1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn Đề Gia Đình Và Xã Hội Nam Bộ Trong Tác Phẩm Của Hồ Biểu Chánh

91 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Được sự đồng ý của khoa Ngữ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

-o0o -

Bình Dương, tháng 4 năm 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

-o0o -

Bình Dương, tháng 4 năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè

Được sự đồng ý của khoa Ngữ văn trường Đại học Thủ Dầu Một và Thầy

hướng dẫn Ths Lê Sỹ Đồng, em đã thực hiện đề tài “Vấn đề gia đình và xã hội Nam

Bộ trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh”

Để hoàn thành khóa luận này, em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thầy Lê Sỹ Đồng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp

Em xin cảm ơn các Thầy Cô ở trường Đại học Thủ Dầu Một đã truyền đạt kiến thức cho em trong bốn năm học qua Những kiến thức mà em nhận được trên giảng đường đại học sẽ là hành trang giúp em vững bước trong tương lai

Mặc dù em đã cố gắng thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Trong quá trình làm khóa luận, em khó tránh khỏi những sai sót Em rất mong quý Thầy Cô bỏ qua

Cuối cùng, em kính chúc quý Thầy Cô được nhiều sức khỏe và thành công trong sự nghiệp giáo dục

Xin chân thành cảm ơn

Tống Thanh Thương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác

Sinh viên

Tống Thanh Thương

Trang 5

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cấu trúc của khóa luận 5

Chương 1: Đôi nét về hoàn cảnh lịch sử (1900- 1945), tình hình văn học và nhà văn Hồ Biểu Chánh 12

1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội (1900 – 1945) 12

1.2 Sơ lược về tình hình văn học (1900 – 1945) 17

1.3 Nhà văn Hồ Biểu Chánh 27

1.4 Tiểu kết 32

Chương 2: Vấn đề gia đình trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh34 2.1 Vấn đề trong gia đình quyền thế 34

2.1.1 Vấn đề hôn nhân 34

2.1.2 Vấn đề thừa kế 41

2.2 Vấn đề trong gia đình nghèo khó 44

2.2.1 Trọng kim tiền 44

2.2.2 Đem con ở mướn 49

2.3 Tiểu kết 54

Chương 3: Vấn đề xã hội trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh 56 3.1 Các tệ nạn xã hội 56

3.1.1 Tệ nạn do hiện thực cuộc sống 56

3.1.2Tệ nạn do hủ tục, mê tín 62

Trang 6

3.2 Số phận con người trong mối quan hệ giai cấp 65

3.2.1Cuộc sống của tầng lớp quý tộc 65

3.2.2Cuộc sống của tầng lớp cần lao 70

3.3 Tiểu kết 74

Kết luận 77

Danh mục tài liệu tham khảo và tƣ liệu khảo sát 0

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học hiện thực giúp người đọc có cái nhìn chân thực và sống động hơn về lịch sử, xã hội và con người Điều này đã giúp văn học nghệ thuật tách ra khỏi tình trạng văn - sử - triết bất phân trước đây Nếu lịch sử chỉ kể lại cả quá trình lịch sử,

xã hội của Việt Nam từ khi khai sinh đến hiện tại một cách khách quan thì các tác phẩm văn học chỉ ghi lại một khoảng thời gian nhất định, một “lát cắt” của xã hội Điều đặc biệt là, văn học phản ánh toàn bộ hiện thực cuộc sống một cách sống động, cụ thể nhất dưới góc nhìn của nhà văn Chẳng hạn như cùng viết về nạn đói

năm 1945 ở Việt Nam nhưng lịch sử ghi lại “Nạn đói năm Ất Dậu là một thảm họa

nhân đạo xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.” [66]; còn

văn học tả “những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt

bồng bế, dắt díu nhau lê xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không một buổi sáng nào người trong làng đi chợ,

đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” [8; 24] Như vậy, lịch sử

chỉ giúp người đọc có thông tin qua những con số khách quan, chính xác về nạn đói năm 1945, còn văn học giúp người đọc có cái nhìn cụ thể, chân thực và giàu hình ảnh về con người, xã hội lúc bấy giờ Chỉ bằng một “lát cắt” cuộc sống, một hoàn cảnh điển hình, một nhân vật điển hình, nhà văn đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh

xã hội đương thời Không chỉ viết về các giai đoạn lịch sử, văn học còn phản ánh đời sống vật chất, tình cảm, các vấn đề tiêu cực trong gia đình và xã hội… Tác dụng của văn học khác với sử học ở chỗ, văn học tuy chỉ tái hiện một khía cạnh nhỏ của cuộc sống nhưng qua khía cạnh ấy, người đọc có những suy ngẫm, những cảm xúc riêng Văn học không những cung cấp cho con người tri thức mà còn xây dựng cho con người những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ thông qua những câu chuyện về gia đình và xã hội Do vậy, việc tìm hiểu những vấn đề tồn tại trong gia đình và xã hội

Trang 8

trong một tác phẩm là một điều cần thiết khi nghiên cứu một tác phẩm Qua đó, người đọc có cách nhìn, suy nghĩ và hành động tốt hơn trong các mối quan hệ xung quanh

Hồ Biểu Chánh là nhà văn lớn của Nam Bộ đầu thế kỉ XX Tác phẩm của ông không chỉ có chức năng giải trí, chức năng giá dục mà nó còn tái hiện được các giai đoạn lịch sử, xã hội, phong tục, cuộc sống con người… Hồ Biểu Chánh đã phác hoạ nên bức tranh hiện thực cuộc sống xã hội và gia đình của người dân Nam Bộ thế kỉ XX

Chúng tôi chọn nhà văn Hồ Biểu Chánh để nghiên cứu với hai lí do Thứ nhất, Hồ Biểu Chánh là nhà văn chúng tôi yêu mến và muốn tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời cũng như tác phẩm của ông Thứ hai, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đề cập rất nhiều vấn đề trong gia đình và ngoài xã hội ở Nam Bộ giai đoạn giao thời Những tác phẩm ấy cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Đọc tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, ta thấy ông đề cập đến mọi tầng lớp: từ

anh tá điền, điền chủ trong Cha con nghĩa nặng, Thầy thông ngôn, hương chức hội

tề trong Tiền bạc, bạc tiền, những người nông dân nghèo trong Cay đắng mùi đời, đến trẻ bán báo trong Lạc đường, gái điếm trong Thầy Chung trúng số, chúa tàu biển trong Chúa tàu Kim Quy….Không những thế, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh còn phản ánh những mối quan hệ trong gia đình như Mẹ ghẻ con ghẻ, các quan niệm trong gia đình như môn đăng hộ đối trong Sống thác với tình, tục “nôm” trong

Tỉnh mộng, hay người phụ nữ phải sinh con trai để nối dõi trong Nợ đời… Hồ Biểu

Chánh là nhà văn đi nhiều nơi, ông có hiểu biết sâu rộng về phong tục, tập quán, lịch sử, địa lí và con người nên nó giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu và tìm hiểu về những vấn đề tồn tại gia đình và xã hội trong giai đoạn đầu thế kỉ XX

