1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch Sử Và Văn Hóa Việt Nam Qua Bộ Truyện Tranh Thần Đồng Đất Việt

138 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Và Văn Hóa Việt Nam Qua Bộ Truyện Tranh Thần Đồng Đất Việt
Tác giả Huỳnh Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn TS. Hà Thanh Vân
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Lịch sử và văn hóa Việt Nam thời phong kiến (21)
    • 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam (21)
    • 1.1.2. Đặc điểm chế độ phong kiến Việt Nam (24)
    • 1.1.3. Xã hội và văn hóa Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông (26)
      • 1.1.3.1. Xã hội Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông (27)
      • 1.1.3.2. Nền văn hóa Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông (0)
  • 1.2. Những vấn đề chung về truyện tranh (36)
    • 1.2.1. Khái niệm “truyện tranh” (36)
    • 1.2.2. Sơ lược về lịch sử hình thành truyện tranh (38)
      • 1.2.2.1. Lịch sử truyện tranh thế giới (38)
      • 1.2.2.2. Lịch sử truyện tranh Việt Nam (39)
    • 1.2.3. Nội dung cơ bản của truyện tranh (43)
    • 1.2.4. Nhân vật trong truyện tranh (45)
  • 1.3. Đôi nét về bộ truyện tranh Thần đồng đất Việt (47)
    • 1.3.1. Tác giả (47)
      • 1.3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Phan Thị (47)
      • 1.3.1.2. Những ấn phẩm truyện tranh tiêu biểu (50)
    • 1.3.2. Nội dung chính của bộ truyện Thần đồng đất Việt (51)
      • 1.3.2.1. Bối cảnh xây dựng truyện (51)
      • 1.3.2.2. Hệ thống nhân vật (54)
      • 1.3.2.3. Ý nghĩa bộ truyện tranh Thần đồng đất việt (0)
  • CHƯƠNG 2: THẦN ĐỒNG ĐẤT VIỆT- BỨC TRANH LỊCH SỬ VIỆT NAM CHÂN THỰC VÀ SINH ĐỘNG (58)
    • 2.1. Toàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam dưới góc nhìn văn học (58)
      • 2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử (59)
      • 2.1.2. Kinh tế (65)
      • 2.1.3. Chính trị (0)
      • 2.1.4. Giáo dục (77)
    • 2.2. Người Việt Nam trong mối quan hệ với cộng đồng, quê hương đất nước (82)
      • 2.2.1. Con người Việt Nam trong tương quan với đất nước (82)
        • 2.2.1.1. Con người dũng cảm phi thường trước sự an nguy của đất nước (82)
        • 2.2.1.2. Sự gắn bó, thủy chung với quê hương xứ sở (85)
      • 2.2.2. Con người Việt Nam trong lao động, sản xuất (87)
        • 2.2.1.1 Đức tính cần cù, chịu khó trong công việc (0)
        • 2.2.1.2. Tính cộng đồng từ quan hệ sản xuất đến tình nghĩa xóm làng (0)
  • CHƯƠNG 3: THẦN ĐỒNG ĐẤT VIỆT– SỰ TỰ HÀO VỀ NỀN VĂN HÓA VIỆT (20)
    • 3.1. Văn hóa Việt Nam nhìn từ khía cạnh tổ chức đời sống tập thể (94)
      • 3.1.1. Dấu ấn nông thôn Việt Nam, một đặc trưng của truyền thống văn hóa nông nghiệp (94)
    • 3.2. Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân trong các lĩnh vực xã hội (101)
      • 3.2.1. Tín ngưỡng (101)
      • 3.2.2. Phong tục (106)
        • 3.2.2.1. Khái niệm (106)
        • 3.2.2.2. Phong tục hôn nhân (107)
        • 3.2.2.3. Phong tục tang ma (109)
        • 3.2.2.4. Phong tục lễ tết (112)
      • 3.2.3. Lễ hội truyền thống (118)
        • 3.2.3.1. Lễ hội mùa xuân (118)
        • 3.2.3.2. Tết Trung thu (123)
        • 3.2.3.3. Lễ hội múa rối nước (124)
        • 3.2.3.4. Trò chơi dân gian (126)
  • Tài liệu tham khảo (133)

Nội dung

Lịch sử và văn hóa Việt Nam thời phong kiến

Quá trình hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam, việc chiến đấu chống giặc ngoại xâm đã trở thành một phần quen thuộc và thường xuyên trong quá trình dựng nước và giữ nước Những trận chiến, dù nhỏ lẻ hay cam go, đã hun đúc tinh thần thép cho người Việt, tạo nên những chiến công oanh liệt chấn động địa cầu Đây không chỉ là những thử thách lớn lao mà còn là niềm tự hào của toàn thể dân tộc Đặc biệt, cuộc đấu tranh chống ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc để giành độc lập là một trong những trang sử hào hùng và đáng ghi nhận nhất.

Vào đầu thế kỷ X, họ Khúc đã khởi đầu một thời kỳ độc lập cho đất nước, đánh dấu sự tự chủ của dân tộc Tuy nhiên, các thế lực phong kiến vẫn không từ bỏ ý đồ bành trướng, tiếp tục sử dụng âm mưu và thủ đoạn, thậm chí đưa quân xâm lược để thực hiện kế hoạch chiếm đóng vùng đất phía Nam.

Trước âm mưu xâm lược của nước ngoài, quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền đã giành chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch Đằng vào năm 938, đánh bại quân Nam Hán Chiến thắng này không chỉ chấm dứt hơn 1.000 năm Bắc thuộc mà còn tạo điều kiện cho Ngô Quyền phát triển chính quyền tự chủ, khẳng định tinh thần yêu nước và đấu tranh bất khuất của dân tộc.

GVHD: TS Hà Thanh Vân, SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo Cuộc tranh giành độc lập đã đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc dưới chế độ phong kiến.

Vào mùa xuân năm Kỷ Hợi (939), sau khi đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền đã tự xưng vương và thiết lập chính quyền mới tại Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội Tuy nhiên, triều đại Ngô không kéo dài lâu, khi các sứ quân nổi dậy tranh giành quyền lực đã dẫn đến cuộc loạn 12 sứ quân, gây ra sự rối loạn trong xã hội Trước tình hình hỗn loạn này, Đinh Bộ Lĩnh đã xuất hiện như một nhân tố quan trọng để khôi phục trật tự.

Bộ Lĩnh đã dẹp loạn và thiết lập vương triều Đinh (968 – 980) để mang lại trật tự cho đất nước Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, Thái hậu Dương Vân Nga nắm quyền nhiếp chính do con còn nhỏ Trong bối cảnh giặc phương Bắc xâm lấn và nhiều âm mưu nổi loạn trong nước, Thái hậu đã quyết định nhường ngôi cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn Lê Hoàn lên ngôi và thành lập nhà Tiền Lê (980 – 1009), tiếp tục duy trì sự ổn định cho đất nước.

29 năm, trải qua tất cả ba đời vua và chấm dứt khi Lê Ngọa Triều qua đời

Nhà Lý, kế thừa từ nhà Tiền Lê, bắt đầu triều đại của mình vào năm 1009 khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế sau khi giành quyền lực.

Năm 1010, Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, và đến năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt Giai đoạn từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIV, đất nước phát triển thịnh vượng và phồn vinh Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIV, chính quyền không chăm lo đời sống nhân dân, dẫn đến quan lại sa đọa, kinh tế khủng hoảng, mất mùa và nông dân li tán Một số thế lực phong kiến địa phương nổi dậy, khiến nhà Lý buộc phải dựa vào thế lực họ Trần để chống lại các lực lượng nổi loạn Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho Trần Cảnh, đánh dấu sự kết thúc của triều đại Lý tồn tại tổng cộng 216 năm.

Dù Trần Cảnh đã được nhường ngôi, nhưng vua còn nhỏ và mọi việc trong triều được Thái sư Trần Thủ Độ cùng cha Trần Chính quản lý Dưới sự lãnh đạo của các vị vua tài giỏi như Trần Thánh Tông và Trần Anh Tông, đất nước vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

Trong thời kỳ Trần Dụ Tông, chính quyền rơi vào tình trạng hỗn loạn khi ông bỏ bê công việc và sa vào tửu sắc, dẫn đến nỗi khổ của nhân dân do thuế nặng và sưu cao Sau khi Dụ Tông qua đời năm 1369, Trần Nhật Lễ lên ngôi nhưng cũng tiếp tục lối sống phóng đãng, bị lật đổ năm 1370 Trần Nghệ Tông lên thay, nhưng chỉ hai năm sau, ông nhường ngôi cho Trần Kính Năm 1377, Duệ Tông tử trận, Trần Hiện lên ngôi nhưng thực quyền vẫn thuộc về Nghệ Tông, người quá tin tưởng vào Hồ Quý Ly Hồ Quý Ly, với mưu đồ soán ngôi, đã xây dựng được thế lực và năm 1400, ông chiếm ngôi nhà Trần, lập nên nhà Hồ và đổi tên nước thành Đại Ngu.

Sau 7 năm, triều đại Hồ Hán Thương kết thúc khi quân Minh bắt ông vào năm 1407 Sau 500 năm giành lại quyền tự chủ, Việt Nam lại một lần nữa rơi vào tay Trung Quốc.

Năm 1418, Lê Lợi cùng các hào kiệt đã khởi nghĩa Lam Sơn để cứu nước trong bối cảnh hiểm nguy Sau mười năm chiến đấu, đến năm 1427, chiến thắng Chi Lăng Xương Giang đã giúp dân ta đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà Lê, đánh dấu sự khởi sắc của nước Đại Việt thời Hậu.

Triều đại Lê, tồn tại từ năm 1428 đến 1789, kéo dài 360 năm, là một trong những triều đại phong kiến lâu dài và hùng mạnh nhất trong lịch sử Việt Nam.

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Trong suốt lịch sử, chế độ phong kiến Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển đáng kể, bắt đầu từ những chính quyền sơ khai cho đến thời kỳ hưng thịnh dưới triều đại Hậu Lê Sự tiến bộ này phản ánh rõ nét quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam.

Vì cơ bản Thần đồng đất Việt lấy bối cảnh các sự việc diễn ra trong truyện từ thế kỉ

Đến thế kỷ XV, chế độ phong kiến Việt Nam đã hình thành và phát triển với những nét chính đáng chú ý Bài viết sẽ tập trung vào quá trình này, nêu bật những yếu tố quan trọng trong sự phát triển của chế độ phong kiến trong giai đoạn lịch sử này.

