở hữu trở nên nổi

tiếng và những sự sử dụng đó có thể làm lu

mờ hay làm giảm chất lượng hay khả năng

phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng Đạo luật

FTDA định nghĩa sự lu mờ nhãn hiệu là làm

giảm đi khả năng xác định và phân biệt hàng

hoá, dịch vụ của nhãn hiệu nổi tiếng, bất kể

sự hiện diện hay vắng mặt của cạnh tranh giữa các chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng và các bên khác, hoặc khả năng nhầm lẫn, sai sót, hoặc lừa dối Tòa án bên cạnh việc chỉ ra

có sự lu mờ nhãn hiệu, thì khả năng gây nhầm lẫn cũng được coi là căn cứ để Tòa xác định

sự vi phạm nhãn hiệu Sau khi xác định được khả năng gây nhầm lẫn nhãn hiệu, Tòa sẽ đưa

ra các biện pháp giúp chủ sở hữu bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp đáng được hưởng

Có thể thấy Hoa Kỳ đã có những quy định cụ thể về việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tránh khỏi sự nhầm lẫn cũng như bảo hộ chống lại

sự lu mờ nhãn hiệu

Theo pháp luật Nhật Bản Nhật Bản rất chú trọng đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng Luật Nhãn hiệu Nhật Bản cũng đưa ra những tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng

Theo pháp luật Nhật Bản, một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng đối với người tiêu dùng Nhật Bản không được đăng ký, ngay cả khi nhãn hiệu đó nổi tiếng đối với người tiêu dùng Nhật Bản qua truyền thông vô tuyến, báo, tạp chí, hoặc các website internet tại Nhật Bản [3] Theo Điều 4-1-15 Luật Nhãn hiệu Nhật Bản, một nhãn hiệu có khả năng gây nhầm lẫn đối với hàng hoá, dịch

vụ liên quan đến doanh nghiệp không thể đăng ký Trong trường hợp này, “sự nhầm lẫn” không chỉ bao gồm sự nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa/dịch vụ, mà còn nhầm lẫn về mối quan hệ kinh doanh giữa hai bên Ngoài ra, theo Điều 4-1-19 Luật Nhãn hiệu Nhật Bản thì việc nhãn hiệu trùng hoặc tương

tự với nhãn hiệu nổi tiếng mà sử dụng với mục đích không lành mạnh, gây thiệt hại thì cũng không thể đăng ký Mục đích không lành mạnh ở đây là nhãn hiệu giả, sử dụng miễn phí, làm lu mờ nhãn hiệu, làm xấu nhãn hiệu [4]

Hơn nữa, chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng cho

dù không đăng ký vẫn tiếp tục sử dụng cho dù

có sự tồn tại nhãn hiệu đối lập đã được đăng

ký Chủ sở hữu nhãn hiệu không đăng ký trở nên nổi tiếng đối với người tiêu dùng như một chỉ dẫn đến hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp vào thời điểm bên khác

Trang 7

Đặng Thương Hoài Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 179(03): 155 - 161

nộp đơn đăng ký, chủ sở hữu nhãn hiệu đó có

quyền sử dụng nhãn hiệu với tư cách là người

sử dụng trước (Theo Điều 32 Luật Nhãn hiệu

Nhật Bản) Đây là một ngoại lệ cho quy tắc

nộp đơn đầu tiên

Như vậy, Nhật Bản đã có những quy định cụ

thể về nhãn hiệu nổi tiếng và cả nhãn hiệu nổi

tiếng không đăng ký

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ

NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG

Ở Việt Nam, các quy định về bảo hộ nhãn

hiệu ra đời từ rất sớm, thế nhưng phải đến khi

Luật Sở hữu Trí tuệ được ban hành vào năm

2005 mới có những quy định cụ thể về bảo hộ

nhãn hiệu nổi tiếng Tiêu chí được xem xét để

xác định nhãn hiệu là nổi tiếng được quy định

cụ thể tại Điều 75 Luật Sở hữu Trí tuệ Theo

đó, các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng:

- Số lượng người tiêu dùng liên quan đến

nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng

hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông

qua quảng cáo;

- Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ

mang nhãn hiệu đã được ban hành;

- Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung

cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng

hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã

được cung cấp;

- Thời gian sử dụng liên tục hàng hóa;

- Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang

nhãn hiệu;

- Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

- Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu nổi

tiếng;

- Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền

sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu

Các tiêu chí khá chủ quan và thiên về định

tính Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng “số

lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến

nhãn hiệu” Làm thế nào để xác định được

những người tiêu dùng nào có liên quan đến

nhãn hiệu, đó là những người tiêu dùng sử

dụng nhãn hiệu có cùng chủ sở hữu hay

những người tiêu dùng sử dụng hàng hóa

hoặc dịch vụ tương tự… Khái niệm “người

tiêu dùng liên quan” vẫn chưa được quy định

cụ thể Ngoài ra, giữa định nghĩa về khái niệm với tiêu chí thứ 6 xác định nhãn hiệu nổi tiếng, còn có sự mẫu thuẫn về việc xác định,

để được công nhận là nổi tiếng, nhãn hiệu đó cần phải có sự biết đến của người tiêu dùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam hay còn cần sự công nhận của các quốc gia Bên cạnh sự mâu thuẫn mà cũng không quy định rõ thế nào là người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Điều này sẽ gây khó khăn cho các chủ sở hữu cũng như các cơ quan xác định nhãn hiệu nổi tiếng

Qua việc xem xét các tiêu chí nói trên, có nhiều quy định mang tính chất định lượng như số lượng người tiêu dùng, số lượng quốc gia bảo hộ, số lượng quốc gia công nhận… Khi cơ quan có thẩm quyền đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng, chủ sở hữu sẽ phải đưa ra con

số bao nhiêu là đủ Bên cạnh đó, giữa các quy định trong luật còn có sự mâu thuẫn giữa quy định tại Điều 75.6 về số lượng quốc gia bảo

hộ với quy định về khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng theo Điều 4.20 Luật Sở hữu Trí tuệ Theo khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 4.20 thì chỉ cần người tiêu dùng trên toàn lãnh thổ quốc gia biết đến nhãn hiệu nhưng ở tiêu chí thứ 6 này lại yêu cầu phải có một số quốc gia công nhận

Theo Điều 74.2.i Luật Sở hữu Trí tuệ về khả năng phân biệt nhãn hiệu, đối với nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu bị nghi ngờ là nhãn hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng nếu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên lệ về chức năng, công dụng

và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hóa, dịch

vụ thuộc phạm vi bảo hộ Hoặc hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng [5] Những nhãn hiệu đó sẽ không được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam Theo Điều 6.2 Nghị định số 122/2010/NĐ-CP

về sử đổi, bổ sung Nghị định số 103/2006/

Trang 8

NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về

sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công

nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác

lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn

hiệu Việc quy định trên có thể thấy tiêu chí

thực tiễn sử dụng là một tiêu chí rất quan

trọng để công nhận một nhãn hiệu nổi tiếng

Nhờ quá trình sử dụng liên tục mà nhãn hiệu

mới được người tiêu dùng biết đến Không

giống với những nhãn hiệu khác, nhãn hiệu

nổi tiếng được bảo hộ tự động mà không cần

đăng ký Thực tế, một số chủ sở hữu vẫn đăng

ký cho nhãn hiệu nổi tiếng của mình để được

bảo đảm chắc chắn quyền lợi cũng như có căn

cứ pháp lý nếu có tranh chấp phát sinh

Việc quy định xác lập quyền bảo hộ đối với

nhãn hiệu nổi tiếng chỉ có Tòa án và Cục Sở

hữu Trí tuệ xem xét và công nhận một nhãn

hiệu là nổi tiếng Ngoài ra, Tòa án và Cục Sở

hữu Trí tuệ sẽ chỉ xem xét và công nhận một

nhãn hiệu nổi tiếng khi có yêu cầu của các tổ

chức, cá nhân cụ thể trong từng vụ việc Nhãn

hiệu nổi tiếng có thể được bảo hộ tại bất kỳ

thời điểm nào nếu có tranh chấp xảy ra và chủ

sở hữu có thể chứng minh nhãn hiệu của mình

là nổi tiếng Tuy nhiên, vai trò của Tòa án lại

không quá mạnh Hầu hết các vụ kiện liên

quan đến xâm phạm nhãn hiệu được giải

quyết bởi Cục Sở hữu Trí tuệ, rất ít vụ việc

được giải quyết bởi Tòa án Điều này minh

chứng theo một nghĩa nào đó, những chức

năng quan trọng của Tòa án đã được thực

hiện bởi các cơ quan khác

Pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi

tiếng đã được quy định khá rõ ràng và phù hợp

với thực tiễn cũng như các điều ước quốc tế

KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HỘ

NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG TẠI VIỆT NAM

Hệ thống pháp luật Việt Nam khá hoàn thiện

và đầy đủ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và

nhãn hiệu nổi tiếng Hệ thống bảo hộ nhãn

hiệu nổi tiếng mà pháp luật Việt Nam xây

dựng đã phần nào giải quyết được nhu cầu

của thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng cho

dù đóng góp là nhỏ bé đối với nhu cầu đang

được đặt ra ngày càng lớn

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu nổi tiếng dường như vẫn còn nhiều thiếu sót Để có thể hoàn thiện cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam cũng như xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không có sự mâu thuẫn, nhóm tác giả xin đưa

ra một số kiến nghị:

