Trong đó công trình Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của tri thức Việt Nam của Vũ Khiêu và Nguyễn Đức Sự, các tác giả đã viết: “Trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã luôn tỏa ra một tinh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt bốn năm học tập tại trường, tôi đã được học những kiến thức hay, bổ ích cùng với sự chỉ dạy tận tình của các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Thủ Dầu Một Những bài học quý báu của thầy cô cùng với nỗ lực và sự phấn đấu của bản thân để hôm nay tôi được thực hiện khóa
luận tốt nghiệp với đề tài: “Lý tưởng nhân nghĩa trong truyện thơ Lục Vân
Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”
Tôi xin cảm ơn chân thành Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủ Dầu Một, khoa Ngữvăn và đặc biệt là sự hướng dẫn của ThS Lê Thị Kim Út đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cô Lê Thị Kim Út đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo những kiến thức hay, bổ ích cũng như những kinh nghiệm khi làm một vấn đề nghiên cứu khoa học để tôi
có thể tự tin, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Đây là lần đầu tiên tôi làm quen với việc nghiên cứu một vấn đề khoa học Mặc dù có sự chỉ bảo tận tình của cô hướng dẫn nhưng tôi cũng không tránh khỏi những bỡ ngỡ, sơ suất trong quá trình nghiên cứu Kính mong sự góp ý chân thành của các thầy cô để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình khác
Sinh viên
Bùi Thanh Trúc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp 9
CHƯƠNG 1: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN NGHĨA TRONG VĂN CHƯƠNG 11
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu 11
1.1.1 Cuộc đời 11
1.1.2 Sự nghiệp văn chương 16
1.1.3 Truyện thơ Lục Vân Tiên 21
1.2 Lý tưởng nhân nghĩa trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu 25
1.2.1 Những vấn đề chung về lý tưởng và lý tưởng nhân nghĩa 25
1.2.2 Thời kỳ trước khi Pháp xâm lược 28
1.2.3 Thời kỳ Pháp chiếm đóng 31
CHƯƠNG 2: CÁC KHÍA CẠNH NHÂN NGHĨA TRONG TRUYỆN THƠ LỤC VÂN TIÊN 40
2.1 Lý tưởng nhân nghĩa trong truyện thơ Lục Vân Tiên 40
2.1.1 Chữ “nhân” trong truyện thơ Lục Vân Tiên 40
2.1.2 Chữ “nghĩa” trong truyện thơ Lục Vân Tiên 45
Trang 52.2 Lý tưởng nhân nghĩa thông qua các hình tượng thẩm mỹ trong truyện
thơ Lục Vân Tiên 51
2.2.1 Hình tượng thẩm mỹ đại diện cho chữ “nhân” 53
2.2.2 Hình tượng thẩm mỹ đại diện cho chữ “nghĩa” 59
2.3 Giá trị của các hình tượng thẩm mỹ trong truyện thơ Lục Vân Tiên đối với việc giáo dục lý tưởng nhân nghĩa 71
2.3.1 Giáo dục lý tưởng nhân nghĩa trong giai đoạn nửa cuối TK XIX đến đầu thế kỷ XX 71
2.3.2 Giáo dục lý tưởng nhân nghĩa từ đầu thế kỷ XX đến nay 77
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG THẨM MỸ ĐẠI DIỆN CHO LÝ TƯỞNG NHÂN NGHĨA TRONG TRUYỆN THƠ LỤC VÂN TIÊN 83
3.1 Khắc họa tính cách nhân vật thông qua triết lý 83
3.2 Sự biểu hiện của phạm trù nhân nghĩa thông qua nghĩa cử cao đẹp 91
3.3 Xây dựng nhân vật thông qua lời thoại 93
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu được biết đến là một nhà thơ yêu nước, một chiến sĩ trọn đời phấn đấu vì nghĩa lớn Ông là một người yêu nước sâu sắc, luôn thể hiện ý chí và nêu cao khí phách của một nhà Nho chân chính trước uy lực của kẻ thù Quan niệm văn chương của ông rất rõ ràng:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Văn chương là dùng để tải đạo, là vũ khí chiến đấu Vì vậy, trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu luôn toát lên lòng căm thù đối với giặc và một tình yêu thương sâu sắc đối với nhân dân Ông dành ngòi bút của mình để thể hiện quyết tâm chống lại kẻ thù với tâm thế không mệt mỏi, không sợ sệt
và luôn đứng về chính nghĩa Chính vì lẽ đó mà “lý tưởng nhân nghĩa” xuất hiện xuyên suốt trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Đặc biệt, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu như những trang nhật ký ghi lại quá trình đấu tranh kiên cường của các thế hệ ông cha đi trước, quyết tâm bảo
vệ từng tấc đất quê hương “Lý tưởng nhân nghĩa” kết hợp với lòng yêu nước nồng nàn đã trở thành hình tượng nổi bật trong tác phẩm của Nguyễn Đình
Chiểu Vì thế, tôi đã chọn “Lý tưởng nhân nghĩa trong truyện thơ Lục Vân
Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” làm khóa luận tốt nghiệp Qua khóa luận, tôi
mong muốn góp phần nhỏ vào kho tài liệu quý giá về tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, người con ưu tú của văn chương Nam Bộ
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống Tuy nhiên, ông đã vượt lên hoàn cảnh của mình để tiếp tục sống có ích Ông dùng ngòi bút để tuyên chiến với kẻ thù, để khẳng định tấm lòng trung trinh với đất nước
Tấm lòng của nhà thơ thể hiện rõ nhất qua lối sống và các sáng tác của
ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” [30; 70] Hay như lời nhận xét của đồng chí Hà Huy Giáp: “Chủ nghĩa nhân đạo thực tiễn của Nguyễn Đình Chiểu gần gũi với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản” [30; 70]
Còn trong cuốn Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm, nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét thơ văn Nguyễn Đình Chiểu rằng: “Từ ngày đất nước bị xâm lăng, toàn bộ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chỉ xoay quanh một vấn đề đó là vấn đề mất nước” [30; 107]
Các công trình nghiên cứu về thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu rất
nhiều Trong đó công trình Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của tri thức Việt Nam của Vũ Khiêu và Nguyễn Đức Sự, các tác giả đã viết: “Trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã luôn tỏa ra một tinh thần lạc quan, lòng yêu quý nhân dân, niềm tin sâu sắc ở thắng lợi của chính nghĩa, ở tài năng và đạo đức của con người” [15; 35]
Trong bài Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học của Nguyễn Phong Nam có viết: “Truyện Nôm Nguyễn Đình Chiểu là những bài giảng, trình bày, luận bàn về đạo lí, đạo đức một đối tượng giả định, một công chúng đang hướng về, đang quan tâm tới những vấn đề thiết cốt đối với tất cả mọi người” [19; 112]
Trang 8Công trình Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn yêu nước, chống xâm lăng, một tâm hồn vằng vặc nhân nghĩa, một tấm gương kiên trung, bất khuất của
Hà Huy Giápcó đoạn viết:
“Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu toát lên một tư tưởng nhân nghĩa lớn, bao trùm quan hệ xã hội, nhưng cốt lõi là tình yêu nước thương dân sâu sắc… Qua việc nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta còn nhấn mạnh một điểm là tính nhân dân, tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước, yêu dân của nhà thơ quán xuyến toàn bộ tác phẩm của ông Cái vĩ đại của cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là bài học của một con người vĩ đại ở vào một thế bi kịch mà ý chí và đạo đức của mình đã có thể giúp cho đời một cách tối đa” [30; 155 - 162] Ở thời đại Nguyễn Đình
Chiểu, vẫn còn những hạn chế trong tư tưởng của các nhà thơ, nhà văn Và khi “tư tưởng nhân nghĩa” của Nguyễn Đình Chiểu xuất hiện được xem là sự
cách tân của một tư tưởng tiến bộ “Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu là tư tưởng tiến bộ, cách mạng nhất, đại diện cho những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc” [30; 163]
Còn trong công trình Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã xem Nguyễn Đình Chiểu là
một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học nghệ thuật, muốn nhìn thấy được ngôi
sao sáng ấy“Con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng” [30; 83] Tất cả những vấn đề mà các nhà nghiên
cứu, phê bình đề cập cho thấy được giá trị các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đối với nền văn học nước nhà Trong nền văn học Việt Nam, sáng tác của mỗi nhà văn, nhà thơ có những vẻ đẹp khác nhau Và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có nét đẹp lặn vào trong, nó không khoa trương, hoa mỹ về ngôn
Trang 9từ nên phải nhìn gần, soi kỹ mới thấy được giá trị sâu sắc mà tác giả muốn hướng tới
Với Nguyễn Đình Chú, trong công trình: Từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước, ông viết: “Từ Lục Vân Tiên đến văn thơ chống Pháp, văn chương Đồ Chiểu đã tiến từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước chống giặc ngoại xâm” [30; 261] hay “Lục Vân Tiên cũng đấu tranh cho lý tưởng nhân nghĩa” [30; 262] Cũng trong công trình này, Nguyễn Đình Chú