Đặc điểm chế độ phong kiến Việt Nam

Chế độ phong kiến ở mỗi quốc gia và khu vực có những đặc điểm riêng, phản ánh tình hình chính trị xã hội đặc thù Việt Nam đã trải qua một quá trình dài hình thành và phát triển gắn liền với các triều đại phong kiến, tạo nền tảng cho sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việc hoàn thiện và chuyển đổi cơ cấu từ giai đoạn tiền mô hình đến mô hình và hậu mô hình đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Giai đoạn tiền mô hình bắt đầu từ thời Lý – Trần – Hồ, khi các thái tử và con cái quan lại đã sớm tiếp xúc với văn hóa và lịch sử Trung Hoa Sự ảnh hưởng này đã tác động đến suy nghĩ và cách quản lý đất nước của họ, thể hiện qua việc mô phỏng mô hình quản lý của Trung Hoa và việc áp dụng Nho giáo như một nền văn hóa chính.

GVHD: TS Hà Thanh Vân, SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo, cho rằng trị - giáo dục đang dần hình thành thành một hệ tư tưởng chính trị - xã hội rõ rệt.

Việc áp dụng mô hình quản lý cần phù hợp với đặc điểm xã hội của từng quốc gia Mô phỏng mô hình quản lý của Trung Hoa mà không điều chỉnh cho phù hợp đã dẫn đến sai lầm trong chính sách của vua quan thời bấy giờ Mô hình chính trị - hệ tư tưởng quá rộng và không tương thích với thực tế xã hội, trong khi chế độ quan liêu cồng kềnh của Trung Quốc không phù hợp với quy mô của Đại Việt.

Mặc dù có sự khác biệt giữa mô hình thiết chế và thực tế đời sống, nhưng khoảng cách này có thể được cải thiện để đạt được sự phù hợp Vào thế kỷ XV, dưới triều đại Lê sơ, nhờ vào những thành quả từ cuộc kháng chiến chống Minh và những biến chuyển trong xã hội Đại Việt thời thuộc Minh, chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam đã tiến tới giai đoạn mô hình.

Các vua đầu triều Lê, đặc biệt là Lê Thánh Tông, đã áp dụng hiệu quả mô hình chính trị-tư tưởng Nho giáo để xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền Chính sách “sùng Nho trọng Đạo” được thực hiện, khiến Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, độc tôn và chi phối tinh thần xã hội thời bấy giờ.

Trong bối cảnh ổn định, xã hội vẫn tiềm ẩn dấu hiệu trì trệ và các yếu tố bất ổn, dẫn đến tình trạng chao đảo Sự minh chứng rõ ràng cho điều này là tình hình của vương triều.

Lê sơ thịnh trị là vậy nhưng cũng đã sụp đổ sau đó mấy thập kỷkhi Mạc Đăng Dung cướp ngôi

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Từ thế kỷ XVI đến XIX, chế độ phong kiến quan liêu Việt Nam rơi vào giai đoạn hậu mô hình, khi thiết chế chính trị và hệ tư tưởng chính thống trở nên chật hẹp và lạc hậu, không còn phù hợp với thực tế xã hội Nho giáo, từng là hệ tư tưởng chủ đạo, đã rơi vào khủng hoảng, bộc lộ nhiều khuyết điểm và trở thành lực cản đối với sự phát triển xã hội.

Trong giai đoạn hậu mô hình, sự khác biệt giữa mô hình thiết chế và thực thể đời sống xã hội ngày càng gia tăng Mặc dù mô hình vẫn tồn tại, nhưng nó đã bị xô lệch và bóp méo.

Chế độ phong kiến Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng biệt Những tiến bộ đạt được đồng thời cũng có những yếu tố chưa phù hợp, nhưng những hạn chế của các giai đoạn trước đã trở thành động lực để hoàn thiện các giai đoạn tiếp theo.

Xã hội và văn hóa Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông

Triều đại Lê Thánh Tông được coi là thời kỳ thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, với sự lãnh đạo của một vị vua tài ba đã nâng cao uy tín quốc gia và mang lại sự ấm no cho nhân dân Dưới triều đại này, nhiều nhân tài như Lương Thế Vinh và Thân Nhân Trung đã hỗ trợ vua trong việc xây dựng đất nước Sự phồn vinh trong giai đoạn này không chỉ thể hiện qua thành tựu nổi bật mà còn qua một trang sử vẻ vang, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu về xã hội và văn hóa Việt Nam dưới triều Lê Thánh Tông, từ đó khám phá sâu hơn về bộ truyện tranh ưu việt này.

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

1.1.3.1 Xã hội Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông

V ề vi ệ c cai tr ị , nhà vua đã kiên quyết và kiên trì cải tạo bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương theo những mục tiêu:

1.Gọn, nhẹ mà có hiệu lực

2 Chọn được những người thực sự có tài, có đức để giao trách nhiệm

3 Loại bỏ kịp thời quan tham, ô lại, những người không xứng chức

Nhà vua Lê Thánh Tông đã thể hiện sự kiên nhẫn trong việc cải cách hành chính, không vội vàng mà suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định Sau 11 năm trị vì, vào ngày 26 tháng 9 năm 1471, ông đã ban hành sắc lệnh “Hiệu định quan chế” để chính thức hóa và hệ thống hóa những cải cách quan lại của mình.