Làm rõ các khái niệm, thuật ngữ sử dụng Đầu tiên cần làm rõ khái niệm “người tiêu dùng liên quan”, để việc tìm kiếm bằng chứng chứng minh nhãn hiệu nổi tiếng được dễ dàng hơn đối với chủ sở hữu cũng như Cục Sở hữu Trí tuệ hay Tòa án Từ “liên quan” cho biết mức độ thay đổi đối với hình thức và bản chất, nhóm khách hàng có liên quan có sự khác nhau tùy thuộc vào hàng hoá, dịch vụ trên thị trường [6] Khái niệm “người tiêu dùng liên quan” có thể hiểu là những người tiêu dùng có khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch

vụ tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu chứng minh nổi tiếng Ngoài ra còn có khái niệm “người tiêu dùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam” ở trong định nghĩa về nhãn hiệu nổi tiếng Theo đó, người tiêu dùng trên các tỉnh thành, địa phận của Việt Nam biết đến thì nhãn hiệu đó mới được coi là nhãn hiệu nổi tiếng hay chỉ đại bộ phận lãnh thổ Việt Nam

Bổ sung quy định bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng chưa được sử dụng tại Việt Nam Đối với những nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới được người tiêu dùng biết đến nhưng chưa được sử dụng chính thức tại Việt Nam cũng cần phải có cơ chế bảo hộ Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các kênh truyền hình quốc tế, internet… người tiêu dùng Việt Nam vẫn biết đến các nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới cho dù nhãn hiệu chưa được sử dụng hay chưa có hệ thống cửa hàng chính thức tại Việt Nam Những nhãn hiệu nổi tiếng này sẽ được bảo hộ nếu như chứng minh được sự nổi tiếng ở trong nước cũng như hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được xuất, nhập khẩu, sử dụng, cung cấp tại một số quốc gia

Tăng cường thẩm quyền của Tòa án và Cục Sở hữu Trí tuệ

Để thực hiện có hiệu quả việc bảo hộ nhãn hiệu, nên củng cố và tăng cường chức năng,

Trang 9

Đặng Thương Hoài Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 179(03): 155 - 161

nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền giải

quyết các vấn đề có liên quan đến nhãn hiệu

nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng,

đặc biệt là Cục Sở hữu Trí tuệ Có thể lập một

Tòa án chuyên giải quyết các tranh chấp, vi

phạm có liên quan đến nhãn hiệu để việc bảo

hộ được thực hiện tốt hơn

Quy định cụ thể về thủ tục công nhận nhãn

hiệu nổi tiếng

Sau khi đã được công nhận là nhãn hiệu nổi

tiếng bởi Tòa án hoặc Cục Sở hữu Trí tuệ,

nhãn hiệu được ghi nhận vào Danh bạ quốc

gia Tuy nhiên lại chưa có quy định chi tiết về

việc ghi nhận này Những thủ tục này phải

được quy định một cách hợp lý để không trở

thành một hình thức “đăng ký” bảo hộ phức

tạp, tốn nhiều thời gian, trái với nguyên tắc

bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng như quy định tại

Điều 6.bis Công ước Paris [7]

Các nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu

nổi tiếng bởi một quyết định của Tòa án hay

Cục Sở hữu trí tuệ, dù là quyết định riêng biệt

về sự nổi tiếng của nhãn hiệu, hay là quyết

định về một vụ việc cụ thể trong đó có công

nhận sự nổi tiếng của nhãn hiệu này, có thể

được ghi nhận vào Danh mục nhãn hiệu nổi

tiếng được lưu giữ tại Cục Sở hữu trí tuệ

Bổ sung quy định về sự lu mờ nhãn hiệu

Pháp luật Việt Nam cần phải ghi nhận chính

thức sự lu mờ nhãn hiệu tại các văn bản pháp

lý vì đây là một trong những yếu tố quan

trọng phải được tính đến trong việc xác định

các hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng

trong các vụ việc cụ thể Như pháp luật quốc

tế cũng như pháp luật các quốc gia, thuật ngữ

“sự lu mờ” có được quy định rõ ở trong luật

hay không thì thuật ngữ này vẫn được công

nhận và áp dụng trong thực tiễn

Ban hành Luật Nhãn hiệu Việt Nam

Thực tế, Hoa Kỳ, Nhật Bản đều có đạo luật

riêng về bảo hộ nhãn hiệu Thiết nghĩ biện

pháp bức thiết nhất hiện giờ của nước ta là việc

ban hành Luật Nhãn hiệu Luật Nhãn hiệu mới

này không chỉ giải quyết các hạn chế nói trên

mà còn quy định cụ thể hơn về việc bảo hộ

nhãn hiệu nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nổi

tiếng nói riêng Thông qua đó sẽ tăng cường

được vai trò và hiệu quả của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo hộ nhãn hiệu

KẾT LUẬN Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được đông đảo người tiêu dùng không chỉ trong giới hạn một quốc gia mà còn được biết đến ở nhiều quốc gia khác Và với những đặc trưng của mình, nhãn hiệu nổi tiếng có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt trong việc đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, nhà sản xuất Chính vì sự cần thiết đó mà không chỉ các điều ước, hiệp định quốc tế quy định về nhãn hiệu nổi tiếng, các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản… và cả Việt Nam đều đưa ra những quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng Pháp luật quốc tế cũng như các quốc gia đều đưa ra các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng cũng như cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng chống lại sự xâm phạm

Cùng với việc phân tích các cơ chế bảo hộ tiêu biểu trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản,

từ đó có thể rút ra những kinh nghiệm hay tiếp thu những điểm nổi bật từ các cơ chế đó

để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng Một trong những điểm nổi bật cần học tập từ các quốc gia này, đó chính là việc xây dựng và ban hành một đạo luật riêng về nhãn hiệu

LỜI CẢM ƠN Bài báo là sản phẩm khoa học của đề tài:

“Tìm hiểu cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại một số quốc gia và vận dụng cho một số trường hợp cụ thể tại Việt Nam”có mã số T2017-7-14 được tài trợ bởi kinh phí của Trường Đại học Công nghệ thông tin & Truyền thông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 World Intellectual Property Organization

Provisions on the Protection of Well-Known Marks, Geneva

2 Paige Dollinger (2001), The Federal Trademark Anti-Dilution Act, Chicago-Kent College of Law,

Chicago

3 Tòa án Tối cao Tokyo (1992), Phán quyết Vụ số

29, Nhật Bản

4 Elizabeth Houlihan (2011), Well-known Trade Marks – An International Perspective, truy cập tại

Trang 10

2013/03/Famous_Marks_Paper.pdf, truy cập ngày

21/1/2018

5 Nguyễn Thị Hồng Bích (2012), Bảo hộ nhãn

hiệu nổi tiếng theo pháp luật Liên minh châu Âu

và bài học kinh nghiệm cho vấn đề bảo hộ nhãn

hiệu nổi tiếng tại Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà

Nội, Hà Nội

6 Isik Ozdogan and Ezgi Baklaci, Who is a relevant consumer, truy cập tại trang https://www.worldipreview.com/article/who-is-a-relevant-consumer, truy cập ngày 21/1/2018

7 Đoàn Hồng Sơn (2011), Một số ý kiến đóng góp đối với Báo cáo rà soát Luật Sở hữu trí tuệ, Hội

thảo hoàn thiện báo cáo rà soát Luật Sở hữu trí tuệ, Hà Nội

SUMMARY

THE INTERNATIONAL AND VIETNAMESE LAWS

ON PROTECTION OF WELL-KNOWN TRADEMARKS

TNU University of Information and Communication Technology

In the process of international economic integration, the competition between goods and services has become increasingly fierce Trademarks, especially well-known trademarks, play an important role in distinguishing between goods and services of different businesses The well-known trademarks are globally famous, with no specific regulations on protection, so there are many famous trademark infringement cases not only in Vietnam but also in the world Therefore, the authors study and compare the laws of some countries and Vietnam and propose solutions for the protection of well-known trademarks in Vietnam

Keywords: well-known trademarks, famous trademarks, intellectual property laws, US law, Japanes law, international law, Vietnamese law

Ngày nhận bài: 23/01/2018; Ngày phản biện: 21/02/2018; Ngày duyệt đăng: 21/3/2018

*

Tel: 0936.578.985, Email: dthlinh@ictu.edu.vn

Ngày đăng: 08/07/2021, 03:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w