đã đề cập đến “lý tưởng nhân nghĩa” trong Thơ điếu Phan Tòng: “Nhân nghĩa không phải là để xây dựng một xã hội phong kiến lý tưởng, mà trước hết là chuyện chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước” [30; 266]; trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp: “Sức sống của thời đại đã nâng cao tư tưởng Nguyễn Đình Chiểu lên đỉnh cao” [30; 273] Có thể nói, Nguyễn Đình Chiểu luôn chú ý
đến việc đề cao “lý tưởng nhân nghĩa” trong sáng tác của mình Từ truyện thơ
Lục Vân Tiên cho đến Ngư Tiều y thuật vấn đáp, ta đều thấy “lý tưởng nhân
nghĩa” đã được thể hiện qua tính cách, hành động và lối ứng xử của các hình tượng thẩm mỹ
Hay trong công trình Nguyễn Đình Chiểu - nhà văn hóa lớn của Ngô Huy Khanh có đoạn viết: “Lý tưởng thẩm mỹ trong các nhân vật anh hùng đã nêu bật một lối sống có văn hóa và khí phách anh hùng đặc trưng bản sắc Việt Nam Đó là lối sống trọng đạo lý và công bằng xã hội, trọng con người
và căm ghét áp bức bất công” [30; 387] Trong công trình này, ta có thể thấy
được rằng lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện qua các hình tượng anh hùng ở “nhân” và “nghĩa” “Nhân” rất coi trọng đạo làm người, con người “Nghĩa” thấy việc bất công, bất bình sẽ ra tay giúp đỡ nên chúng ta thường bắt gặp những con người biết “hành hiệp trượng nghĩa”
Trang 10Trong giai đoạn văn học cuối thế kỷ XIX, sự kết tinh những giá trị của hình tượng người trung nghĩa xuất hiện khá nhiều Trần Ngọc Vương trong
công trình Những đặc điểm mang tính quy luật của sự phát triển văn học nhìn nhận qua sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã nêu lên quan điểm cá nhân Ông cho rằng“Con người tương thân tương ái, thấm đẫm tình cảm cộng đồng, chút hảo hán nghĩa hiệp ở Lục Vân Tiên là một nét thành công của Nguyễn Đình Chiểu” [30; 377] Theo ông “Lý tưởng thẩm mỹ và quan niệm văn học, hệ thống thể loại, và cuối cùng là ngôn ngữ văn học” [30; 372] là
những những đặc trưng của các tác giả lớn, trong đó có Nguyễn Đình Chiểu Cũng theo Trần Ngọc Vương, phương diện chủ đề, đề tài trong sáng tác của
Nguyễn Đình Chiểu là “Vệ đạo, bảo dân, trung quân, ái quốc” [30; 373] Nó
không chỉ thể hiện sự nhất quán về chủ đề mà còn là lý tưởng chính trị xã hội trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Còn Cao Tự Thanh trong công trình Hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu trong văn hóa Việt Nam cho rằng, Nguyễn Đình Chiểu đã có sự ảnh hưởng
của truyền thống văn hoá cộng đồng, những yếu tố, đặc điểm văn hóa Nam
Bộ Đối với người miền Nam, đặc biệt là người nông dân, nhân vật Lục Vân Tiên đã trở thành một biểu tượng đẹp trong nhiều lĩnh vực đời sống tinh thần
của họ Cao Tự Thanh cho rằng: “Nội dung xây dựng trên một căn bản lý tưởng nhân nghĩa đạo đức tiến bộ của người sáng tác, một lý tưởng đạo đức không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ cương thường của đạo đức Nho gia” [30;
333] Đương thời, Nho giáo có sự ảnh hưởng sâu sắc tới hệ tư tưởng của đa
số các nhà Nho - trí thức Việt Nam và “Lý tưởng nhân nghĩa đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu là sản phẩm hình thành trong quá trình xã hội Việt Nam
… và có thể coi Lục Vân Tiên là một đề xuất trong vấn đề này” [30; 334]
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho - trí thức đã sống giữa tình yêu thương và niềm kính trọng của người dân Nam Bộ Bởi Nguyễn Đình Chiểu đã làm công
Trang 11việc kết nối, dung hòa hệ tư tưởng Nho giáo và đời sống tinh thần của nhân dân lao động thành một Tác phẩm của ông phản ánh những giá trị của Nho giáo nhưng không khô khan, giáo điều mà gần gũi và thân thuộc với người dân lao động
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho yêu nước nên trong sáng tác của
ông ta thấy có sự vận dụng các tư tưởng của đạo Nho Trong công trình Đạo Nho và các nhân vật trí thức trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu của Vũ Đức Phúc có viết: “Nguyễn Đình Chiểu, người ra sức ca ngợi, bảo vệ đạo Nho và Khổng Tử, luôn luôn đề cao tam cương ngũ thường, sáng tác theo
quan điểm văn dĩ tải đạo” [30; 298] Đó là một trong những quan điểm của
nền văn học trung đại Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng các điển tích, lời dạy theo đạo Nho của Khổng, Mạnh, Tống Nho nhưng chọn lựa theo cảm tính
Ngay trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp, tác giả viết: “Chỗ nương lấy ý mình suy ra” [29; 239] Hay ông vận dụng tư tưởng “tam cương, ngũ thường” của
đạo Nho nhưng có sự sáng tạo cho phù hợp với quan điểm nhân dân chứ
không cứng nhắc theo tư tưởng của Khổng, Mạnh, Tống Nho “Trong Lục
Vân Tiên, tư tưởng “trung hiếu tiết nghĩa” là chủ đề chính của truyện thơ
theo dụng ý của tác giả” [30; 299] để thể hiện tư tưởng trung quân của Nho giáo Đạo Nho trong Lục Vân Tiên không chỉ là tư tưởng của một nhà Nho mà
nó còn là tư tưởng phản chiếu thế giới tình cảm Cho nên, tư tưởng đạo Nho
trong Lục Vân Tiên là “Quan niệm người quân tử, dạy người ta lấy nhân nghĩa làm đầu” [20; 203] Đối với bản thân Nguyễn Đình Chiểu, ông quan niệm “Nhân nghĩa là đạo đức của nhân dân, là căn cốt, gốc rễ để trau dồi, rèn giũa con người” [20; 284] Vì thế, trong truyện thơ Lục Vân Tiên, ta có
thể thấy Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng Lục Vân Tiên - một chàng trai dũng cảm, một con người có lòng “nhân”, sẵn sàng làm việc “nghĩa”
Trang 12Lục Vân Tiên hiện lên trong tác phẩm không chỉ là một chàng trai dũng cảm, mà tác giả còn đặc tả chân dung của một vị võ tướng và được xem như một biểu tượng của “nhân nghĩa” Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu là những tác phẩm sống mãi với thời gian, dễ đi vào trái tim của người đọc với ngôn từ gần gũi và có một giá trị sâu sắc Nó toát lên khí phách của thơ ca yêu
nước, cái dân dã của thơ ca dân gian Việt Nam, khiến Lục Vân Tiên là tác
phẩm tiếp nối của truyện kể dân gian với chủ đề nêu cao “nhân nghĩa” phù hợp với ý nguyện đạo đức của dân tộc nên dễ đi vào lòng người
Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu không chỉ được các nhà nghiên cứu và phê bình Việt Nam đánh giá, nhận xét mà còn nhận rất nhiều ý kiến của các nhà phê bình nước ngoài E.Hoeffel - thống đốc Nam kỳ (1942 - 1945) đã có
lời nhận xét trong Bài nói tại Lễ kỷ niệm 55 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu: “Lục Vân Tiên cốt ý là để giáo huấn bọn môn sinh …, cụ đem cái học thuyết Khổng - Mạnh và cái luật nhân quả báo ứng ra mà phô diễn” [30; 749] Còn N.Niculin, nhà phê bình Nga với công trình: Nhà thơ thân yêu của miền Nam Việt Nam đã nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu là linh hồn của phong trào giải phóng, là người cổ vũ phong trào đó Và văn thơ của ông đã tìm được con đường đi vào trái tim của nhân dân” [30; 773]
Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài nghiên cứu, đánh giá về những khía cạnh khác nhau của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Riêng với bản thân tôi, các
hình tượng thẩm mỹ trong truyện thơ Lục Vân Tiên có một sức hút kỳ lạ và có
sức ảnh hưởng lớn trong việc giáo dục “lý tưởng nhân nghĩa” cho các thế hệ trẻ
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trang 13Khóa luận hoàn thành sẽ góp phần giúp chúng ta có cái nhìn bao quát
và rõ hơn về giá trị các hình tượng thẩm mỹ, cũng như “lý tưởng nhân nghĩa”
trong các sáng tác của Cụ Đồ Chiểu mà tiêu biểu là truyện thơ Lục Vân Tiên
Đồng thời, khóa luận cũng sẽ góp một phần vào việc nghiên cứu các giá trị về thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu Qua đó giúp chúng ta có thêm tài liệu tham khảo trong tìm hiểu, giảng dạy thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
3.2 Đối tượng
Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu để làm nổi bật “Lý tưởng nhân nghĩa trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” Vì “nhân nghĩa” là một trong những quan niệm trọng yếu trong sáng
tác của Nguyễn Đình Chiểu và truyện thơ Lục Vân Tiên là một tiêu biểu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận “Lý tưởng nhân nghĩa trong
truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”,chúng tôi sử dụng các