Tất cả những lí do trên đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài Vấn đề gia đình và xã hội Nam Bộ trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh Khi đề tài

này thực hiện thành công, nó không chỉ giúp cho sinh viên khoa Ngữ văn, trường Đại học Thủ Dầu Một có cái nhìn sâu sắc hơn về các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh,

Trang 9

mà còn góp thêm một nguồn tài liệu tốt cho sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn khi học học phần văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1900 – 1945

2 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

 Đưa một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh đến gần bạn đọc

 Giúp người đọc thấy được bối cảnh xã hội ở Nam Bộ vào thế kỉ XX

 Thấy được những mặt hạn chế tồn tại trong gia đình và xã hội trong giai đoạn giao thời

 Trau dồi, giáo dục tình cảm, đạo đức của con người trong tất cả các mối quan hệ

 Làm tài liệu tham khảo cho bộ môn Ngữ văn ở trường THPT

 Làm tài liệu cho sinh viên Khoa Văn trong hai học phần văn học Việt Nam hiện đại và cơ sở văn hoá Việt Nam

Tóm lại, chúng tôi thực hiện đề tài với mục tiêu hướng đến hoạt động học tập

và nghiên cứu Đề tài Vấn đề gia đình và xã hội Nam Bộ trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh sẽ giúp cho người đọc thấy được những vấn đề còn tồn tại

trong xã hội giai đoạn giao thời Bên cạnh đó, đề tài giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn và những ứng xử phù hợp với những chuẩn mực đạo đức và văn hoá xã hội Đồng thời, nó sẽ gợi mở thêm nhiều đề tài cho người học trong quá trình chọn

đề tài làm nghiên cứu khoa học về nhà văn Hồ Biểu Chánh và tác phẩm của ông

3.2 Đối tƣợng

Với tên đề tài của khóa luận, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu chính là những vấn đề về gia đình và xã hội Nam Bộ trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Do thời gian có hạn và theo yêu cầu, tính chất của khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chọn khảo sát các tác phẩm sau của Hồ Biểu Chánh:

 Ai làm được

 Ăn theo thuở ở theo thời

 Bỏ chồng

 Cay đắng mùi đời

 Cha con nghĩa nặng

Trang 11

4 Lịch sử vấn đề

2.1 Về tác giả Hồ Biểu Chánh

Khi nói đến công lao của Hồ Biểu Chánh đối với nền văn học Việt, có rất nhiều bài bình luận, nghiên cứu về ông Theo Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn

Khuê và Trần Khuê, thì Hồ Biểu Chánh là “một trong số những tiểu thuyết gia tiên

phong của Nam Kì, là cây bút văn xuôi sung sức bậc nhất và cách tân nhất ở giai đoạn 1913 - 1930, ông đã có công đưa tiểu thuyết mới từ tình trạng phôi thai tiến

lên giai đoạn thành lập và thịnh hành.” [41; 440] Trong thời kì văn xuôi quốc ngữ

mới ra đời vào đầu thế kỉ XX, khi Việt Nam còn bỡ ngỡ với dòng chữ quốc ngữ thì

Hồ Biểu Chánh là người đã can đảm, tiên phong mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Ông đã ra sức tạo dựng và bồi đắp cho nền tiểu thuyết, đưa nó đến gần hơn với người đọc Đó cũng chính là công lao to lớn mà Hồ Biểu Chánh đã

đóng góp cho nền văn học Việt Cùng quan điểm này, Nguyễn Huệ Chi viết: “Ông

bước vào văn đàn giữa lúc truyện ngắn, truyện dài bằng tiếng Việt hết sức vắng vẻ

Và bằng năng khiếu sáng tác nhanh nhạy, sự mẫn cảm với việc phơi bày bộ mặt phức tạp của xã hội mà mình đang sống, ông sớm giành địa vị đáng kể trong số những cây bút tiểu thuyết ít ỏi ở miền Nam thuở bấy giờ” [10; 312] Chính sự can

đảm, bản lĩnh, dám trải nghiệm và lòng yêu nghề đã làm nên thành công của Hồ Biểu Chánh không chỉ trong thời điểm ông sống mà đến ngày nay vẫn thế Bên cạnh

đó, Hoài Anh, Thành Nguyên và Hồ Sĩ Hiệp nhận xét về các sáng tác của Hồ Biểu

Chánh như sau: “Về tiểu thuyết Nam Bộ 1922 - 1945, phải nói đến tiểu thuyết của

Trang 12

Hồ Biểu Chánh vì không những chiếm số lượng nhiều nhất (1922 - 1943, 41 cuốn tiểu thuyết) mà nội dung cũng vượt nhiều tác giả cùng thời” [72] Điều này chứng

tỏ, Hồ Biểu Chánh và những tác phẩm của ông có sức ảnh hưởng rất lớn đối với người đọc Không những hơn những tác giả cùng thời về số lượng tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh còn có những cái nhìn tiến bộ về nội dung trong tiểu thuyết của mình

Đó cũng chính là lí do giải thích vì sao “ông là nhà văn Nam Bộ nổi tiếng khắp toàn

quốc và là nhà tiểu thuyết Nam Bộ duy nhất được giới thiệu trong bộ sách phê bình văn học Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan” [72]

Để có một số lượng tiểu thuyết nhiều như vậy, Hồ Biểu Chánh đã phải làm việc siêng năng chăm chỉ với niềm đam mê sáng tác của mình Sự siêng năng của

ông được Tạp chí văn – TP HCM, số 38 ghi lại như sau: “Hồ Biểu Chánh làm công

chức, mới về hưu hôm trước thì ngày hôm sau đã kê một cái bàn giấy ở nhà mình tại Vĩnh Hội để… viết văn, mỗi ngày hai buổi, y như khi còn làm công chức, không

bỏ phí một ngày nào” [72] Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh là một con người lạc quan,

trầm tĩnh Ông “có bệnh đau tim rất nặng, người ông ốm yếu gầy gò, nhưng lúc nào

cũng vui vẻ, thung dung, không gấp, không hoãn” [72] Do những đức tính cao quý

và đáng trân trọng ấy, nhân dân cả nước đã xây dựng một con đường mang tên Hồ Biểu Chánh ở Phú Nhuận để tưởng nhớ về ông

2.2 Về nội dung tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

Trên đây là những nhận định ý kiến về tác giả, còn về mặt nội dung tác phẩm, cũng có rất nhiều đọc giả, nhà phê bình, nhà văn… đưa ra nhận xét, ý kiến của mình

về những tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh Phan Cự Đệ đã chỉ ra ưu điểm nổi

bật nhất trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là “trực tiếp tố cáo những thủ đoạn bóc

lột của bọn địa chủ, áp bức của địa chủ” [14; 30] và “tố cáo những hành động

thương luân bại lý, những thủ đoạn dâm ô tàn bạo của bọn chúng” [14; 31] Đó

cũng chính là hiện thực trong xã hội bấy giờ Xã hội với những mốt Tây - Tàu - Ta lẫn lộn, xã hội bị chi phối bởi đồng tiền Lời nhận xét này đã chứng tỏ Phan Cự Đệ