Vua Lê Thánh Tông đã thiết lập các cơ quan trợ giúp trong bộ máy chính quyền cấp trung ương, bao gồm Hàn lâm viện, Đông các, Trung thư giám, Bí thư giám và Hoàng môn tĩnh.

Vào năm Quang Thuận thứ 6 (1465), vua Lê Thánh Tông đã cải cách bộ máy hành chính trung ương bằng cách đổi 6 bộ thành 6 viện, và năm sau đó, trở lại với 6 bộ với nhiệm vụ rõ ràng Thời kỳ Trần chỉ có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ, trong khi thời vua Lê Lợi chỉ có 3 bộ: Lại, Lễ, Dân Dưới triều đại Lê Thánh Tông, 6 bộ bao gồm: Lại Bộ, Lễ Bộ, Hộ Bộ, Binh Bộ, Hình Bộ và Công Bộ Để giám sát hoạt động của các bộ này, vua đã thiết lập 6 khoa và Ngự sử đài tương ứng với từng bộ: Lại khoa, Lễ khoa, Hộ khoa, Binh khoa, Hình khoa và Công khoa.

Lê Thánh Tông đã tổ chức và phân định rõ ràng nhiệm vụ của các Bộ, Tự, Khoa, Sở và Ngự sử đài, qua đó giám sát và kiểm soát chặt chẽ bộ máy thừa hành.

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Không một Bộ nào, không một viên quan nào có thể lộng hành, thao túng pháp luật, kỷ cương hoặc đứng ngoài sự giám sát của nhà vua

Vào tháng 6 năm Quang Thuận thứ 7, Lê Thánh Tông đã ban hành sắc chỉ phân chia lãnh thổ Đại Việt thành 13 thừa tuyên, bao gồm các vùng: Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Nam Sách, Thiên Trường, Quốc Oai và Bắc Giang.

An Giang, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Nam

Vào năm 1465, Lê Thánh Tông đã chỉ đạo các xứ tiến hành vẽ bản đồ Đến năm 1469, nhà vua ban hành sắc chỉ quy định về bản đồ của các phủ, châu, huyện Cuối cùng, vào năm 1471, bản đồ của 13 xứ đã được hoàn thành.

Bản đồ Hồng Đức là tập bản đồ cổ xưa nhất, ghi nhận sự tiến bộ trong công tác quản lý đất nước và khoa học địa lý thời kỳ đó.

Lê Thánh Tông đã ban hành bộ Luật Hồng Đức, được coi là bộ luật hoàn chỉnh nhất trong lịch sử lập pháp phong kiến Việt Nam.

Dưới chế độ phong kiến, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền tảng kinh tế xã hội Vua Lê Thánh Tông, ngay từ khi lên ngôi, đã coi việc phát triển nông nghiệp là ưu tiên hàng đầu.

Trong quá trình cải cách hành chính, nhà vua đã thành lập các cơ quan chuyên trách nhằm thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, bao gồm Sở đồn điền, Sở tầm tang và Sở thực thái.

Nhà vua đã thành lập chức quan Hà đê sứ để quản lý việc xây dựng và bảo trì đê điều, cũng như thực hiện các hoạt động khuyến nông, điều này là cần thiết cho một đất nước thường xuyên đối mặt với thiên tai bão lụt Mặc dù các vua trước đã chú ý đến vấn đề này, nhưng chỉ đến triều đại Lê Thánh Tông, chức quan mới được đặt đúng vị trí và vai trò, từ đó phát huy hiệu quả trong việc đắp đập và tu sửa đê điều.

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo phòng bão lụt Và việc này được thể hiện rõ ở điều 181 và 182 trong Bộ luật Hồng Đức

Với quy định rõ ràng, các quan chức không thể chối cãi trách nhiệm khi xảy ra sự cố vỡ đê Trong suốt hơn 500 năm, nhiều công trình đê đập, như đê Hồng Đức, vẫn phát huy hiệu quả và để lại dấu ấn lịch sử Đê Hồng Đức, kéo dài từ cửa sông Hồng đến sông Đáy, đã giúp người dân các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình ngăn nước mặn và khai hoang mở rộng đất đai.

Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng ghi nhận nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là các nghề như ươm tơ, dệt vải, dệt lụa, đúc đồng, nghề mộc và nghề chạm Trong số đó, nghề in và làm giấy nổi bật với sự phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu đáng kể.

Ngoài các làng nghề thủ công truyền thống, các công xưởng do nhà nước quản lý cũng phát triển mạnh mẽ, chuyên sản xuất đồ dùng cho nhà vua như đóng thuyền, đúc tiền, sản xuất vũ khí và khai mỏ.

Những vấn đề chung về truyện tranh

Khái niệm “truyện tranh”

Truyện tranh là một thể loại nghệ thuật đặc biệt, nhưng hiện tại vẫn chưa có định nghĩa chính xác và đầy đủ về nó Mặc dù truyện tranh học đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại nhiều quốc gia phát triển, các học giả vẫn tiếp tục tranh luận về khái niệm này.

Với Will Eisner, ông định nghĩa truyện tranh một cách vắn tắt đơn giản “Truyện tranh ư? Đó là nghệ thuật tuần tự” [52]

Scott McCloud định nghĩa nghệ thuật là "trình diễn hình ảnh theo một trình tự liên kết cố ý, nhằm truyền tải thông tin và tạo ra phản ứng thẩm mỹ."

Dylan Horrocks lại viết: “Đó không phải là nghệ thuật đơn thuần, mà là nghệ thuật của văn học tự sự” [52]

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Tezuka Osamu cũng có nhận định nổi tiếng: “Tôi không coi đó là những hình vẽ Tôi xem chúng là một dạng chữ tượng hình” [52]

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, truyện tranh được định nghĩa là "truyện kể bằng tranh, thường có thêm lời, thường dùng cho thiếu nhi." Đây là một tài liệu tra cứu đáng tin cậy do các nhà khoa học hàng đầu biên soạn dưới sự chủ biên của cố Giáo sư Hoàng Phê.

Truyện tranh là một loại hình văn học đặc biệt, mang tính tự sự và liên kết, với sự chuyển động thể hiện qua các ký tự tượng hình Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa của truyện tranh, các bậc thầy trong lĩnh vực này đều thống nhất rằng truyện tranh không chỉ đơn thuần là những gì chúng ta thường nghĩ.

Truyện tranh là một loại hình văn học độc đáo, kết hợp hài hòa giữa văn học và các nghệ thuật khác Nó bao gồm hai thành tố cơ bản: truyện và tranh, trong đó truyện mang đầy đủ yếu tố của một tác phẩm văn học như cốt truyện, nhân vật và tình tiết Đồng thời, yếu tố tranh vẽ cũng góp phần làm cho truyện tranh trở nên sinh động và hấp dẫn, kết hợp các yếu tố hội họa và điện ảnh Do đó, truyện tranh không chỉ có những đặc điểm riêng biệt mà còn tích hợp nhiều đặc trưng của các loại hình nghệ thuật khác, khẳng định rằng nó là một loại hình văn học nguyên hợp.

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Sơ lược về lịch sử hình thành truyện tranh

1.2.2.1 Lịch sử truyện tranh thế giới

Nhà văn Nga Lêônit Lêônôp đã khẳng định rằng mỗi tác phẩm nghệ thuật cần phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung Điều này đặc biệt đúng trong văn học, nơi sự hài hòa giữa nội dung và hình thức là rất quan trọng Truyện tranh, mặc dù là một thể loại mới, đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài để đạt được sự cân bằng này Theo các nghiên cứu lịch sử, nguồn gốc của truyện tranh có thể bắt nguồn từ những hình vẽ sơ khai trong hang động cách đây 20.000 năm, cùng với các hình ảnh mang chữ tượng hình trong các lăng mộ Ai Cập cổ đại Những bức vẽ trong hang động Lascaux là những câu chuyện đầu tiên của nhân loại, trong khi các hình ảnh trong lăng mộ Neferronpet và các bức phù điêu tại đền thờ Parthenon đã mô tả các vị thần và sự tôn vinh vua chúa Bức tranh Adam và Chúa trời trên trần nhà tu viện Sistin Chapel cũng được coi là biểu hiện cổ xưa nhất của truyện tranh, trong khi tác phẩm Đám cưới của William Hogarth năm 1745 là một minh họa hiện đại gần gũi với truyện tranh ngày nay.

Hình ảnh trên Kim Tự Tháp Ai Cập và các mộ Trung Hoa có thể được coi là khởi nguồn của truyện tranh, khác với hội họa hay điêu khắc.

GVHD: TS Hà Thanh Vân, SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo, cho rằng sự có mặt của ngôn ngữ tượng hình cổ trong các hình vẽ đã trình bày những diễn biến tự sự Sự khác biệt trong nguyên lý nghệ thuật biểu hiện như tính tự sự, chuyển động và liên kết giữa các hình vẽ củng cố niềm tin rằng truyện tranh là một loại hình văn học, không phải hội họa hay hình thức nghệ thuật khác.

Truyện tranh hiện đại bắt đầu hình thành vào năm 1825 khi nhà giáo Rodolphe Topffer sáng tác những câu chuyện có minh họa cho học sinh, như "Những chuyến đi quanh co" và "Ông lão Mộc" Đến năm 1865, W.Busch xuất bản truyện tranh đầu tiên về hai nhân vật nghịch ngợm Max và Moritz, đánh dấu sự phát triển của một thể loại văn học mới Tuy nhiên, mốc quan trọng cho sự ra đời của truyện tranh hiện đại là năm 1896, khi những lời đối thoại lần đầu tiên được ghi vào các vòng tròn, tạo nên hình thức "bong bóng" mà ngày nay chúng ta vẫn thấy trong các tác phẩm truyện tranh.

Sự xuất hiện của truyện tranh trong xã hội hiện đại không phải là điều ngẫu nhiên, mà là kết quả của một quá trình phát triển liên tục trong lịch sử nghệ thuật nhân loại.

1.2.2.2 Lịch sử truyện tranh Việt Nam

Truyện tranh Việt Nam, mặc dù phát triển muộn hơn so với các quốc gia khác, đã trải qua một quá trình hình thành và định hình độc đáo Lịch sử của truyện tranh thế giới cũng đã ảnh hưởng đến sự phát triển của thể loại này tại Việt Nam, góp phần tạo ra những thành tựu đáng ghi nhận trong ngành công nghiệp truyện tranh.

Truyện tranh Việt Nam không có nhiều dữ liệu cụ thể về quá trình hình thành và phát triển so với truyện tranh thế giới, và ra đời muộn hơn so với các quốc gia có lịch sử truyện tranh lâu dài Do đó, việc phân chia các giai đoạn phát triển của truyện tranh Việt chỉ mang tính tương đối.

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Việt Nam hiện đại có thể chia thành 2 giai đoạn chính: giai đoạn 1986 – 1990 và giai đoạn từ 1990 đến nay

Hiện tại, chưa có tài liệu cụ thể nghiên cứu về sự ra đời và phát triển của truyện tranh Việt Nam Tuy nhiên, nền công nghiệp truyện tranh ở Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ xu hướng phát triển toàn cầu Mặc dù sự phát triển này diễn ra muộn, nhưng Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Giai đoạn từ 1986 đến 1990 được xem là thời kỳ đỉnh cao rực rỡ của truyện tranh nội địa.

Truyện tranh tại Việt Nam đang ngày càng đa dạng với nhiều thể loại như lịch sử, cổ tích, dân gian, trinh thám và ngụ ngôn nước ngoài Số lượng phát hành truyện tranh đã đạt từ 1.100 đến 1.500 bản, thậm chí có những tác phẩm lên tới 80.000 – 150.000 bản Một ví dụ điển hình cho sự thành công này là bản truyện "Tướng quân họ Đoàn" của Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, với tranh minh họa của Nguyễn Hữu Thụ và lời kể của Đoàn Bích Ngọc.

Sự gia tăng nhanh chóng của các ấn bản truyện tranh đã dẫn đến việc nhiều nhà xuất bản ra đời trên khắp Việt Nam, với những cái tên quen thuộc như Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Trẻ, và Nhà xuất bản Măng non Thành phố Hồ Chí Minh Dù chất liệu giấy in ban đầu chủ yếu là giấy xấu và chỉ in hai màu đen trắng, nhưng truyện tranh vẫn thu hút được đông đảo độc giả, cho thấy sức hấp dẫn mạnh mẽ của thể loại này trong lòng người đọc thời kỳ đó.

Sự phát triển mạnh mẽ của các nhà xuất bản truyện tranh đã kéo theo sự gia tăng đáng kể số lượng họa sĩ vẽ tranh cho truyện, trong đó nổi bật là những tên tuổi như Mai Long, Ngô Mạnh Lân, Tạ Thúc Bình và Tạ Lựu Các họa sĩ này được xem là những tài năng xuất sắc trong ngành công nghiệp truyện tranh.

GVHD: TS Hà Thanh Vân, SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo, là những người có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực vẽ truyện tranh, với một kho tàng tác phẩm đồ sộ Họ đã để lại dấu ấn sâu đậm qua các tác phẩm truyện cổ tích và thần thoại.

Giai đoạn sau năm 1990 đánh dấu sự tiếp tục phát triển của truyện tranh Việt Nam, mặc dù không sôi nổi như giai đoạn 1986-1990 Trong thời kỳ này, nhiều bộ truyện vẫn thu hút được sự quan tâm của độc giả, nổi bật là "Dũng sĩ Hesman" của họa sĩ Hùng Lân, được phóng tác từ truyện tranh nước ngoài.

Bộ Siêu nhân Việt Nam, được thực hiện bởi nhóm tác giả Dương Thiên Vương và Trương Hùng Lân, mang phong cách của Dũng sĩ Hesman Ngoài ra, các tác phẩm như Dế mèn phiêu lưu ký của Nhà xuất bản Kim Đồng và họa sĩ Tạ Huy Long, cùng truyện của Tô Hoài, cũng nổi bật trong thời kỳ này Hùng Lân, với sự tâm huyết dành cho truyện tranh Việt Nam, đã liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm ý nghĩa.

Tiên Xanh, Vó Ngựa Sài Gòn, Thằng Bờm, Người đầu tiên lên mặt trăng

Truyện tranh đã trở thành một phần quan trọng trong thị trường sách cho thanh thiếu niên Việt Nam, nhờ vào những nét vẽ tinh xảo và nội dung hiện đại, gần gũi Trước năm 2003, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất bản khoảng 4.000 đầu truyện tranh, với 3.000 bản in cho mỗi đầu truyện Tuy nhiên, chỉ trong tám tháng đầu năm 2003, con số này đã tăng vọt lên 13.000 đầu truyện, cho thấy sức hút mạnh mẽ và sự phát triển nhanh chóng của thể loại này.

Nội dung cơ bản của truyện tranh

Nhà phê bình văn học Nga Bielinski đã từng nói rằng “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”, cho thấy cuộc sống là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn và nhà thơ Truyện tranh, giống như thơ và văn chương, cũng bắt nguồn từ cuộc sống, và nếu thiếu hơi thở của thực tế, chúng sẽ trở nên vô vị và xa rời độc giả Đối với trẻ em, truyện tranh mở ra những bức tranh rực rỡ về thế giới, với nội dung đa dạng và phong phú Hình ảnh của thế giới cổ tích lung linh và kỳ diệu, như cô Tấm, nàng Lọ Lem hay cô bé quàng khăn đỏ, là những câu chuyện phổ biến nhất trong thể loại này.

Sọ Dừa là câu chuyện giàu ý nghĩa, khắc sâu vào tâm trí trẻ nhỏ, thể hiện niềm tin rằng những người hiền lành sẽ gặp điều tốt, trong khi kẻ ác sẽ nhận quả báo Nó cũng phản ánh ước mơ về hạnh phúc và cuộc sống ấm no của những người nghèo khổ, đồng thời mở ra cho các em những chân trời mới đầy hy vọng và tươi sáng.

Hình ảnh về một hành tinh kỳ lạ với những nhân vật mới mẻ và siêu nhiên được thể hiện một cách sống động và hấp dẫn Những tác phẩm nổi bật như “Hai vạn dặm dưới biển”, “Bảy viên ngọc rồng”, và “Dũng sĩ Hesman” mang đến cho người đọc những trải nghiệm thú vị và độc đáo.

GVHD: TS Hà Thanh Vân, SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo, đã giới thiệu đến các em những cuốn truyện tranh "Nhân Việt Nam", mang đến cho các em một thế giới mới đầy thú vị Những câu chuyện phiêu lưu và khám phá trong các cuốn truyện này không chỉ kích thích trí tưởng tượng mà còn tạo nền tảng cho sự sáng tạo của các em trong hành trình hướng tới tương lai tươi đẹp.

Những câu chuyện về cuộc sống hàng ngày không chỉ gợi mở trí tưởng tượng và óc sáng tạo cho trẻ em, mà còn tạo ra sự gần gũi và quen thuộc với các bé Các tác giả đã đặc biệt chú trọng đến việc khai thác những nhân vật như Tít, Mít, Tí, Sửu, Nobita, giúp chúng trở thành những hình ảnh gắn liền với tuổi thơ của nhiều trẻ em Những cái tên này vẫn in sâu trong kí ức của các em, ngay cả khi lớn lên.

Cuộc sống mang đến nhiều nguồn cảm hứng sáng tạo cho những cuốn truyện tranh hấp dẫn, thu hút độc giả nhí Mỗi tác phẩm sẽ để lại dấu ấn riêng nhờ vào cách chọn lựa và truyền tải độc đáo Do đó, việc khám phá những đề tài mới, phương pháp thể hiện sáng tạo và nội dung phong phú sẽ giúp truyện tranh trở nên gần gũi hơn với trẻ em.

Truyện tranh ngày nay không chỉ đáp ứng nhu cầu của trẻ em với nội dung mới lạ và sinh động, mà còn hướng tới việc cung cấp chất lượng cho thanh thiếu niên và người lớn Đối tượng độc giả này thường quan tâm đến các vấn đề xã hội như tình yêu, tình bạn, gia đình và công việc Nhiều tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí bạn đọc.

Thần đồng đất Việt, Học sinh chân kinh, Doremon, Nữ hoàng Ai Cập, Shin cậu bé bút chì và Conan là những tác phẩm nổi bật trong văn hóa truyện tranh Việt Nam Bên cạnh đó, việc chuyển thể các tác phẩm văn học nổi tiếng như Hai vạn dặm dưới biển, Giông tố, Tắt đèn và Chí Phèo thành truyện tranh mang tính giáo dục cũng rất phổ biến, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa đọc và giáo dục cho thế hệ trẻ.

Chiếc lược ngà… đã đến với độc giả trong sự tương tác giữa những thể loại văn học với nhau vì sự phát triển của nghệ thuật

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Đối với các đối tượng độc giả khác nhau, nhu cầu đọc và thị hiếu cũng khác nhau, do đó, việc lựa chọn đề tài và nội dung phù hợp là rất quan trọng để tạo ra những tác phẩm truyện tranh vừa mới lạ, gần gũi, mang tính giải trí và giáo dục Sự tìm tòi và sáng tạo trong việc phản ánh các vấn đề cuộc sống, cùng với nhạy cảm của người nghệ sĩ, sẽ đóng vai trò thiết yếu trong việc ra đời những ấn phẩm truyện tranh xuất sắc.

Nhân vật trong truyện tranh

Truyện tranh, giống như các tác phẩm văn học khác, tập trung vào cuộc sống con người, với nhân vật là yếu tố trung tâm Mặc dù các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội và thiên nhiên có thể làm phong phú thêm nội dung, nhưng chất lượng của một tác phẩm truyện tranh chủ yếu phụ thuộc vào việc xây dựng nhân vật Những số phận, tình cảm và cảm xúc của con người được thể hiện qua các nhân vật sẽ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Do đó, nhân vật không chỉ quan trọng trong truyện tranh mà còn trong tất cả các tác phẩm văn học, góp phần tạo nên dấu ấn riêng của mỗi tác phẩm nghệ thuật.

Nhân vật trong truyện tranh có thể được coi là những con người hoặc sự vật mang cốt cách con người, được xây dựng bằng các phương tiện nghệ thuật ngôn từ và hình vẽ.

Nhân vật trong truyện tranh không chỉ khái quát những tính cách và hiện thực cuộc sống, mà còn phản ánh quan niệm của tác giả về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, tác giả nhằm liên kết chúng với các vấn đề mà mình muốn truyền tải trong tác phẩm.

GVHD: TS Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo

Khi phân tích nhân vật trong tác phẩm, cần không chỉ xác định tính cách mà còn hiểu rõ những vấn đề hiện thực và quan niệm của tác giả mà nhân vật thể hiện Nhân vật chính thường gắn liền với các vấn đề xã hội, như Trạng Tí, người có tài đức nhưng thường bị kẻ gian hãm hại trong con đường giúp nước Cô Tiên Xanh, từ truyện cùng tên, là hình mẫu của người mẹ hiền, luôn sẵn sàng đưa ra lời khuyên cho trẻ em trong lúc khó khăn Ngoài ra, nhiều nhân vật cổ tích phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, cũng như những ước mơ tốt đẹp của con người.

Nhân vật trong văn học không chỉ phản ánh tính cách và hiện thực cuộc sống, mà còn thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Trong quá trình mô tả, tác giả lựa chọn những chi tiết cần thiết để bộc lộ quan niệm của mình về con người và cuộc sống Do đó, cần phân biệt giữa nhân vật văn học và con người thực tế Khi phân tích nhân vật, việc so sánh có thể hữu ích, nhưng cần nhớ rằng nhân vật là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề của hiện thực.

Nhân vật truyện tranh là một hiện tượng đa dạng với những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Chúng có thể được phân thành hai loại: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Nhân vật chính diện đại diện cho lực lượng chính nghĩa, cái thiện và sự tiến bộ trong xã hội, như cô tiên xanh giúp đỡ trẻ em, Trạng Quỳnh thông minh và hài hước, Nobita tốt bụng mặc dù vụng về, hay Sherlock Holmes tài năng trong phán đoán Ngược lại, nhân vật phản diện đại diện cho lực lượng phi nghĩa, thể hiện cái ác và sự cản trở sự phát triển.

GVHD: TS Hà Thanh Vân, SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo, đã chỉ ra rằng những nhân vật như Tào Hống, Tào Phi và Vương Thừa tướng đại diện cho những thế lực ác độc và phản động cần bị lên án Sự phân biệt giữa chính diện và phản diện trong tác phẩm chỉ mang tính tương đối, vì vậy khi nghiên cứu các nhân vật, cần xem xét khuynh hướng chủ đạo cũng như các phẩm chất thẩm mỹ khác của họ.

Đôi nét về bộ truyện tranh Thần đồng đất Việt

THẦN ĐỒNG ĐẤT VIỆT- BỨC TRANH LỊCH SỬ VIỆT NAM CHÂN THỰC VÀ SINH ĐỘNG

THẦN ĐỒNG ĐẤT VIỆT– SỰ TỰ HÀO VỀ NỀN VĂN HÓA VIỆT

Ngày đăng: 07/07/2021, 21:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty Phan Thị, Lê Linh (2002), Thần đồng đất Việt (từ tập 1 đến tập 22), NXB. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị, Lê Linh
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2002
2. Công ty Phan Thị, Lê Linh (2003), Thần đồng đất Việt (từ tập 23 đến tập 47), NXB. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị, Lê Linh
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2003
3. Công ty Phan Thị, Lê Linh (2004), Thần đồng đất Việt (từ tập 48 đến tập 67), NXB. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị, Lê Linh
Nhà XB: NXB. Trẻ
Năm: 2004
4. Công ty Phan Thị (2005), Thần đồng đất Việt (từ tập 68 đến 78), NXB. Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2005
5. Công ty Phan Thị (2006), Thần đồng đất Việt (từ tập 79 đến 86), NXB. Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006
6. Công ty Phan Thị (2007), Thần đồng đất Việt (từ tập 87 đến 99), NXB. Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2007
7. Công ty Phan Thị (2008), Thần đồng đất Việt (từ tập 100 đến 111), NXB. Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2008
8. Công ty Phan Thị (2009), Thần đồng đất Việt (từ tập 112 đến tập 120), NXB. Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2009
9. Công ty Phan Thị (2010), Thần đồng đất Việt (từ tập 121 đến 129), NXB. Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2010
10. Công ty Phan Thị (2011), Thần đồng đất Việt (từ tập 130 đến tập 141), NXB. Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Thời Đại
Năm: 2011
11. Công ty Phan Thị (2012), Thần đồng đất Việt (từ tập 142 đến tập 154), NXB. Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Thời Đại
Năm: 2012
12. Công ty Phan Thị (2013), Thần đồng đất Việt (từ tập 155 đến tập 166), NXB. ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. ĐHSP TP HCM
Năm: 2013
13. Công ty Phan Thị (2014), Thần đồng đất Việt (từ tập 167 đến tập 172), NXB. Dân Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần đồng đất Việt
Tác giả: Công ty Phan Thị
Nhà XB: NXB. Dân Trí
Năm: 2014
14. Chu Xuân Diên (1995), Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu, NXB. ĐHTH TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXB. ĐHTH TP. HCM
Năm: 1995
15. Chương Thâu (2013), Truyện tranh lịch sử Việt Nam, NXB. Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện tranh lịch sử Việt Nam
Tác giả: Chương Thâu
Nhà XB: NXB. Văn hóa Thông tin
Năm: 2013
16. Đinh Xuân Dũng (2012), Mấy vấn đề sáng tạo văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay, Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề sáng tạo văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 2012
17. Hoàng Phê (2009), Từ điển tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB. Đà Nẵng
Năm: 2009
18. Lại Văn Hùng, Bùi Duy Tân (2007), Lê Thánh Tông về tác gia và tác phẩm, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thánh Tông về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lại Văn Hùng, Bùi Duy Tân
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2007
19. Nguyễn Nam (1999), Văn hóa nghệ thuật thế kỉ XX, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nghệ thuật thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Nam
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
20. Nguyễn Như Ý, Chu Huy (2011), Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam, NXB. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Ý, Chu Huy
Nhà XB: NXB. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w