phương pháp sau:
Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp quan trọng và
phổ biến khi làm một bài luận văn hoặc nghiên cứu khoa học Việc phân tích
truyện thơ Lục Vân Tiên nói riêng và những sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Trang 14nói chung, giúp chúng ta hiểu thêm về “lý tưởng nhân nghĩa” trong sáng tác
của ông thông qua các hình tượng thẩm mỹ để từ đó thấy rõ giá trị của nó
Phương pháp so sánh đồng đại, lịch đại: Khi sử dụng phương pháp so
sánh đồng đại và lịch đại, chúng ta sẽ nhìn nhận vấn đề ở hai khía cạnh
So sánh lịch đại là nhìn nhận vấn đề theo chiều dọc, mang tính lịch sử
Qua phương pháp so sánh này, ta đặt truyện thơ Lục Vân Tiên cùng với các
tác phẩm sáng tác trước và sau nó để làm rõ nét giống và khác nhau trong “lý tưởng nhân nghĩa” của Nguyễn Đình Chiểu
Còn so sánh đồng đại là nhìn nhận vấn đề theo chiều ngang, so sánh “lý
tưởng nhân nghĩa” trong truyện thơ Lục Vân Tiên với tác phẩm của các tác giả
cùng thời
Phương pháp đối chiếu: Sử dụng phương pháp đối chiếu để làm nổi bật
những nét “nhân”, “nghĩa” trong các hình tượng thẩm mỹ trong truyện thơ
Lục Vân Tiên Đặt những nhân vật chính diện bên cạnh những nhân vật phản
diện để góp phần khắc họa rõ nét về tính cách và con người của các nhân vật
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Khi sử dụng phương pháp nghiên
cứu liên ngành, chúng tôi sẽ phải vận dụng các kiến thức cũng như kỹ năng trong các lĩnh vực: Logic luận, Tâm lý học, Thi pháp học, Văn hóa học…để làm rõ vấn đề đang nghiên cứu
5 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận tốt nghiệp gồm ba chương:
CHƯƠNG 1: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN NGHĨA TRONG VĂN CHƯƠNG
Trang 15Chương này sẽ giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và những vấn đề liên quan đến “lý tưởng nhân nghĩa” trong văn chương của tác giả Nguyễn Đình Chiểu
CHƯƠNG 2: CÁC KHÍA CẠNH NHÂN NGHĨA TRONG TRUYỆN
Nguyễn Đình Chiểu vận dụng tư tưởng của Nho giáo để hình thành “lý
tưởng nhân nghĩa” trong sáng tác của mình và tác phẩm Lục Vân Tiên là một
điển hình tiêu biểu Chương này sẽ trình bày về “lý tưởng nhân nghĩa” trong
truyện thơ Lục Vân Tiên,“lý tưởng nhân nghĩa” thông qua các hình tượng
thẩm mỹ và giá trị của các hình tượng thẩm mỹ đối với việc giáo dục “lý tưởng nhân nghĩa”
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG THẨM MỸ ĐẠI DIỆN CHO LÝ TƯỞNG NHÂN NGHĨA TRONG TRUYỆN THƠ
LỤC VÂN TIÊN
Chương ba nêu lên những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình
tượng thẩm mỹ đại diện cho “lý tưởng nhân nghĩa” trong truyện thơ Lục Vân Tiên của tác giả Nguyễn Đình Chiểu đó là: Khắc họa tính cách nhân vật thông
qua triết lý; Sự biểu hiện của phạm trù nhân nghĩa thông qua nghĩa cử cao đẹp; Xây dựng nhân vật thông qua lời thoại
Trang 16CHƯƠNG 1: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN NGHĨA
TRONG VĂN CHƯƠNG
Trong nền văn học Việt Nam nói chung, văn học Nam Bộ nói riêng, Nguyễn Đình Chiểu chiếm một vị trí nhất định Văn chương ông luôn toát lên tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc Đặc biệt là “lý tưởng nhân nghĩa”, luôn được nhà thơ đề cao trong các sáng tác của mình Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của tác giả Nguyễn Đình Chiểu cũng như những vấn đề có liên quan đến “lý tưởng nhân nghĩa” trong văn chương của ông
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu
1.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày mười ba, tháng năm, năm Nhâm Ngọ, tức ngày 1 - 7 - 1822 tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định Ông mất ngày hai mươi bốn, tháng năm, năm Mậu Tý, tức ngày 3 - 7 - 1888 ở làng An Đức, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre Ông thường được gọi là Đồ Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù có hiệu là Hối Trai Quê quán ông ở xã
Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo Cha ông là Nguyễn Đình Huy, hiệu Dương Minh Phủ, từng giữ chức thơ lại tại Văn hàn ty Tả quân Lê Văn Duyệt Nguyễn Đình Huy đã có vợ là bà Phan Thị Hữu, người cùng xã và đã sinh một trai là Nguyễn Đình Lân và một gái là Nguyễn Thị Phu
Năm 1820, Lê Văn Duyệt được triều đình Huế cử đi làm Tổng trấn thành Gia Định, Nguyễn Đình Huy theo Lê Văn Duyệt vào Nam Ông lấy thêm vợ lẽ là bà Trương Thị Thiệt sinh được bốn trai, ba gái và Nguyễn Đình Chiểu là con trai đầu Vào năm 1833, tả quân Lê Văn Duyệt đột ngột qua đời
Trang 17đã dẫn đến nhiều biến cố cho đất nước Sau khi Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng đã sai Bạch Xuân Nguyên vào Nam tra xét và san bằng mộ ông và khắc
8 chữ: Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ (nơi tên lộng quyền Lê Văn
Duyệt chịu tội) Toàn bộ gia nhân của Lê Văn Duyệt đều bị sát hại Bất bình trước việc làm của triều đình, Lê Văn Khôi - con trai nuôi của Lê Văn Duyệt
đã kêu gọi sự ủng hộ của quần chúng nhân dân nổi dậy khởi nghĩa chống lại triều đình Cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi nổ ra, thân sinh Nguyễn Đình Chiểu bỏ nhiệm sở, chạy trốn về Huế nên bị triều Nguyễn cách chức Sau đó Nguyễn Đình Chiểu được đưa ra Huế và ở nhờ nhà một người bạn của cha, hằng ngày phải vừa lo việc điếu đãi hầu hạ, vừa học tập Sau một thời gian học tập ở Huế, năm 1840 ông đã trở về Gia Định tiếp tục ôn, chờ khoa thi Quý Mão (1843) Trong khoa thi này, Nguyễn Đình Chiểu đã đỗ tú tài lúc ông
21 tuổi và có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông
Đỗ đạt cao trong cuộc thi Hương ở Gia Định đã tiếp cho ông thêm động lực nên vào năm 1847, Nguyễn Đình Chiểu trở ra Huế để chuẩn bị cho kỳ thi
Kỷ Dậu (1849) thì ông nhận được tin mẹ ông bị bệnh nặng và đã mất ở quê nhà Ông đành bỏ thi trở về quê chịu tang mẹ Trên đường đi, ông vì thương khóc mẹ, phần đường xa gian khổ, ông bị mù mắt Ông đã xin được ở trọ để chữa bệnh tại nhà một thầy thuốc ở Quảng Nam Vì bệnh quá nặng, ông vĩnh viễn không thể nhìn thấy ánh sáng và đây cũng là cơ duyên đưa ông đến nghề thuốc Cũng từ đây đã đánh dấu bước chuyển mới trong cuộc đời ông Dù bị
mù, ông vẫn cố gắng học nghề thuốc để cứu người chứ không phải vì mưu sinh hay vụ lợi cá nhân Khi về quê, ông mang trong mình bệnh tật, ông bị gia đình vợ bội ước, gia cảnh thì sa sút
Sau khi mãn tang mẹ, ông mở trường dạy học và làm thuốc Ông vẫn tiếp tục theo đuổi, học hỏi, nghiên cứu về nghề thuốc, đồng thời sáng tác thơ
Trang 18văn Từ khi mở trường dạy học, học trò theo học ông rất đông Trong số đó có
Lê Tăng Quýnh vì cảm thông, thương xót trước số phận của thầy, đã xin gia đình gả em gái thứ năm của mình là Lê Thị Điền cho thầy Từ khi có vợ, cuộc sống của ông cũng bớt lẻ loi, cô đơn Cũng trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học, vừa làm thuốc đồng thời hoàn thành việc sáng tác truyện
thơ Lục Vân Tiên nổi tiếng - một cuốn truyện ít nhiều mang tính chất tự
truyện của tác giả Kể từ đây, ông sống yên vui bên gia đình và trong tình yêu thương, quý trọng của nhân dân, của học trò
Năm 1859 sau khi chiếm Đà Nẵng, quân Pháp tràn vào Sài Gòn chiếm thành Gia Định và cũng là năm mở đầu cho thời kỳ đen tối của đất nước Cũng chính từ đây, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác Nguyễn Đình Chiểu bước sang trang mới khi tác phẩm của ông đã ghi nhận những sự kiện oai hùng của đất nước trong công cuộc chống giặc ngoại xâm Quan niệm trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu luôn gắn liền với hai tư tưởng lớn: nhân nghĩa và tinh
thần yêu nước “Đối với ông, nhân nghĩa và chống giặc ngoại xâm là đức tính truyền thống cao cả của dân tộc Nó thống nhất, hòa nguyện làm một, không tách rời nhau” [30; 28] Trong lúc Gia Định bị giặc chiếm đóng, ông
chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc Về đây, ông tận mắt chứng kiến cuộc chiến giữa nghĩa binh và thực dân Pháp (1861) Trong trận đánh này có rất nhiều nghĩa binh đã hy sinh thân mình, và để thể hiện sự tiếc
thương cũng như lòng căm thù giặc, Nguyễn Đình Chiểu đã viết Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong vănnổi tiếng, được đánh giá cao và hiện nay được đưa
vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông
Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu còn được biết đến với tinh thần yêu nước và ông được xem là người mở đầu dòng văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX Đặc biệt khi đọc các bài văn tế, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó Điểm nổi
Trang 19bật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là ông đã thấy được sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân, những người lao động bình dân mà các nhà thơ, nhà
văn trước ông, cùng thời với ông chưa làm được Trong Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong văn, ông viết những lời văn đầy tình nghĩa và sự cảm phục về người
nông dân nhỏ bé trong xã hội nhưng lại sẵn sàng chống lại kẻ thù hung bạo,
bảo vệ đất nước Những người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” chỉ biết “cui cút làm ăn” ấy lại thật mạnh mẽ và oai hùng khi
tả xung hữu đột, trút hết lòng căm thù lên kẻ cướp nước bằng đường gươm, mũi giáo với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Trong xã hội bấy giờ, quan niệm phong kiến vẫn rất nặng nề khi các nhà Nho luôn coi thường người nông dân,
đề cao kẻ sĩ vì theo họ những người có học mới là anh hùng Nhưng với Nguyễn Đình Chiểu thì người nông dân là những người anh hùng, tự giác tự
nguyện “làm quân chiêu mộ”, quyết đánh đuổi quân thù bảo vệ Tổ quốc
Dù bị mù lòa, Đồ Chiểu vẫn tham gia chống Pháp bằng ngòi bút và trở thành cố vấn quân sự cho Trương Định Ngày 5 - 6 - 1862, Phan Thanh Giản
ký giao ba tỉnh miền Đông cho giặc Pháp, cùng lúc, Nguyễn Đình Chiểu dọn
về ở Ba Tri Ở đây, ông có dịp gặp gỡ với Phan Tòng, Cử Trị,… Đến 1864, biết tin Trương Định hy sinh, ông làm bài văn tế và mười hai bài thơ liên hoàn điếu vị anh hùng đã hy sinh thân mình vì nước, vì dân Trương Định khiến ông khâm phục không chỉ ở tài năng mà còn cả ở tấm lòng khi vì dân
mà chống lệnh vua Trong Điếu Trương tướng quân văn, Nguyễn Đình Chiểu
đã viết: “Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dăm mã tiền; theo bụng dân, phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại”
[29; 46]
Nguyễn Đình Chiểu có khoảng thời gian dài sát cánh cùng với Trương Định trong việc “điều binh khiển tướng” chống lại kẻ thù Nhờ đó ông thấu
Trang 20hiểu được tấm lòng của người anh hùng Trương Định luôn một lòng hy sinh, không tiếc xương máu của bản thân thậm chí là cả tính mạng của mình để bảo
vệ nhân dân Trương Định thậm chí còn làm trái lệnh vua vì theo quan niệm của Nho giáo rất đề cao chữ “trung” Nhưng vì nhân dân, vì “lý tưởng nhân nghĩa” mà ông chấp nhận làm kẻ “bất trung” với triều đình Tấm lòng yêu thương nhân dân của Trương Định được Nguyễn Đình Chiểu thấu hiểu và đồng cảm Hơn hết, đó còn là tấm lòng của một bậc anh hùng vì nghĩa lớn, chống lại điều sai trái mà chẳng hề nghĩ ngợi, lo lắng cho bản thân, điều đó thật đáng ngưỡng mộ và trân trọng Như vậy, các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ để nói lên lý tưởng của những anh hùng thời đại mà ông còn
nói lên tiếng nói của mình trước tình cảnh đất nước bấy giờ Trong Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, ông đã tập trung toàn bộ trí óc của mình để nói lên ý
chí kiên trung bất khuất, vì nước vì dân của mình Nguyễn Đình Chiểu xây dựng nhân vật Thạch Kính Đường nhu nhược đầu hàng bọn Khiết Đan Cũng chính là cách bày tỏ thái độ chống đối vua Tự Đức dâng đất ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây cho thực dân Pháp Năm 1867, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự sát, Nguyễn Đình Chiểu làm thơ điếu nhưng ngụ ý đánh giá, phê phán tội của Phan Thanh Giản đối với đất nước Nguyễn Đình Chiểu luôn dùng khối óc, ngòi bút của mình vào công cuộc kháng chiến, qua đó thấy được tấm lòng “nhân nghĩa” và yêu nước của ông thật trong sáng, không có bất cứ thứ gì làm lu mờ được Ông luôn rèn luyện “lòng đạo”, luôn sống thanh bạch, là tấm gương cho mọi người noi theo
Một sự kiện quan trọng xảy ra năm 1883 càng chứng tỏ Nguyễn Đình Chiểu là một con người tiết tháo và trung dũng, khiến cho kẻ thù phải khâm phục và kính nhường Khi Pôngsông - Tỉnh trưởng Bến Tre đến thăm, ngỏ ý muốn trả lại ruộng vườn của ông mà chúng đã chiếm đoạt Ông khước từ mà
nói rằng: “Đất vua không ai trả thì đất riêng của tôi có sá gì!” [29; 33] Ông
Trang 21thể hiện sự quyết liệt của mình khi từ chối mọi thứ phụ cấp của thực dân, không thích cho con cái học chữ quốc ngữ và không chịu dùng xà phòng do Pháp sản xuất Rồi khi tên Tỉnh trưởng hỏi ý riêng ông, ông liền đề nghị muốn được tế vong linh của nghĩa sĩ Lục tỉnh, không cần Tỉnh trưởng sắp xếp thời gian - địa điểm, ông và môn sinh của mình đã đọc văn tế ở chợ Ba Tri khiến cho đông đảo người nghe cảm động rơi nước mắt
Năm 1888 khi nghe tin vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, ông đau buồn vô hạn, vốn lại có bệnh sẵn trong người nên ông đã trút hơi thở cuối cùng trước
sự đau xót của môn sinh và quần chúng nhân dân Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều bất hạnh nhưng ông đã biết vượt lên để tiếp tục sống có ích
Ý chí và nghị lực ấy đã được ông truyền qua các sáng tác trong sự nghiệp văn chương của mình
1.1.2 Sự nghiệp văn chương
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho chân chính, luôn nêu cao khí tiết không chỉ thông qua cuộc đời mà còn bằng cả sự nghiệp văn chương Đó chính là quá trình Nguyễn Đình Chiểu kiên cường chống giặc ngoại xâm bằng ngòi bút Văn chương của ông dùng để chiến đấu với kẻ thù và đánh thẳng vào bọn giặc ngoại xâm với tâm thế không mệt mỏi, không sợ sệt và luôn phấn đấu vì nghĩa lớn Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có thể
chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu là trước khi thực dân Pháp xâm lược (những năm 50 của thế kỷ XIX), có hai tác phẩm tiêu biểu: Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu Giai đoạn hai là giai đoạn khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (những năm 60 và 70 của thế kỷ XIX) thường được gọi là Thơ văn yêu nước chống Pháp
Trang 22Trong giai đoạn đầu, sáng tác của ông mang tư tưởng yêu nước thương
dân đặc biệt là “lý tưởng nhân nghĩa” “Nhân nghĩa” được nhấn mạnh và nêu
cao trong sáng tác của ông ở giai đoạn này: “Tư tưởng yêu nước yêu dân, tư tưởng nhân nghĩa coi như một bộ phận của triết lý nhân sinh của ông” [29; 34] Điều này có thể thấy rõ trong truyện thơ Lục Vân Tiên - tác phẩm mang
tính tự truyện cao mang nỗi lòng Đồ Chiểu khi ông đề cập đến mối quan hệ của con người trong xã hội Qua các mối quan hệ trong tác phẩm đã nói lên được mặt tích cực, tiêu cực của xã hội lúc bấy giờ Cụ Đồ Chiểu đã đem đến cho văn học Việt Nam một lý tưởng mới mang tính triết lý khi dạy con người
cách sống, cách làm người sao cho hợp đạo, hợp “nhân nghĩa” Đến Dương
Từ - Hà Mậu, tác giả đã có sự phát triển trong tư tưởng khi đề cao Khổng đạo
và cho thấy được rằng, đạo lý ở xung quanh chúng ta và ai cũng có thể học tập và rèn luyện được đạo nhất là chính đạo để từ đó tránh xa những u mê tầm thường Tác phẩm này đã gây ra nhiều luồng ý kiến trong việc xác định giai
đoạn vì có ý cho rằng Dương Từ - Hà Mậu được sáng tác trước khi thực dân
Pháp xâm lược và đến khi Pháp xâm lược cụ Đồ Chiểu đã chỉnh lại cho phù hợp với thời cuộc Cho nên, tác phẩm được xếp vào giai đoạn đầu dù nó có sự chống đối chế độ Nho giáo lạc hậu và khuyến khích nhân dân vào công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Chống đối đạo Nho chính là chống đối kẻ sĩ luôn u mê không thức thời, không hiểu tình cảnh của đất nước Bây giờ, đấu tranh chống giặc mới là quan trọng còn những tư tưởng, giáo điều lạc hậu của triều đình, của bọn Nho sĩ chỉ làm cho tình hình đất nước trở nên tồi tệ
Giai đoạn thứ hai, có thể thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư
tưởng của Nguyễn Đình Chiểu khi ông đề cao tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Trong giai đoạn trước, tư tưởng chỉ đơn thuần là
đề cao đạo nghĩa ở đời trong các mối quan hệ và “nhân nghĩa” của Nho giáo nhưng sang giai đoạn này thì tư tưởng yêu nước đã có bước chuyển mình và
Trang 23bứt phá một cách mạnh mẽ khi nó đi thẳng vào vấn đề đấu tranh chống giặc ngoại xâm Khi đọc các bài thơ, văn tế của tác giả chúng ta sẽ thấy được tinh thần hào hùng, quyết liệt chống lại kẻ thù của dân tộc Tư tưởng yêu nước đó, qua thử thách đã đạt tới đỉnh cao, trở thành chủ nghĩa yêu nước rất sinh động,
rất thực Nguyễn Đình Chú có viết “Từ Lục Vân Tiên đến văn thơ chống Pháp, văn chương Đồ Chiểu đã tiến từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước chống giặc ngoại xâm” [30; 261] Triết lý nhân sinh đã hòa với thực
tế Tư tưởng yêu nước bây giờ rất đề cao vai trò của người nông dân chứ không phải kẻ sĩ như trong Nho giáo truyền thống Còn “lòng đạo” của người chiến sĩ yêu nước, đặc biệt là người nông dân Nam Bộ luôn sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù mà không có một thứ vũ khí nào có thể đánh bại được Tinh thần yêu nước là tinh thần bất diệt tồn tại trong mỗi người con đất Việt Nếu như ngày xưa, Thánh Gióng đất giặc bằng bụi tre ven đường thì bây giờ nhân dân chống giặc bằng những vũ khí sẵn có như: cuốc, liềm, gậy gộc,… Còn riêng với Nguyễn Đình Chiểu, ông dùng ngòi bút, dùng thơ văn của mình để chống giặc Ngòi bút là thứ vũ khí sắc bén khó có thứ vũ khí nào có thể đánh bại khi nó nhọn như gươm giáo đâm thẳng vào những kẻ bán nước cầu vinh, tiếp tay cho giặc Ông đã thể hiện cao tinh thần của người con yêu nước Dù bệnh tật không thấy đường nhưng ông vẫn “thấy” được tình cảnh của đất nước, đau thấu tận ruột gan Vậy mà có những kẻ sáng mắt lại đứng nhìn, làm tay sai cho giặc:
“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt, Lòng đạo xin tròn một tấm gương”
(trích Chạy giặc)
Trang 24Bên cạnh hai truyện thơ Nôm là Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu, ông cũng đã sáng tác tập truyện dài Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca Ngoài
ra, ông còn để lại khoảng 37 bài thơ và văn tế, trong số đó có nhiều bài nổi
tiếng, như: Chạy giặc (1859), Từ biệt cố nhân (1859), Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong văn (tức Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, 1861), Mười hai bài thơ và bài văn tế Tướng quân Trương Định (1864), Thơ điếu Đông các Đại học sĩ Phan Thanh Giản (2 bài, 1867), Mười bài thơ điếu Ba Tri Đốc binh Phan Tòng (1868), và một số sáng tác chưa xác định được thời điểm như: Lục tỉnh sĩ dân trận vong văn (Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột), Ngóng gió đông, Thà đui …
Sự nghiệp thơ văn của ông đã đưa ông lên vị trí của một đại diện mở
đầu cho dòng văn học yêu nước và là “Ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc” [30; 83] đúng như lời nhận xét của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Trong ông luôn chứa chan một lòng yêu nước nồng nàn, một tinh thần chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải Lý tưởng và các giá trị đó là một bài học quý giá mà ông để lại cho thế hệ sau noi theo và phấn đấu Những đạo lý, “tư tưởng nhân nghĩa” trong các sáng tác của ông là vầng hào quang soi sáng tâm hồn, dẫn lối thế hệ sau đi theo con đường đúng đắn Qua các tác phẩm đã làm nổi bật lên những phẩm chất ưu tú của ông, nó kết tụ lại như những viên ngọc quý Đó là đạo đức “nhân nghĩa”, là lòng yêu nước, được kết tinh từ nguyện vọng và ý chí của những người lao động Họ đã hy sinh xương máu của mình
để dựng nước và giữ nước trước sự xâm lăng của kẻ thù và ước mơ vào một tương lai tươi sáng của dân tộc
“Tư tưởng nhân nghĩa” yêu nước, thương dân được rất nhiều nhà thơ, nhà văn trong nền văn học trung đại Việt Nam đề cập đến như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ,… Ở mỗi tác giả, họ có cách thể hiện
Trang 25tinh thần yêu nước thương dân của mình một cách rất riêng Nguyễn Trãi được người đời biết đến là một con người yêu nước, thương dân cả trong văn chương lẫn cuộc đời: ông đã cống hiến trọn lòng cho dân, cho nước nhưng cuộc đời ông là một nốt nhạc trầm, ông là một người luôn “ưu thời mẫn thế” thân nhàn nhưng tâm không nhàn Hay Nguyễn Bỉnh Khiêm - một lòng lo đời, thương dân, luôn dùng văn chương của mình để khuyên răn mọi người nên sống trong sạch, sống theo lẽ phải, giữ gìn đạo đức và đạo lý, không mưu cầu danh lợi Vì thế, ông chọn nơi “vắng vẻ” để hưởng cuộc sống an nhàn Còn Nguyễn Đình Chiểu, ông đã nâng tư tưởng yêu nước, “tư tưởng nhân nghĩa” lên thành ý chí quyết tâm bảo vệ quê hương Tổ quốc tới giây phút cuối cùng Tinh thần yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu khiến ai cũng phải cảm phục Bị mù cả hai mắt không thể tham gia chiến đấu nhưng khí phách anh hùng và tinh thần yêu nước bất khuất luôn cháy trong tâm hồn của Nguyễn Đình Chiểu Ông dùng ngòi bút của mình để làm vũ khí chiến đấu với kẻ thù,
nó sắc bén, mạnh mẽ như gươm, dao, giáo, mác đâm thẳng vào kẻ thù Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu không còn là tư tưởng của triều đình, của chế độ phong kiến thống trị mà đã trở thành tư tưởng của nhân dân Nếu như trong sáng tác của Nguyễn Trãi ta thấy được hình ảnh binh lính của triều đình chinh chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, thì trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là hình ảnh của những người đứng lên đánh đuổi cái xấu, cái ác bảo vệ cuộc sống ấm no cho nhân dân Cho nên, “tư tưởng nhân nghĩa”, yêu nước thương dân của Nguyễn Đình Chiểu đã có một bước tiến mới so với các tác giả trước đó Nguyễn Đình Chiểu không còn quá tôn sùng đạo Nho nhằm duy trì vị trí độc tôn của giai cấp thống trị mà ông dùng đạo Nho để phản ánh giá trị, tư tưởng yêu nước của nhân dân, phản ánh những triết lý của đạo Nho mang tính chất giáo dục con người Trước, Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng đạo Nho mong muốn con người tránh xa những đam mê dục
Trang 26vọng, giữ cho bản thân trong sạch, sống một cuộc sống yên bình với thiên nhiên thì ở Nguyễn Đình Chiểu ta lại thấy hàng loạt những triết lý mang tính chất giáo dục về “nhân nghĩa”, về đạo lý, cách đối nhân xử thế giữa con người với nhau và những lẽ thường tình ở đời Nó rất thật, rất gần gũi với quần chúng nhân dân và trở thành lý tưởng, là tôn chỉ để con người luôn phải biết chiến đấu tới cùng vì lý tưởng của mình
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là cả một quá trình đấu tranh cho lý tưởng, cho tinh thần yêu nước Tấm lòng của Nguyễn Đình Chiểu khúc xạ qua các sáng tác của ông với “lòng đạo” mang một ý chí sắt đá, mà không có thế lực nào có thể lung lay được ý chí Ông, dù bệnh tật nhưng vẫn chiến đấu kiên cường với tinh thần của một người chiến sĩ vì nghĩa lớn Ông
tự buộc bản thân phải tham gia chống giặc ngoại xâm, tham gia bảo vệ phẩm giá, đạo đức “nhân nghĩa” của dân tộc ta “Lòng đạo” luôn chảy trong tâm hồn của nhà thơ và chảy suốt những chặng đường sáng tác của ông Nó như là máu thịt, cùng ông nuôi dưỡng tinh thần yêu nước để đấu tranh trên các lĩnh vực văn hóa - chính trị và tư tưởng Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng một chiến
sĩ lớn, là tấm gương sáng cho nhân dân về tư tưởng yêu nước, đấu tranh chống lại kẻ thù Các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu mang những nét riêng không thể lẫn với bất kỳ tác giả nào Đặc biệt khi nhắc đến Nguyễn Đình
Chiểu, không ai có thể quên tác phẩm đầu tay của ông - truyện thơ Lục Vân Tiên
1.1.3 Truyện thơ Lục Vân Tiên
Lục Vân Tiên là tác phẩm thơ Nôm đầu tiên, thể hiện các mối quan hệ
trong gia đình lẫn ngoài xã hội, thông qua các nhân vật lý tưởng như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, Tiểu Đồng, hay những người lao động giàu lòng “nhân nghĩa” như vợ chồng ông Ngư, ông Tiều, Qua các
Trang 27nhân vật, Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định con người tương thân, tương
ái trên cơ sở “nhân nghĩa”
Từ khi Lục Vân Tiên ra đời, nó đã trở thành một món ăn tinh thần
không thể thiếu của người dân Nam Bộ Bởi tác phẩm đã khái quát được tinh thần và phẩm cách của họ Đó là lòng dũng cảm, tính trọng nghĩa khinh tài, ghét gian ác của người dân miền Nam nói riêng và của người dân Việt Nam
nói chung Trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã khéo léo xây dựng
những con người mang phẩm chất tốt đẹp, kế tục truyền thống của dân tộc, đặc biệt là “tư tưởng nhân nghĩa” Những con người trong tác phẩm của ông cũng là những con người bình thường như mọi người trong xã hội nhưng họ sẵn sàng làm việc “nghĩa” như một nhu cầu của bản thân mà không hề nghĩ đến danh lợi hay đợi được trả ơn
Tiêu biểu trong tác phẩm là Lục Vân Tiên - nhân vật lý tưởng, đồng thời là nơi tác giả gửi gắm nhiều tâm tư, tình cảm cũng như của cuộc đời mình vào đó Lục Vân Tiên mang những phẩm chất tốt đẹp của một người hoàn hảo Đặc biệt mối tình giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là một mối tình đẹp, là mơ ước của những người trẻ Nó bắt đầu bởi một tình huống khá tình cờ, đó là hành động của một người hành hiệp trượng nghĩa cứu người
bị nạn và một người vì nghĩa mà dành trọn cả đời để trả ơn
Bên cạnh những nhân vật có tấm lòng đẹp, Nguyễn Đình Chiểu cũng xây dựng hàng loạt nhân vật phản diện như cha con, vợ chồng Võ Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, … qua đó lên án những thói đời đen bạc, thấy người sa
cơ thất thế mà quên mất tình nghĩa, vì lợi danh của bản thân mà mưu tính để hại bạn, vì những thói đam mê tầm thường mà quên đi nghiệp lớn Đó là những kẻ ỷ thế cậy quyền hãm hại người lương thiện, bất nhân, bất nghĩa phản lại tình nghĩa đồng bào Nguyễn Đình Chiểu khi xây dựng các nhân vật
Trang 28phản diện đã khéo léo đặt các nhân vật đó bên cạnh nhân vật chính diện nhằm nhấn mạnh lòng khinh bỉ, căm ghét của ông đối với hạng người xấu xa và những việc làm sai trái của họ Ông cũng có quan niệm ghét thương rất rõ ràng, lẽ ghét thương của ông được thể hiện rõ nhất qua nhân vật ông Quán Ở
ông Quán, ta thấy ông ghét thì “Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm” mà ghét cũng bởi vì thương mà thôi “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương”
Cái ghét đó bao hàm ý nghĩa là ghét không phải vì ghét và thương không chỉ
vì thương Cái ghét thương của ông Quán chính là lẽ ghét thương của tác giả
vì ông thương xót đồng bào, thương xót những con người bị chà đạp
Thông qua các nhân vật, Nguyễn Đình Chiểu còn nói lên một chân lý sâu sắc, chẳng hạn ông Quán được xây dựng là một con người luôn căm ghét những điều sai trái trong cuộc sống Ông đứng trên lập trường của nhân dân
để nói lên sự khốn khổ, bất công mà nhân dân phải chịu đựng Với ông, cái gì xấu là đáng khinh, đáng lên án còn cái gì có lợi thì phải ca ngợi, đề cao Ngày
trước, “nhân nghĩa” được đề cập trong Đại cáo bình Ngô còn bây giờ là Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên gạch nối về truyền thống “nhân
nghĩa” khi cho người đọc thấy được phạm trù “nhân nghĩa” đã có sự phát triển cùng với lịch sử dân tộc Ông xứng đáng là nhà thơ, nhà văn của nhân
dân, thông qua Lục Vân Tiên - tác phẩm không chỉ đề cao “lý tưởng nhân
nghĩa” mà còn có tác dụng giáo dục mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân Ở một mức độ nào đó, người dân Nam Bộ nói riêng và người Việt Nam nói chung, nhất là tầng lớp thanh niên đã xem nhân vật Lục Vân Tiên là hình tượng lý tưởng để soi mình Từ đó, họ luôn ước mơ và phấn đấu để trở thành
một Lục Vân Tiên trong cuộc đời Cho nên, truyện thơ Lục Vân Tiên là một
tác phẩm đã tạo được ấn tượng mạnh mẽ đối với nhân dân và tồn tại song hành cùng thời gian để nêu cao những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Trang 29Truyện thơ Lục Vân Tiên đã góp vào kho tàng văn học Việt Nam giá trị
về “tư tưởng nhân nghĩa”, đạo đức về lẽ sống của con người ở đời Nó mang những lời giáo huấn có sức lay động mạnh mẽ đến quần chúng nhân dân mà
không một ai có thể phủ nhận Tuy nhiên, truyện thơ Lục Vân Tiên cũng còn
một số hạn chế nhất định.Về mặt bố cục, cốt truyện vẫn chịu ảnh hưởng của truyền thống văn học dân gian trong việc sắp đặt tình huống theo kiểu: gặp
gỡ, tai biến, đoàn viên và kết thúc có hậu Nếu so sánh truyện thơ Lục Vân Tiên với các truyện thơ khác sẽ thấy được sự giống nhau về mặt kết cấu
nhưng tác giả đã có sự cách tân để tạo nên những nét riêng Các yếu tố tự truyện, hư cấu của văn học dân gian được tác giả đưa vào không chỉ để gây sự chú ý, hứng thú cho người đọc mà còn được dùng để phản ánh hiện thực như cảnh quan lại hà hiếp dân lành, triều đình làm ngơ trước cảnh giặc xâm lăng
Về ngôn ngữ của truyện vẫn còn giản đơn, bình dân nhưng lại phản ánh đúng cái chất của con người Nam Bộ: mộc mạc, dân dã, chân chất vô cùng Tuy
Lục Vân Tiên còn một ít hạn chế về kết cấu, ngôn ngữ, …nhưng lại là một
trong những tác phẩm bản lề làm nền tảng cho bước chuyển mình của nền văn
học trung đại sang văn học hiện đại Trước truyện thơ Lục Vân Tiên đã có rất nhiều truyện thơ Nôm như Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, Phạm Công - Cúc Hoa, Truyện Kiều, … nhưng khi Lục Vân Tiên ra đời đã tạo một làn gió mới vì các
yếu tố đời thường được tác giả thổi vào đó theo cách suy nghĩ, theo tình cảm,
khát vọng của nhân dân Lục Vân Tiên đã cho thấy được văn chương không
chỉ là “phong hoa tuyết nguyệt” mà còn thể hiện những vẻ đẹp bình dân, đời thường và vẫn phản ánh được những giá trị sâu sắc bởi một tâm hồn đồng
điệu và cảm thông cao độ của tác giả Như vậy, Lục Vân Tiên mang một nét
mới bình dị, đời thường đậm tính nhân dân mà trước đó chưa có tác phẩm nào
thể hiện rõ nét Lục Vân Tiên không thể hiện bằng ngôn ngữ hoa mỹ, trau
chuốt mà bằng ngôn ngữ giản dị, đời thường, phù hợp với đa số tâm tính quần
Trang 30chúng nhân dân lao động miền lục tỉnh đương thời Văn chương mang nhiệm
vụ phản ánh hiện thực đời thường và cứ như thế tiếp tục tạo thành một
“trường văn học” không ngừng vận động, phát triển theo thời gian để tạo nên kho tàng văn học phong phú Và văn chương chính nghĩa luôn mang trong mình nhiệm vụ tải đạo như Nguyễn Đình Chiểu đã từng làm
1.2 Lý tưởng nhân nghĩa trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu
1.2.1 Những vấn đề chung về lý tưởng và lý tưởng nhân nghĩa
Lý tưởng là một khái niệm khá quen thuộc, nó đã được nhắc đến nhiều trong các lĩnh vực như: giáo dục, văn hóa, triết học, văn học Ở mỗi lĩnh vực, khái niệm lý tưởng được hiểu theo những cách khác nhau và tùy vào mục đích
sử dụng Theo Đại từ điển tiếng Việt, khái niệm lý tưởng được hiểu là: “Tư tưởng và mục đích được coi là cao nhất, tốt đẹp nhất cần đạt đến” hoặc
“Hoàn hảo, đầy đủ tới mức dường như trong lý thuyết hay trong tưởng tượng” [37, 925] Lý tưởng là tư tưởng, mục tiêu để đạt tới mục đích tốt đẹp
Đó là những mục tiêu đúng đắn nên sẽ không tồn tại cũng như xuất hiện những lý tưởng sai lầm, mà chỉ có xuất hiện những tư tưởng sai lầm, dẫn đến việc sai lầm trong suy nghĩ và tư duy Nó sẽ khiến việc xác định lý tưởng gặp khó khăn Theo Hồ Ngọc Đức thì lý tưởng được xác định dựa vào chức năng
của nó Nếu lý tưởng là một danh từ thì đó là: “Điều thỏa mãn tới mức tuyệt đối một ước vọng cao đẹp”1 Còn lý tưởng là một tính từ thì nó sẽ thể hiện ở
hai ý nghĩa Đầu tiên, đó là sự cảm nhận của con người về một sự vật, hiện tượng nào đó mà nó đã đạt tới trình độ cao về mặt thẩm mỹ Lý tưởng “Đạt trình độ cao nhất của cái hay về mặt thẩm mỹ, trí tuệ hay đạo đức”2 Thứ hai,
lý tưởng là sự xác định hoàn toàn trên mặt lý thuyết, chưa tính tới các trạng
Trang 31thái và thông số sai và chưa hợp lý Nó được dùng để chỉ những vấn đề trên
mặt lý thuyết trong quá trình tính toán Nó chỉ lý tưởng “Hoàn toàn theo lý thuyết và chưa tính đến trạng thái hay các sai số thực tế”3
Còn nhà văn Nga L Tôn-xtôi từng nói: “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không
có phương hướng thì không có cuộc sống”4 Về khái niệm lý tưởng có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy thuộc cảm nhận và quan niệm của từng người về lý tưởng Nhưng theo L Tôn-xtôi thì lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường hướng con người đến lý tưởng đúng đắn Có ngọn đèn ấy, nó sẽ soi sáng và giúp con người đi theo con đường đúng đắn Con người sống mà không có lý tưởng thì sống cũng như không sống, tồn tại cũng như không tồn tại Lý tưởng là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống con người Như vậy, lý tưởng dù nói về vấn đề nào thì nó cũng sẽ làm nhiệm vụ định hướng để con người đi theo con
đường đúng và có ý nghĩa Đối với truyện thơ Lục Vân Tiên ta thấy “lý tưởng
nhân nghĩa” được thể hiện thông qua các nhân vật trong tác phẩm Tác phẩm giúp chúng ta hiểu thêm lý tưởng của thời đại và của tác giả Không riêng gì
Lục Vân Tiên, các tác phẩm của cụ Đồ Chiểu thường xoay quanh “nhân
nghĩa” để thể hiện lòng yêu nước, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ quê hương,
Tổ quốc
“Nhân nghĩa” là tư tưởng tồn tại lâu đời của dân tộc Việt Nam, được dùng để định hướng và góp phần quan trọng trong hành động của con người Các nhà Nho nổi tiếng của Trung Hoa như Khổng Tử, Mạnh Tử đều nó cách nghĩ khác nhau về “nhân nghĩa” nhưng suy cho cùng thì nó góp phần hiện
thực hóa đạo đức, xây dựng và vận dụng nó vào hiện thực xã hội Trong Tự
Trang 32http://idoc.vn/tai-lieu/ly-tuong-la-ngon-den-chi-duong-khong-co-ly-tuong-thi-khong-co-phuong-huong-kien-dinh-ma-điển Hán Việt, “nhân” là “Yêu người không lợi riêng mình” [2; 17] Còn theo
Khổng Tử, chữ “nhân” gắn liền với vận mệnh của con người, ông cho rằng:
“Tất cả những gì thuộc về tiên nghiệm đều là cái trời phú cho con người, nó
là hạt nhân của hệ thống tri thức và đạo đức của con người”5 Khổng Tử đã dùng toàn bộ tình cảm của mình để nói về chữ “nhân” và dùng chữ “nhân” để giáo dục con người Khổng Tử còn kết hợp “nhân” với “lễ”, con người sống
là phải biết lễ phép, biết tôn ti, trật tự, biết kính trên nhường dưới “Lễ” sẽ góp phần uốn nắn và giáo dục con người theo khuôn khổ, phép tắc Nếu không có
“lễ” trong xã hội thì con người sống sẽ không có “nhân nghĩa” “Nhân nghĩa” tạo nên được mối quan hệ giữa người trên kẻ dưới như: vua - tôi; hay quan hệ ruột thịt cha - con … nó tạo nên được sự uy nghiêm, trang trọng lòng thành kính của người dành cho người “Nhân” trong tư tưởng của Khổng Tử là một yếu tố quan trọng, cốt lõi, nó định hướng lẽ sống của con người Sống là phải sống “nhân” làm “nghĩa”, “nhân nghĩa” là lẽ sống mà con người luôn phấn đấu để đạt được Muốn gìn giữ đức “nhân” con người phải có “nghĩa” Nếu
“nhân” được thể hiện qua mối quan hệ giữa ta với người khác thì “nghĩa” là hành động tự vấn lương tâm của bản thân
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Nhân nghĩa là lòng thương yêu và yêu chuộng lẽ phải” [37; 1158], như chính sách “nhân nghĩa”, ăn ở có “nhân
nghĩa” Con người sống quan trọng phải biết “nhân”, “nghĩa” “Nhân” là đạo
lý làm người, sống sao cho có ích, có lợi cho bản thân, cho xã hội và từ đó trở thành một con người giúp ích cho đời Còn “nghĩa” là hành động thực hiện những việc làm nhằm giúp mọi người mà xuất phát từ chính tấm lòng, tình cảm của bản thân, giúp người vì cái “nghĩa” chứ không phải vì cái lợi Con người Việt Nam rất trọng tình, trọng nghĩa, giúp người mà trong lòng cảm thấy thoải mái, thanh thản thì họ sẵn sàng làm mà chẳng cần sự trả ơn từ
5
http://hanphi.blogspot.com/2013/02/tu-tu-tuong-nhan-nghia-en-uong-loi-nhan.html
Trang 33người được giúp “Nhân nghĩa” đã tồn tại và trở thành chuẩn mực trong đánh giá phẩm chất của con người Muốn hiểu con người thì phải đặt con người đó vào hoàn cảnh thực tế và hoàn cảnh sẽ chứng minh tất cả Nó sẽ hướng con người trở nên hoàn thiện và tốt đẹp hơn, dần dần trở thành lý tưởng “Lý tưởng nhân nghĩa” là sự kết hợp giữa hai khái niệm “lý tưởng” và “nhân nghĩa” mà chúng tôi đã trình bày ở trên “Lý tưởng nhân nghĩa” là những mục tiêu, định hướng của con người để trở thành người tốt, và sẵn sàng giúp đỡ mọi người “Lý tưởng nhân nghĩa” được sử dụng để chỉ cách cư xử của con người với nhau Nó biến những lý tưởng tồn tại trong tiềm thức thành hành động và thể hiện ra ngoài Thông qua những hành động sẽ góp phần nhấn mạnh lý tưởng của con người Trong thực tế, “lý tưởng nhân nghĩa” của Nho giáo Trung Hoa đã có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhân dân khi đất nước ta phải chịu ngàn năm đô hộ của giặc phương Bắc Do đó, “lý tưởng nhân nghĩa” của Nho giáo đã được nhân dân ta học tập những điều tinh túy để góp phần giáo dục con người, làm cho xã hội tốt đẹp hơn Hơn ai hết, Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho mang trong mình rất nhiều lý tưởng nên những sáng tác của ông đã thể hiện lý tưởng theo cách riêng của mình
1.2.2 Thời kỳ trước khi Pháp xâm lược
“Lý tưởng nhân nghĩa” xuất hiện dày đặc trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, luôn tồn tại và phát triển theo từng giai đoạn sáng tác của ông Tác phẩm của ông phản ánh được một phần nào hiện thực của thời đại, của lịch sử đất nước Ở thời kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Đình
Chiểu đã đề cập đến “lý tưởng nhân nghĩa” trong tác phẩm Lục Vân Tiên
Ông đã xây dựng những nhân vật lý tưởng đại diện chính nghĩa, dám đứng lên chống lại những bất công trong xã hội để bảo vệ lẽ phải Với Nguyễn Đình Chiểu, “nhân nghĩa” là đạo đức của nhân dân ta, là căn cốt, gốc rễ để trau dồi
Trang 34và rèn luyện con người Đây là một tư tưởng chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo, đặc biệt là tư tưởng Khổng Mạnh về “nhân nghĩa” trong đạo làm người
Mở đầu truyệnLục Vân Tiên có liên quan đến cuốn Tây minh dạy về
đạo lý Nho giáo Điều đó cho thấy Nguyễn Đình Chiểu rất đề cao Nho giáo
Trong quan niệm văn chương của mình, Nguyễn Đình Chiểu lấy triết lý nhân sinh là “nhân nghĩa” làm gốc “Nhân nghĩa” là tư tưởng của hầu hết nhà Nho
và Nguyễn Đình Chiểu cũng không ngoại lệ Thế nên ông rất đề cao vai trò
“nhân nghĩa” trong sáng tác của mình Ở Lục Vân Tiên, chúng ta thấy xuất
hiện không phải chỉ là “trung hiếu tiết hạnh”, mà còn là chuyện “nhân nghĩa” Còn nếu có “trung hiếu tiết hạnh” thì cũng thông qua “nhân nghĩa” mà thể hiện, phụ thuộc vào “nhân nghĩa” mà thể hiện “Nhân nghĩa” được thể hiện qua các nhân vật Vân Tiên, Nguyệt Nga, Tử Trực, Hớn Minh, Tiểu Đồng, ông Quán, ông Tiều, ông Ngư, bà Sư,
Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng nhân vật “nhân nghĩa” hành động có
ý thức, có suy nghĩ nhưng không toan tính thiệt hơn Chính vì thế Lục Vân Tiên càng trở nên cao quý và trở thành một tác phẩm tiêu biểu gắn liền với tên
tuổi Nguyễn Đình Chiểu Ông cũng xây dựng những nhân vật bất nhân, phi nghĩa nhưng cuối cùng đều bị công luận và “lưới trời” trừng trị một cách thích đáng Điều đó chúng tỏ, sẽ không có “nhân nghĩa” hay khoan nhượng đối với những kẻ bất nhân, phi nghĩa Quan niệm “nhân nghĩa” của Nguyễn Đình
Chiểu rất dứt khoát và rõ ràng Truyện thơ Lục Vân Tiên có một chỗ đứng
vững chắc trong lòng quần chúng nhân dân là vì chữ “nhân” chữ “nghĩa” ấy
Cũng có ý kiến cho rằng nếu so sánh truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu với Truyện Kiều của Nguyễn Du sẽ có sự chênh lệch khá lớn Ở Truyện Kiều, chúng ta thấy được sự tinh tế, tài hoa của Nguyễn Du khi
sử dụng các biện pháp nghệ thuật chú trọng vào khắc họa tâm lý nên Lục Vân
Trang 35Tiên xuất hiện làm cho mọi người ngỡ ngàng khi câu chữ vụng về, không tinh
tế và có nhiều chỗ thật thà đến thô kệch của nhà thơ Nam Bộ Về mặt khách quan thì điều đó không hoàn toàn sai nhưng sai ở chỗ người đánh giá đã có cái nhìn phiến diện khi nhận xét hai tác phẩm này Điểm chung khi so sánh
Lục Vân Tiên và Truyện Kiều là ở chỗ cả hai tác phẩm đều là truyện thơ viết bằng chữ Nôm, viết theo thể thơ lục bát Nhưng nếu đặt Lục Vân Tiên và Truyện Kiều lên một bàn cân để xem cái nào hay hơn thì đó là một việc làm
không đúng đắn Vì làm như vậy chúng ta sẽ không thấy được vẻ đẹp giản dị
và giá trị riêng của Lục Vân Tiên - tác phẩm được viết bởi Nguyễn Đình
Chiểu - một nhà thơ bị bệnh tật mù lòa nên ít nhiều sẽ có những hạn chế Một
điều nữa là Lục Vân Tiên nhằm để kể chứ không phải để ngâm, để bói, … như Truyện Kiều
Cái đặc sắc của Lục Vân Tiên là ở chỗ ngôn từ trong tác phẩm rất gần
gũi, dễ hiểu và bình dân, đậm chất con người Nam Bộ chứ không trau chuốt
hoa mỹ như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Khác với Truyện Kiều, trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu thể hiện nhân vật thông qua tính
cách, hành động mà ít độc thoại nội tâm Nhà thơ cũng không mấy mổ xẻ tính cách nhân vật, không có những đoạn trữ tình ngoại đề, nhưng không vì thế mà
tính cách nhân vật trở nên mờ nhạt Truyện Kiều của Nguyễn Du đi sâu vào
khai thác tâm lý nhân vật, thể hiện qua lời nói và độc thoại nội tâm Còn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện tính cách nhân vật thông qua hành động Qua hành động có thể biết nhân vật như thế nào và đó cũng là một phương tiện để Nguyễn Đình Chiểu thể hiện “lý tưởng nhân nghĩa” trong sáng tác của mình - nét khác biệt so với các tác giả khác
Tác phẩm tiếp sau Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu cũng được viết
ra nhằm để đề cao tư tưởng Khổng - Mạnh, triết lý Nho giáo nhưng bên cạnh
Trang 36đó cũng phê phán lối sống, lợi dụng tôn giáo để gây ra tội ác và phê phán xã
hội “sâu dân mọt nước” [30; 509] đã đẻ những hạn người chỉ biết lợi ích mà
lừa lọc, bất trung bất hiếu:
“Cứ theo một đạo Nho ta, Giữ câu lễ nghĩa muôn nhà yên vui.”
“Nhân nghĩa” của Nho giáo một lần nữa được khẳng định khi nhà thơ
nhấn mạnh “giữ câu lễ nghĩa” đó điều quan trọng nên ai cũng phải biết Phải
biết kính trên, nhường dưới thì mọi việc mới thuận hòa, yên vui Do đó, Nguyễn Đình Chiểu qua các sáng tác của mình đã thể hiện một “lý tưởng nhân nghĩa” thật sự riêng biệt và gây ấn tượng mạnh mẽ đối với nhân dân trong thời kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược là thế Còn đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn Đình Chiểu đã có sự chuyển đổi và phát triển
lý tưởng cho phù hợp với tình hình hiện tại và nguyện vọng của nhân dân
1.2.3 Thời kỳ Pháp chiếm đóng
Nếu như các tác phẩm được Nguyễn Đình Chiểu viết trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vẫn mang hơi hướng cổ điển về mong ước của những anh hùng hành hiệp trượng nghĩa thì sang giai đoạn thực dân Pháp xâm lược, văn chương của Nguyễn Đình Chiểu đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhắm thẳng vào vấn đề vận mệnh của đất nước Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác một lượng lớn tác phẩm chứa chan tinh thần yêu nước, yêu nhân dân và căm thù giặc Có lẽ đây là phần thành công nhất trong sự nghiệp văn chương của ông và ông được xem là lá cờ đầu của thơ văn yêu nước chống ngoại xâm Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu phản ánh cuộc đấu tranh chống Pháp đầu tiên ở Nam Bộ, tố cáo tội ác của giặc ngoại xâm và ca ngợi tinh thần đấu tranh oanh liệt, quyết gìn giữ, bảo vệ đất nước trước sự xâm lấn
Trang 37của kẻ thù Trong tình thế ấy của đất nước, Nguyễn Đình Chiểu cũng nhận thấy được tình trạng của bản thân không thể chiến đấu bằng vũ trang cho nên ông đã dùng ngòi bút của mình để chiến đấu Thơ văn ông phản ánh chặng đường đấu tranh của dân tộc, nó phát triển lên một bước cao hơn và sâu sắc hơn về cả nội dung lẫn tư tưởng nghệ thuật
Trong giai đoạn này, các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu phản ánh về cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân chống lại thực dân Pháp Đây cũng là lần đầu tiên hình ảnh người nông dân được đưa vào trong tác
phẩm văn học Bài thơ Chạy giặc chính là tiếng nói cấp báo đầu tiên về một
chiến tranh đã thật sự ập tới Nam Kỳ Tội ác của bọn giặc gieo rắc biết bao đau khổ cho nhân dân Thực dân Pháp không còn rình mò mà đã trắng trợn cướp của, giết người, đốt phá, hãm hiếp, Đau xót trước tình cảnh nước mất nhà tan, ông đã dùng ngòi bút của mình để vạch trần chân tướng của những tên giặc, tố cáo tội ác của thực dân Pháp và qua đó làm nổi bật lên lòng căm thù giặc và tinh thần đấu tranh của nhân dân Người nông dân trở thành những anh hùng mang đầy đủ phẩm chất “nhân nghĩa”, dám hy sinh xương máu để bảo vệ quê hương đất nước Sự hy sinh quên mình đó thật cao quý, đáng trân trọng và được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện trong hàng loạt bài thơ, bài văn tế:
Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc, Cáo thị, Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong văn,
Những người anh hùng trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu ở giai đoạn này không phải là những người xuất thân từ tầng lớp tri thức, Nho học
mà là những người nông dân chân lấm tay bùn Nguyễn Đình Chiểu đã tôn vinh những người dân thường trở thành những anh hùng mang đầy đủ nét
“nhân nghĩa” trong Nho giáo nhưng với tính cách dân dã và thực tế Họ không phải là một Lục Vân Tiên đánh Phong Lai cứu Nguyệt Nga hay sẵn sàng
Trang 38chiến đấu với giặc Ô Qua mà là hàng vạn người dân mộ nghĩa đã tự giác tập hợp lại dưới ngọn cờ của các lãnh tụ nghĩa binh, tiến hành cuộc kháng chiến
vô cùng anh dũng Những người nông dân mang thân phận thấp hèn nhưng ý thức được phẩm chất “nhân” trong con người mình Họ không chấp nhận thân phận bị triều đình bỏ rơi, bị bọn thực dân Pháp xâm lược, ức hiếp, chính vì thế bản chất “nghĩa” trỗi dậy Họ đã tập hợp nhau lại, tổ chức chiến đấu chống lại quân cướp nước để tự bảo vệ cho mình, giữ gìn từng tấc đất và những gì thiêng liêng nhất của quê hương Họ cũng giống như những con người Việt Nam yêu nước khác, luôn chính trực và quyết tâm bảo vệ quê hương đất nước tới giây phút cuối cùng Chính tinh thần đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới Nguyễn Đình Chiểu Trong giai đoạn chống thực dân Pháp xâm lược, quan niệm văn chương của ông được mở rộng hơn và nhìn về thực tế hơn Hiện thực đời sống, hiện thực chiến đấu của nhân dân đã nâng cánh và thổi một luồng cảm xúc mới vào thơ văn ông Nó không còn tập trung bảo vệ đạo Nho mà chuyển sang bảo vệ đất nước và phản ánh quá trình đấu tranh của nhân dân Những ý thơ mang đầy chất chính luận nóng bỏng, đặc biệt là trong các bài thơ điếu, bài văn tế của ông Đó còn là sự phản ánh chân thực nhất về
những mất mát, hy sinh của nhân dân ta, những anh hùng “áo vải” nhưng có sức lực mạnh mẽ chống lại kẻ thù tàn ác Nó mạnh mẽ đến mức “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ” kẻ thù Chẳng có nỗi đau nào bằng nỗi đau mất
nước, không gì đau bằng nhìn đất nước của mình bị bọn thực dân cai trị và hành hạ dân lành Nguyễn Đình Chiểu căm ghét bọn cướp nước và bọn bán nước làm tay sai cho giặc bao nhiêu, thì với nhân dân, với nghĩa quân và những người lãnh đạo kháng chiến, ông càng dành cho họ những vần thơ, văn tràn đầy cảm xúc và lòng trân trọng bấy nhiêu Dường như toàn bộ tâm huyết của nhà thơ trong giai đoạn này là dành cho nhân dân, những người đã chịu cảnh mất nước và đồng cảm với họ khi phải sống trong cảnh loạn li Toàn bộ
Trang 39thơ văn của ông sau khi tiếng súng của thực dân Pháp nổ ra ở đất Nam Kỳ là niềm tâm sự lớn lao của một người con về vận mệnh của đất nước Tâm sự đó được tác giả gửi gắm ở hai chủ đề lớn là: độc lập, tự do của tổ quốc và hạnh phúc, yên vui của nhân dân Trong ông luôn tồn tại nỗi đau của một người con yêu nước và thấu hiểu nỗi đau mất nước, đó là bất hạnh lớn nhất của một dân tộc mất tự do
Nỗi đau đó được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện trong các bài thơ, văn tế,
có thể kể đến như: Lục tỉnh sĩ dân trận vong văn, ông đã miêu tả nỗi đau khổ
của nhân dân dưới sự thống trị của bọn xâm lược bằng lòng căm giận, đớn đau Hay hình ảnh lãnh tụ nghĩa quân Trương Định, vì thể theo nguyện vọng của nhân dân, không chịu tuân theo chỉ thị của triều đình, đã ở lại cùng nhân dân tổ chức kháng chiến Một con người hành động theo chính nghĩa không bị
uy hiếp bởi thế lực được Nguyễn Đình Chiểu vẽ lên một cách đẹp đẽ và cảm động Một vị quan của triều đình thì phải trung thần với vua nhưng ở đây
Trương Định không tuân theo mệnh lệnh của vua - “chẳng nghe thiên tử chiếu” Ông chỉ nghe theo những nỗi khốn khổ mà nhân dân đang gánh chịu
và thực hiện theo tâm nguyện của mình là đứng về phía nhân dân trong tình cảnh triều đình thờ ơ đứng nhìn nước mất Nguyễn Đình Chiểu rất cảm phục
tấm lòng của Trương Định: “Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại!” [29; 46] Dù biết trái lệnh vua là một việc làm bất trung nhưng Trương Định vẫn chấp nhận làm “tướng quân phù” và đứng ra
tập hợp nghĩa quân chống giặc Ông gánh trên vai một trách nhiệm to lớn dù
trách nhiệm đó không của riêng ông mà là của triều đình Ông thà “gánh vác một vai khổn ngoại” để giúp dân, giúp nước còn hơn là an nhàn và hưởng thụ
cho bản thân Vì vậy, khi ông hy sinh, Nguyễn Đình Chiểu cũng như nhân dân Nam Kỳ đã thương xót biết bao con người “nhân nghĩa” ấy, dám liều thân mình để bảo vệ lẽ phải
Trang 40Nguyễn Đình Chiểu qua các sáng tác của mình, đã làm nổi bật mối quan hệ giữa sống và chết, giữa quyền lợi cá nhân và lợi ích dân tộc, giữa vua
và nước, giữa truyền thống anh hùng và truyền thống nhân đạo, giữa tình thương và nỗi ghét, Trong hàng loạt những tác phẩm ca ngợi chiến công về
những người anh hùng bất khuất đấu tranh chống ngoại xâm, bài Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong văn nổi lên như một điểm son chói lọi làm xúc động
biết bao lòng người qua nhiều thế hệ Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng nên một tượng đài vững chắc của những con người anh hùng áo vải đã vì sự nghiệp cao cả của đất nước mà xả thân Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân mang đầy đủ lẽ sống và trách nhiệm của người anh hùng hy sinh vì đại cuộc được tác giả tái hiện trong tác phẩm thật đẹp Họ mang tính cách của người lao động tay chân nhưng đã biết kết tinh những giá trị thẩm mỹ hết sức sâu sắc Vì vậy, người nông dân đã trở thành một tượng đài bất tử trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu và cả trong lòng nhân dân
Trong cuộc chiến không cân sức này, chúng ta có thể thấy được sự chênh lệch lớn về số lượng và vũ khí chiến đấu Những người con yêu nước của đất nước chỉ sử dụng những công cụ thô sơ, trong khi bọn giặc lại được trang bị những công cụ hiện đại, tối tân Nếu được sử dụng một thành ngữ để
diễn đạt chắc hẳn “lấy trứng chọi đá” là thích hợp trong trường hợp này
nhưng không vì thế mà nghĩa quân bỏ cuộc hay nao núng, ngược lại nó còn
làm cho tinh thần chiến đấu của họ càng tăng lên, vô cùng anh dũng: “Chỉ nhọc quan quân giống trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có.” [29; 35] Những người nghĩa quân anh hùng với hình ảnh oanh liệt và quật cường khi “liều mình” để chiến đấu với “thằng Tây” Chỉ
mới hôm qua thôi, đó còn là những anh nông dân làm việc quần quật để kiếm