đã tìm hiểu rất kĩ những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Qua đó thể hiện sức hút của nội dung tác phẩm là rất lớn Bên cạnh nhận ra được tác giả muốn tố cáo xã hội

Trang 13

đương thời, Phan Cự Đệ còn thấy được Hồ Biểu Chánh “một mặt đề cao đạo đức

nhân nghĩa của quần chúng, một mặt Hồ Biểu Chánh xót xa trước cảnh khốn cùng của họ trong xã hội cũ” [14; 31] Như vậy, Phan Đệ Cự đang chú ý đến tính đạo

đức trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh Đề cập về đạo đức, có rất nhiều nhận xét về vấn đề này trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Chẳng hạn như, Trần

Văn Giàu viết: “Sách Hồ Biểu Chánh được nhân dân tán thưởng Lẽ cố nhiên cái

tán thưởng có nhiều lí do, không những tại văn ông khá, hay tại ở chỗ cái văn chương không phải là văn Cái văn không văn đó mới hay Hay ở chỗ nói lại những tiếng nói của dân, cái tấm lòng của dân, còn hay ở chỗ đạo đức, luân lý” [34; 100]

Nguyễn Lộc lại khẳng định chức năng giáo dục trong các tác phẩm của Hồ Biểu

Chánh chính là cải tạo xã hội thông qua nhận xét: “Điều Hồ Biểu Chánh quan tâm

sâu xa và thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình là: làm thế nào cho xã hội có được phong hoá lành mạnh Vốn là người bản chất nhân hậu, ông chưa bao giờ đứng về phía cái mới để đả kích cái cũ, hay ngược lại đứng về phía cái cũ để đả kích cái mới Thái độ của ông là tìm cách dung hoà giữa cái mới và cái cũ Theo ông, cái mới và cái cũ đều có những ưu điểm riêng của nó” [28; 72]

Đó là lời nhận xét về đạo đức trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, với Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng và Nguyễn Công Bình thì các ông có cái nhìn so sánh

tác phẩm của Hồ Biểu Chánh như “một cuốn phim xã hội Nam Kì giữa hai cuộc

chiến thế giới Một thứ sách tiểu thuyết bách khoa ghi chép vô số những điều có thực mà người đời sau cần biết Giá trị tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chính là ở chỗ này” [17; 240] Ở đây, các tác giả muốn hướng người đọc đến cái nhìn về hiện

thực của các tác phẩm Những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đề cập đến mọi vấn

đề, mọi lĩnh vực lịch sử, địa lí, văn hoá… Nguyễn Ngọc Thạch lại có cái nhìn cụ thể

hơn về tính hiện thực trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh Ông viết “Trên nửa thế kỷ

trước, Hồ Biểu Chánh đã phác họa được bức tranh hiện thực về kiếp sống người bần nông dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, ở một vùng đồng bằng sông Cửu Long Hồ Biểu Chánh đã dựng lại cảnh sống vất vả, cực nhọc đói cơm, rách áo, bị

đàn áp nhục mạ của người nông dân nghèo” [34; 96 - 97] Như vậy, các nhà

Trang 14

nghiên cứu từ trước đến nay, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các nhận định

về tính giáo dục, tính đạo đức và tính hiện thực, đã chú ý đến những vấn đề gia đình

và xã trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

2.3 Về nghệ thuật trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

Không chỉ nội dung, mà nghệ thuật trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh cũng được những nhà quan tâm chú ý đến Vũ Ngọc Phan đã có cái nhìn so sánh về nghệ

thuật của Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh như sau: “Tiểu thuyết của họ

Hoàng chuyên về tả tình và giọng văn có nhiều chổ uỷ mị, cầu kì, không tự nhiên Còn tiểu thuyết của họ Hồ chuyên về tả việc và lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều chỗ như nói thường” [31; 336] Có đọc tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh mới thấy hết cái

hay trong việc miêu tả của ông Câu văn của ông không cầu kì, không trau chuốt Hình ảnh trong sáng tác của ông hiện lên như những gì vốn có trong thực tế giản dị

và đời thường Đó là cái hay trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh Cùng quan điểm này, Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam cũng có những nhận xét tương tự như thế Với

Bình Nguyên Lộc, “văn Hồ Biểu Chánh không văn vẻ nhưng hay vì đã viết theo ý

nghĩ của một người thường” [17; 241] Còn với Sơn Nam, ông cho rằng “cái hay của Hồ Biểu Chánh là ở chỗ “văn chương quê mùa”, “văn chương không văn chương”” [17; 241] Nguyễn Q Thắng đã có những nhận xét như sau“đây là một bức tranh hiện thực đa dạng giúp bạn đọc toàn quốc thấy rõ bộ mặt của xã hội

“miệt vườn” Nam Bộ Đó là tính cách đa dạng, phong phú không những về mặt chất lượng mà nghệ thuật, ngôn từ, tình cảm tâm lí của mỗi nhân vật trong tác phẩm của ông” [72] Rõ ràng, Nguyễn Q Thắng đã nhận ra được sự kết hợp nội

dung và nghệ thuật trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh Nghệ thuật “văn chương

không văn chương” đã làm nên thành công của tác phẩm Nó truyền tải được tính

hiện thực một cách cụ thể và rõ ràng nhất Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thu hút người đọc, một phần là do nghệ thuật ngôn từ giản dị và đời thường của nhà văn

Cách để Hồ Biểu Chánh miêu tả thành công như vậy là nhờ vào “bí quyết về kỹ

thuật” của ông Đó là “dẫn câu chuyện từ nông thôn ra thành thị, hoặc ngược lại

Trang 15

Người nông thôn muốn biết việc thành thị còn người thị dân hiếu kì muốn biết qua hình ảnh đời sống nông thôn” [72]

Bên cạnh những nhận định, nhận xét tiêu biểu của các độc giả, nhà văn, những người thích tìm hiểu về Hồ Biểu Chánh, chúng tôi còn khảo sát được những công trình, đề tài nghiên cứu về nhà văn Hồ Biểu Chánh và những tác phẩm của ông

Chẳng hạn như Tống Văn Chính có bài nghiên cứu về Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Biểu

Chánh Đề tài nghiên cứu về “những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” [39] Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả “cung cấp cho chúng ta những kiến thức về con người Hồ Biểu Chánh; về hình ảnh xã hội Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX; chỉ ra những nét truyền thống và cách tân trong nghệ thuật Từ đó cho phép chúng ta hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về tác giả cũng như những sáng tác giá trị của ông” [61] Tuy nhiên, do phạm vi đề tài rộng, Tống Văn

Chính chỉ đề cập một cách khái quát và chung chung về tình hình xã hội, kinh tế, văn hoá… cũng như những đặc điểm nghệ thuật trong những tác phẩm của nhà văn

Hồ Biểu Chánh

Khác với Tống Văn Chính , Phạm Thị Minh Hà tập trung khai thác những nét

văn hoá riêng của Nam Bộ trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh với đề tài Dấu

ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Với đề tài này tác giả đã “cố gắng làm rõ chất Nam Bộ – một trong những nguyên nhân làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” [62] Cũng nghiên cứu theo hướng văn hoá, Lê Thị

Thanh Tâm có đề tài nghiên cứu Văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của Hồ Biểu

Chánh Có thể thấy, hướng nghiên cứu về văn hoá trong tác phẩm của Hồ Biểu

Chánh được rất nhiều sự quan tâm, chú ý của người đọc

Đi theo hướng nghiên cứu khác, Đoàn Thị Trúc Ly nghiên cứu với đề tài Vấn

đề phóng tác trong tiểu thuyết cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh Mục đích

nghiên cứu của đề tài này là “xác định yếu tố tiếp biến, chuyển đổi cũng như quan

niệm phóng tác và tư duy nghệ thuật của nhà văn Hồ Biểu Chánh” [64] Đây là một

hướng nghiên cứu hay, giúp người xem hiểu thêm về tác giả cũng như về tác phẩm

Trang 16

Nguyễn Thị Lành lại muốn “khẳng định vai trò và vị trí của Hồ Biểu Chánh

trong chặng đầu của quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX” [63]

qua đề tài Vị trí của Hồ Biểu Chánh trong văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỉ

XX Với đề tài này, tác giả cung cấp cho người đọc những thông tin về cảm hứng

chủ đạo cũng như nghệ thuật trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

Nghệ thuật trong những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của người nghiên cứu Lê Thị Nhân đã nghiên cứu về thành ngữ

với đề tài Thành ngữ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh Với đề tài này, tác giả cho

người đọc thấy được vai trò của thành ngữ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Một

số tác giả khác như: Nguyễn Thị Bé Thơ nghiên cứu Vấn đề trần thuật trong tiểu

thuyết Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Thị Bích Vân với đề tài Đặc trưng nghệ thuật kể chuyện của Hồ Biểu Chánh…

Qua những ý kiến, nhận định và những công trình nghiên cứu khảo sát được,

có thể thấy, Hồ Biểu Chánh và những tác phẩm của ông rất được yêu mến Hầu hết các vần đề đều được nghiên cứu và tìm hiểu Tuy nhiên, chúng tôi chưa khảo sát

được công trình nghiên cứu nào toàn vẹn và đầy đủ về đề tài Vấn đề gia đình và xã

hội Nam Bộ trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh Chúng tôi hy vọng có thể

giúp người đọc thấy được những vấn đề tồn tại trong xã hội đương thời dưới cái nhìn của Hồ Biểu Chánh

5 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì nội dung chính được chia thành 3 chương sau:

Chương 1: Đôi nét về hoàn cảnh lịch sử (1900 – 1945), tình hình văn học và nhà văn Hồ Biểu Chánh

Trang 17

Chương 2: Vấn đề gia đình trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh

2.1 Vấn đề trong gia đình quyền thế

3.2 Số phận con người trong mối quan hệ giai cấp

3.2.1 Cuộc sống của tầng lớp quý tộc

3.2.2 Cuộc sống của tầng lớp cần lao

3.3 Tiểu kết

Kết luận

Trang 18

CHƯƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ (1900- 1945)

TÌNH HÌNH VĂN HỌC VÀ NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH 1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội (1900 – 1945)

1.1.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội từ 1900 - 1930

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là một trong những nước phải chịu thiệt hại nhiều nhất trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự và xã hội Sau

chiến tranh, Pháp phải trả một giá đắt với “1.364.000 người bị giết, 740.000 người

bị thương” [40; 25] Bên cạnh con số khổng lồ về người chết, những thiệt hại về vật

chất của Pháp vô cùng lớn “ước tính vào năm 1918, tại Pháp có 550.000 ngôi nhà

bị hỏng, 5.500 km đường sắt, 53.000 km đường bộ, 20.000 nhà máy bị phá huỷ hoặc

là phải bồi thường, 300.000 ha đất trồng trọt bị tàn phá, 2.500.000 đầu gia súc bị giết hay thất lạc” [40; 26] Có thể thấy, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp chịu

thiệt hại rất lớn, tình hình trong nước vô cùng rối ren và khó khăn về mọi phương diện Điều này buộc Pháp phải đề ra những phương pháp giải quyết khó khăn Để khắc phục tình trạng của đất nước đương thời, thực dân Pháp đã thực hiện hai chính sách: một là, nước Pháp tăng cường bóc lột nhân dân trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế; hai là, chính phủ Pháp đặt ra một chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn

Trong công cuộc khai thác thuộc địa, Pháp hướng sự chú ý và Thái Bình Dương và coi Đông Dương như một “bàn đạp” lợi thế nhất Tình hình Đông Dương hiện tại rất thuận lợi cho việc phục hồi kinh tế, chính trị cho Pháp Từ đó, thực dân Pháp nhắm vào Việt Nam Ở Việt Nam, sau khi phong trào Cần Vương thất bại, sức kháng cự, chiến đấu chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam suy yếu Do đó, không bao lâu, Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam Dân tộc Việt phải sống trong hai tầng xiềng xích: thực dân và phong kiến

Thế là, thực dân Pháp tiến vào Việt Nam với lí do “…nước Pháp sẽ mở rộng

sự bảo hộ của mình bằng sức mạnh vật chất và phẩm cách, nước Pháp sẽ đem lại cho Đông Dương nền an ninh và hạnh phúc, một nền pháp lí công minh, sẽ phát triển giáo dục và bảo vệ sức khoẻ, sẽ gắn họ theo cấp bậc trong một sự hợp tác tự

Trang 19

do vì quyền lợi chung với trách nhiệm tập thể của việc quản lí đó…” [40; 47] Thực

dân Pháp dùng những lời lẽ hoa mĩ, những từ ngữ “ngọt ngào”, những lí do để đặt

chân lên đất nước Việt Nam Nhưng tất cả những lời nói ấy “chỉ là cái mẹo để củng

cố nền đô hộ thuộc địa” [40; 50] Để khai thác được nhiều, thực dân Pháp tiến hành

những chính sách thuế vô cùng nặng nề Tất cả các mặt hàng, cơ sở vật chất đều được đánh thuế cao Người dân Việt Nam vô cùng khốn khó và khổ sở với hàng trăm thứ thuế Các thuế môn bài, đường, cầu cống, thuốc phiện rượu, muối, thuế

ruộng đất, thuế thân… làm cho người dân vô cùng túng quẫn “Tính bình quân mỗi

người dân Việt Nam không phân biệt nam nữ, lớn bé, phải đóng 8 đồng tiền thuế/người (tương đương với 70 kg gạo ngon nhất lúc đó)” [21; 19] Thực dân Pháp

và xã hội phong kiến xưa chèn ép người nông dân vào con đường cùng Thuế thân

là một thứ thuế vô cùng tàn bạo và mất nhân tính Thậm chí, người chết cũng phải nộp thuế Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn thực hiện những chính sách khác như: bán hàng hoá, khai thác tài nguyên thiên nhiên đem về Pháp và cho vay lãi Tất cả các ngành công nghiệp chỉ được phát triển trong một giới hạn cho phép và chủ yếu cung cấp cho Pháp

Hành động của thực dân Pháp khiến xã hội của Việt Nam phân hoá sâu sắc Ở nông thôn, người dân lao động nghèo bị bóc lột sức lao động Nông dân bị bọn địa chủ tước đoạt ruộng đất, bị chèn ép vô cùng nặng nề Quan chức, hội đồng cậy quyền cậy thế cướp bóc, lộng hành, cho vay cắt cổ… Xã hội phân hoá giàu nghèo

vô cùng sâu sắc Ở thành thị, “những con buôn chạy việc cung cấp thức ăn, vật

dụng cho trại lính, chạy việc mua hàng bán hàng, những thông ngôn kí lục giúp

việc giao thiệp, giấy tờ, me Tây, những ông thầu khoán…” [16; 12] Những người ở

nông thôn bị tước đoạt ruộng đất dắt díu nhau lên thành thị Một số người trở thành công nhân trong nhà máy, số còn lại trở thành vú em, con sen, gái điếm, lưu manh, lừa đảo… Tầng lớp tiểu tư sản, những người nông dân nghèo chiếm đa số trong xã hội lúc bấy giờ Các tầng lớp này xuất hiện nhiều và khá đầy đủ trong các sáng tác

của Hồ Biểu Chánh Chẳng hạn như cô Hai Phục trong Nợ đời, cô hai Cần Giuộc trong Lời thề trước miễu là những thành phần buôn phấn bán hương, tá điền Trần

Trang 20

Văn Sửu trong Cha con nghĩa nặng, thầy thông ngôn Trần Văn Phong trong Thầy

thông ngôn…

Có thể thấy, “Dưới tác động của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam chuyển mình

một cách đau đớn, nhục nhã sang hướng tư sản, một hướng tư sản kém lành mạnh nhất, què quặt nhất, để lại những hậu quả tai hại nhất, nhưng điều đó cũng lôi kéo các mặt khác phát triển; thay đổi bộ mặt thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế, dần dần quy tụ nông thôn quanh thành thị, thay đổi kết cấu xã hội, làm mất thế lực nhiều lực lượng bảo thủ trì trệ, tạo điều kiện cho cái mới – sau khi đã thay

da đổi thịt, biến hoá có điều kiện từ thành thị toả về nông thôn, chi phối sự phát triển theo các kiểu xã hội hiện đại.”[16;14]

1.1.2 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội từ 1930 – 1945

Lịch sử Việt Nam trong những năm 1930 – 1945 là một chặng đường dài Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng nặng đến Việt Nam dưới hình thức bóc lột của Pháp

Năm 1929, cuộc khủng hoảnh kinh tế thế giới diễn ra nghiêm trọng và sâu

sắc… Kinh tế thế giới trên đà tuột dốc nhanh “Về công nghiệp: hàng chục vạn xí

nghiệp bị phá sản, sản lượng công của toàn bộ thế giới giảm trung bình 25% Năm

1932, sản lượng công nghiệp Mĩ chỉ còn 53,8% so với 1929; ở Anh còn 83,8%; ở Đức còn 59,8%; ở Pháp còn 69,1% [3; 157] Có thể thấy, cuộc khủng hoảng thế

giới ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đối với các nước tư bản trên thế giới Không những công nghiệp, nền nông nghiệp trên thế giới cũng giảm đến mức đáng kể

Ruộng đất đều bị bỏ hoang, giá của nông sản hạ xuống mức thấp “Từ tháng 10 –

1929 đến năm 1933, giá hàng hoá trên thế giới hạ xuống 1/3, giá nguyên liệu chỉ còn một nửa, 21% thương thuyền không hoạt động” [21; 80] Những ảnh hưởng của

cuộc khủng hoảng kinh tế lấn sang lĩnh vực chính trị Mâu thuẫn giai cấp tăng cao Những cuộc biểu tình, bạo động, đòi việc làm, đòi tăng lương… diễn ra liên miên Bên cạnh đó, chế độ độc tài, phát xít, quân phiệt được thiết lập Trên thế giới, tình hình kinh tế, xã hội trở nên rối loạn

Trang 21

Trước tình hình đó, Pháp chịu ảnh hưởng không nhỏ Tất cả các lĩnh vực kinh

tế, chính trị, xã hội đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng “Trong thời gian khủng hoảng,

sản lượng công nghiệp của Pháp giảm 1/3, nông nghiệp giảm 2/5, ngoại thương giảm 3/5 Thu nhập quốc dân giảm 1/3” [21; 82] Không những thế, ngân sách của

Pháp cũng thâm thủng nặng nề Năm 1933, “ngân sách Pháp thâm hụt 10 tỉ

phơrăng vàng” [21; 82] Tình trạng phát xít nổi dậy, bạo động, biểu tình cũng xảy

ra liên tục trên đất Pháp

Để khắc phục hiện trạng, thực dân Pháp lại tiến hành bóc lột tàn bạo lên giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong nước và đặc biệt chúng tiến hành những công cuộc khai thác cạn kiệt về sức người và sức của ở các nước thuộc địa trong đó

có Việt Nam Tất cả các thứ thuế đều bị tăng giá Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn đặt thêm nhiều thứ thuế mới để vơ vét nhiều hơn Tình hình nông nghiệp ở Việt

Nam ngày càng suy sút “Năm 1929, giá một tạ gạo hơn 11,58 đồng, năm 1933 còn

3,3 đồng Ruộng đất bị bỏ hoang, năm 1930 diện tích đất bị bỏ hoang là 200.000

ha, năm 1933 đến 500.000 ha” [21; 84] Người nông dân phải bỏ xứ lên thành phố

kiếm việc làm Tuy nhiên, những công nhân của thành phố đều bị thất nghiệp hoặc

bị cắt giảm lương Tình hình xã hội ở Việt Nam lúc bấy giờ cũng hỗn độn, rối ren

“Mấy năm gần đây, kinh tế khủng hoảng cứ kéo dài mãi, nhiều nhà máy bị đóng cửa, hàng ngàn thợ thuyền bị thất nghiệp, bị đuổi ra khỏi chỗ làm, không có cơm

ăn, áo mặc, nhà ở, mà không có một xu trợ cấp nào hết” [15; 123] Có thể thấy,

dưới hình thức bóc lột của thực dân Pháp, Việt Nam chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế vô cùng nghiêm trọng Không có việc làm là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội Tình trạng trộm cắp, cướp giật, nghiện ngập… xảy ra ngày

càng nhiều Với những người có việc làm, họ “bị đế quốc và tư bản bản xứ đối đãi

một cách hết sức dã man, tàn nhẫn Giờ làm việc tăng và bắt thợ làm nỗ lực thêm

mà tiền công lại bớt đến hai phần ba” [15; 123] Không những thế Pháp còn mở

đường cho Nhật vào chiếm đóng Việt Nam Như chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát

biểu “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn

Trang 22

cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật” [25; 9]

Vào ngày 28/7/1941, Nhật đặt chân lên đất Sài Gòn Dưới danh nghĩa Đông Dương là thuộc địa của Pháp, quân Nhật đã dẫn 125.000 quân vào Đông Dương vào năm 1941 Từ đây, Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”, vô cùng khốn khổ Người dân Việt Nam không những phải chịu sự chèn ép của thực dân Pháp mà còn phải chịu sự áp bức, bóc lột của quân Nhật Phát xít Nhật bắt nhân dân phải nhổ lúa, ngô để trồng đay, thầu dầu phục vụ cho chiến tranh của chúng Cuộc sống của

nhân dân Việt Nam càng khốn khó và cùng cực Cuối năm “1944 đầu năm 1945, có

gần 2 triệu đồng bào ta chết đói” [7; 104]

Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn bày ra những hoạt động nhằm “ru ngủ” và

đánh lạc hướng thanh niên Pháp“tổ chức thi sắc đẹp và gây phong trào chợ phiên”

[16; 309] Họ còn mở tiệm nhảy đầm, tiệm hút,… để làm suy nhược nòi giống Việt Nam Những vấn đề này cũng xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh Cô Hai Phục nổi tiếng Lục tỉnh nhờ một cuộc thi nhan sắc, quan phủ

hút á phiện và uống rượu sâm banh trong Nợ đời, tình trạng bài bạc cũng xuất hiện

nhiều và phổ biến Trong một bữa đám giỗ, thầy giáo Phát thấy một cảnh tượng khó

coi “thầy thấy trong nhà khách khứa đông, lại có một sòng thiên cửu đánh tại bàn

và một sòng bài tứ sắc đánh trên ván.” [51; 41] Cờ bạc làm suy thoái nhân cách,

đạo đức của con người Vậy mà, mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đều vướng phải Không kể đến những người thất học, những bậc thanh niên trí thức

cũng sa đoạ vào chốn đỏ đen: “mấy thầy giáo, thầy kí, thầy dây thép cũng áp theo

hai sòng bài ấy, người thì coi tứ sắc, kẻ coi thiên cửu” [51; 41]… Có thể thấy, xã

hội Việt Nam đang trên đà suy thoái

Trước sự suy thoái ấy, một tia sáng hy vọng cho lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ

đã xuất hiện Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập khi hợp nhất

ba tổ chức cộng sản Từ đây, Việt Nam ánh lên một niềm hy vọng cho công cuộc giành lại đất nước Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo quần chúng nhân dân giành lại chủ quyền cho dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt

Trang 23

Nam dần dần giành thắng lợi trên các mặt trận, và đỉnh cao là cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 Cách mạng tháng Tám là một công cuộc vĩ đại có ý nghĩa vô cùng

quan trọng đối với nhân dân Việt Nam và thế giới Nó đã “lật đổ ách thống trị của

thực dân Pháp đè nặng lên đất nước ta trên 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị trên đất nước ta ngót chục thế kỉ”

[21; 197] Bên cạnh đó, cuộc thắng lợi này đã mở ra cho dân tộc một kỉ nguyên của độc lập, tự do Nhân dân lao động lần đầu tiên được nắm chính quyền, làm chủ đất nước và vận mệnh dân tộc

Nhìn chung, hoàn cảnh lịch sử, tình hình kinh tế, xã hội tác động nhiều đến nội dung, tư tưởng sáng tác của Hồ Biểu Chánh Từ thực trạng trước mắt, Hồ Biểu Chánh chỉ ra những vấn đề tồn tại trong gia đình và xã hội Nam Bộ Trong hôn

nhân gia đình, nam nữ muốn cưới nhau phải môn đăng hội đối (Sống thác với tình,

Cười gượng,…) hay vì gia tài, những người thân hãm hại nhau (Cay đắng mùi đời, Nhân tình ấm lạnh, …), Trong xã hội, Hồ Biểu Chánh nhìn nhận “đời này không phải là đời đạo đức hay đời nhơn nghĩa gì đâu Đời này là đời danh lợi, kim tiền, từ lớn chí nhỏ, từ sang chí hèn, thảy đều tranh đua với nhau mà làm cho có tiền, không kể cách làm đó hiẹp nhơn nghĩa hay là không hiệp Hễ có tiền rồi lo mua cái danh, không cần xét cái danh ấy trong hay đục” [51; 46] Các tệ nạn xã hội như

rượu chè, thuốc phiện, gái điếm… đều xuất hiện trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

1.2 Sơ lƣợc về tình hình văn học (1900 – 1945)

1.2.1 Văn học giai đoạn 1900 - 1930

Bên cạnh sự thay đổi về chính trị, xã hội, tình hình văn học cũng có nhiều sự thay đổi Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nền văn học Việt dần dần chịu ảnh hưởng của văn học Pháp Một số nhân vật mới xuất hiện trong thơ văn đương thời

Đó là hình ảnh của các tầng lớp trí thức Tây học, các tầng lớp thị dân, cò – mi, thầu khoáng, thông ngôn, quan Tây… Chẳng hạn như ông quan Tây xuất hiện trong trang văn của Sơn Tùng với những hành động tàn ác, áp bức những người nghèo khổ:

Trang 24

“Ông Tây áp trước

Cậu lính áp sau

Roi quất vùi đầu

Thân phu đài coi rẻ” [37; 103]

Đặc biệt những tầng lớp mới xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm của nhà văn

Hồ Biểu Chánh Hình ảnh chúa tàu biển xuất hiện trong Chúa tàu Kim Quy, ông thầu khoáng trong tác phẩm Nợ đời, thầy thông trong tác phẩm Thầy thông ngôn… Bên cạnh đó, lần đầu tiên trong lịch sử “chữ quốc ngữ đã thay thế chữ Hán,

chữ Nôm trong nhiều lĩnh vực, từ hành chính công vụ đến văn chương nghệ thuật”

[8; 83] Loại chữ này ra đời vào thế kỉ XVII Người có công nhiều nhất trong việc hình thành chữ quốc ngữ chính là Alexandre de Rhodes thông qua công trình tự điển Việt - Bồ - La và hệ thống hoá cách ghi âm tiếng việt bằng mẫu chữ La tinh

Sự ra đời của chữ quốc ngữ ảnh hưởng rất nhiều đến văn học “Ngôn ngữ văn học

bớt hẳn tính ước lệ, cách điệu mà gần với đời sống, có khả năng diễn tả nhiều trạng thái tinh tế và phức tạp của nội tâm cùng những bức tranh sinh hoạt và xã hội, phong tục nhiều màu vẻ” [4; 20] Trong thời kì này, khi cả nước còn bợ ngợ với chữ

quốc ngữ, Hồ Biểu Chánh đã tiên phong mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Có thể nói, Hồ Biểu Chánh là người có công lớn khi đã đưa tiểu thuyết và chữ quốc ngữ đến gần với nhân dân

Nhìn chung, văn học giai đoạn 1900 – 1930 có tính “giao thời” Văn học giai đoạn này giao giữa nền văn học cũ và nền văn học mới Nền văn học cũ là nền văn chương bác học và bình dân Với văn chương bác học, nhà Nho xưa phải chịu sự gò

bó, khắt khe từ nội dung đến hình thức Nội dung văn chương đương thời bị bó hẹp trong khuôn khổ vua – tôi, trung trinh, tiết hạnh hoặc phải ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi người tài tử, chí làm trai… Quan niệm của Phan Bội Châu về chí làm trai được thể hiện qua hai câu:

“Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp,

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu!” [5; 146]

Trang 25

Tuy bị giam nhưng Phan Bội Châu vẫn hiên ngang, kiên cường, bất khuất Chí làm trai, tình yêu với quê hương đất nước cũng là một trong những nội dung trong nền văn chương cũ

Qua đó, có thể thấy, thơ văn xưa buộc người viết phải theo một nội dung có sẵn Bên cạnh đó người viết còn phải tuân theo các quy luật về hình thức Văn chương giai đoạn cũ đa phần đều được viết bằng thơ Luật thơ trong gia đoạn này

vô cùng nghiêm ngặt Nhà nho phải tuân theo thể thơ, luật bằng trắc, đối… Do đó,

những bài thơ xưa thường ít tự nhiên, nội dung lại “hạn chế sự sáng tạo của cá

nhân” [16; 19] Càng về sau, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, dòng văn

chương bác học cũng có sự thay đổi ít nhiều Một số nhà nho lên án thực dân Pháp cướp nước, triều đình bán nước cho giặc Họ còn lên án những người hèn nhát

không dám bảo vệ đất nước Một số nhà nho khác cũng “cố gắng sáng tác cả thể

loại mới, truyện ngắn, tuồng chèo, ca khúc, là những thể loại các cụ không thích,

không quen biết” [16; 28] Cũng có một số nhà nho ra thành phố sinh nhai bằng

nghề viết văn Tản Đà Nguyễn Khắc Hiểu cũng bày tỏ tình cảnh của mình qua những câu thơ:

“Văn chương hạ giới rẻ như bèo

Kiếm được đồng lãi thực rất khó” [13; 152]

Hay hình ảnh ông đồ trong thơ của Vũ Đình Liên cũng cho thấy sự mai một dần của chữ Nho:

“Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay” [6; 9]

Trang 26

Bên cạnh văn chương bác học còn có văn học bình dân Văn chương bình dân xuất phát từ việc lao động sản xuất, những cuộc hội hè trong đời sống sinh hoạt của nhân dân Đó là những câu chuyện kể, những bài vè, những câu đối, hò… giản dị, mộc mạc của người dân nông thôn Nhưng khi thực dân Pháp đặt chân vào Việt Nam với những cuộc tàn sát, đất nước xảy ra chiến tranh, những cuộc hội hè dần ít lại Người nông dân không còn tâm trạng thanh bình, vui vẻ để làm ra những bài vè, câu hát, những bài dân ca Một số người nông dân bị cướp đoạt ruộng đất phải ra thành thị sinh sống Họ thường hay kể về cuộc đời mình, những tâm tư, tình cảm của mình qua những bài vè

Thời đại thay đổi, đời sống xã hội thay đổi, nhu cầu về văn chương cũng đổi khác Độc giả đòi hỏi những tác phẩm văn học phải có những cách tân cả về hình thức lẫn nội dung Với nhịp sống sôi động, con người thành thị trở nên độc lập Họ đòi hỏi văn chương có cái nhìn thực tế và mang tính cá nhân Bên cạnh đó, những tác phẩm phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến tâm lí của những tầng lớp thanh niên đương thời khiến họ muốn có một nền văn học mới Đó chính là lí do Việt Nam xuất hiện thêm một nền văn học – văn học thị dân So với nền văn học cũ, văn học thị dân phổ biến hơn, đáp ứng được nhu cầu của nhiều tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là những người dân ở thành thị

Nền văn học mới không ép người viết phải gò bó trong một nội dung nhất định, cũng không buộc người ta phải viết theo những quy định khắt khe về hình thức Bên cạnh, sự phát triển về đề tài, nội dung, tư tưởng, các thể loại mới cũng dần dần xuất hiện Nếu văn học cũ có các thể loại chủ yếu như: diễn ca lịch sử, thơ Đường, hát nói, văn tế… thì nền văn học mới xuất hiện các thể loại như: thơ, truyện dịch, báo chí, truyện ngắn, kịch bản sân khấu, nghiên cứu, phê bình, nghị luận… Một trong những tác phẩm đâu tiên của thể loại này phải kể đến Nguyễn

Trọng Quản với tác phẩm Thầy Lazarô Phiền viết năm 1887 Tiếp nối đến giai đoạn

1900 - 1930 phải kể đến hai nhà văn Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh Với

Hoàng Ngọc Phách, tiểu thuyết Tố Tâm của ông “đã gây được tiếng vang lớn trong

công chúng từ Bắc chí Nam lúc ấy được coi là một cái mốc quan trọng trong sự

Trang 27

hình thành của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” [4; 16] Với Hồ Biểu Chánh, ông là

cây bút tiêu biểu nhất ở Nam Bộ trong giai đoạn này Hàng loạt các tác phẩm của ông đề cập đến các vấn đề đang tồn tại trong xã hội đương thời Nó miêu tả một cách chân thực đời sống và con người Nam Bộ Bên cạnh đó Hồ Biểu Chánh còn sử dụng ngôn ngữ gần với tiếng nói hằng ngày mang đặc điểm của người dân Nam Bộ Cũng chính trong xã hội thành thị này, nền văn học cũ và văn học mới xảy ra

sự tranh chấp Những nhà văn, nhà thơ theo nền văn học cũ thì cho rằng nền văn học mới đi ngược lại với thuần phong mĩ tục, bộc lộ tình cảm táo bạo và trái với đạo đức người Việt… Những người theo nền văn học mới lại cho rằng nền văn học cũ

đã lỗi thời và cần cách tân cho hợp thời đại Nhìn chung, văn học Việt Nam trong những năm 1900 – 1930 chưa có đủ những yêu cầu để trở thành một dòng văn học

chân chính “Một mặt, nhà nho không hiện đại hóa được dòng văn học yêu nước

trong tay họ, cách tân nhưng phải dừng lại Mặt khác, nhà văn ở thành thị cũng không cách mạng hoá được dòng văn học trong tay họ để thành văn học chân chính dân tộc Họ giành được công chúng thành thị nhưng dừng lại ở đó, không về được nông thôn” [16; 34]

Có thể thấy, văn học Việt Nam từ năm 1900 - 1930 là một nền văn học mang tính chất giao thời Nó tồn tại đan xen giữa hai nền văn học cũ và mới Mặt khác,

văn học giai đoạn này “qua đóng góp của hơn hai thế hệ viết từ Nho học sang nửa

Nho học, nửa Tây học đã có thể thực hiện xong những chuẩn bị cơ bản cho bước ngoặt sau 1930 – đưa tất cả các phương diện của đời sống văn học vào quỹ đạo và

mô hình hiện đại” [22; 32]

1.2.2 Văn học giai đoạn 1930 - 1945

Những chuyển biến về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá đã hình thành ba dòng văn học ở Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Đó là văn học hiện thực phê phán, văn học cách mạng và văn học lãng mạn Các tầng lớp thanh thiếu niên bỏ bê các cuộc cách mạng, chấn hưng kinh tế… Họ ngày đêm sa vào các cuộc ăn chơi, các buổi chợ phiên, các cuộc thi sắc đẹp trụy lạc hư hỏng… Bọn thực dân còn sử dụng thuốc phiện, cần sa để đầu độc thanh niên Việt Nam Bên cạnh đó, thực dân Pháp

Trang 28

còn tiến hành đàn áp lực lượng cách mạng ta Tất cả những điều đó là nguyên nhân cho sự xuất hiện một dòng văn học mới – văn học hiện thực phê phán Các nhà văn

tiến bộ như Ngô Tất Tô, Nguyên Hồng, Nam Cao… đã sử dụng “chủ nghĩa hiện

thực phê phán như vũ khí chiến đấu” [16; 344]

Trên lĩnh vực truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan là người đầu tiên khẳng định phương pháp hiện thực phê phán Hàng loạt các tác phẩm của ông mang nội dung

phê phán như: Ngựa người, người ngựa (1934), Kép Tư Bền (1935), Đào kép mới (1936), Sáu mạng người (1938)…Truyện ngắn Chiếc quan tài của ông được nhận xét như sau: “Câu chuyện về chiếc quan tài lênh đênh trên dòng nước lụt thật ám

ảnh, day dứt, gợi lên kiếp sống thê thảm của người dân cày; sống đã điêu đứng vất

vả vì đói khát, chết cũng không có chỗ mà chôn, đành chịu gió dập, sóng vùi ” [24;

134] Có thể thấy, những tập truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trong giai đoạn

này đã nói lên hiện thực thực cuộc sống của người dân nghèo khổ lúc bấy giờ Đồng thời nhà văn còn phê phán những tầng lớp thống trị, những kẻ cướp nước và bán nước đã đẩy người nông dân vào cuộc sống lầm than

Bên cạnh truyện ngắn còn có những lĩnh vực tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng đã dùng ngòi bút của mình phê phán xã hội đầy u nhọt qua những

cuốn tiểu thuyết Giống tố, Vỡ đê và Số đỏ Phóng sự Tập án cái đình (1939) của

Ngô Tất Tố cũng gây được tiếng vang lớn trong dòng văn học hiện thực phê phán lúc bấy giờ Bên cạnh đó, trong giai đoạn này còn xuất hiện hàng loạt những tác giả khác như: Nguyên Hồng, Lan Khai, Tô Hoài, Kim Lân, Nam Cao… Nguyễn Duy

Tờ nhận xét “chưa bao giờ cái “cửa sau” của xã hội Việt Nam lại được đưa vào

văn học, nhất là tiểu thuyết và phóng sự, vừa đậm đặc, vừa sâu sắc đến thế” [36;

125] Nó hiện lên cụ thể và sâu sắc đến nỗi “người ta có thể nghe thấy cả thế giới

làng quê Việt Nam cùng cực qua tiếng mõ, tiếng roi, tiếng tù và, tiếng trống, tiếng chó sủa, tiếng thét mắng… của bộ máy thuế khoá truy bức, trấn áp; qua tiếng thóc

vì đói, bị đòn roi của lũ trẻ, tiếng rỉ rên, than thở của người bệnh, tiếng kêu bất lực của người bán con để chạy gạo, lo thuế…” [36; 125]

Trang 29

Tồn tại song song với dòng văn học hiện thực là văn học cách mạng Trong cuộc chiến của nhân dân Việt Nam với bè lũ bán nước và cướp nước, dòng văn học này là vô cùng cần thiết Văn học cách mạng cổ vũ, khích lệ phong trào đấu tranh của nhân tộc Việt Trong giai đoạn này, thơ ca trong tù và thơ ca ngoài nhà tù phát triển mạnh mẽ Nhiều nhà thơ xuất hiện trong giai đoạn này như: Hồ Văn Ninh, Trần Huy Liệu, Phan Trọng Bình, Tố Hữu… Đối với thơ ca ngoài nhà tù, Tố Hữu là một tác giả nổi bật Thơ ca ông luôn đề cao lí tưởng của Đảng Với ông, Đảng là một ánh sáng hy vọng cho Tổ Quốc Khi được đứng vào hàng ngũ của Đảng, ông vui mừng khôn tả:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim” [18; 57]

Tố Hữu không chỉ vui mừng mà ông còn hết lòng vì Đảng, vì nhân dân và vì

tự do cho dân tộc Ông có thể đánh đổi cả mạng sống của mình cho những điều ấy:

“Sống đã vì cách mạng, anh em ta

Chết cũng vì cách mạng, chẳng phiền hà!” [18; 115]

Khi nhắc đến thơ ca trong tù, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tập thơ Nhật kí trong

tù của Hồ Chí Minh Bởi lẽ, tập thơ chứa đựng cả một tinh thần đấu tranh vì tự do

cho Tổ Quốc Đó còn là ý chí sắt thép, vững bền, tinh thần lạc quan niềm tin và niềm hy vọng của người lãnh tụ vĩ đại nói riêng và cả nước nói chung Tuy thân thể đang trong hoàn cảnh bị tù đày nhưng ý chí, nghị lực và tâm hồn lạc quan của Bác

đã khích lệ tinh thần cho dân tộc:

“Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần phải càng cao” [26; 7]

Có thể thấy “thơ ca trong tù đã thể hiện sinh động cuộc đấu tranh phức tạp,

gay go của những người cộng sản luôn thắng địch và kể cả chính mình để giữ vững

Trang 30

lí tưởng sự trong sáng của lương tâm Chính ở đây, nhân sinh quan cộng sản, tính chiến đấu của văn học cách mạng được thể hiện một cách đa dạng và sâu sắc nhất”

[4; 51]

Dòng văn học thứ ba của giai đoạn 1930 – 1945 là dòng văn lãng mạn Trào lưu văn học này xuất hiện vào khoảng những năm 30 của thế kỉ XX Nổi bật là văn xuôi của nhóm Tự lực văn đoàn và thơ ca của phong trào Thơ Mới

Năm 1933, Nguyễn Trường Tam thành lập nhóm Tự lực văn đoàn Ban đầu, thành viên của nhóm chỉ có sáu người là Nguyễn Tường Tam (bút danh Nhất Linh, Bảo Sơn, