Mục tiêu đề tài: Đối với nhà trường: kết hợp giảng dạy lí thuyết với thực tế, giúp cho sinh viên có môi trường học tập mang tính chất mở tạo nhiều sân chơi bổ ích cả về bề nổi lẫn bề sâ
Trang 1Thuộc nhóm ngành khoa học : Giáo dục học
NĂM 2015
Trang 2Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Hiếu Nam, Nữ: Nam
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Thực trạng việc làm thêm của sinh viên
- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Hiếu
- Lớp: D13TH02 Khoa: Sư phạm Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: TS Nguyễn Đức Thành
2 Mục tiêu đề tài:
Đối với nhà trường: kết hợp giảng dạy lí thuyết với thực tế, giúp cho sinh viên
có môi trường học tập mang tính chất mở tạo nhiều sân chơi bổ ích cả về bề nổi lẫn bề sâu
Đối với sinh viên: chỉ ra những tích cực cũng như hạn chế của việc làm thêm trong sinh viên, giúp sinh viên có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn, hình thành tư duy chủ động trong việc giải quyết vấn đề, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn…
3 Tính mới và sáng tạo:
Vấn đề việc làm luôn luôn là vấn đề nóng bỏng, không chỉ báo chí và các cơ quan ban ngành quan tâm mà nó đã ăn sâu vào suy nghĩ của rất nhiều sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường Đề tài “Thực trạng việc làm thêm của sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một” lần đầu tiên được chúng tôi đưa ra nghiên cứu nhằm làm rõ hơn những vấn đề xung quanh việc làm thêm đối với đời sống học tập của sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một
4 Kết quả nghiên cứu:
Thống kê được những việc làm thêm của sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một, nêu ra được những mặt tích cực và tiêu cực của việc làm thêm trong học tập và trong đời sống sinh viên Từ đó chúng tôi đã đưa ra những kiến nghị để giúp sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một vừa học vừa làm thêm được hiệu quả tốt
khả năng áp dụng của đề tài:
Giúp sinh viên có lựa chọn đúng đắn, giảm thiểu những rủi ro xoay quanh việc làm thêm: bị lừa đảo, vướng vào tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến học tập, đến sức
Trang 4khỏe…hạn chế những ảnh hướng xấu đến tinh thần và vật chất của sinh viên
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên
tác giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở
đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Bình Dương, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nguyễn Minh Hiếu
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
- Đề tài nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao về mặt xã hội, là vấn đề cấp bách phản ánh mối quan tâm thường trực của sinh viên hiện nay – vấn đề việc làm thêm
- Nhóm nghiên cứu đã chủ động thực hiện đề tài theo đúng tiến độ thời gian quy định Trong quá trình thực hiện đề tài, các em đã tích cực tìm hiểu tài liệu liên quan, thường xuyên tham khảo ý kiến của giảng viên hướng dẫn, có tinh thần làm việc nhóm và trách nhiệm cao
- Đây là công trình bước đầu tập sự nghiên cứu của các em nhưng đã thể hiện tính nghiêm túc và đạt chất lượng của một đề tài sinh viên
Bình Dương, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)
Người hướng dẫn
(ký, họ và tên)
Trang 5
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên : NGUYỄN MINH HIẾU
Sinh ngày: 5 tháng 10 năm 1994
Nơi sinh: Bình Dương
Lớp: D13TH02 Khóa: 2013-2017
Khoa: Sư Phạm
Địa chỉ liên hệ: 185/6A khu phố Hòa Long, phương Lái Thiêu, thị xã Thuận An, Bình Dương
Điện thoại: 0967247920 Email: nmhieu51094@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Bình Dương, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Xác nhận của lãnh đạo khoa
Trang 6DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Nguyễn Minh Hiếu 1321402020084 D13TH02 Sư phạm
3 Trần Thị Mai Hương 1321402020063 D13TH02 Sư phạm
Trang 7UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Kính gửi: Ban tổ chức Giải thưởng
“Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
Chúng tôi là: Nguyễn Minh Hiếu sinh ngày 05 tháng 10 năm 1994
Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm chính:
Địa chỉ liên hệ: 185/6A khu phố Hòa Long, phương Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
Số điện thoại (cố định, di động): 0967247920
Địa chỉ email: nmhieu51094@gmail.com
Chúng tôi làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho chúng tôi được gửi đề tài nghiên cứu khoa học để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một” năm 2014-2015
Tên đề tài: Thực trạng việc làm thêm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một
Chúng tôi xin cam đoan đây là đề tài do chúng tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đức Thành Đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nào khác tại thời điểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp
Nếu sai, chúng tôi xin chịu trách nhiệm trước khoa và Nhà trường
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo nhà tường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện cho chúng tôi tham gia nghiên cứu khoa học Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo là giảng viên của trường đã nhiệt tình giúp đỡ, đặc biệt là T.S Nguyễn Đức Thành là người luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để nhóm nghiên cứu có thể hoàn thành bài nghiên cứu này một cách tốt nhất
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Thủ Dầu Một, khoa
sư phạm và các bạn sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một đã rất nhiệt tình hợp tác
và đóng góp ý kiến cho nhóm nghiên cứu Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể lớp D13TH02 đã không ngừng tạo điều kiện, giúp đỡ cho nhóm, đóng góp những ý kiến hữu ích cho bài nghiên cứu này
Là bước đầu tập dợt nghiên cứu khoa học, bản thân mỗi bạn trong nhóm đều rất
cố gắngnhưng chắc chắn bài viết không tránh khỏi những sai sót.Rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài nghiên cứu của nhóm được hoàn thiện hơn
Xin kính chúc Quý ban lãnh đạo nhà trường, khoa sư phạm quý thầy cô cùng toàn thể các bạn sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một lời chúc sức khỏe, thành công
và thịnh vượng trong cuộc sống cũng như trong công tác
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tổng quan tình hình thực trạng việc làm thêm của sinh viên 1
2 Lý do lựa chọn đề tài 2
3 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
6 Bố cục của đề tài 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN VÀ VẤN ĐỀ LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.1.1 Khái niệm về việc làm 6
1.1.2 Khái niệm về việc làm thêm của sinh viên 8
1.2 Một số vấn đề liên quan tới việc làm thêm của sinh viên 8
1.2.1 Thị trường lao động việc làm thêm của sinh viên đại học Thủ Dầu Một 8
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa việc làm thêm của sinh viên 10
1.2.3 Những yêu cầu hiện nay của sinh viên, tân cử nhân trường đại học Thủ Dầu Một xung quanh vấn đề việc làm 11
1.2.3.1 Kĩ năng cứng 11
1.2.3.2 Kĩ năng mềm 13
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM THÊM ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 16
2.1 Thực trạng việc làm thêm của sinh viên đại học Thủ Dầu Một 16
2.1.1 Trải nghiệm việc làm của sinh viên 16
2.1.2 Mục đích việc đi làm thêm của sinh viên 19
2.1.3 Những mối quan tâm của sinh viên khi đi làm thêm 20
2.1.4 Những phương tiện (địa chỉ) sinh viên tìm kiếm việc làm thêm 22
2.1.5 Các công việc làm thêm của sinh viên 23
2.1.6 Thu nhập từ công việc làm thêm của sinh viên 25
2.1.7 Thời lượng làm thêm của sinh viên 26
2.1.8 Sự phù hợp về chuyên môn của việc làm thêm đối với sinh viên 27
2.2 Tác động của việc làm thêm đối với sinh viên 28
2.2.1 Ảnh hưởng tích cực 28
2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực 30
2.2.2.1 Việc làm thêm ảnh hưởng đến học tập của sinh viên 31
Trang 102.2.2.2 Việc làm thêm ảnh hưởng đến sức khỏe của sinh viên 34
2.2.2.3 Việc làm thêm với vấn đề tiền lương của sinh viên 36
2.2.2.4 Việc làm thêm ảnh hưởng đến các mối quan hệ của sinh viên 38
2.2.2.5.Việc làm thêm thường trực đối mặt với bất trắc 40
2.2.3 Đánh giá chung về vấn đề có nên hay không nên đi làm thêm của sinh viên 43
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC QUẢN LÍ VIỆC LÀM THÊM ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT HIỆN NAY 45
3.1 Nâng cao nhận thức của sinh viên trường đại học Thủ Dầu Một về việc làm thêm 45
3.1.1 Cơ sở giải pháp 45
3.1.2 Nội dung giải pháp 47
3.1.3 Lợi ích giải pháp 46
3.2 Tăng cường mối quan hệ giữa sinh viên - khoa - doanh nghiệp 46
3.2.1 Cơ sở giải pháp 46
3.2.2 Nội dung giải pháp 47
3.2.3 Lợi ích giải pháp 47
3.3 Tăng cường sự tham gia của tổ chức đoàn thể 47
3.3.1 Cơ sở của giải pháp 47
3.3.2 Nội dung giải pháp 48
3.3.3 Lợi ích của giải pháp 48
3.4 Trang bị các kỹ năng cần thiết 48
3.4.1 Cơ sở của giải pháp 49
3.4.2 Nội dung giải pháp 49
3.4.3 Lợi ích của giải pháp 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 56
PHỤ LỤC 58
Trang 12So sánh mục đích việc đi làm thêm của sinh viên
Những quan tâm của sinh viên khi đi làm thêm
Những phương tiện sinh viên tìm kiếm việc làm thêm
Các công việc làm thêm của sinh viên
Thu nhập từ việc làm thêm của sinh viên
Thời gian làm thêm của sinh viên
Sự phù hợp về chuyên môn của việc làm thêm
Ảnh hưởng tích cực của việc làm thêm
Ảnh hưởng tiêu cực của việc làm thêm đến học tập
Ảnh hưởng tiêu cực của việc làm thêm đến sức khỏe
Vấn đề tiền lương khi đi làm thêm của sinh viên
Ảnh hưởng đến các mối quan hệ khi đi làm thêm của sinh viên
Việc làm thêm thường trực đối mặt với bất trắc
Trang 13Tương quan giữa sinh viên đã đi làm thêm và chưa đi làm thêm
Tương quan giữa sinh viên nam và nữ đã đi làm thêm và chưa đi làm
thêm
Tương quan tổng thể giữa sinh viên đã đi làm thêm và chưa đi làm
thêm theo năm học
Tương quan tổng thể về mục đích việc đi làm thêm của sinh viên
Những quan tâm của sinh viên khi đi làm thêm
Những phương tiện sinh viên tìm việc làm thêm
Các công việc làm thêm của sinh viên
Thu nhập từ việc làm thêm của sinh viên
Thu nhập từ việc làm thêm của sinh viên
Nhận định về sự phù hợp về chuyên môn của việc làm thêm
Ảnh hưởng tích cực của việc làm thêm
Ảnh hưởng tiêu cực của việc làm thêm đến học tập của sinh viên
Ảnh hưởng tiêu cực của việc làm thêm đến sức khỏe của sinh viên
Ảnh hưởng tiêu cực từ vấn đề tiền lương khi đi làm thêm của sinh
viên
Ảnh hưởng đến các mối quan hệ khi đi làm thêm của sinh viên
Ảnh hưởng đến các mối quan hệ khi đi làm thêm của sinh viên
Đánh giá chung về vấn đề có nên hay không nên đi làm thêm của
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tinh hình thực trạng việc làm thêm của sinh viên
Hiện nay ở nước ta có khoảng gần 900.000 sinh viên (SV) ở các trường đại học
và cao đẳng trên cả nước, con số này không dừng lại ở đó mà liên tục gia tăng hàng năm Theo ước tính khoảng 2/3 trong số này là các SV ngoại tỉnh
Vấn đề này càng thể hiện rõ tại các trường đại học ở tỉnh Bình Dương mà tiêu biểu nhất là Đại học Thủ Dầu Một Một thực tế dễ thấy ở các SV ở đây đều học xa nhà Để có thể yên tâm học hành mỗi tháng họ phải tiêu tốn hơn một tháng lương của cha mẹ ở quê nhà, chưa kể tiền học phí Không những thế họ luôn luôn thường trực trong đầu câu hỏi: “Liệu mình có thể thu xếp gói ghém để trang trải mọi khoản chi tiêu cho đến ngày có tấm bằng ra trường?” Do đó hiện nay ngoài một buổi học trên trường nửa số thời gian còn lại SV dồn vào việc làm thêm
Có thể thấy, cứ nơi nào có việc làm là sẽ có mặt của SV Nhưng vấn đề đặt ra,
SV làm thêm liệu có phải là giải pháp tối ưu nhất và họ thu được gì và mất gì khi phải vừa học vừa làm như vậy Đây là câu hỏi cấp bách đặt ra không những cho SV mà toàn xã hội hiện nay Chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu về việc làm thêm của
SV để hiểu rõ hơn thực trạng này
Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về việc làm của SV, trước đây đã được khá nhiều nhà chuyên môn nghiên cứu, có nhiều nguyên nhân được đưa ra và cũng đã có nhiều giải pháp giải quyết những vấn đề bức xúc được tìm hiểu nhưng nó mang một tính chất chung chung chưa tìm đến một ngành nghề cụ thể
Năm 1999, điều tra SV tốt nghiệp trong 51 trường Đại học và Cao đẳng (trong
đó có 2 Đại Học Quốc Gia và 3 Đại học vùng) Số SV tốt nghiệp là 20.540 SV Kết quả điều tra cho thấy tỉ lệ chung SV có việc làm là 72,47% và chưa có việc làm là 27,53%
Năm 2007, đề tài nghiên cứu cấp trường về “Sự đáp ứng của SV ngành quản lí Giáo dục trường Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn đối với yêu cầu của thị trường lao động hiện nay” của TS Nguyễn Ánh Hồng đã giúp chúng ta thấy được thực trạng chung về việc làm của SV chuyên ngành quản lí Giáo dục, những đánh giá và yêu cầu của các nhà tuyển dụng đối với các SV chuyên ngành quản lí Giáo dục…
Trang 15Trên phạm vi cả nước theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ GD-ĐT năm 2008, cả nước chỉ có khoảng 25 trường có tỷ lệ trên 60% SV ra trường được làm đúng ngành nghề đào tạo Và con số này chủ yếu tập trung vào các trường thuộc lĩnh vực tự nhiên như: Đại học Y Dược, Đại học Ngoại thương, Học viện Ngân hàng, Đại học Kinh tế…
Tỷ lệ này thấp hơn nhiều ở các trường như Đại học KHXH & NV, Đại học Luật hay Học viện Hành chính quốc gia… [21]
Còn tại Tp HCM, trung tâm kinh tế của cả nước, theo ông Nguyễn Hoàng Khang, Trưởng phòng Lao động - Tiền lương - Tiền công thuộc sở LĐ - TB - XH Tp HCM, cho biết mỗi năm Tp HCM có khoảng 32.000 SV tốt nghiệp ĐH, trong đó khoảng 30% trong số này có việc làm phù hợp, còn lại khoảng 50% có việc làm trái ngành nghề đào tạo (Trần Khánh Đức, Lao động việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới, Nxb Thế Giới, Hà Nội năm 2001)
Năm 2008, theo thống kê riêng của chương trình việc làm của báo Người Lao Động, bình quân cứ 100 lao động Đại học đến đăng kí tìm việc làm thì có khoảng 80% trong số này không tìm được việc làm trong 3 tháng đầu sau khi ra trường, 50% thất nghiệp trong thời gian 6 tháng đầu và 30% sau 1 năm Theo kết quả điều tra mới đây của trường Đại học Kinh Tế Tp HCM, chỉ có 40% SV của trường tìm được việc làm trong 6 tháng sau khi tốt nghiệp và sau 1 năm tăng lên khoảng hơn 70%
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi mong muốn được đóng góp và bổ sung thêm cho những đề tài nghiên cứu này
2 Lý do lựa chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay việc làm luôn luôn là vấn đề nóng bỏng, không chỉ báo chí
và các cơ ban ngành quan tâm mà nó đã ăn sâu vào suy nghĩ của rất nhiều SV ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đang không ngừng tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để đạt được mục đích cao đẹp của họ trong tương lai
Xét về năng lực hành vi, SV là một phần quan trọng trong độ tuổi lao động Họ
có thể lực, tri thức, trí lực dồi dào Xét về mục đích, SV đi học là mong có kiến thức
để có thể lao động và làm việc sau khi ra trường
Hiện nay, đông đảo SV nói chung và SV trường đại học Thủ Dầu Một nói riêng,
đã nhận thức được rằng có rất nhiều cách thức học khác nhau và ngày càng có nhiều
SV chọn cách thức học ở thực tế Đó là đi làm thêm.Việc làm thêm hiện nay đã không còn là hiện tượng nhỏ lẻ và đã trở thành một xu thế, gắn chặt với đời sống học tập,
Trang 16sinh hoạt của SV ngay khi vẫn còn ngồi trên ghế giảng đường SV đi làm thêm ngoài
vì thu nhập, họ còn mong muốn tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn, học hỏi thực tế nhiều hơn… và sở dĩ việc làm thêm hiện nay đã trở thành một xu thế là vì đối với SV, đặt biệt khi sống trong xã hội cạnh tranh như hiện nay, kiến thức xã hội và kiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tư duy cũng như khả năng làm việc của họ sau khi tốt nghiệp
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Thực trạng việc làm thêm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một”
3 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng, khảo sát nhu cầu và nhận thức
về việc làm thêm của SV, đồng thời chỉ ra những ảnh hưởng (tích cực và tiêu cực) của vấn đề này đến đời sống và việc học tập của SV Từ đó giúp SV có định hướng nghề nghiệp đúng đắn, hình thành tư duy chủ động trong việc giải quyết vấn đề, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
Mục tiêu nhiệm vụ) nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến ba mục tiêu sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc làm thêm của SV đại học Thủ Dầu Một
- Đánh giá thực trạng việc làm thêm của SV đại học Thủ Dầu Một Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm thêm của SV
- Đưa ra các giải pháp cho việc làm thêm của SV
4 Phương pháp nghiên cứu [4]
Kết hợp giữa nhiều phương pháp để phân tích, so sánh, tổng hợp dữ liệu thông qua khảo sát thực tế trong trường đại học Thủ Dầu Một
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Chúng tôi tiến hành thu thập, chọn
lọc các tài liệu có liên quan như các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các văn bản pháp quy của Đảng và nhà nước, một số bài báo, tạp chí liên quan…để làm cơ
sở lý luận và phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu hỏi: Nhằm khảo sát thực trạng việc làm
thêm của SV, trong đề tài nghiên cứu đã tiến hành thiết lập hệ thống các câu hỏi, sau
đó phỏng vấn ngẫu nhiên các đối tượng là: 200 SV (100 nam và 100 nữ) của trường Đại học Thủ Dầu Một
Trang 17Phương pháp toán thống kê: đánh giá thực trạng việc làm thêm và phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm thêm của sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một
Số trung bình (x): là tổng lượng trị số các cá thể với tổng số cá thể của tập hợp mẫu
n
x x
n
i i
Việc cho điểm và tính điểm trung bình (giá trị trung bình) của từng yếu tố được xem xét giúp người nghiên cứu xác định mức độ giá trị, xếp hạng các yếu tố và từ đó
có thể rút ra những kết luận, nhận xét khách quan, khoa học
Chỉ số
2
: Dùng để đánh giá các đặc tính định tính (định danh, thứ bậc, tính chất, phạm trù….) trên các tần số không đòi hỏi các phân phối theo luật xác suất chuẩn
E
E O
1
2
Trong đó: O i (observed data) là tần số quan sát
E i (expected values) là tần số lý thuyết
Ðể xử lý số liệu thu thập chúng tôi dùng phần mềm toán thống kê Excel và SPSS 20.0
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Việc làm thêm của SV
Khách thể nghiên cứu: 200 SV (100 nam và 100 nữ) của trường đại học Thủ Dầu Một
Trang 18Phạm vi nghiên cứu: Nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài là đánh giá, phân tích thực trạng việc làm thêm của SV Chỉ ra những tích cực cũng như hạn chế của việc làm thêm trong SV
6 Bố cục của đề tài
Đề tài được trình bày trong 66 trang bao gồm: Mở đầu (5 trang); Chương 1 Cơ
sở lý luận về việc làm thêm của SV (10 trang), Chương 2 Thực trạng việc làm thêm của SV trường đại học Thủ Dầu Một (29 trang), Chương 3 Đề xuất một số giải pháp (8 trang); Phần kết luận và kiến nghị (3 trang) Trong báo cáo có 15 bảng, 17 hình, 21 tài liệu tham khảo và 01 phụ lục
Trang 19CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN VÀ VẤN ĐỀ LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về việc làm
Theo trang thông tin điện tử và của công đoàn bưu điện Việt Nam: Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nó con người có điều kiện tạo nhu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình và các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con người tham gia vào các hoạt động xã hội, quan hệ
xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình
Việc làm là một hiện tượng xã hội đặc biệt, được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, thí dụ: “Việc làm là một quan hệ sản xuất nảy sinh do có sự kết hợp giữa cá nhân người lao động kinh tế của xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo khuôn khổ của quá trình kinh tế”
Điều 9, Bộ luật lao động, quy định rõ: “Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [10]
Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức:
Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc
Khái niệm trên nói chung là khá bao quát nhưng chúng ta cũng thấy rõ hạn chế
cơ bản Hạn chế thứ nhất: hoạt động nôi trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ Hạn chế thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán,…có những nghề ở quốc gia này thì được
Trang 20phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác lại bị cấm ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhưng ở Thái Lan, Mĩ đó lại được coi là một nghề thậm chí là rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu
Trên thế giới, quan niệm về việc làm được đưa ra dưới nhiều góc độ, với những
phạm vi rộng, hẹp khác nhau Giáo sư N.Y.Asuda (Nhật Bản) cho rằng: “Việc làm là
những tác động của người lao động vào vật chất sinh ra lợi nhuận” [3] Tuy nhiên,
trong cuộc sống, phạm vi tác động của con người vào vật chất thì rất rộng nhưng không phải tác động nào cũng thu được lợi nhuận Thực tế, có những tác động của con người vào thế giới vật chất không phải là việc làm nhưng lại có nhiều trường hợp thực hiện việc làm không thu được lợi nhuận hoặc không vì mục đích lợi nhuận Vì vậy, quan niệm này không chỉ rõ phạm vi hợp lí của khái niệm việc làm
Cố vấn văn phòng Quốc tế Giăng Mutê đưa ra quan điểm: “Việc làm như một
tình trạng, trong đó sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tinh chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [3] Theo đó việc làm phải
có yếu tố trả công trong khi sự trả công thông thường chỉ được thực hiện trọng quan hệ làm công Tuy nhiên, nhiều trường hợp không có sự trả công như các lao động cá thể
có công việc và thu nhập ổn định từ công việc của mình hoặc những người chủ sử dụng lao động tạo việc làm và trả công cho người khác nhưng thật khó có thể nói rằng họ lại là những người người không có việc làm Bên cạnh đó, việc giới hạn chỉ có
sự tham gia vào nỗ lực sản xuất cũng làm hẹp đi phạm vi của việc làm
Ở Việt Nam, dưới góc độ ngôn ngữ học, việc làm được hiểu là: “công việc được
giao cho làm và trả công” [19] Ngoài bất cập về dấu hiệu phải được trả công giống
như quan điểm đa phân tích ở trên, quan điểm này còn đồng nhất việc làm với công việc cụ thể, được người khác giao cho làm Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học thì lại phải quân biệt: Việc làm là danh từ chung, chỉ đối tượng của hợp đồng lao động còn công việc thường có tính cụ thể, là một trong những nội dung cơ bản của hợp đồng đó
Vì vậy, những công việc có tính liên kết với nhau theo phạm vi nghề nghiệp nhất định thì được gọi là việc làm Những công việc đơn lẻ, rời rạc có thể cùng thực hiện một mục đích kiếm sống nhưng không liên quan đến nhau, không trong một phạm vi nghề nghiệp thì không nên gọi là việc làm mà là những công việc hay những việc cụ thể
Trang 211.1.2 Khái niệm về việc làm thêm của sinh viên
Theo điều 13 Bộ luật lao động thì khái niệm việc làm đươc định nghĩa như sau:
“Những người được coi là có việc làm là những người làm việc có thu nhập, không bị pháp luật cấm” [10] Quan niệm chính thức về việc làm được đưa vào bộ luật lao động
– văn bản có hiệu lực pháp lí cao, bước đầu đã tạo cơ sở cho việc hình thành khái niệm việc làm và khái niệm việc làm thêm Về mặt khoa học, quan điểm của bộ luật lao động đã nêu ra những yếu tố cơ bản nhất của việc làm Từ đó nhóm nghiên cứu đã đưa
ra một số quan niệm về việc làm thêm đối với sinh viên là
Thứ nhất, Việc làm thêm đối với SV có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống
Thứ hai, Việc làm thêm chỉ đơn giản chính là các bạn SV chủ động tham gia các hoạt động xã hội ở các tổ chức trong và ngoài trường để tích lũy kinh nghiệm cho bản thân
Trên đây là hai quan niệm về việc làm thêm đối với SV hiện nay, từ đó, nhóm nghiên cứu rút ra khái niệm chung về việc làm thêm như sau: Việc làm thêm đối với
SV có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làm ảnh hưởng nhiều đến học tập… với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống
1.2 Một số vấn đề liên quan tới việc làm thêm của sinh viên
1.2.1 Thị trường lao động việc làm thêm của sinh viên đại học Thủ Dầu Một
Một trong những vấn đề quan trọng trong việc làm thêm của SV là thị trường lao động Để tìm được công việc phù hợp thì trước hết phải thông qua thị trường lao động,
để biết thị trường lao động cần gì, bản thân mình có thích hợp để tham gia lao động hay không?
Trước hết, là cung lao động, là những người có khả năng và nhu cầu làm việc
Họ có thể đang làm hoặc không có việc làm song đang đi tìm việc Nguồn lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác Nguồn cung này có thể đến từ những người đang đi tìm việc
Trang 22làm, từ các doanh nghiệp, các cơ quan tổ chức và nó được bổ sung thường xuyên từ đội ngũ những người đến từ độ tuổi lao động, trong đó có SV
Tính đến thời điểm tháng 10/2013 cả nước ta có 69,15 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,86 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động (Báo cáo điều tra lao động việc làm quý III năm 2013) và tổng số SV cả nước khoảng 2,2 triệu người Với SV đang theo học ở các trường đại học cao đẳng thì việc làm thêm của họ cũng đóng góp một phần không nhỏ trong thị trường lao động nước ta
Thứ hai, cầu lao động được hình thành từ các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức,….hoặc từ nhu cầu lao động nhập khẩu của nước ngoài Tính đến tháng 7/2013 nước ta có 457.343 doanh nghiệp hoạt động Với sự phát triển không ngừng của các doanh nghiệp thì nhu cầu tuyển dụng lao động ngày một tăng để đáp ứng kịp thời với
sự tiến bộ của nhân loại và đó là một cơ hội dành cho người lao động nói chung và SV nói riêng
Với tỉnh Bình Dương nói riêng, có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp Trong đó những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tư, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trường như VSIP 1, 2, Mỹ Phước, Đồng An,…Bằng những chính sách phù hợp, tính đến tháng 10/2014, Bình Dương đã thu hút được 2.356 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn là 20 tỷ 200 triệu đôla Mỹ, có trên 17.000 doanh nghiệp trong nước Tính đến tháng 9 năm 2014, tổng số lao động tỉnh Bình Dương gần 60.000 người kể cả lao động ngoại tỉnh Và toàn tỉnh có 8 trường đại học và 6 trường cao đẳng hệ chính quy, tiêu biểu phải kể đến các trường: Đại học Thủ Dầu Một, Đại học Bình Dương, Đại học Quốc tế Miền Đông ……với số lượng SV đông đảo
Trong bối cảnh đất nước ngày một phát triển, thì ta không thể phủ nhận vai trò cung cầu trong thị trường lao động việc làm thêm đang ngày một gia tăng trước sức ép của hàng loạt biến động về giá thực phẩm, xăng dầu, lạm phát v.v… trong thời gian vừa qua Để có thêm thu nhập trang trải cho sinh hoạt, chi tiêu giữa thời buổi vật giá leo thang, người lao động và cả giới SV buộc phải tìm cho mình việc làm thứ hai, thứ
ba bên cạnh các công việc chính thức.Và để tìm một công việc cần tham khảo thị trường một cách đúng đắn, nắm bắt cơ hội kịp thời,….để tìm việc làm thêm thích hợp Đối với SV trường Đại học Thủ Dầu Một cũng vậy, họ có thể dễ dàng tìm kiếm được việc làm thêm ở tỉnh Bình Dương Họ có thể làm thời vụ ở rất nhiều doanh
Trang 23nghiệp như siêu thị, quán ăn,…Khi tuyển dụng thì các công ty, doanh nghiệp, cửa hàng đó cũng đã tạo điều kiện cho SV đi làm thêm Bên cạnh đó, thị trường lao động việc làm thêm của SV cũng khá đa dạng với các việc làm khác nhau như: gia sư tại nhà, vệ sinh văn phòng, phát tờ rơi, gia công tại nhà,…Với nhu cầu của thị trường lao động ở Bình Dương thì tìm một việc làm thêm cho SV không khó Tuy nhiên, trong thời buổi cạnh tranh hiện nay, để tìm kiếm một công việc làm thêm vừa thuận lợi về thời gian, vừa không ảnh hưởng đến việc học tập không phải dễ Vì thế, muốn tìm việc làm thêm thích hợp và phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, SV cần nắm bắt thị trường lao động, và tận dụng cơ hội đến với mình
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa việc làm thêm của sinh viên
Để đánh giá vai trò và ý nghĩa của việc làm thêm có thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau ví dụ như: ý nghĩa của việc làm đứng dưới góc độ người lao động, người sử dụng lao động hay ý nghĩa của việc làm dưới khía cạnh đối với mỗi cá nhân SV
Trên bình điện kinh tế xã hội
Đối với bản thân người lao động, có việc làm sẽ tạo cơ hội để người lao động có thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình đồng thời đóng góp cho xã hội Đối với mỗi quốc gia, giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ tạo điều kiện và cơ sở để triển khai các chính sách xã hội khác như phát triển văn hóa, y tế, giáo dục…góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội
Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất
Về mặt xã hội, giải quyết vệc làm có mục tiêu hướng vào toàn dụng lao động, chống thất nghiệp và khắc phục tình trạng thiếu việc làm bảo đảm thu nhập
Đối với Việt Nam, việc làm còn gắn tới công cuộc xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm là biện pháp quan trọng, thiết thực xóa đói giảm nghèo
Trên bình diện mỗi cá nhân sinh viên
Tìm việc làm thêm khi còn đi học luôn là vấn đề gây tranh cãi Nhiều người cho rằng tuổi trẻ dễ thích thú với công việc mới mà quên đi trách nhiệm học hành, một số khác cho rằng tự lập tài chính sớm là tốt Ý kiến nào cũng được dựa trên những lí lẽ riêng không thể phủ nhận, quyết định thế nào là sự lựa chọn của mỗi người Bên cạnh những mặt trái là làm cản trở việc học thì việc làm thêm có những vai trò có thể kể đến như:
Trang 24+ Kinh nghiệm: việc làm thêm thường nhỏ nhặt nhưng cũng đủ đề bồi dưỡng thêm kinh nghiệm cho các bạn trẻ, đặc biệt là kĩ năng mềm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng quản lí thời gian, xử lí tình huống Trong khi nhà trường vẫn còn xem nhẹ vấn đề đào tạo kĩ năng mềm cho SV thì nguồn tiếp thu chủ yếu hiện tại là qua công việc Hơn nữa, nhà tuyển dụng ngày nay có xu hướng coi trọng kinh nghiệm, quãng thời gian đi làm thêm và những thành tựu công việc đạt được có thể là một điểm cộng lớn cho các bạn trẻ đi xin việc sau này Thậm chí, các bạn trẻ còn có cơ hội được giữ lại công ty mà mình làm thêm để trở thành nhân viên chính thức khi ra trường
+ Mối quan hệ: đây là nhân tố góp phần không nhỏ và thành công của mỗi người Những bạn trẻ năng động có thể xây dựng rất nhiều mối quan hệ trong quá trình đi làm thêm, đó là một bước đệm tốt cho các bạn khi bước chân ra đi làm chính thức
1.2.3 Những yêu cầu hiện nay của sinh viên, tân cử nhân trường đại học Thủ Dầu Một xung quanh vấn đề việc làm
Thực tế hiện nay SV hay các tân cử nhân trường đại học Thủ Dầu Một khi đi phỏng vấn xin viêc cần phải có những kĩ năng như kĩ năng cứng, kĩ năng mềm Dưới đây xin đề cập một kĩ năng điển hình mà SV và tân cử nhân cần phải có
1.2.3.1 Kĩ năng cứng
Kỹ năng cứng (kỹ năng nghề nghiệp) thường là những kiến thức, đúc kết và thực hành có tính chất kỹ thuật chuyên môn, thay đổi nhanh nên phải luôn được điều chỉnh, cập nhật Hay có thể hiểu, đó là những kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng chuyên môn, giúp con người thực thi những công việc cụ thể đạt được những tiêu chuẩn nhất định Kỹ năng cứng có được từ các môn học đào tạo chính khóa, có liên kết lô-gic chặt chẽ và xây dựng tuần tự
Thời gian để một SV nói chung (và SV sư phạm nói riêng) có được kỹ năng cứng thường rất dài, hàng chục năm, bắt đầu từ những kiến thức kỹ năng cơ bản ở nhà trường phổ thông và những kiến thức kỹ năng này được tích lũy, phát triển dần lên các mức độ cao hơn, thông qua giảng dạy, thực hành và tự học một cách hệ thống
Kiến thức chuyên môn
Chị tuấn Anh, người đảm nhận phụ trách tuyển dụng của công ty Canon cho biết:
“Suốt buổi sáng phỏng vấn gần 60 ứng tuyển, tôi chỉ chọn được 36 hồ sơ vào vòng 1
để ngày mai kiểm tra lần thứ hai tại công ty Những ứng viên tốt nghiệp đại học thì
Trang 25trình độ chuyên môn còn được, trong khi những em tốt nghiệp cao đẳng thì chuyên môn rất kém, nhiều em gần như không biết gì” [20]
Chị Nguyễn Văn Thúy - Trưởng phòng hành chính nhân sự công ty LG cũng có nhận xét: “Nhiều người đưa ra nhiều bằng cấp, kiến thức giỏi nhưng lại không chứng
tỏ được khả năng thực tế trong lĩnh vực nào cả” [17]
Các ứng viên trẻ, theo chị Thiên Hương, Trưởng phòng phân tích và hỗ trợ chiến lược của công ty bảo hiểm Prudential: “Các trường đại học cũng có dạy những lí thuyết không cập nhật, không đào tạo sự năng động và xử lí tính huống thực tiễn, nên ứng viên trẻ thiếu khả năng phản ứng, Trong khi rất nhiều bạn trẻ bây giờ lại quá nóng vội, chê các vị trí thấp, muốn nhanh chóng thăng tiến, chứng tỏ bản lĩnh mà không nhận thức đủ điểm mạnh, điểm yếu của mình và vì thế, không đủ tin cậy để những người lãnh đạo đầu tư đào tạo cho những mục đích lâu dài Hơn nữa, hiện nay có sự phân hóa khá lớn trong các ứng viên trẻ, SV mới ra trường Có một số ít người xuất sắc, bỏ xa nhóm còn lại thuộc diện “thường thường bậc trung” với những điểm yếu cố hữu như nhút nhát, thụ động, kỉ luật kém…” [12]
Từ những ý kiến trên cho chúng ta thấy SV, tân cử nhân khi ra trường còn hạn chế về kến thức chuyên môn cần phải học tập và bồi dưỡng tại nhà trường và các công việc làm thêm
Trình độ ngoại ngữ
Một điều quan trọng nữa là khả năng sử dụng tiếng Anh trong môi trường công việc của SV mới ra trường còn rất yếu kém, do họ chưa có điều kiện để tiếp xúc với tình huống công việc thực tế Họ thường bị “khớp”, không biết phải trả lời phàn nàn của khách hàng trên điện thoại như thế nào, không có kĩ năng đàm phán thuyết phục, hay không thể trình bày vấn đề một cách logic, chuyên nghiệp và thành thạo bằng tiếng Anh
Điểm qua các doanh nghiệp mà việc tuyển dụng chú trọng vào tiếng Anh, vào trình độ và chỉ số thông minh của SV qua các bài test phải kể đến Nestle Việt Nam Họ chỉ cần có hai ngày cho việc tìm 10 người phù phợp từ hơn 400 ứng viên Cách của họ
là đến một trường đại học tiếng tăm có nhiều chuyên nghành họ cần, tổ chức một buổi hội thảo nghề nghiệp vài giờ đồng hồ cho tất cả cho các ứng viên là SV năm cuối các trường thuộc khối kinh tế Bài test IQ được đưa ra cho những người tham gia, kết thúc buổi hội thảo cũng là lúc họ chọn ra được 28 người có chỉ số cao nhất Và ngay chiều
Trang 26hôm đó các nhóm tìm giải pháp và bảo vệ giải pháp đó của mình.10 người sẽ được chọn.Với cung cách tuyển dụng như vậy, nếu chỉ có duy nhất kiến thức học được trong sách vở chắc chắn chúng ta sẽ không nằm trong số những người được chọn [13]
1.2.3.2 Kĩ năng mềm
Kỹ năng mềm (soft skills) còn gọi là kỹ năng thực hành xã hội, là thuật ngữ liên quan đến trí tuệ xúc cảm dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người (giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới, hòa mình, sống hay tương tác với xã hội, cộng đồng, tập thể hoặc tổ chức ), không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt
Kỹ năng mềm rất ít thay đổi và là nền tảng thành đạt của bất cứ ngành nghề nào
Nó chính là một phần của kỹ năng sống (năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày) Hay nói cách khác kỹ năng sống bao gồm kỹ năng mềm và một số kỹ năng khác Thông qua kỹ năng mềm, con người
có thể tự quản lý, lãnh đạo chính bản thân mình và tương tác với những người xung quanh để cuộc sống và công việc thật hiệu quả Đa phần nhà tuyển dụng lẫn những người giàu kinh nghiệm đều khẳng định: Luyện tập, học hỏi thường xuyên, tạo cho bản thân một phản xạ tức thời mỗi khi gặp các tình huống cần thiết là cách tối ưu để trau dồi kỹ năng mềm
Thái độ tích cực, nghiêm túc
Bà Đỗ Xuân Phương – phó giám đốc sở LĐTBXH Hà Nội, phó trưởng ban tổ chức hội chợ việc làm Thành Phố Hà Nội lân thứ 3 cho biết: “Đến hội chợ lần này chủ yếu là SV chưa hoặc mới tốt nghiệp đại học, cao đẳng Một thực tế khá buồn: người lao động đến hội chợ tìm việc nhưng với thái độ thờ ơ, cẩu thả, không chuẩn bị kĩ về tâm lí, các loại giấy tờ hồ sơ cũng không đầy đủ Trong số 400 hồ sơ mà VINACONEX (Hà Nội) nhận được, không có bộ hồ sơ nào đủ giấy tờ cần thiết (thiếu bằng tốt nghiệp, thiếu giấy khám sức khỏe…) Bởi vậy trong 3 ngày hội chợ, tổng công ty đã không thể tiến hành phỏng vấn, tuyển dụng trực tiếp như kế hoạch” [11] Bên cạnh sự thờ ơ, cẩu thả trong chuẩn bị hồ sơ, sau một số cuộc phỏng vấn, không ít người lao động đã bày tỏ sự “ngỡ ngàng”: “tưởng phỏng vấn gì, té ra là mấy câu bâng quơ về gia đình, bạn bè…”; “không ngờ công ty lớn như vậy mà gọi mình tới chỉ để hỏi về ba loại đặc sản, sở thích và cả…khuyết điểm của mình!” Tuy nhiên, với
Trang 27những nhà tuyển dụng, đó là những câu hỏi hoàn toàn không là “bâng quơ”, “chơi chơi” chút nào Đó chính là sự kiểm tra phản ứng linh hoạt và kiến thức về cuộc sống của người lao động Giám đốc công ty phát triển nguồn nhân lực NetViet, ông Dương Xuân Giao khẳng định, 3 yếu tố quan trọng quyết định sự thành hay bại của ứng viên lao động, theo thứ tự như sau: 1-thái độ; 2-kinh nghiệm làm việc; 3-kiến thức chuyên môn Ông Giao nói: “cái người lao động thiếu khi đi phỏng vấn chính là thái độ, thể hiện sự nhiệt tâm và trung thực của họ đối với công việc mà họ đang dự tuyển Trên thực tế, không ít doanh nghiệp chấp nhận tái đào tạo những người chưa hoàn thiện lắm
về kiến thức, kinh nghiệm, miễn sao họ có thái độ chân thành, đúng đắn và bản lĩnh” [18]
Kinh nghiệm thực tiễn
Lê Văn Đức, cán bộ quản lí nhân sự công ty cổ phần bánh kẹo Kinh Đô nhận xét:
“Trong 100 hồ sơ ứng tuyển vào các vị trí, chúng tôi chỉ chon được rất ít Riêng vị trí
kế toán quản trị, chúng tôi không tìm nổi ứng viên vào lĩnh vực này không chỉ đòi hỏi trình độ nghiệp vụ chuyên môn mà cần có cả kinh nghiệm làm việc nữa” [16]
Một cuộc điều tra nghiên cứu của Taylor Nelson Sofres – chuyên gia của một công ty nghiên cứu thị trường – thực hiện tại Việt Nam từ tháng 9-10/2004 theo đơn đặt hàng của hội đồng Anh TP Hồ Chí Minh đã cho thấy nhiều điều bất ngờ…
SV mới ra trường: Lượng lớn, chất thấp!
“Họ rất nhiệt tình và mong muốn được chứng tỏ năng lực của mình Họ cũng sẵn sàng học hỏi và công ty thấy đối tượng này dễ đào tạo, định hướng Nếu tốt nghiệp từ những trường đào tạo chuyên ngành liên quan (như kinh tế, hóa mĩ phẩm, dược, kĩ sư công trình…) thì họ có những kiến thức cơ bản để có thể bắt đầu làm việc Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng gần như phải đào tạo lại, bởi họ rất thiếu kiến thức chuyên sâu, đặc biệt là kiến thức thực tế và thiếu kinh nghiệm làm việc” – giám đốc nhân sự ở một công ty đa quốc gia về ngành hàng tiêu dùng phát biểu [5]
Qua những kì tổ chức hội chợ, khá nhiều nhà quản lí nhận định: có quá nhiều nguyên nhân dẫn đến SV khi tốt nghiệp đại học khó kiếm việc làm như “học chưa đi đôi với hành”
Qua thực tế trên có thể thấy rằng không phải SV nào sau khi ra trường cũng có thể sẵn sàng tiếp nhận công việc Điều này có vẻ mâu thuẫn vì lẽ ra sau một quá trình học tập tại trường đại học, được trang bị một lượng lớn kiến thức, những tân cử nhân
Trang 28có thể đảm trách được mọi công việc theo chuyên ngành đào tạo, vậy mà họ lại lúng túng, ngỡ ngàng trong các cuộc phỏng vấn, cẩu thả và thiếu nghiêm túc khi tới tuyển dụng Phong thái tự tin, sự năng động và tác phong công nghiệp vẫn chưa hình thành trong họ Dường như với bộ phận các bạn SV ra trường, niềm tin vào kiến thức là duy nhất thành công Thực tế không phải vậy Kiến thức là điều rất quan trọng, nhưng để
có thể làm việc tốt chúng ta cần phản có thêm những điều kiện khác nữa
Tiểu kết chương 1
Rõ ràng, qua phân tích cơ sở lý luận trên đây có thể nói rằng những yêu cầu hiện nay của SV về vấn đề việc làm là phải đảm bảo kĩ năng cứng và kĩ năng mềm Để đảm bảo những kĩ năng đó cần có sự giúp đỡ từ phía nhà trường và các tổ chức xã hội Về phần SV cần năng động hơn khi ngồi trên ghế nhà trường, kiến thức là căn bản Nhưng
sẽ là tốt hơn nếu biết áp dụng những gì đã được học vào thực tế Bên cạnh đó, cần tranh thủ rèn luyện, trau dồi những kĩ năng từ những công việc làm thêm, những hoạt động xã hội có thể đem lợi cho bản thân minh Có thể nói việc làm thêm là một trong những phương thức hỗ trợ cho SV tìm đến các doanh nghiệp
Những lý luận về một số vấn đề liên quan đến việc làm thêm của SV trên đây sẽ
là cơ sở cho việc đánh giá thực trạng việc làm thêm của SV hiện nay nói chung và cụ thể là SV Đại học Thủ Dầu Một
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM THÊM ĐỐI VỚI SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
2.1 Thực trạng việc làm thêm của sinh viên đại học Thủ Dầu Một
Có rất nhiều ý kiến xung quanh về vấn đề làm thêm của SV Một số người thường vẫn nghĩ rằng chỉ những SV gia đình khó khăn mới chịu khó đi làm thêm Nhưng trên thực tế, ngay cả những bạn SV dù có điều kiện tốt vẫn lựa chọn cho bản thân công việc làm thêm vì xem đây là cơ hội để được cọ xát, đi vào thực tế và rèn luyện rất nhiều những kỹ năng khác
Để tìm hiểu thực trạng việc làm thêm của SV đại học Thủ Dầu Một, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về các mặt sau đây:
- Trải nghiệm việc làm của SV;
- Mục đích làm thêm của SV;
- Quan tâm của SV khi làm thêm;
- Những phương tiện SV tìm kiếm việc làm thêm;
- Các công việc làm thêm của SV;
- Thu nhập từ công việc làm thêm của SV;
- Thời lượng làm thêm của SV;
- Sự phù hợp về chuyên môn của việc làm thêm đối với SV
2.1.1 Trải nghiệm việc làm của sinh viên
Qua kết quả điều tra, với tổng số 200 SV (100 nam, 100 nữ) của trường Đại học Thủ Dầu Một, kết quả thể hiện tại bảng 2.1, phản ảnh:
- Về tổng thể: cả nam và nữ có tới 166 SV (chiếm 83%) đã đi làm thêm, trong khi chỉ có 34 SV (chiếm 17%) là chưa đi làm thêm bao giờ (hình 2.1)
Như vậy, có sự chênh lệch cách biệt về số SV đã đi làm và số còn lại chỉ chú tâm vào việc học Điều này càng rõ hơn qua chỉ số khi bình phương 2tính = 87.12 > 2
bảng với P<0.001
Trang 30Bảng 2.1 Sinh viên đã đi làm thêm và chưa đi làm thêm phân chia theo tổng thể và giới tính (N=200)
Tiêu chí
Tổng thể Giới tính (N=200) Nam
(N=100)
Nữ (N=100) So sánh
Hình 2.1 Tương quan giữa sinh viên đã đi làm thêm và chưa đi làm thêm
- Về giới tính: Xét ở nam ghi nhận được là số SV đã đi làm thêm (79 SV - 79%) chiếm đa số hơn số SV chưa đi làm bao giờ (21SV - 21%), thể hiện rõ qua chỉ số
2
tính = 33.64 > 2bảng với P<0.001 Tương tự xét ở nữ thì số SV đã đi làm thêm (87
SV - 87%) cũng chiếm ưu thế hơn số SV chưa đi làm bao giờ (13SV - 13%), thể hiện
rõ qua chỉ số 2tính = 54.76 > 2bảng với P<0.001 Điều này cho thấy, cả SV nam
và nữ đa phần đều có xu hướng đi làm thêm để cải thiện chi phí sinh hoạt cuộc sống Ngoài việc chi trả các khoản học phí thì các bạn sinh viên dù nam hay nữ đều có nhu cầu đi làm thêm để kiếm thêm thu nhập, học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, trau dồi kĩ
Đã đi làm thêm 83%
Chưa đi làm thêm 17%
Trang 31năng…Do đó, số lượng các bạn sinh viên đi làm thêm chiếm tỉ lệ cao hơn là điều dễ thấy.(hình 2.2)
Hình 2.2 Tương quan giữa sinh viên nam và nữ đã đi làm thêm và chưa đi làm thêm
So sánh giữa 2 phái bằng chỉ số khi bình phương thì không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa SV đã đi làm thêm và chưa đi làm, (2tính = 2.27 < 2bảng với
P>0.05) Nghĩa là giữa SV nam và SV nữ có số SV đã đi làm thêm và chưa đi làm tương đương nhau
- Về năm học: So sánh SV giữa các năm học 1, 2, 3, 4 tại bảng 2.2 nhận thấy: số
SV đã đi làm thêm chiếm hầu hết số SV đã chưa đi làm thêm (83% so với 17%), nhưng tỉ lệ giữa 2 nhóm SV đã và chưa đi làm thêm ở các năm học là không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê, (2tính = 2.98 < 2bảng với P>0.05)
Bảng 2.2 So sánh tổng thể giữa sinh viên đã đi làm thêm và chưa đi làm
thêm theo năm học (N=200)
Năm học Đã đi làm thêm Chưa đi làm thêm So sánh
%
Giới tính
Trang 32hơn, có nhiều thời gian rảnh rỗi ngoài những buổi lên lớp, và họ cũng đã quen với môi trường đại học cũng như môi trường nơi mình đang tham gia học
SV năm 3 và năm 4 có số đi làm thêm là ít nhất Bởi vì năm 3 đại học thường là thời gian mà SV tham gia học tập rất dày vì đã đi sâu và chuyên ngành hay bận rộn hơn trong việc học các môn điều kiện tốt nghiệp (Tin học, ngoại nhữ - Toeic, EPT ), cũng như đi kiến tập, thực tập chuẩn bị ra trường Ngoài ra, cũng có thể SV năm 3 đã giảm hứng thú với việc đi làm thêm bởi năm nhất và năm 2 họ đã từng đi làm (hình 2.3)
Hình 2.3 Tương quan tổng thể giữa sinh viên đã đi làm thêm và chưa đi làm thêm
theo năm học (N=200) 2.1.2 Mục đích việc đi làm thêm của sinh viên
Như đã trình bày ở trên, về tổng thể cả nam và nữ có tới 166 SV (chiếm 83%) đã
đi làm thêm Qua phân tích so sánh bằng chỉ số khi bình phương đối tượng này, thể hiện tại bảng 2.3 nhận thấy các mục đích đi làm thêm của SV có sự khác biệt nhau hoàn toàn, mang ý nghĩa thống kê (2tính = 43.31 > 2bảng với P<0.001)
Trong đó, tăng thu nhập là mục đích chính của đa số SV khi quyết định đi làm thêm với 47,6% Có thể hiểu, là SV, việc chi tiêu rất tốn kém Ngoài số tiền để phục
vụ học tập còn có tiền phòng trọ, tiền xăng, tiền sinh hoạt cá nhân…thì việc đi làm thêm để kiếm thêm tiền tiêu vặt hoặc có thể làm những gì mình yêu thích mà không cần phải xin bố mẹ là rất đỗi bình thường
%
Năm học
Trang 33Bảng 2.3 So sánh mục đích việc đi làm thêm của sinh viên N=166)
Hình 2.4 Tương quan tổng thể về mục đích việc đi làm thêm của sinh viên (N=166)
Mục đích đứng thứ 2 của SV khi đi làm thêm đó là rèn luyện, học hỏi và nâng cao kinh nghiệm (27.1%) Có thể thấy, SV cũng quan tâm đến việc học, nâng cao kinh nghiệm cho bản thân không những có lợi cho hiện tại mà còn mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu sau này, đây là điều đáng khích lệ
Ngoài ra, số SV đi làm thêm còn là để không bỏ phí thời gian của mình hay làm cho vui chiếm tỉ lệ ít hơn (hình 2.4)
2.1.3 Những mối quan tâm của sinh viên khi đi làm thêm
Kết quả khảo sát thể hiện tại bảng 2.4 cho thấy những mối quan tâm của SV khi
đi làm thêm có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (2tính = 16.38 > 2bảng với
P<0.01)
Khi đi làm thêm thì đa số SV quan tâm nhiều nhất đến ba vấn đề:
Điều quan trọng nhất đó là kinh nghiệm (chiếm 32,5%) Qua việc làm thêm giúp cho SV học hỏi, nắm bắt được nhiều kinh nghiệm, giúp cho SV trở nên hoạt bát hơn,
Tăng thu nhập 48%
Rèn luyện, học hỏi
và nâng cao kinh
nghiệm 27%
Làm cho vui 12%
Không bỏ phí TG nhàn rỗi 13%
Trang 34tiếp xúc với những điều mới mẻ, có nhiều mối quan hệ, biết xử lý các tình huống linh hoạt hơn và cái chính là trải nghiệm sống, vốn quý giá khi ra trường, làm việc sau này
Bảng 2.4 Những quan tâm của sinh viên khi đi làm thêm N=166)
Những quan tâm của sinh viên Tổng thể So sánh
Hình 2.5 Những quan tâm của sinh viên khi đi làm thêm N=166)
Thứ hai là môi trường làm việc (chiếm 25.5%) Xã hội bấy giờ khá phức tạp nên việc lựa chọn việc làm thêm ở nơi như thế nào đối với SV là điều cần cân nhắc kĩ lưỡng
Yếu tố quan trọng đứng hàng thứ ba không thể thiếu đó là mức lương Có lương cao, tương xứng với công sức lao động bỏ ra mới thúc đẩy việc các bạn có động lực đi
Lương cao, 23%
Kinh nghiệm, 32% Môi trường làm
Trang 35làm cũng như cống hiến cho công việc đó và giữ chân các bạn SV làm việc lâu dài Một yếu tố khá cần thiết là cơ hội phát triển bản thân và kĩ năng nhưng chỉ đứng
áp cuối (16%) trong các mối quan tâm của SV khi đi làm thêm (hình 2.5)
2.1.4 Những phương tiện địa chỉ) sinh viên tìm kiếm việc làm thêm
Qua khảo sát thể hiện tại bảng 2.5 ghi nhận được, các địa chỉ để tìm việc làm thêm của SV khác biệt rõ rệt, có ý nghĩa thống kê (2tính = 169.77 > 2bảng với
P<0.001)
Bảng 2.5 Những phương tiện sinh viên tìm kiếm việc làm thêm (N=166)
Phương tiện (địa chỉ) tìm việc Tổng thể So sánh
i
169.77 <0.001
Phương tiện truyền thông: internet, tivi, radio 25 15
Và chiếm ít nhất là từ nhà trường chiếm 1.5% đã cho chúng ta thấy một bất cập rất lớn trong việc quản lý việc làm thêm của nhà trường; SV ít tìm kiếm việc làm thêm thông qua việc liên hệ với nhà trường, chỉ có học và các hoạt động đoàn thể, ngoài giờ
mà thôi Học mà chưa có “hành”, việc “hành” là của SV tự tìm tự tạo cơ hội cho bản thân Qua đây nhận thấy cần có những đổi mới trong trường đại học hiện nay (có thể là
Trang 36có một website liên hệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để các SV tìm kiếm được việc làm thêm phù hợp và uy tín) (hình 2.6)
Hình 2.6 Những phương tiện sinh viên tìm việc làm thêm N=200)
2.1.5 Các công việc làm thêm của sinh viên
Kết quả nghiên cứu trình bày tại bảng 2.6 và hình 2.7 cho thấy, các côngviệc làm thêm của SV khá đa dạng và phong phú Sư khác biệt có ý nghĩa thống kê (2tính = 11.63 >
2
bảng với P<0.05)
Công việc mà đa số SV chọn đi làm thêm đó là nhân viên phục vụ quán ăn, shop, cafe chiếm 30%, đây là những công việc khá phù hợp, có thời gian linh động có thể đổi thay ca làm, không đòi hỏi về kiến thức cao hay ngoại hình đẹp vì vậy phù hợp với thời gian vừa học tập vừa đi làm, đồng thời các công việc này cần số lượng lao động nhiều và nhân công rẻ, nhắm vào các bạn SV
Trung tâm giới thiệu việc làm 15%
Quảng cáo ngoài đường 9%
Ban bè, người thân 57%
Phương tiện truyền thông
(internet, tivi,
radio ) 15%
Nhà trường 2%
Phương tiện khác…
2%
Trang 37Bảng 2.6 Các công việc làm thêm của sinh viên (N=166)
Công việc làm thêm Tổng thể So sánh
i
11.63 <0.05
Hình 2.7 Các công việc làm thêm của sinh viên N=166)
Xếp thứ 2 là nhân viên bán hàng, tiếp thị, quảng cáo Đây là công việc việc nhẹ lương cao nhưng nó đòi hỏi ngoại hình cũng như giao tiếp nên nó không dễ gì cho đa
số SV
Gia sư 22%
Nhân viên bán hàng 26%
Trang 38Công việc gia sư, dạy kèm có vẻ như phù hợp nhất đối với SV; vừa thực hành giảng dạy, kèm cặp cho người học, vừa trau dồi, rèn luyện tay nghề sư phạm…Tuy nhiên công việc này cũng chỉ xếp thứ 3 theo lựa chọn thực tế của SV (22%)
Công việc ít được các bạn SV lựa chọn là cộng tác viên chỉ chiếm 6% đây là công việc đòi hỏi nhiều thời gian cũng như năng lực của người làm và đặc biệt là lương cũng không cao lắm và chỉ mang tính nhất thời (không phải khi nào cũng cần cộng tác viên)
2.1.6 Thu nhập từ công việc làm thêm của sinh viên
Tại bảng 2.6 và hình 2.7, kết quả khảo sát cho thấy, mức thu nhập các công việc làm thêm của SV là hoàn toàn khác nhau Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (2tính = 33.66 >
2
bảng với P<0.001)
Thu nhập của SV đi làm thêm là không cao chỉ nằm phổ biến từ 2 triệu/tháng, cụ thể trong đó từ 1-1,5 triệu/tháng là nhiều nhất (chiếm 40.4% ) Điều này cũng khá phù hợp với đa số công việc mà các bạn chọn ở bảng 2.6 Vì thời gian bỏ ra là ít và đa số là công việc lao động, đơn giản nên mức lương được trả chỉ có vậy cũng dễ hiểu
Bảng 2.7 Thu nhập từ việc làm thêm của sinh viên N=166)
Công việc làm thêm Tổng thể So sánh