1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước Đầu Tìm Hiểu Về Hình Thức Sở Hữu Ruộng Đất Ở Thủ Dầu Một - Bình Dương 1897 - 1929

84 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chịu sự tác động bởi những chính sách về ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành, các hình thức sở hữu ruộng đất của tỉnh Thủ Dầu Một bị thay đổi.. Để làm rõ được các hình thức sở hữu ruộng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Giảng viên hướng dẫn : TS Bùi Thị Huệ

Sinh viên : Vũ Thị Yến

MSSV: 1156020034

Lớp: D11LS01

Bình Dương, tháng 4 năm 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Thông qua khóa luận tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới trường Đại học Thủ Dầu Một, quý thầy cô khoa Sử đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt bày tỏ lòng kính trọng biết ơn tới TS.Bùi Thị Huệ, cô đã luôn tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi mỗi khi tôi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện khóa luận Thật lòng em cảm ơn cô rất nhiều!!!

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thư viện tỉnh Bình Dương và thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác sưu tầm tài liệu để thực hiện khóa luận

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thiện khóa luận

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

1.Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 5

1.1.Lí do chọn đề tài 5

1.2.Mục đích nghiên cứu 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

2.1 Giai đoạn trước 1945 7

2.2 Giai đoạn sau 1945 đến nay 7

3 Nguồn tài liệu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của đề tài 13

7 Bố cục nội dung khóa luận 13

CHƯƠNG 1: 14

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI 15

THỦ DẦU MỘT – BÌNH DƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH KHAI PHÁ

VÙNG ĐẤT NAM KỲ (THẾKỈ XVII – XIX) 15

1.1 Bối cảnh lịch sử 15

1.2 Quá trình định cư của người Việt ở vùng đất Đông Nam Kỳ đầu thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX 18

1.3 Chính sách quản lý của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đối với vùng đất Đông Nam Kỳ 23

Tiểu kết chương 1 29

Trang 4

CHƯƠNG 2: 30

HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT 30

Ở THỦ DẦU MỘT - BÌNH DƯƠNG (1897 – 1929) 31

2.1 Quá trình xâm chiếm, cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp ở miền Đông Nam Kỳ (1897 – 1929) 31

2.1.1 Giai đoạn 1862 - 1897 32

2.1.2 Giai đoạn 1897 - 1918 33

2.1.3 Giai đoạn 1919 - 1929 35

2.2 Chính sách của thực dân Pháp đối với ruộng đất Nam Kỳ 37

2.3 Các hình thức sở hữu ruộng đất tồn tại trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương (1897 – 1929) 40

2.3.1 Sở hữu của khối cá nhân hay điền chủ độc lập 43

2.3.2 Sở hữu của những liên doanh điền chủ 47

2.3.3 Sở hữu của những công ty điền chủ 48

Tiểu kết chương 2 56

CHƯƠNG 3: 58

ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT (1897 – 1929) 58

3.1 Đặc điểm sở hữu ruộng đất ở phía Nam tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương (1897 – 1929) 58

3.2 Bài học về quản lý và sử dụng đất đai 63

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 82

Trang 5

ở tỉnh Thủ Dầu Một qua tỷ lệ diện tích đồn điền trồng cao su năm 1926 51

Bảng 2.6.Sản lượng lúa ở tỉnh Thủ Dầu Một (1921 – 1945) 52

Trang 6

Bình dương là vùng đất được khai phá cùng với công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn Trải qua quá trình phát triển từ thời các chúa Nguyễn và sau này là vua Nguyễn, vùng đất Bình Dương ngày càng được hoàn thiện về mặt hành chính song song với quá trình quản lý về các mặt của đời sống kinh tế dưới các triều đại phong kiến

Dưới thời Pháp thuộc, để thuận lợi cho việc thống trị, ngay khi chiếm được toàn

bộ vùng đất Nam Kì, thực dân Pháp liền tiến hành chia tách địa phận, lập lại các đơn

vị hành chính trên toàn cõi Nam Kỳ nói chung, Biên Hòa nói riêng Năm 1863 Pháp chia Biên Hòa thành hai phủ Phước Long và Phước Tuy Địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay nằm trong hai huyện Bình An và Phước Chánh thuộc phủ Phước Long Đến năm 1867 Pháp chia Nam Kỳ thành nhiều hạt tham biện.Trong đó chia Biên Hòa thành

5 hạt tham biện Bình Dương thuộc hạt tham biện Bình An, hạt lỵ đặt tại Thủ Dầu Một Đến năm 1869 hạt Bình An không được dùng nữa mà đổi thành địa hạt Thủ Dầu Một Vào năm 1876 Pháp chia Biên Hòa thành 3 hạt tham biện gồm: Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa Địa bàn tỉnh Bình Dương nằm trong hạt tham biện Thủ Dầu Một, lỵ

sở đặt tại Thủ Dầu Một (thuộc thôn Phú Cường)

Như vậy sau nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính cho phù hợp với chính sách cai trị của Pháp Đến 20/12/1889 tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập với địa phận thuộc huyện Bình An (phủ Phước Long) cộng thêm tổng Dương Hòa Hạ thuộc huyện Bình

Trang 7

Dương (phủ Tân Bình).Ranh giới hành chính này được giữ nguyên đến trước cách mạng tháng Tám

Chịu sự tác động bởi những chính sách về ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành, các hình thức sở hữu ruộng đất của tỉnh Thủ Dầu Một bị thay đổi Vậy dưới thời Pháp thuộc, đặc biệt trong thời gian Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa từ 1897 đến

1929 ở tỉnh Thủ Dầu Một có những hình thức sở hữu ruộng đất nào, đặc điểm của các hình thức sở hữu ruộng đất ra sao vẫn còn là một vấn đề chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Chính vì vậy việc tìm hiểu các hình thức sở hữu ruộng đất ở tỉnh Thủ Dầu Một - Bình Dương (1897-1929) là một việc làm thiết thực của công tác nghiên cứu lịch sử nói chung, nghiên cứu lịch sử địa phương nói riêng Hiện nay, vấn đề sở hữu ruộng đất ở Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng đã được nghiên cứu một cách đầy đủ với rất nhiều công trình được công bố, song vấn đề sở hữu ruộng đất ở tỉnh Bình Dương lại ít được đề cập

Đồng thời việc nghiên cứu vần đề này không chỉ giúp có cách nhìn toàn diện,

hệ thống về các các hình thức sở hữu ruộng đất ở tỉnh Bình Dương (1897-1929) mà còn tạo cơ sở lịch sử để hiểu, lí giải những vấn đề hiện tại và rút ra những kinh nghiệm trong công tác quản lí đất đai hiện nay

Nghiên cứu những vấn đề về lịch sử địa phương còn có vai trò hết sức quan trọng góp phần bổ sung sử liệu cho việc xây dựng lịch sử địa phương tỉnh Bình Dương trong vấn đề sở hữu ruộng đất của tỉnh Thủ Dầu Một giai đoạn 1897-1929

Đồng thời bản thân là một người con của vùng đất Bình Dương với mong muốn góp một phần nhỏ trong công tác nghiên cứu lịch sự địa phương

Với những lí do khoa học và thực tiễn nêu trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài

“Bước đầu tìm hiểu các hình thức sở hữu ruộng đất ở tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương (1897 - 1929)” để làm đề tài khóa luận tốt của mình sau bốn năm học tập tại

trường đại học Thủ Dầu Một

1.2.Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài tập trung ở một số vấn đề sau:

- Khái quát quá trình Nam tiến khẩn hoang của cư dân Việt ở vùng đất Nam Kỳ nói chung và trên vùng đất Bình Dương xưa Nêu những nét chính của chính sách quản lý của triều Nguyễn đối với vùng đất mới khai hoang ở Nam Kỳ về mặt hành

Trang 8

chính Để tư đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý đất đai hiện nay

- Phục dựng lại các hình thức sở hữu ruộng đất đã từng tồn tại trên đất Thủ Dầu Một giai đoạn 1897 – 1929

- Nêu lên được đặc điểm về tình hình sở hữu ruộng đất chung của tỉnh và đặc điểm riêng của các hình thức sở hữu ruộng đất ở Thủ Dầu Một giai đoạn Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa 1897 – 1929

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chế độ sở hữu ruộng ở Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm, chú ý nghiên cứu

2.1 Giai đoạn trước 1945

Trong giai đoạn này thư mục nghiên cứu vấn đề khá phong phú Nhưng do khả

năng có hạn tôi chỉ có thể tiếp cận được một tác phẩm “Economie agricole de I’Indochine” (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương) của Yves Henry xuất bản năm 1930

Trong tác phẩm này tác giả có cuộc điều tra thực tế được tiến hành từ 1928 đến 1930

để đưa những tỷ lệ về sở hữu ruộng đất ở miền Bắc, Trung và Nam nước ta Công trình này chứa đựng những tư liệu đặc biệt là số liệu thống kê có liên quan đến vấn đề ruộng đất Tuy nhiên học giả chỉ dừng lại ở việc khái quát chung về chế độ sở hữu ruộng đất của Việt Nam, phần nghiên cứu về chế độ ruộng đất của Nam Kỳ còn rất sơ lược, song cũng có một vài thông tin đề cập đến Thủ Dầu Một trong cơ cấu cây trồng

Sau đó là luận án tiến sĩ của Vũ Văn Hiền năm 1939 “Sở hữu xã thôn ở Bắc Kỳ” (La propriété communale au Tonkin) với nội dung khảo sát công điền công thổ

trong lịch sử Việt Nam và của Nam Kỳ

Những công trình trên chứa đựng những tư liệu rất đáng quý, nhưng chỉ khái quát chung về chế độ sở hữu ruộng đất của Việt Nam, vì thế phần đề cập đến chế độ sở hữu ruộng đất của Nam Kỳ còn sơ lược

2.2 Giai đoạn sau 1945 đến nay

Có thể nói giai đoạn sau 1945 vấn đề sở hữu ruộng đất của Việt Nam nói chung

và Nam Bộ nói riêng đã được quan tâm nhiều hơn, với hàng loạt các công trình của các nhà nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm liên quan đến vấn đề sở hữu ruộng đất:

Trang 9

Tác phẩm “Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước cách mạng tháng Tám” củaNguyễn Kiến Giang, 1953, NXB Sự thật Trong tác phẩm tác

giả đã trình bày các hình thức sở hữu ruộng đất ở nước ta trong hai chương II và III tương ứng với mốc thời gian trước và sau khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược Đồng thời nói lên tình cảnh đời sống người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.Qua

đó tác giả cho người đọc một cái nhìn rõ nét về mối quan hệ giữa người nông dân với ruộng đất

Tác phẩm “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX” củaVũ

Huy Phúc, 1979, NXB Khoa học Xã hội Tác giả không chỉ cung cấp đầy đủ thông tin

ba hình thức sở hữu ruộng dưới triều Nguyễn: ruộng đất nhà nước, ruộng đất công làng

xã, ruộng đất tư hữu, mà còn trình bày một cách chi tiết về tô thuế đối với từng loại ruộng đất

Tác phẩm “Chế độ ruộng đất Việt Nam thế kỉ XI-XVIII”của Trương Hữu Quýnh, NXB Chính trị Quốc gia.Tác phẩm đã được tác giả giới thiệu đến bạn đọc năm

1982.Đây là công trình nghiên cứu tâm huyết trong nhiều năm của tác giả.Trong tác phẩm tác giả đã trình bày tình hình ruộng đất cũng như chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta từ thế kỉ XI-XVIII.Tác phẩm cung cấp nguồn thông tin mà những người nghiên cứu về sau có thể kế thừa và phát huy

Tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” của Huỳnh Lứa (Cb), Nxb Tp

Hồ Chí Minh, năm 1987 Tác giả đã trình bày rõ nét quá trình khẩn hoang vùng đất Nam Bộ trong các thế kỉ từ XVII đến XIX, trong đó đề cập đến chính sách ruộng đất của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn và thực dân Pháp đối với vấn đề ruộng đất Tuy không trực tiếp đề cập đến quá trình khẩn hoang, vấn đề ruộng đất của Tỉnh, song bước đầu tạo cơ sở nghiên cứu hình thức sở hữu ruộng đất ở tỉnh Thủ Dầu Một lúc bấy giờ

Tác phẩm “Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang, lập ấp ở Nam

Kỳ lục tỉnh” của Nguyễn Đình Đầu, 1992, NXB Hà Nội Trong công trình này tác giả

đã phân định tiến trình lịch sử của chế độ sở hữu ruộng đất ở Nam Kỳ, mốc ra đời, nguồn gốc, bản chất của chế độ công điền công thổ ở Nam Kỳ cùng với số liệu thống

kê rất đáng tin cậy từ địa bạ triều Nguyễn Qua tác phẩm tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về chế độ công điền ở Nam Kỳ trước khi Pháp xâm lược nước ta

Trang 10

Tác phẩm “Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Biên Hòa: Sông Bé - Đồng Nai,

Bà Rịa Vũng Tàu”, 1994, NXB Tp.Hồ Chí Minh Một trong những tác phẩm nằm

trong công trình Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – công trình nghiên cứu lớn nhất về khoa học lịch sử ở cuối thế kỉ XX (Trần Văn Giàu) Trong tác phẩm này tác giả đã dành nhiều công sức để mô tả và phân tích cơ cấu các hình thức sở hữu bao gồm: Quan điền quan thổ, công điền công thổ và tư điền tư thổ thông qua các bảng thống kê chi tiết Giúp người đọc hiểu rõ hơn các hình thức sở hữu ruộng đất dưới triều Nguyễn

Tác phẩm “Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Kì nửa đầu thế kỉ XIX”

của Trần Thị Thu Lương, 1994, NXB Tp.Hồ Chí Minh.Có thể nói đây là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về các hình thức sở hữu ruộng đất ở Nam Kỳ trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX Tác giả đã trình bày lịch sử chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất thông qua các địa bạ triều Nguyễn, thư tịch Có thể nói đây là công trình đã phần nào lấp đi khoảng trống trong vấn đề sở hữu ruộng đất của Nam Kỳ thế kỉ XIX

Tác phẩm “Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nhân dân dưới triều Nguyễn” của Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang, 1997, NXB Thuận Hóa.Qua tác phẩm tác

giả đã đề cập đến vần đề ruộng đất ở Nam Bộ và qua đó cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa ruộng đất với người nông dân

Tác phẩm “Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần ở Việt Nam” của Hoàng Việt, 1999, NXB Chính trị Quốc gia Tác giả đã nêu rõ

quá trình chuyển biến kinh tế của Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trong các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp và chăn nuôi Do nghiên cứu dàn trải cho nhiều lĩnh vực, nên phần nghiên cứu biến đổi cho lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, điển hình là biến đổi về mô hình sở hữu và tổ chức sản xuất được đề cập đến rất ít Song qua đó giúp cho người đọc có cái nhìn khái quát về các hình thức sở hữu tồn tại ở Việt Nam dưới triều Nguyễn và Pháp thuộc vớinhững số liệu rất đáng tin cậy

Tác phẩm “Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam” của Lâm Quang Huyên, 2007, NXB

Khoa học Xã hội.Trong tác phẩm tác giả đã giành 14 trang để nói về quan hệ ruộng đất

ở nước ta trước cách mạng tháng Tám 1945 Dưới thời Pháp thuộc tác giả chỉ nêu lên khái quát những hình thức sở hữu ruộng đất ở Việt Nam lúc bấy giờ, chính sách bóc lột của địa chủ Việt Nam và địa chủ thực dân Pháp với người nông dân

Trang 11

Bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên sâu về ruộng đất Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng Vấn đề này còn được đề cập rải rác trong các tác phẩm nói của một số tác giả viết về kinh tế, xã hội chung Đông Dương, Việt Nam thời thuộc

địa như: Nguyễn Khắc Đạm (1958), Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, NXB Văn - Sử - Địa Phạm Cao Dương (1967), Thực trạng của giới nông dân Việt Nam, NXB Khai Trí Nguyễn Thế Anh (1971), Kinh tế Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB Lửa Thiêng Sơn Nam (1997), Lịch sử khẩn hoang Nam Bộcủa, NXB Tp.Hồ Chí Minh.Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ,

NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Ngoài những tác phẩm trên, trong các tạp chí như Nghiên cứu Lịch sử, Xưa và Nay, Khoa Học Đại Học Quốc Gia Hà Nội, thông tin Khoa học Lịch sử cũng đề cập đến vấn đề ruộng đất ở Nam Bộ như:

-Chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam Bộ trong thời đế quốc Pháp thống trị của

Trần Ngọc Định đăng trong tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 132 tháng 5 – 6, trang 81 –

90 và 113 năm 1970

-Mấy nhận xét về cơ cấu chế độ sở hữu ruộng đất ở Đồng Nai Gia Định (cũ) vào nửa đầu thế kỉ XIX của Huỳnh Lứa, đăng trong tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số

215 năm 1984

-Về quyền sở hữu ruộng đất khẩn hoang dưới thời phong kiến của Nguyễn Đức

Nghinh, đăng trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5 và 6 năm 1987

-Nghiên cứu về quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam của Nguyễn Văn Khánh, đăng

trong tạp chí Khoa Học Đại học Quốc gia Hà Nội tập 29, số 1 năm 2013

Với những công trình và bài viết trên có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu về ruộng đất Việt Nam nói chung, ruộng đất Nam Bộ nói riêng từ lâu đã được đề và nghiên cứu sâu Nhìn chung các tác phẩm của các tác giả mới chỉ đề cập chung đến tình hình sở hữu chung của Nam Kỳ lúc bấy giờ Nhưng là nguồn tài liệu tham khảo tốt, cơ sở cho nghiên cứu vấn đề sở hữu ruộng đất của tỉnh Thủ Dầu Một

Bên cạnh những tác phẩm trên, tỉnh Bình Dương cũng tiến hành biên soạn những tập địa chí với những giai đoạn khác nhau như:

- Tác phẩm Địa chí tỉnh Bình Dương tập 3 - kinh tế, do Phan Xuân Biên chủ

biên, xuất bản năm 2010 Tập địa chí đề cập khái quát tình hình phát triển nông nghiệp

Trang 12

Bình Dương qua các giai đoạn, trong đó có đề cập đến vấn đề ruộng đất dưới thời Pháp thuộc

Song trong các tập địa chí hầu hết chỉ đề cập một cách ngắn gọn về tình hình ruộng đất của tỉnh trong các giai đoạn và chưa đề cập một cách cụ thể các hình thức sở hữu ruộng đất tồn tại ở Bình Dương trong các giai đoạn nói chung và giai đoạn Pháp tiến hành hai lần khai thác thuộc địa (1897-1929) ở Bình Dương nói riêng

Như vậy thông qua những tác phẩm nghiên cứu về vấn đề ruộng đất và các hình thức sở hữu ruộng của Việt Nam nói chung, Nam Bộ từ lâu đã được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu và xuất bản những công trình với những kết quả rất đáng trân trọng Tuy nhiên phần nghiên cứu về các hình thức ruộng đất ở tỉnh Bình Dương giai đoạn Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa (1897-1929) vẫn chưa được tập trung

tìm hiểu thích đáng, toàn diện và có hệ thống Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu các hình thức sở hữu ruộng đất ở Thủ Dầu Một-Bình Dương (1897-1929), để

nghiên cứu, sẽ góp phần lấp đi khoảng trống trong công tác nghiên cứu vấn đề các hình thức sở hữu ruộng đất của tỉnh trong giai đoạn này Đồng thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử chế độ sở hữu ruộng đất của Tỉnh trong quá khứ để có thể vận dụng xử

lý tốt hơn những vấn đề về quản lý đất đai trong hiện tại

3 Nguồn tài liệu

Như trên đã trình bày, lịch sử nghiên cứu về các hình thức sở hữu ruộng đất ở tỉnh Thủ Dầu Một - Bình Dương rất ít ỏi chủ yếu được đề cập tản mạn ở một vài tác phẩm Chính vì vậy để thực hiện được mục đích nghiên cứu đề ra, luận án đã tham khảo và sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau:

- Tài liệu viết về địa lý lịch sử, lịch sử hình thành phát triển, lịch sử kinh tế tỉnh Biên Hòa, trong đó chủ yếu là tỉnh Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc

-Tài liệu bằng tiếng Hán đươc dịch ra tiếng Việt điển hình một số tác phẩm sau:

+ Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Biên Hòa: Sông Bé- Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, NXB TP Hồ Chí Minh

+ Ngô Sĩ Liên (2011), Đại Việt sử kí toàn thư, NXB Thời Đại

+ Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, NXB Giáo Dục

+ Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục tập 1, NXB Giáo Dục

Hà Nội

Trang 13

- Luận văn, luận án chuyên ngành trong các thư viện tại các thư viện

- Các tham luận trong các kỷ yếu hội thảo khoa học về Nam Bộ nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng

- Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành: Nghiên cứu Lịch sử, thông tin Khoa học Lịch sử…

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là ruộng đất và các hình thức sở hữu ruộng đất từng tồn tại ở địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn (1897-1929)

Để làm rõ được các hình thức sở hữu ruộng đất ở tỉnh Thủ Dầu Một - Bình Dương (1897 - 1929) thì đối tượng cần thiết phải đề cập đến chính là những chính sách

về ruộng đất do thực dân Pháp tiến hành ở Bình Dương giai đoạn này Vì những chính sách đó là yếu tố tác động làm thay đổi các những hình thức sở hữu ruộng đất tồn tại ở tỉnh Thủ Dầu Một lúc bấy giờ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu giới hạn của đề tài là phía Nam của tỉnh Thủ Dầu Một giai đoạn Pháp thuộc, tương ứng với địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay bao gồm: thị

xã Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An, thị xã Bến Cát, huyện Bàu Bàng, thị

xã Tân Uyên, huyện Bắc Tân Uyên, huyện Dầu Tiếng, huyện Phú Giáo

Thời gian nghiên cứu được xác định từ năm 1897 đến năm 1929, đánh dấu quá trình thực dân Pháp bắt đầu tiến hành những chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất năm 1897 đến hết cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai 1929 ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thủ Dầu Một - Bình Dương nói riêng

Với phạm vi và thời gian nghiên cứu như trên, đề tài tập trung giải quyết các vấn đề: 1 Khái quát về vùng đất, con người Thủ Dầu Một - Bình Dương trong tiến trình khai phá 2 Các hình thức sở hữu ruộng đất ở Thủ Dầu Một 3 Từ vấn đề 1 và 2 dẫn đến đúc rút thành đặc điểm của hình thức sở hữu ruộng đất cũng như bài học kinh nghiệm về quản lí và sử dụng ruộng đất trong giai đoạn đề cập

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá về những hình thức sở hữu ruộng đất tồn tại ở Thủ Dầu Một - Bình Dương từ 1897 đến

1929

Phương pháp chuyên ngành được sử dụng trong quá trình thực hiện khóa luận

là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, chủ yếu là phương pháp lịch sử được thể hiện ở những mặt sau:

Thu thập, sưu tầm, phân tích các nguồn tài liệu thành vănđể rút ra các sự kiện,

số liệu cần thiết cho đề tài.Trên cơ sở đó phục dựng lại các hình thức sở hữu ruộng đất một cách tương đối ở Thủ Dầu Một – Bình Dương từ 1897 đến1929.Từ đó làm cơ sở

đề rút ra bài học kinh nghiệm về quản lí và sử dụng ruộng đất ở giai đoạn đề cập

Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp định lượng trong nghiên cứu sử học…nhằm đối chiếu, chắt lọc những sự kiện, số liệu phản ánh sát những chính sách của thực dân Pháp đối với vấn đề ruộng đất ở Thủ Dầu Một - Bình Dương từ 1897 đến 1929, cũng như đưa ra tỷ lệ phần trăm của các loại hình sở hữu ruộng đất nhằm giúp nhìn rõ tương quan về tỷ lệ sở hữu ruộng đất ở Bình Dương đương thời so với các địa bàn lân cận, nội vùng Đông Nam Kỳ cùng thời

6 Đóng góp của đề tài

Kết quả nghiên cứu của khóa luận, góp phần:

-Khái quát lại quá trình khẩn hoang của cư dân người Việt trên vùng đất Bình Dương xưa và chính sách quản lý của triều Nguyễn đối với vùng đất mới khai mới khai hoang về mặt hành chính

-Phục dựng lại cơ cấu hình thức sở hữu ruộng đất ở tỉnh Thủ Dầu Một - Bình Dương giai đoạn (1897 - 1929), đồng thời so sánh tỷ lệ các loại hình sở hữu ruộng đất của tỉnh với các vùng lân cận để từ đó làm nổi bật những đặc điểm trong hình thức sở hữu ruộng đất của Tỉnh lúc bấy giờ Đồng thời bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý và sử dụng ruộng đất ở giai đoạn đề cập

-Bổ sung thêm nguồn tài liệu cho công tác nghiên cứu về lịch sử địa phương

7 Bố cục nội dung khóa luận

Trang 15

Khóa luận được kết cấu ngoài các phần dẫn luận, tài liệu tham khảo và kết luận, nội dung chính gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát những nét cơ bản quá trình khẩn hoang của cư dân Việt, cũng như chính sách quản lý của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đối với vùng đất Nam

Bộ nói chung, vùng đất Thủ Dầu Một - Bình Dương nói riêng

Chương 2:Khái quát quá trình xâm chiếm cướp đoạt và những chính sách của thực dân Pháp đối với ruộng đất ở Nam Kỳ nói chung, tỉnh Thủ Dầu Một nói riêng Qua đó làm rõđược sự tác động của những chính sách đãlàm thay đổi cơ cấu ruộng đất

ở Thủ Dầu Một Trình bày các hình thức sở hữu ruộng đất, cũng như đặc điểm nổi bật trong sở hữu ruộng đấtở tỉnh Thủ Dầu Một trong giai đoạn Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc (1897 - 1929) Phân tích, so sánh tỷ lệ các hình thức sở hữu của tỉnh Thủ Dầu Một với những tỉnh lân cận thuộc vùng Đông Nam Kỳ để thấy được những nét tương đồng, khác biệt trong các hình thức sở hữu ruộng đất

Chương 3: Rút ra đặc điểm của các hình thức sở hữu ruộng đất của Tỉnh lúc bấy giờ Nêu những bài học kinh nghiệm từ việc quản lý đất của chính quyền phong kiến và của thực dân Pháp đối với công cuộc quản lý đất đai trong giai đoạn hiện nay

CHƯƠNG 1:

Trang 16

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI THỦ DẦU MỘT – BÌNH DƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH KHAI PHÁ

VÙNG ĐẤT NAM KỲ (THẾKỈ XVII – XIX)

1.1 Bối cảnh lịch sử

Bước sang thế kỉ XVI, ở nước ta xảy ra cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều, ngay khi cuộc chiến đang diễn ra thì trong nội bộ chính quyền Nam triều đã xuất hiện những mâu thuẫn và mầm mống chia rẽ Vào năm 1545 Trịnh Kiểm lên nắm quyền thay họ

Lê và đã âm mưu giết hại tả tướng Nguyễn Uông con của Nguyễn Kim Nguyễn Hoàng lo sợ tìm cách thoát khỏi mối đe dọa.Cho nên vào cuối năm 1558, Nguyễn Hoàng cùng với thân tín ở Tống Sơn (Thanh Hóa - quê ông) vào trấn thủ Thuận Hóa.Ông thực hiện chính sách khoan hòa, khuyến khích nhân dân sản xuất Điều này

trong Đại Nam thực lục có ghi lại “Chúa vỗ về quân dân, thu dòng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được nhân dân mến phục, thường gọi là chúa Tiên” [61, tr 28].Để từng

bước thiết lập chính quyền đủ sức đối trọng với chính quyền họ Trịnh

Đến năm 1627, chiến tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra kéo dài tới 45 năm 1672) không phân thắng bại, nhưng chính quyền chúa Nguyễn đã giành được thắng lợi với việc biến vùng đất Đàng Trong thành nơi cát cứ của chính quyền họ Nguyễn.Sự kiện khởi đầu, tạo tiền đề cho công cuộc Nam tiến sau này

(1627-Cũng vào thế kỉ XVI, khi đang từng bước thiết lập vùng Thuận Quảng thành nơi độc lập về mọi mặt, thì việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam là nhu cầu tất yếu để gây dựng cơ đồ vững chắc đủ sức đối trọng với chính quyền chúa Trịnh Bản thân chúa Nguyễn không muốn cùng một lúc vừa phải lo đối phó với chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Trong, vừa phải lo đối phó với Chăm-pa có tham vọng chiếm lại vùng đất cũ đã mất mà tiểu quốc Hoa Anh đang cai quản (Phú Yên ngày nay) Chính vì thế Phú Yên vùng tiếp giáp với Thuận Quảng không nằm ngoài tầm ngắm của Nguyễn Hoàng và trở thành điểm đến đầu tiên trong công cuộc Nam Tiến của mình

Công cuộc khai phá vùng đất mới này được bắt đầu từ năm 1578 đến 1693, với hàng loạt các sự kiện được diễn ra Đầu tiên việc hạ thành An Nghiệp (nay thuộc xã

An Nghiệp, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên ngày nay) đẩy quân Chăm - pa vào địa giới

cũ ở phía nam đèo Cả Sau đó thiết lập bộ máy hành chính đổi thành phủ Phú Yên với

Trang 17

hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa vào năm 1611 sau khi đánh bại sự quấy phá của quân Chăm-pa Tiếp theo năm 1653, vua Chăm-pa là Bà Tấm xâm lấn vùng đất Phú Yên và thất bại, vua Bà Tấm phải xin hàng và dâng đất đến tận sông Phan Lang (Phan Rang) Vùng đất từ Phan Rang trở ra đến Phú Yên thuộc về chúa Nguyễn và được gọi

là dinh Thái Khang (Khánh Hòa ngày nay)

Cuối cùng vào năm 1693, vua Chăm-pa là Bà Tranh tuyên bố bỏ tiến cống đem quân đắp lũy, cướp giết nhân dân phủ Diên Ninh, Nguyễn Hữu Cảnh đã thừa lệnh chúa chỉ huy quân, phản công thắng lợi Kết quả vùng lãnh thổ của Chăm-pa (từ sông Phan Rang đến Bình Thuận ngày nay) đã trở thành một đơn vị hành chính của Đàng Trong với tên gọi trấn Thuận Thành Năm 1697 chúa Nguyễn Phúc Chu đặt phủ Bình Thuận.[49, tr 45] Như vậy với tình hình trong nước do chịu sức ép của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã buộc các chúa Nguyễn phải tiến hành mở đất ở vùng Nam Trung Bộ, để tạo nên sức mạnh đủ sức đối trọng với Đàng Ngoài cũng như chấm dứt

sự quấy phá biên giới lãnh thổ với Chăm-pa Tạo tiền đề quan trọng, vững chắc cho công cuộc Nam tiến sau này

Bên cạnh đó công cuộc khẩn hoang Nam Bộ còn được tiến hành trong hoàn cảnh khu vực có những thay đổi thuận lợi Đầu tiên là sự suy yếu của Chân Lạp bắt đầu từ giữa thế kỉ XIII, xuất phát từ việc nội bộ triều đình rối ren do các cuộc chiến tranh giành quyền lực xảy ra liên tục, tiếp đó là hàng loạt các cuộc chiến tranh được tiến hành với Chân Lạp bởi Ayutthaya - vương quốc của một bộ phận người Thái sống

ở thượng nguồn sông Mê Kông đã dần di chuyển xuống phía nam, định cư ở sông Mê Nam Đến năm 1767 Ayutthaya đổi thành vương quốc Xiêm

Sự rối ren và ngày càng suy yếu của Chân Lạp đã từng bước giúp cho những lực lượng bên ngoài như chính quyền Đàng Trong, nhà nước phong kiến Xiêm có cơ hội can thiệp ngày càng sâu vào nội bộ Chân Lạp

Và để đủ sức đối trọng với Ayutthaya, Chân Lạp đã dựa vào Đàng Trong với chính sách “hướng đông” Mối quan hệ giữa hai bên được thiết lập đầu tiên bằng cuộc hôn nhân mang tính chất ngoại giao đã được tiến hành giữa Chey Chettha II (vua Chân Lạp) và công nương Ngọc Vạn là con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên Với cuộc hôn nhân này, kể từ đây trong mối quan hệ giữa Chân Lạp và Xiêm có thêm một yếu tố mới là Đàng Trong của Đại Việt

Trang 18

Tuy nhiên quá trình Đàng Trong thiết lập ảnh hưởng với Chân Lạp cũng luôn gặp phải những cản trở từ Xiêm.Bởi Xiêm không chỉ có tham vọng với Chân Lạp mà

cả Đàng Trong cũng nằm trong tầm ngắm của Xiêm.Với mục đích bành trướng và mở rộng thương mại, làm chủ luồng mậu dịch thương mại khu vực Biển Đông Mà Đàng Trong nằm trên trục chính của tuyến đường thương mại đường biển Đông Nam Á Vì vậy Xiêm nhận thức rõ được tầm quan trọng của vịnh Xiêm và các hàng hải vùng duyên hải Đông Nam của Đại Việt

Nhưng vào thế kỉ XVII nửa đầu thế kỉ XVIII có thể do vấn đề tương quan lực lượng giữa hai bên là tương đối ngang nhau, nên Đàng Trong chưa thực sự phải hứng chịu một trận quyết chiến thực sự nào từ phía Xiêm Ngoài một vài trận đánh mang tính phối hợp, yểm trợ cho Chân Lạp Chính sự cân bằng về lực lượng với Xiêm đã giúp cho Đàng Trong từng bước đánh bật Xiêm ra khỏi mối quan hệ giữa Đàng Trong

và Chân Lạp [49, tr 62- 63]

Cũng trong thế kỉ XVI - XVII luồng thương mại quốc tế trên biển Đông phát triển với hàng loạt các tuyến đường thương mại của các nước châu Âu, Á, Phi được hình thành.Tạo điều kiện cho phương Đông hội nhập vào hoạt động thương mại thế giới Nắm bắt được thời cơ ngàn vàng đó chúa Nguyễn Hoàng và sau này là các chúa Nguyễn đã thực hiện chính sách “mở cửa” với chiến lược coi trọng ngoại thương, dùng thương nghiệp như đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế Việc mở cửa buôn bán với các thương nhân nước ngoài của các chúa Nguyễn còn nhằm mục đích buôn bán

vũ khí và cả kĩ thuật sản xuất vũ khí nhất là với các nước Phương Tây.Vì yếu tố vũ khí giúp tạo ra sức mạnh quân sự đủ sức đối trọng, cân bằng lực lượng với chính quyền Đàng Ngoài Điều này được thể hiện rõ nét trong một nhận xét của người phương Tây

về tâm trạng của các chúa Nguyễn: “họ rất lo lắng làm sao để có được súng đúc từ xưởng đúc sung nổi tiếng của Bocaaro ở Macao” [6,tr 64].Qua đó cho thấy nhu cầu về

vũ khí của chúa Nguyễn về khí giới đã trực tiếp kích thích nền ngoại thương của Đàng Trong

Tóm lại với bối cảnh trong nước là chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài suốt 45 năm (1627 - 1672) đã làm cho Đàng Trong luôn phải trong tư thế sẵn sàng chiến đấu chống lại những đợt tấn công của chính quyền Đàng Ngoài, để đủ nhân lực, vật lực phục vụ chiến tranh buộc các chúa Nguyễn phải tiến hành mở rộng lãnh thổ về phía

Trang 19

Nam mà trước hết là vùng Nam Trung Bộ ngày nay Bước đầu tạo nên bước đệm cũng như cơ sở vững chắc về kinh tế, lực lượng cho công cuộc Nam tiến sau này Đồng thời với bối cảnh trong khu vực là tình hình Chân Lạp suy yếu giúp chúa Nguyễn từng bước gây dựng được sự ảnh hưởng của mình với Chân Lạp, do tạo dựng được thế cân bằng về lực lượng đã giúp chúa Nguyễn từng bước biến Chân Lạp thành một quốc gia tách khỏi phụ thuộc vào Xiêm, hoàn toàn phụ thuộc vào mình Cùng với đó là sự ảnh hưởng của luồng thương mại quốc tế cũng có ảnh hưởng nhất định trong công cuộc Nam tiến sau này nhất là vấn đề gây dựng tiềm lực kinh tế cùng với yếu tố lực lượng, trong đó đặc biệt là thành phần người Hoa

1.2 Quá trình định cư của người Việt ở vùng đất Đông Nam Kỳ đầu thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX

Trong tiến trình mở đất về phương Nam, Đông Nam Kỳ là nơi dừng chân đầu tiên của người Việt - vùng đất trước đây thuộc về vương quốc Phù Nam (từ đầu thế kỉ

I cho đến cuối thế kỉ VI), với vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm cả vùng Trung, Nam

Lào, Nam Bộ va một phần Trung bộ của nước ta ngày nay “Phía nam Phù Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp sông Mun, phía đông giáp biển Đông, phía tây là lưu vực sông Mê Nam và một phần bán đảo Mã Lai” [50, tr 3]

Sau đó là Chân Lạp - một thuộc quốc của Phù Nam nhưng đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập vào thế kỉ thứ VI.Nhân sự suy yếu của của Phù Nam đã nhanh chóng tấn công chiếm lấy phần lãnh thổ của nước này vào thế kỉ thứ VII Tuy nhiên do xảy ra tình trạng phân quyền nội chiến Chân Lạp bị chia thành hai phần là Lục Chân Lạp (vùng đất ban đầu của Chân Lạp) và Thủy Chân Lạp (phần lãnh thổ Phù Nam trước đây) Như vậy Bình Dương ngày nay, thời điểm này thuộc khu vực Thủy Chân Lạp

Do tình trạng tranh giành quyền lực, cùng với đó là chủ chương tập trung phát triển vùng trung tâm Biển Hồ Chính vì vậy quá trình khẩn hoang vùng đất Nam Kỳ không được chính quyền Chân Lạp quan tâm Đồng thời việc cai quản vùng đất này đối với Chân Lạp rất khó khăn Vì đây là vùng đồng bằng mới bồi đắp còn ngập nước

và sình lầy, người Khơ-me tương đối ít ỏi, lại có truyền thống quen khai thác các vùng đất cao, kĩ thuật thấp kém Chính vì thế họ chưa thể tổ chức khai hoang trên quy mô

Trang 20

lớn, đó cũng là lí do khiến vùng đất Đông Nam Kỳ vẫn còn là vùng đất hoang dã, chưa được khai phá bao nhiêu

Tình hình đó vào cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII vùng đất Đông Nam Kỳ nói chung, Bình Dương nói riêng, cũng như hầu hết các địa phương khác thuộc khu vực sông Phước Long (sông Đồng Nai), sông Tân Bình (sông Sài Gòn) vẫn còn là vùng đất hoang hóa, rừng rậm tràn lan với những cư dân bản địa là người Stiêng, Châu Ro, Mạ, Mnông, Khơme Các dân tộc này vừa có số dân ít ỏi, vừa có kỹ thuật sản xuất thấp kém Họ chủ yếu sống nhờ vào đốn chặt cây rừng thành lập nương rẫy tỉa lúa, theo phương thức du canh du cư, kết hợp săn bắn thú rừng và hái lượm, sống rải rác theo buôn sóc cách xa nhau Do đó ngoại trừ một vài vùng đất cao ở bìa rừng và một số gò đồi được vỡ hoang trồng trọt, đại bộ phận đất đai còn lại đều là rừng rậm chưa được khai phá Chính vì lẽ đó cho đến giữa thế kỉ XVII Lê Quý Đôn vẫn ghi lại nhận xét

trong Phủ Biên Tạp Lục rằng: “Ở phủ Gia Định đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp (Soài Rạp), cửa Tiểu, cửa Đại trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm”

[14, tr 255 - 256]

Tuy nhiên vào đầu thế kỉ XVII vùng đất này xuất hiện thêm một lớp cư dân mới

là lưu dân người Việt ở vùng đất Thuận - Quảng của chúa Nguyễn xiêu tán về vùng đất Đông Nam Kỳ, trong đó có địa bàn tỉnh Bình Dương tìm vùng đất mới để lập nghiệp Vậy nguyên nhân vì sao người Việt ở vùng Thuận - Quảng lại bỏ quê hương nơi “chôn rau cắt rốn” của mình vào một nơi xa lạ như vậy?

Nguyên nhân trực tiếp do cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn ở Đàng Ngoài và Đàng Trong Vì không thể chịu đựng trước sự bóc lột hết sức nặng nề cả nhân lực, vật lực, cảnh đói khổ, chết chóc do chiến tranh gây ra.Buộc

họ phải rời bỏ quê hương tìm đến một vùng đất mới với hy vọng có một cuộc sống ấm no.Vùng đất của những hy vọng, những ước mơ đổi đời cho người dân chính là vùng Đồng Nai - Gia Định là vùng đất gần như hoang hóa chưa được khai phá nhưng lại rất màu mỡ phí nhiêu.Chính vì thế đầu thế kỉ XVII đã có một làn sóng di cư ồ ạt vào vùng Đồng Nai - Gia Định

Các lưu dân khi vào vùng Đồng Nai - Gia Định với địa điểm dừng chân đầu

tiên theo Gia Định thành thông chí là vùng Mô Xoài - Bà Rịa, vì đây là vùng đất địa

đầu nằm ngay trên trục đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại giáp biển rất thuận tiện

Trang 21

cho các ghe thuyền chở người di cư cập bến Từ Mô Xoài - Bà Rịa, các lưu dân dần tiến lên Biên Hòa (Đồng Nai) với những điểm tụ cư sớm nhất là Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, An Hòa, Long Thành, Cù Lao Rùa, Cù Lao Ngô Ngoài ra cũng có một bộ phận lưu dân khác vào cửa Cần Giờ, ngược sông Bình Phước (tức sông Long Tàu) lên vùng Sài Gòn, Bến Ghé và vùng ngày nay là huyện Thuận An và huyện Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay

Trên vùng đất Bình Dương ngày nay, có lẽ điểm đầu tiên dân xiêu tán “người Việt đến định cư ở vùng Lái Thiêu, trung tâm là Bình Nhâm.Sau đó người Việt đã đi một bước tiến khá xa Dùng thuyền các loại, theo sông Sài Gòn, người Việt đã đổ vào sông Thị Tính, Bến Thế, Tân An Những đoàn người Việt tiếp tục đến, làm cho các vùng đất cũ và tốt ven sông trở nên chật hẹp Từ Lái Thiêu tiến lên từ Thị Tính đổ xuống dần dần vùng Phú Cường, Chánh Nghĩa, Phú Thọ trở thành vùng định cư”[44,tr 11]

Phó giáo sư Huỳnh Lứa còn cho rằng các vùng Thủ Dầu Một, Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi, Tân Khánh, Tân Uyên, Cù Lao Rùa có lẽ là những điểm đến định cư

và khai khẩn vào loại sớm nhất của người Việt trên đất Bình Dương Những người mới đến thường chọn trước tiên những địa điểm thuận lợi cho việc sinh sống và trồng trọt

Đó là các giồng đất cao vùng ruộng ven sông, các cù lao màu mỡ, những nơi có thể nhanh chóng khẩn hoang thành vườn để trồng cây lương thực, cây ăn quả…

Ngoài lớp cư dân người Việt đến đây khai hoang, đến cuối thế kỉ XVII còn có lớp cư dân người Hoa Họ là những người sống dưới triều Minh, do không chịu khuất phục với những chính sách cai trị của nhà Thanh đặc biệt là chính sách kỳ thị người Hán, đã di cư sang các nước lân cận trong đó có Đại Việt Sự kiện này được sử nhà

Nguyễn ghi lại “Kỷ Mùi, năm thứ 31 (1679), mùa xuân, tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm, tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3000 quân

và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là bộ binh nhà Minh, nghĩa không chịu làm tôi thần nhà Thanh, nên xin đến làm tôi tớ” [61, tr 91]

Sau khi được chúa Nguyễn Phúc Tần đồng ý, họ chia thành hai nhóm: một nhóm do Trần Thượng Xuyên hướng dẫn qua cửa Cần Giờ đến cùng Bàn Lân (Biên Hòa ngày

Trang 22

nay) để khai phá Nhóm thứ hai do tổng binh Dương Ngạn Địch chỉ huy đi xa hơn vào vùng Mỹ Tho làm đất định cư

Đối với nhóm của Trần Thượng Xuyên sau khi đến Biên Hòa họ chủ yếu là người Hoa xuất phát từ miền đông nam Trung Quốc - khu vực phát triển kinh tế hàng hóa sớm nhất của Trung Quốc Với tư duy của người thương nhân họ sớm khai phá và phát triển vùng đất Cù Lao Phố Chính vì thế phần lớn số họ chuyển hết từ Bàn Lâm

về Cù Lao Phố phát hoang, mở đường xây phố chợ, một số người đã đến những vùng đất thuộc địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay để lập nghiệp Tuy nhiên, mãi đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy một tài liệu nào nói về số người Hoa trong nhóm Trần Thượng Xuyên đến lập nghiệp tại Bình Dương Theo TS.Huỳnh Ngọc Đáng, người Hoa đến Bình Dương “thời điểm đầu tiên có thể là khi hình thành chợ Phú Cường, tức là vào những năm cuối đời Minh Mạng, đầu thời Thiệu Trị” “Điểm tập trung định cư đầu tiên là chợ Phú Cường và các khu vực chung quanh” “Trước khi chợ Phú Cường ra đời tức trước 1838, chắc chắn có rất ít người Hoa đến sinh sống ở vùng đất ngày nay là Bình Dương” [12,tr 31- 34]

Cùng với quá trình định cư của lưu dân trong suốt thế kỉ XVII là quá trình hình thành thiết chế xã hội dân cư Trước năm 1698, chưa có hệ thống tổ chức hành chính, nên dân xiêu tán sống thành với sau theo từng trang, trại, man, nậu là tên gọi các đơn

vị hành chính làng xã chỉ xuất hiện từ khoảng thế kỉ X Vậy tại sao đến thế kỉ XVIII những tên gọi này lại xuất hiện ?

Các trang, trại, man, nậu thường có một người đứng đầu để điều hành các sinh hoạt chung và hòa giải tranh chấp Quan hệ của họ chủ yếu là quan họ chòm xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau” để cùng nhau làm ăn, cùng vượt qua khó khăn ở vùng đất mới Các trang, trại, man, nậu dần dần trở thành những đơn vị hành chính nhằm liên kết, ràng buộc các thành viên dân cư lại với nhau theo mối quan hệ tự nguyện, cùng nhau chung sức khai hoang, lập làng tạo ra những giá trị vật chất, giá trị tinh thần đáp ứng lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ cũng như cộng đồng

Như vậy tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào Đồng Nai - Gia Định nói chung, Bình Dương nói riêng đã diễn ra liên tục trong suốt thế kỉ XVII và đến cuối thế kỉ XVIII Họ đã có mặt và khai phá trên một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Mô Xoài cho đến Sài Gòn (Bến Nghé) Họ lập ra những làng mạc của người Việt đầu tiên trên

Trang 23

đất Chân Lạp (tuy chưa phải đơn vị hành chính chính thức của Đàng Trong), song đó như là bước thăm dò, cũng như tạo cơ sở cho chúa Nguyễn thực hiện ý đồ mở đất của mình sau này Và không thể phủ nhận rằng quá trình khẩn hoang của người dân trong thế kỉ XVII - XVIII là đóng vai trò chủ yếu trong thời gian này

Vào nửa đầu thế kỉ XIX dưới triều Nguyễn ruộng đất bị kiêm tính vào tay địa chủ phong kiến, công điền, công thổ bị cường hào lũng loạn Cùng với đó là tình trạng đói quan lại bóc lột nhân dân, dẫn đến hiện tượng dân đi lưu tán ngày càng trầm trọng Trước tình hình kinh tế và xã hội đó nhà Nguyễn không dám áp dụng những biện pháp mạnh tay như hạn chế kiêm tính đất đai mà chỉ có thể đưa ra biện pháp chính là khẩn hoang và một số biện pháp tạm thời để giải quyết khó khăn về kinh tế và xã hội

Chính vì vậy trong thế kỉ XIX, nhà Nguyễn tiếp tục đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang ở Đông Nam Kỳ với tốc độ nhanh hơn.Vì đây là vùng đất còn nhiều đất hoang Điều này được thể hiện trong việc ban hành nhiều sắc lệnh khẩn hoang, đặc biệt là ở

Nam Kỳ“Trong số 25 quyết định về tổ chức khai hoang từ 1802 đến 1855, thì có 16 quyết định về miền Nam, 2 ở miền Bắc, 1 ở kinh kỳ và 6 có ý nghĩa toàn quốc”[56, tr

128] Như vậy công cuộc khẩn hoang vùng đất Nam Kỳ thời kì này chủ yếu được diễn

ra dưới sự chỉ đạo, định hướng của triều đình, cùng với quá trình tự khẩn hoang của người dân

Để thúc đẩy quá trình khẩn hoang vùng đất này, triều đình Nguyễn đã khuyến khích di dân tự do khai phá đất hoang bằng nhiều thủ tục dễ dãi và tự do lựa chọn nơi khai phá, thậm chí còn trợ cấp thêm tiền thóc, nông cụ, khen thưởng bằng tiền và phẩm hàm chức sắc cho những ai tham gia khai hoang

Nhìn chung, trong nửa đầu thế kỉ XIX, hoạt động khẩn hoang do người dân tự tiến hành ở vùng Đông Nam Bộ diễn ra mạng mẽ ở ven sông Phước Long (Đồng Nai),

sông Tân Bình (Sài Gòn) với diện tích được khai hoang ở các tỉnh như sau: “Biên Hòa: 14.932 mẫu, Gia Định: 175.063 mẫu, Định Tường: 148.878 mẫu” [38, tr 130]

Trong đó, riêng với tỉnh Bình Dương thời kì này có tốc độ khai phá tương đối nhanh so với các vùng khác Điều này được thể hiện trong 4 huyện của tỉnh Biên Hòa,

Bình An (Bình Dương ngày nay) là vùng có diện tích thực canh lớn nhất: “Bình An: 6723.1.5.6, Phước Chánh: 3435.7.3.7, Long Thành: 2425.0.2.7, Phước An: 1729.4.3.3” [9, tr 126] với đơn vị đo tương ứng: mẫu, sào, thước, tấc Về diện tích làm

Trang 24

ruộng toàn tỉnh Biên Hòa có 11109.2.6.7, riêng Bình An đã có tới 5494.4.2.7 chiếm 49.45%, với diện tích thổ hoa màu toàn tỉnh có 2317.2.6.8 thì Bình An đã có tới 589.5.4.8, chiếm 26,10% [9, tr 129] Qua những số liệu thống kê cho thấy tốc độ khai phá của huyện Bình An là rất nhanh với diện tích thực canh lớn nhất trong tỉnh và đó

là thành quả lao động với công lao chính thuộc về những người nông dân bên cạnh đó

là quá trình giúp sức của triều đình với những chính sách hỗ trợ khẩn hoang

Tóm lại công cuộc khẩn hoang và Nam tiến của người Việt trong nửa đầu thế kỉ XIX là quá trình tiếp nối công cuộc khẩn hoang thế XVII - XVIII với thành quả chính không chỉ là mở rộng thêm diện tích canh tác mà còn đánh dấu sự thành công của triều đình trong những chính sách hỗ trợ người dân khẩn hoang

Như vậy công cuộc khẩn hoang vùng đất Đông Nam Kỳ, trong đó có tỉnh Bình Dương của người Việt được tiến hành suốt từ đầu thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX

là một quá trình lao động lâu dài, bền bỉ Sau khi vào vùng đất này với điểm dừng chân đầu tiên là Mô Xoài - Bà Rịa rồi di chuyển lên những vùng đất lân cận như Sài Gòn, Biên Hòa Qua hơn một thế kỷ khẩn hoang với sự chịu thương, chịu khó, họ đã khẩn hoang được một vùng đất rộng lớn gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa dưới thời vua Nguyễn Trong đó tỉnh Bình Dương cũng là một vùng đất được tiến hành khẩn hoang với một tốc độ nhanh chóng, điều này đã được thể hiện trong số liệu đo đạc địa tỉnh Biên Hòa dưới triều Nguyễn như đã trình bày ở trên

1.3 Chính sách quản lý của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn đối với vùng đất Đông Nam Kỳ

Song song với quá trình Nam tiến, khẩn hoang của lưu dân người Việt từ thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX, các chúa Nguyễn, vua Nguyễn cũng từng bước xác lập chủ quyền hợp pháp của mình đối ở vùng đất Đông Nam Kỳ Quá trình xác lập chủ quyền đó được thể hiện ở hai khía cạnh: thiết lập quản lí vùng đất mới khai phá và thiết lập quản lí về mặt hành chính đối với ruộng đất

Sau hàng loạt các cuộc di cư ngày càng đông đảo của cư dân người Việt vào để khai phá, sinh sống không chỉ vùng đất Mô Xoài, Đồng Nai (vùng Biên Hòa - Bà Rịa)

mà còn cả Prey Nokor - Kas Krobei (vùng Sài Gòn, Bến Ghé sau này) Sự kiện đầu tiên thể hiện chính sách quản lý của chúa Nguyễn với vùng đất mới khai phá là vào năm 1623 chúa Nguyễn Phúc Nguyên cử một sứ bộ đem theo thư cùng nhiều tặng

Trang 25

phẩm tới kinh đô Oudong để ngỏ ý mượn sứ Prey Kor (tức Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Ghé sau này) của Chân Lạp để lập đồn thu thuế lưu dân người Việt đang làm ăn sinh sống quanh vùng trong vòng 5 năm Sự kiện này, một tác giả người Pháp là

Maspéro trong sách Đế quốc Khmer đã trích dịch từ Biên niên sử chép tay của Chân Lạp ghi rõ: “Nhà vua mới lên ngôi Chey Chettha II liền xây dựng cung điện ở Oudong, nơi đây long trọng cử hành lễ cưới một công chúa con vua An Nam Bà này rất đẹp, chẳng bao lâu ảnh hưởng đến vua Nhờ Bà, một sứ đoàn An Nam đã xin phép Chey Chettha IIlập thương điếm trong miền” [18,tr 146] Nhờ sự vận động của công chúa

Ngọc Vạn mà hai yêu cầu này đều được vua Chân Lạp chấp thuận

Với sự kiện lập hai đồn quan thuế tại Sài Gòn – Bến Ghé, sự kiện này ngoài tạo chỗ đứng vững chắc cho người Việt ở đất Chân Lạp, còn có ý nghĩa là bước đầu tiên thể hiện chủ quyền, chính sách quản lý của chúa Nguyễn đối với vùng đất mới khai phá - vùng đất Sài Gòn - Bến Ghé

Sự kiện thứ hai, việc lập đồn binh vào năm 1679 ở dinh Tân Mỹ Theo Đại Nam Nhất Thống Chí: “Đầu năm Kỷ Mùi (1679), Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế triều

ta sai tướng mở biên cảnh, lập đồn dinh Tân Mĩ” [60,tr 79] Việc lập đồn binh mang hình thức căn cứ quân sự để hỗ trợ kịp thời cho phó vương Nặc Nộn - người được chúa Nguyễn Phúc Tần phong cho làm phó vương đóng ở Sài Gòn khi gặp khó khăn trước sự tấn công từ lực lượng bên ngoài Đồng thời giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, quyền lợi cho số lưu dân người Việt đang sống rải rác khắp miền Đông Nam Kỳ Như vậy động thái thứ hai của chúa Nguyễn - thiết lập đồn binh ở Tân Mỹ được coi là một trong những chính sách từng nước thiết lập chế độ quản lý đất đai ở Đông Nam Kỳ

Sau năm 1689 Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Nam Kỳ, về cơ bản vùng đất này còn khá hoang vu, dân số còn ít Chính vì thế để biến nơi đây thành vùng sản xuất nông nghiệp phát triển, đáp ứng nhu cầu phát triển xứ Đàng Trong Các chúa Nguyễn đã có chính sách chiêu dân khẩn hoang lập ấp bằng những biện pháp cụ thể: khuyến khích người có vật lực, người nghéo khổ, xiêu tán ở xứ Quảng Nam các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn di dân vào Sài Gòn, Đồng Nai, Giai Định lập nghiệp, khai khẩn đất hoang Điều này đã giúp vùng đất Đông Nam Kỳnhanh chóng trở thành một vùng đất phát triển nhất Đại Việt hồi bấy giờ.Bên cạnh đó nhằm khuyến khích người khai hoang, các chúa Nguyễn đã có những chính sách khá cởi mở “cho

Trang 26

dân tự chiếm” là một hình thức công nhận đất đai mà dân khai phá được cho phép là ruộng tư hữu Chính vì thế đất Đồng Nai, Gia Định đã nhanh chóng thu hút được đông đảo dân khai hoang đến lập nghiệp, trong đó có địa bản tỉnh Bình Dương ngày nay

Có thể nói với hai sự kiện trên và sau đó là những chính sách khuyến khích dân lưu tán khẩn hoang ở giai đoạn sau cuộc kinh lược 1698 là bước đệm từng bước cụ thể hóa chính sách quản lý của chúa Nguyễn đối với ruộng đất Nam Kỳ Đồng thời vừa từng bước tạo tiền đề cho công cuộc quản lý ruộng đất về mặt hành chính sau này

Năm 1802 triều Nguyễn thành lập vào lúc đất nước vừa trải qua thời kì chiến tranh loạn lạc, ruộng đất bị bỏ hoang nhiều, nông dân phiêu tán, hàng vạn binh lính trở

về quê hương nhưng không có ruộng đất để cày cấy Đặt ra yêu cầu tổ chức chiêu dân khai khẩn, mở rộng diện tích canh tác ổn định xã hội Để đáp ứng yêu cầu trên, nhằm củng cố vững chắc vương triều của mình, vua Gia Long đã ban hành nhiều chỉ dụ nhằm đẩy mạnh công cuộc khai hoang, lập ấp ở vùng đất Nam Kỳ

Ngay đầu năm 1802 Nguyễn Ánh đã có lệnh: “Sai các dinh ở Gia Định chia cấp ruộng đất hoang cho dân nghèo Gia Định đất đai màu mỡ, thóc gạo chan chứa mà nhân dân phần nhiều hay làm mạt nghề, nên ruộng đất có chỗ bỏ hoang Vua bèn dụ các đình thần phải chăm lo đi khuyên bảo.Người nào không có điền sản thì đem ruộng hoang cấp cho và cho vay thóc giống, đợi thu hoạch xong sẽ y trả lại nhà nước”.Và

còn ra lệnh cho lưu trấn thành Gia Định phải “chiêu tập cùng dân, cấp cho họ thóc của nhà nước để họ đi khẩn trị.Lại sai các đình chia nhau đi đôn đốc, xem xét chất đất nên trồng thức gì thì trồng thức ấy Để ruộng bỏ hoang không cày thì có tội” [43, tr

76]

Đối với Đông Nam Kỳ nói riêng hình thức khẩn hoang lập đồn điền phát triển nhất với hai hình thức: Loại đồn điền do binh lính khẩn hoang, trong đó tù phạm cũng được huy động và loại đồn điền mộ dân khai khẩn Đối với đồn điền do binh lính lập, nơi khai hoang thường của họ nằm gần nơi đóng quân, nhất là ở vùng biên giới Hình thức lập đồn điền do dân thường tổ chức sản xuất là hình thức kết hợp giữa nhà nước

và nhân dân trong công cuộc khai hoang Dân làm đồn điền được nhà nước đứng ra chiêu mộ hoặc nhà nước cho phép tư nhân “người có vật lực” nào có khả năng, tình nguyện đứng ra chiêu mộ

Trang 27

Về cơ bản chính sách quản lý ruộng đất mới khai hoang ở vùng đất Nam Kỳ nói chung, Bình Dương nói riêng của triều Nguyễn được thực hiện bởi chính sách lập đồn điền Lập đồn điền để khai khẩn đất hoang vừa là biện pháp giúp mở rộng diện tích canh tác, giải quyết được cuộc sống cho dân nghèo, vừa góp phần tích cực trong bảo

vệ biên cương.Đồng thời quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất trên những vùng đất đó được khẳng định

Tóm lại dưới triều các chúa Nguyễn và sau này là vương triều Nguyễn thì việc thúc đẩy quá trình khẩn hoang và quản lý vùng đất mới khai hoang là hai quá trình luôn diễn ra song song.Điều này thể hiện vai trò quan trọng của vùng đất Đông Nam

Kỳ trong chính sách phát triển kinh tế của đất nước.Việc xác định chủ quyền với những ruộng đất mới khai phá là những điều kiện thuận lợi giúp chúa Nguyễn, triều Nguyễn xác định quyền sở hữu của mình về mặt hành chính sau này Điều này hoàn toàn phù hợp với phương thức “dân đi trước, nhà nước theo sau”

Đến cuối thế kỉ XVII tuy đã khai phá trên một vùng đất khá rộng lớn và có ảnh hưởng rất lớn đến triều chính Chân Lạp ở vùng Đông Nam Kỳ Song các chúa Nguyễn ngoại trừ chức quan thu thuế ở Sài Gòn nhưng vẫn chưa thiết lập những tổ chức hành chính trên vùng đất này Chính vì vậy đến năm 1698, khi hội đủ điều kiện thuận lợi: vùng Đông Nam Kỳ thuộc kiểm soát trong tay chúa Nguyễn, dân cư người Việt chiếm

tỷ lệ cao nhất trong vùng Chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh

vào Nam lập chính quyền cai trị Kết quả Nguyễn Hữu Cảnh đã: “chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ) dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay)”[61, tr 111].Vậy lúc này phủ Gia Định bao

trùm lên khắp miền Đông Nam Kỳ Sông Sài Gòn làm ranh giới giữa hai huyện: tả ngạn tới biển Đông là huyện Phước Long, hữu ngạn tới sông Tiền là huyện Tân Bình.Riêng với Bình Dương sau cuộc kinh lược này, địa phận tỉnh Bình Dương lúc này nằm trong tổng Bình An Hơn nữa, năm Kỷ Hợi (1779), mùa đông tháng 11, chúa

Nguyễn lại ban chiếu tiến hành “khâm định địa đồ, cắt và thêm đất ở địa giới ba dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ để cho liên lạc”[61, tr 91] Do đó ranh giới hành chính của tổng Bình An thời các chúa Nguyễn vẫn chưa được xác định rõ Theo Trịnh Hoài Đức thì “tổng Bình An có địa phận khá lớn, đông giáp sông bé, và sông Đồng

Trang 28

Nai, tây giáp sông Sài Gòn và sông Thị Tính, nam gồm cả giồng Ống Tố, bắc sát Campuchia” “Trên địa phận tổng Bình An có 4 Thủ chính: Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ Dầu Một và Thủ Băng Bột Quan trọng hơn cả là Thủ Dầu Một, nơi đây là trung tâm của tổng Bình An và sau là lỵ sở của huyện Bình An sau này” [61, tr 163]

Về thiết chế chính trị, ngay năm 1698 ở Trấn Biên, Phiên Trấn, chúa Nguyễn đã

“đặt ra các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục để giữ và chăm dân, nha thuộc thì có hai ty xá sai và tướng thần lại để làm việc, quân lính thi có tinh binh và thuộc binh thủy bộ các

cơ đội thuyền để bảo vệ”[61, tr111] Bên cạnh việc sắp đặt đơn vị hành chính ở phủ

Gia Định, nhà nước còn tiến hành kiểm kê nhân khẩu, đo đạc ruộng đất, lập sổ sách, trên cơ sở đó chuẩn các loại thuế, đặc biệt thuế đinh và thuế điền Đây chính là nguồn thu đảm bảo cho bộ máy hành chính các cấp hoạt động và cung cấp kinh phí cho quân đội thường trú

Để ngăn chặn các cuộc các cuộc xâm lược từ bên ngoài, chúa Nguyễn đã thống nhất việc chỉ huy quân đội ở phía Nam cho chức quan Điều Khiển và cho xây dựng dinh thự Điều Khiển ở phía nam dinh Phiên Trấn Ngoài ra còn hoàn thiện thêm các lực lượng như bộ binh, thủy binh, tinh binh Với lực lượng khá hùng hậu, ông đặt các

cơ đội thường xuyên canh phòng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên vùng đất mới

Như vậy sau khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, chính quyền chúa Nguyễn đã xác lập được quyền quản lý về mặt hành chính với vùng đất Gia Định, sáp nhập hẳn vùng đất này vào lãnh thổ Đàng Trong, tổ chức đơn vị hành chính, thực hiện quyền quản lý đất đai thu thuế Sự kiện năm 1698 đã đánh dấu hoàn tất từ quản lý vùng đất mới khai phá, quản lý về mặt hành chính của chúa Nguyễn với vùng đất Đông Nam Kỳ, trong đó có tỉnh Bình Dương ngày nay

Ngau sau khi lên ngôi, vua Gia Long ngay lập tức tiến hành xây dựng một thiết chế quản lý đất nước thống nhất từ Bắc chí Nam Riêng đối với vùng đất Gia Định năm 1802 cải phủ Gia Định làm trấn Gia Định, đổi tên từ dinh Phiên Trấn thành trấn Phiên An Năm 1808 tiến hành cải cách hành chính trên toàn xứ đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành, dinh Phiên Trấn làm trấn Phiên An, dinh Trấn Biên làm trấn Biên Hòa Quyết định nâng tổng lên huyện, huyện thành phủ Cho nên trong trấn Biên Hòa huyện Phước Long thành phủ Phước Long gồm 4 huyện: Bình An, Phước Chánh,

Trang 29

Long Thành, Phước An Do mỗi huyện trực thuộc đều chia thành 2 tổng, cho nên huyện Bình An có 2 tổng Bình Chính và An Thủy Như vậy lúc này địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay, lúc bấy giờ nằm trên cả địa bàn huyện Bình An và huyện Phước Chánh

Riêng với Gia Định là một khu tự trị, với tính độc lập tương đối cao gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lực của nhà nước trung ương Chính vì thế Minh Mạng đã quyết định xóa bỏ đơn vị hành chính này vào năm 1832, tức bỏ chức Tổng trấn Gia Định, trấn cải làm tỉnh Với sự kiện toàn miền Nam chia thành 6 tỉnh: Biên Hòa, Phiên

An (từ 1836 cải thành Gia Định), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Đến năm 1834 được gọi là “Nam Kỳ lục tỉnh”.Đừng đầu cấp tỉnh là Tổng đốc.Đối với cấp

cơ sở, người đứng đầu Lý trưởng và một đến hai phó trưởng

Với địa bàn tỉnh Bình Dương lúc bấy giờ vào năm 1837, huyện Bình An chia thành hai huyện Bình An (chứa phần đất của thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận

An, Bến Cát) và huyện Ngãi An (chứa phần đất Thủ Đức và một phần đất vùng Dĩ An ngày nay)

Huyện Phước Chánh, năm 1808 đổi tên từ tổng Tân Chánh mà thành, gồm 2 tổng: Phước Vinh và Chánh Mỹ Đến năm 1821 mỗi tổng chia làm 3, do vậy huyện Phước Chánh có 6 tổng trong đó phần đất huyện Tân Uyên ngày nay nằm trên địa giới các tổng: Chánh Mỹ Thượng, Chánh Mỹ Trung, Chánh Mỹ Hạ (các tổng này nằm bên hữu ngạn sông Đồng Nai Các tổng còn lại nằm bên tả ngạn sông Đồng Nai gồm: Phước Vinh Thượng, Phước Vinh Trung, Phước Vinh Hạ ngày nay phần lớn thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai.Như vậy tính đến 1837 địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay dưới triều vua Minh Mạng nằm trên phần đất 3 huyện: Bình An (thị xã Thủ Dầu Một,Thuận

An, Bến Cát), Phước Chánh (Tân Uyên), Ngãi An (Dĩ An) [11, tr 102]

Bên cạnh đó, vấn đề ruộng đất ở Nam Bộ cũng được chính quyền chúa Nguyễn đặc biệt quan tâm Vào năm 1836 dưới triều vua Minh Mạng đã cho tiến hành đo đạc ruộng đất và lập địa bạ để có thể quản lí chặt chẽ hơn ruộng đất về mặt hành chính

Tháng 2/1836 Minh Mạng quyết định lập đoàn kinh lý sáu tỉnh Nam Kỳ do Thượng thư Bộ Binh Trương Đăng Quế và Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Kim Bảng làm kinh lược đại sứ

Trang 30

Đến tháng 7, việc đo đạc ruộng đất 6 tỉnh Nam Kỳ hoàn thành Kết quả, toàn bộ

đất đai Nam Kỳ: “trước đây là 20.197 sở, 13 dây, 8 khoảnh và hơn 3.464 mẫu, nay đo đạc lại thành các hạng ruộng đất gồm 630.075 mẫu, ngoài ra trước nguyên có ruộng

65 sở nay khám thành 1.017 cái ao)”[9, tr 52] Riêng với tỉnh Biên Hòa sau khi tiến

hành đo đạc có 13427 mẫu 1 sào 6 thước 5 tấc Trong đó huyện Bình An chiếm hơn 50% diện tích của tỉnh, với ruộng đất thuộc sở hữu tư khá lớn chiếm 44,49% toàn tỉnh Biên Hòa, [9, tr 123 - 147] Qua số liệu cho thấy huyện Bình An là một huyện có diện tích khá lớn, quá trình tư hữu hóa ruộng đất ở huyện Bình An diễn ra khá mạnh mẽ

Đến tháng 8 trên cơ sở ruộng đất đã đo đạc lại, Minh Mạng cho định lại thuế ruộng đất ở Nam Kỳ Theo đó ruộng đất không phân biệt đẳng hạng mà chỉ phân biệt ruộng cỏ (thảo điền) và ruộng núi (sơn điền), không phân biệt ruộng công hay ruộng

tư, ruộng cỏ mỗi mẫu hàng năm thu thóc tô 26 thăng, ruộng núi 23 thăng, tiền thập vật, đều 3 tiền, đất trồng dâu, trồng mía, vườn trồng trầu không, mỗi mẫu hàng năm thu thuế 2 quan tiền, vườn cau 1 quan 4 tiền, đất trồng khoai, đậu và đất thổ trạch đều 8 quan tiền…[ 61, tr 1002]

Có thể thấy quá trình quản lý vùng đất Đông Nam Bộ ngày nay dưới triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời vua Minh Mạng về mặt hành chính là một bước tiến vượt bậc, biến vùng đất Gia Định thành một thể thống nhất vào hệ thống hành chính của cả nước Không dừng lại ở đấy vua Minh Mạng còn tiếp tục tiến hành đo đạc lại chính sách ruộng đất ở đây để có thể thu thuế đầy đủ ở một vùng đất đầy tiềm năng

Như vậy công cuộc quản lý về mặt hành chính dưới thời chúa Nguyễn và vua Nguyễn thì vùng đất Đông Nam Kỳđã từng bước được xác nhập vào hệ thống hành chính của chính quyền phong kiến Tuy nhiên quá trình xác nhập được thiết lập một cách đầy đủ và tính thống nhất được thực hiện dưới triều vua Minh Mạng trên cơ sở tiếp thu những thành quả của những thế hệ đi trước Chính sự xác nhập, quản lý về mặt hành chính với, đã để lại những kinh nghiệm cũng như những bài học cho việc quản lý đất đai trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Tiểu kết chương 1

Công cuộc khẩn hoang vùng đất Nam Bộ nói chung, Bình Dương nói riêng dưới thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn diễn ra liên tục từ thế kỉ XVII đến giữa thế

Trang 31

kỉ XIX Với địa điểm dừng chân đầu tiên của người Việt là vùng Mô Xoài - Bà Rịa.Riêng đối với vùng đất Bình Dương ngày nay, có lẽ đầu tiên dân xiêu tán người Việt đến định cư ở vùng Lái Thiêu, trung tâm là Bình Nhâm.Sau đó người Việt đã đi một bước tiến khá xa.Từ Lái Thiêu tiến lên từ Thị Tính đổ xuống dần dần vùng Phú Cường, Chánh Nghĩa, Phú Thọ trở thành vùng định cư.Sau khi tụ họp lại với nhau trên những vùng đất thuận lợi họ từng bước tiến hành khai khẩn những vùng đất mới

Có thể nói, công cuộc khẩn hoang của lưu dân người Việt và quá trình quản lý xác lập chủ quyền vùng Đông Nam Kỳnói chung, Bình Dương nói riêng của chúa Nguyễn, vua Nguyễn được tiến hành song song với nhau Tuy nhiên công cuộc khẩn hoang giữa triều các chúa Nguyễn và vua Nguyễn có sự khác biệt Nếu cuộc khẩn hoang của các chúa Nguyễn là mở đất để từng bước thiết lập, xác lập chủ quyền lãnh thổ trên vùng phía Nam, thì cuộc khẩn hoang của triều Nguyễn chủ yếu là “lấp đầy” khoảng trống những vùng đất chưa được khai hoang để giải quyết những khó khăn trong đời sống xã hội lúc bấy giờ, còn mặt hành chính xác định chủ quyền lãnh thổ về

cơ bản đã được hoàn thành từ thời các chúa Nguyễn

Tóm lại với tất cả sự bền bỉ, khôn khéo trong chính sách ngoại giao của chúa Nguyễn, sự nhạy bén của vua Nguyễn đã từng bước làm cho công cuộc khẩn hoang, quá trình xác định chủ quyền trên vùng đất Đông Nam Kỳnói chung, Bình Dương ngày nay, được tiến hành một cách nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện

CHƯƠNG 2:

HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT

Trang 32

có địa bàn Bình Dương ngày nay Sau đó buộc triều đình Huế phải giao nộp miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, sau Hòa ước ký ngày 5/6/1862 Đến 6/1867 thực dân Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ Như vậy chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm thực dân Pháp đã tiến hành xong công cuộc đánh chiếm miền Nam và biến miền Nam thành

xứ thuộc địa sau Hiệp ước ký ngày 15/3/1874

Sau khi chiếm được Nam Kỳ nói chung, vùng Đông Nam Kỳ nói riêng, thực dân Pháp liền bắt tay vào công cuộc chiếm đoạt ruộng đất ở xứ này Bởi trong lịch sử thuộc địa của thực dân Pháp, bất kể thuộc địa kiểu gì, ở khu vực nào, việc chiếm và khai thác đất luôn luôn là mục tiêu hàng đầu.Chính sách của đế quốc Pháp trước hết là tiến hành cướp đoạt ruộng đất ở những vùng có thể khai thác được.Vùng đất Nam Kỳ

là thuộc địa khai thác chủ yếu là lúa, cao su Chính vì vậy để có thể thu được lợi nhuận cao nhất từ những nguồn lợi này, buộc thực dân Pháp phải nắm cho bằng được đất đai trong tay Trong thời kì Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa, trong đó có Đông Nam Kỳ, thì quá trình cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp vẫn luôn luôn được tiến hành với hình thức cho không, bán, nhượng

Quá trình chiếm đoạt đó ngày càng được tiến hành một cách mạnh mẽ Mang trong nó đầy tính “hợp pháp” bằng việc xây dựng và áp dụng hệ thống pháp luật theo

mô hình châu Âu lục địa bằng cách ban hành các văn bản pháp luật mới về quy chế nhượng đất do chính thực dân Pháp ban hành Nhằm từng bước vô hiệu hóa và loại bỏ

hệ thống pháp luật truyền thống, khẳng định quyền quản lý với những đất đai đó và tạo

ra điều kiện thuận lợi tối đa cho công cuộc xâm chiếm và cướp đoạt ruộng đất, đối với Việt Nam nói chung, vùng Đông Nam Kỳ nói riêng

Vậy thế nào là nhượng?

Trang 33

Thuật ngữ “nhượng” được giải thích theo nhiều cách khác nhau hoặc trừu tượng

hoặc cụ thể như là những luôn có cùng một nội dung giống nhau “Nó chỉ ra việc Nhà nước nhượng cho các thực dân đất công, và đổi lại các nhà thực dân này phải chịu một số nghĩa vụ được quy định theo quy chế của nhà nước”.[51, tr 28]

Quá trình chiếm đoạt ruộng đất của đế quốc Pháp với vùng đất Đông Nam Kỳ

có thể khái lược qua các giai đoạn sau:

2.1.1 Giai đoạn 1862-1897

Từ năm 1862 đến 1897 là giai đoạn ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp cho đến trước khi Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1919) trên toàn Việt Nam Như đã nói phần trên, ngay sau khi chiếm được Đông Nam Kỳ thực dân Pháp ngay lập tức bắt tay vào công cuộc chiếm đoạt ruộng đất

ở Đông Nam Kỳ, bằng cách ban hành ở Nam Kỳ - xứ thuộc địa, những văn bản pháp

lý về quy chế nhượng đất

Nghị định đầu tiên Pháp ban hành ở Đông Nam Kỳ là Nghị đinh 20/2/1862 “Ra lệnh tịch thu vào quyền sở hữu của nhà nước Pháp “toàn bộ ruộng đất vô chủ hoặc đang còn nằm trong tay của dân bản xứ” [20, tr 67] Căn cứ vào nội dung của nghị quyết có thể thấy tất cả ruộng đất hoang cùng với toàn bộ ruộng đất mà người dân làm chủ chỉ là sự chiếm hữu chứ không có bằng chứng của quyền sở hữu, đều bị tịch thu hay sung công vào nhà nước Pháp Nghị định này tỏ rõ thái độ cướp đoạt trắng trợn đất đai của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ để làm giàu

Sau khi chiếm được đất của nhân dân ở Nam Kỳ, về cơ bản chưa có một quy chế chung nào cho việc nhượng đất, phương thức chuyển nhượng đất thông dụng nhất

là mua bán bằng tiền Tuy nhiên nghị định năm 1874 ra đời đã xác nhận hệ thống sang nhượng đất đai không phải trả tiền đã thắng thế, đồng thời cho phép người Việt được

dự vào việc điều chỉnh những nhượng địa Muốn khẩn hoang chỉ cần làm đơn, ghi diện tích, ranh giới rồi đóng thuế Năm 1882 người Pháp bắt đầu phân biệt thành hai loại đất chính:

Loại đất làng bỏ hoang có thể nhượng không thu tiền cho những người có đơn xin

Loại đất có thể là đối tượng chuyển nhượng bằng đấu giá công khai.[67,tr 182].Áp dụng nghị định này ngày 22/8/1882 tổ chức lại chế độ nhượng địa trên 10

Trang 34

mẫu tây.[7, tr 56].Nghị định này bị các nhà thực phản đối Do đó không bao lâu sau Nghị định ngày 19/11/1886 của chính quyền địa phương, quy định mỗi người Pháp xin đất làm nghề nông, có thể xin 1 lần không quá 100 ha, để hạn chế tình trạng đầu cơ tích trữ đất của nhà thực dân Nhưng ngay khi mới ra đời Nghị này tiếp tục bị các nhà thực dân phản đối vì diện tích cấp quá ít ỏi, thủ tục phiền phức, tốn kém, việc chuyển

từ tạm thời sang vĩnh viễn quá khó khăn Trên thực tế, chính quyền thuộc địa luôn luôn nhượng bộ các nhà thực dân, vì thế Nghị định này tiếp tục bị sửa đổi bằng Nghị định ngày 6/10/1889 và Nghị định ngày 15/10/1890, với việc bổ sung thêm để mở rộng quyền chiếm đất cho những tên thực dân Quyết định này quy định chính quyền địa phương được phép cấp cho bọn thực dân mỗi lần 500 ha [18,tr 580]

Rõ ràng các Nghị định bị phản đối và ngay lập tức được thay thế bằng các Nghị định khác, đã giúp cho quá trình tập trung ruộng đất vào tay các nhà thực dân diễn ra ngày càng lớn, quá trình cướp đoạt ruộng đất ngày càng mạnh mẽ

Không chỉ quan tâm đến ruộng đất nông nghiệp, thực dân Pháp cũng đặc biệt chú ý đến đất rừng Ở Nam Kỳ nổi tiếng với hệ thống rừng ngập mặn gồm những rừng già ở các cửa sông, cửa lạch, bãi phù sa ở khu vực Tây Nam Kỳ

Lớp dưới của rừng thường có rất nhiều loại nứa, mây, tre…dùng cho xây dựng

và công nghiệp Tre có rất nhiều ở Thủ Dầu Một [67,tr 230]

Với giá trị lớn về tài nguyên rừng, là tài nguyên sẵn có đáp ứng nhu cầu khai thác trước mắt cho lợi nhuận cao, không cần đầu tư Đó chính là lý do ngay từ khi mới chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp liền ra Nghị định vào ngày 5/9/1862 cấm khai thác loại cây rừng quý hiếm hiện có Tiếp theo vào năm 1866 một nghị định khác xác lập các luật lệ chặt chẽ tịch thu gỗ khai thác tự do

Như vậy trong giai đoạn 1862 - 1897 là thời kì đầu tiên thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt, mua bán ruộng đất của nhân dân dựa trên những văn bản pháp lý cho chính quyền thực dân ban hành.Ruộng đất trở thành đối tượng đầu tiên trong chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Không chỉ quan tâm tới đất nông nghiệp, đất rừng cũng là đối tượng được Pháp đặc biệt quan tâm bởi giá trị cũng như lợi ích trước mắt không cần đầu tư nhưng ngay lập tức thu được lợi nhuận Tất cả chỉ nhằm mục đích duy nhất là thu lợi nhuận cao trong quá trình xâm chiếm thuộc địa của thực dân Pháp

2.1.2 Giai đoạn 1897 - 1918

Trang 35

Bước vào năm 1896, thực dân Pháp bắt đầu nôn nóng mở rộng công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương và Việt Nam nói riêng

Ngày 22/3/1897, Paul Doumer đã soạn thảo trình chính phủ Pháp chương trình khai thác thuộc địa.Riêng với lĩnh vực nông nghiệp, chế độ sở hữu ruộng đất nông nghiệp đặc biệt được quân tâm Chính quyền thực dân đã tạo mọi điều kiện pháp lý để

tư bản Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân bản xứ, đẩy nhanh quá trình hình thành các công ty tư nhân và hệ thống đồn điền do chủ người Pháp quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp Bằng việc ban hành hàng loạt các nghị định về quá trình nhượng đất,

về sở hữu canh tác Điều này làm cho quá trình tập trung ruộng đất vào tay tư bản Pháp

Nghị định ngày 28/9/1897, mở rộng áp dụng quyền sở hữu cá nhân trên toàn lãnh thổ, đối tượng được hưởng là công nhân Pháp, người mang quốc tịch Pháp có đất

do được ban tặng, hoặc mua lại của người khác thì có toàn quyền sở hữu diện tích đất đai đó [20, tr 57] Rõ ràng nghị định này giành quyền ưu tiên tối đa cho người Pháp, giúp từng bước cướp đoạt và nắm quyền sở hữu đất đai thuộc địa

Nghị định 27/12/1913 về nhượng đất công nông nghiệp của Toàn quyền Đông Dương đã ra đời Nghị định này đã tạo ra một bước ngoặc khi đưa ra nguyên tắc: nhượng phải trả tiền là phổ biến với tất cả những đất nhượng có diện tích trên 50 ha Nhượng dưới hình thức cho không chỉ là ngoại lệ với những diện tích dưới 50 ha hay

300 ha Với nghị định 1919 thì đối tượng được nhượng đất có phần được nới rộng tới

các “Công thần, Thần dân và Dân bảo hộ Pháp” tức một số người Việt Nam cũng

được nhượng đất như người Pháp Nhưng trên thực tế, chỉ có những người Việt đã vào làng Tây hay có vị trí trong bộ máy chính quyền thuộc địa của Pháp, làm tay sai cho Pháp mới được cấp nhượng Còn lại đại đa số người Việt đều không đủ thế lực để cạnh tranh với người Pháp trong việc xin nhượng đất

Trang 36

Bảng 2.1.Thống kê diện tích đất nhượng (1899 – 1918)

Diện tích đất nhượng (ha)

Diện tích đất nông nghiệp được nhượng trong khoảng thời gian từ 1899 đến

1918, phản ánh âm mưu chiếm đoạt đất đai, cướp đi tài sản duy nhất của nông dân cư trú tại chỗ tỉnh Thủ Dầu Một

Như vậy, quá trính thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất ở Nam Kỳ nói chung ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất

2.1.3 Giai đoạn 1919 - 1929

Từ năm 1919 đến năm 1929 là giai đoạn thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai ở các nước Đông Dương, trong đó chủ yếu là Việt Nam (1919 - 1929) Năm 1920 số tư bản Pháp giành riêng cho Việt Nam đạt 255 triêu franc Riêng năm 1924 - 1930 trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp Pháp đầu tư 900,2 triệu franc chiếm 31,4 % tổng vốn đầu tư [33,tr 212] Do nhu cầu về mủ cao su của Pháp và thế giới sau chiến tranh tăng nhanh, càng thúc đẩy quá trình cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp Với số vốn đầu tư lớn, thực dân Pháp trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nhân dân lập đồn điền có diện tích lớn trên khắp nước ta, với Nam Kỳ chủ yếu lập đồn điền cao su.Tiếp tục quá trình xâm chiếm cướp đoạt ruộng đất trong giai đoạn này, hàng loạt các nghị định được chính quyền thuộc địa ban hành

Để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, cũng như hạn chế tình trạng đầu cơ đất bảo vệ lợi ích của chính quyền thực dân, người xin nhượng đất, nghị định 19/9/1926 ra đời với quy định mới hạn chế diện tích tối đa được nhượng tạm thời cho mỗi điền chủ là 15.000 ha và mức độ tối đa cho mỗi điền chủ liền

Trang 37

khoảnh là 6.000 ha và quy định chỉ những người có khả năng tài chính để mua đất và khai thác đất mới được cấp nhượng Đối với trung và tiểu điền chủ, nghị định này giữ quy định đối với đồn điền cho không tới 300 ha, đồn điền bán theo giá thỏa thuận tới 1.000 ha và được trả dần từ 5 đến 10 năm

Nghị định ban hành, song tình hình không mấy được cải thiện và đó là lý do Sắc lệnh 4/11/1928 được ban hành Sắc lệnh buộc các điền chủ phải chịu sự quản lý của chính quyền và buộc phải chịu nhiều thể thức, nghĩa vụ đặc biệt và quy định về khả năng tài chính của người xin.Sắc lệnh đảm bảo cho chính quyền chính quốc quyền hạn ngày một tập trung hơn trong việc quản lý và di nhượng đất công.Từ đây chính quyền thuộc địa chỉ được cấp những nhượng địa từ 4.000 ha trở xuống, trên 4.000 ha

sẽ thuộc quyền cấp nhượng của Tổng thống Pháp thông quan một sắc lệnh.[52,tr 56]

Với Sắc lệnh 4/11/1928 giai đoạn tự do – tự do cấp nhượng đất đến đây đã kết thúc Việc thành lập các sở hữu lớn trở lên chính thức.Loại bỏ cho các tư bản nước ngoài có khả năng chiếm hữu.Như vậy “việc khai thác nhỏ” dần bị mờ nhạt trước sở hữu lớn được khai thác chủ yếu bằng vốn của các công ty lớn Đối với vùng đất Nam Kỳ, trong

đó phần lớn các tỉnh tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một đều được bọn thực dân tự do

chiếm đất lập đồn điền

Nông dân Việt Nam ngày càng bị chiếm đoạt nhiều ruộng đất Cả Bắc, Trung, Nam Kỳ không nơi nào là không có đồn điền của người Pháp Diện tích các đồn điền của chúng phát triển rất nhanh Theo thống kê tình hình ruộng đất của cả người Pháp chính cống lẫn người Việt vào làng Pháp qua các năm như sau:

Bảng 2.2.Thống kê tình hình ruộng đất của người Việt và người Pháp ở

Qua bảng thống kê trên, cho thấy diện tích đồn điền của thực dân Pháp ở Bắc

Kỳ cho tới 1900 đã đứng đầu so với Trung và Nam Kỳ, và từ 1900 đến 1930 thì mức

Trang 38

độ giảm Trong khi đó, diện tích đồn điền của chúng ở Trung và Nam Kỳ thì tăng lên

rõ rệt Sở dĩ quá trình chiếm đoạt ruộng đất của thực dân được phát triển rộng rãi và liên tục ở Nam Kỳ, vì công cuộc đào sông ở đó đã làm cho những vùng lầy lội trước kia trở thành đất khô có thể khai phá thành ruộng

Có thể thấy, các nghị định được ban hành trong hai cuộc khai thác thuộc địa, càng về sau những quy định càng cụ thể và chặt chẽ Các nghị định này có đặc điểm chung là bổ sung cho nhau, các nghị định sau bao giờ cũng nhằm mục đích mở rộng quyền chiếm đoạt đai đai cho thực dân Pháp Đồng thời cùng với quá trình người Pháp đặt ách thống trị ở nước ta thì chế độ sở hữu ruộng đất đã có nhiều thay đổi quan trọng.Quyền sở hữu tối cao giờ đây thuộc về chính quyền thực dân thống trị Hiện tượng cấp nhượng, mua bán ruộng đất xảy ra phổ biến đã thúc đẩy quá trình tư hữu hóa ruộng đất, tạo điều kiện cho những kẻ thống trị có thể cướp đất đai của nhân dân

một cách dễ dàng

2.2 Chính sách của thực dân Pháp đối với ruộng đất Nam Kỳ

Song song với quá trính cướp đoạt ruộng đất là hàng loạt các chính sách ruộng đất được thực dân Pháp tiến hành ở Nam Kỳ với mục tiêu thu lại lợi nhuận cao nhất cho chính quyền thực dân dựa trên sự bần cùng hóa của quần chúng lao động

Khi đế quốc Pháp mới xâm chiếm nước ta, thì Bắc, Trung và Nam Kỳ có những đặc điểm kinh tế khác nhau.Chính vì vậy chính sách ruộng đất cụ thể ở mỗi vùng là khác nhau.Với Trung và Bắc Kỳ ở đây ruộng đất gần như đã khai thác hết, chế độ ruộng đất công rất nặng nề.Ngược lại Nam Kỳ là vùng đất tốt ruộng đất chưa được khai thác còn rộng mênh mông Mặt khác ở Nam Kỳ nhân dân khi khẩn hoang các chúa Nguyễn và sau này là các vua Nguyễn không chủ chương “công điền hóa” những đất đai đó, nên ruộng đất công ở Nam Kỳ rất ít “Nam Kỳ 3%, Trung Kỳ 25%, Bắc Kỳ 20%” [30, tr 81] Do chế độ công điền công thổ đã được nhà nước bảo vệ và phát triển nên Trung và Bắc Kỳ căn bản không có chế độ sở hữu của đại điền chủ, ngoài phần sở hữu của nông dân, toàn thể là phần sở hữu của tiểu điền chủ Trái lại, Nam Kỳ từ lâu

đã hình thành phần sở hữu của đại địa chủ “Khi Pháp mới tới Nam kỳ đã có sẵn một

số đại điền chủ, như ở Tân Hòa đã có địa chủ Việt Nam có tới 400 mẫu tây” [26,tr 15] Căn cứ vào những đặc điểm kinh tế ấy, chính sách ruộng đất của đế quốc Pháp ở Nam

Kỳ là duy trì sở hữu đại địa chủ đã có sẵn và phát triển kinh tế đại địa chủ Nam Kỳ

Trang 39

Mục đích của chính sách là thực dân Pháp muốn thu mua lúa gạo xuất cảng, thu

lợi nhuận nhanh mà không cần đầu tư Ví dụ điển hình “năm 1860, năm đầu tiên Pháp nắm quyền xuất cảng ở cửa Sài Gòn, trong tổng giá trị 6 triệu Fance hàng xuất cảng thì lúa gạo chiếm tới 5 triệu Fance”[5, tr 15].Điều đó đã thúc đẩy đế quốc Pháp chủ

trương tăng cường thu mua lúa gạo xuất cảng ngày càng nhiều Song để thu mua được nhiều, buộc phải tạo nên chế độ ruộng đất tập trung vào tay tầng lớp đại địa chủ, chứ không phải ruộng đất phân tán vào tay tiểu nông

Với đặc quyền trong tay, đế quốc Pháp đã ban hành các Nghị định để hợp thức hóa việc đem cho không hoặc bán rẻ, nhượng những khu đất cho bọn tay sai, quan lại,

công chức giàu có, biến họ thành chủ đồn điền “Theo thống kê trước năm 1901, đế quốc Pháp đã cho địa chủ Việt Nam lập 265 đồn điền ở Nam Kỳ rộng 18.000 mẫu tây, cái rộng nhất là 2.223 mẫu tây”[5, tr 16] Sau khi đã cấp đất đai cho địa chủ Việt

Nam, Ngân hàng Đông Dương và bọn tư bản Pháp cho vay lại tung tiền ra cho địa chủ Việt Nam vay với lãi suất 8 đến 10% Địa chủ Việt Nam dùng số tiền đó cho nông dân vay lại với lãi suất tối thiểu 30% để nông dân khai thác những ruộng đất lĩnh canh của chúng Do biện pháp phát triển đại địa chủ Việt Nam một cách nhân tạo như thế, ruộng đất Nam Kỳ ngày càng tập trung Điều này được thể hiện vào năm 1930, ở Nam Kỳ có tất cả 255.000 chủ ruộng, trong tổng số 4 triệu dân và trên một diện tích là 2.400.000

ha Tức cứ 15 người dân thì có một chủ ruộng và bình quân một chủ ruộng có 9 ha Đem con số đó so sánh với đồng bằng Bắc Kỳ cũng vào khoảng thời gian này, có 965.000 chủ ruộng trong tổng số 6 triệu dân và trên diện tích 1.200.000 ha Tức cứ 6 hay 7 người là có 1 chủ ruộng và bình quân mỗi chủ ruộng là 1,2 ha [17, tr 60] Hay cũng trong năm 1930 ở Bắc Kỳchỉ 252 địa chủ có trên 100 mẫu Bắc Kỳ (tức 36 mẫu tây), thì ở Nam Kỳđã có tới 3.623 địa chủ có từ 50 đến 100 mẫu tây, 2449 chủ có từ

100 đến 500 mẫu tây và 224 địa chủ có trên 500 mẫu tây Người ta thấy có những đại địa chủ Nam Kỳ như Trần Trinh Trạch ở Bạc Liêu có 17.000 mẫu tây, Nguyễn Hữu Nghĩa ở Long Xuyên có tới 18.000 mẫu tây Tầng lớp đại địa chủ Nam Kỳ (tính những người trên 50 mẫu tây) chiếm 2,5% tổng số điền chủ nhưng chiếm tới 45,5% tổng số diện tích lúa Còn người nông dân (những người dưới 5 mẫu tây) không kể những người không có ruộng chiếm 71,73% trong số điền chủ chiếm 12,5% diện tích ruộng đất [5, tr 16] Qua số liệu thống kê có thể nhận định được mức độ tập trung ruộng đất

Trang 40

nói chung ở Nam Kỳ rất cao Tất cả điều này đều chỉ nhằm mục đích duy nhất cho thực dân Pháp là khai thác tối đa nguồn lúa gạo xuất cảng

Thậm chí do ở Nam Kỳ chế độ địa tô rất nặng nề, từ 50% hoa lợi trở lên, có nơi địa chủ thu tới 70 – 80% hoa lợi, không chỉ địa tô mà các thuế đinh, thuế điền…khiến nông dân không có tiền buộc phải đem thóc ra thị trường bán Do đó tư bản Pháp thu mua được rất nhiều lúa gạo Bên cạnh đó một số đại địa chủ ở Nam Kỳdo có vốn tích lũy đã bỏ ra kinh doanh lúa gạo Họ còn chung vốn thành lập công ty, liên doanh…Cho nên địa chủ Nam Kỳđã trở thành một tầng lớp trung gian, môi giới về thóc gạo cho thực dân Pháp Đó cũng là một đặc điểm của đại địa chủ Nam Kỳ

Như vậy ruộng đất càng tập trung, diện tích lúa trồng ngày càng được mở rộng thì thóc gạo xuất cảng của đế quốc Pháp ngày càng nhiều Chính sách ruộng đất tạo nên chế độ tập trung ruộng đất ở Nam Kỳ là xuất phát hoàn toàn từ quyền lợi cho đế quốc Pháp, giai cấp địa chủ Nam Kỳ phuc vụ quyền lợi cho đế quốc Pháp

Nói tới chính ruộng đất của đế quốc Pháp ở Nam Kỳkhông thể không nói tới chính sách cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền Với hàng loạt các nghị định do chính quyền thực dân Pháp ban hành như đã nêu ở mục trước, cho thấy chính sách cướp đoạt ruộng đất của nhân dân lao động là chính sách cơ bản và đầu tiên mà thực dân tiến hành ở Nam Kỳ Điều này được biểu hiện rõ nhất ngay sau khi chiếm được 3 tỉnh Đông Nam Kỳ ngay lập tức chúng lấy ruộng đất xung quanh Sài-gòn đem chia thành từng lô 20 đến 30 hec-ta để cho và bán rẻ cho bọn chúng và những kẻ tay sai Đất đó chúng gọi là “đất công” Nhưng sự thực phần đất đai là của nhân dân tản cư đi nơi khác vì tình hình chiến sự Sau khi chiếm đoạt ruộng đất với mục đích khai thác nguyên liệu, nông phẩm và sử dụng nhân công rẻ mạt, tư bản Pháp đặc biệt chú ý tới việc thiết lập các đồn điền khai thác.Trong các Hòa ước ký kết với triều đình Huế, không có bản nào Pháp không quên buộc triều đình Huế phải công nhận quyền chiếm hữu ruộng đất của tư bản Pháp

Biện pháp thực hiện của thực dân Pháp là dựa vào đặc quyền để ban hàng loạt các nghị định, để cho không hoặc bán rẻ đất đai cho tư bản Pháp và tay sai Những đồn điền của người Pháp lập ra khắp cả ban miền Bắc, Trung, Nam Kỳ và chủ yếu là trồng lúa Song vào những năm cuối thế kỉ XIX, những cây công nghiệp khác được chú ý như: cao su, cà phê, chè được trồng thử nghiệm và tỏ ra khá thành công Với những

Ngày đăng: 07/07/2021, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2012), Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2012
2. Nguyễn Thế Anh (1971), Kinh tế Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB Lửa thiêng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Lửa thiêng
Năm: 1971
3. Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
4. Huỳnh Công Bá (2014), Định chế hành chính và quân đội triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định chế hành chính và quân đội triều Nguyễn
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2014
5. Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
6. Nguyễn Ngọc Chúc (2014), Luận văn thạc sĩ Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam ( thế kỉ XVII-XVIII), Trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Bộ trong tiến trình mở đất phương Nam ( thế kỉ XVII-XVIII)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chúc
Năm: 2014
7. Phạm Cao Dương (1967), Thực trạng của giới nông dân Việt Nam, NXB Khai Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng của giới nông dân Việt Nam
Tác giả: Phạm Cao Dương
Nhà XB: NXB Khai Trí
Năm: 1967
8. Nguyễn Đình Đầu (1992), Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang, lập ấp ở Nam Kỳ lục tỉnh, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang, lập ấp ở Nam Kỳ lục tỉnh
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1992
9. Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Biên Hòa: Sông Bé- Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Biên Hòa: Sông Bé- Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 1994
10. Nguyễn Khắc Đạm (1958), Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, NXB Văn - Sử- Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Nhà XB: NXB Văn - Sử- Địa
Năm: 1958
11. Hồ Sơn Điệp (2012), Thủ Dầu Một Bình Dương đất nước - con người, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ Dầu Một Bình Dương đất nước - con người
Tác giả: Hồ Sơn Điệp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
12. Huỳnh Ngọc Đáng (2011), Người Hoa ở Bình Dương, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa ở Bình Dương
Tác giả: Huỳnh Ngọc Đáng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
13. Trần Thanh Đạm (1991), Địa chí sông Bé, NXB Tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí sông Bé
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 1991
14. Lê Quý Đôn (2008), Phủ Biên tạp lục (phần 2), Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú thích, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ Biên tạp lục (phần 2)
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
15. Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
16. Trần Ngọc Định (1970), Chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam Bộ trong thời đế quốc Pháp, NCLS số 132 tháng 5 – 6, trang 81 – 90 và 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam Bộ trong thời đế quốc Pháp
Tác giả: Trần Ngọc Định
Năm: 1970
17. Nguyễn Kiến Giang (1953), Phác Qua Tình Hình Ruộng Đất Và Đời Sống Nông Dân Trước Cách mạng tháng Tám, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác Qua Tình Hình Ruộng Đất Và Đời Sống Nông Dân Trước Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Kiến Giang
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1953
18. Trần Văn Giàu (1987), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (tập 1), NXB Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (tập 1
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 1987
19. Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Xuất bản tại Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử liệu Phù Nam
Tác giả: Lê Hương
Năm: 1974
20. Bùi Thị Huệ (2009), luận án tiến sĩ khoa học lịch sử Những biến đổi kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc (1858-1945), Trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc (1858-1945)
Tác giả: Bùi Thị Huệ
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w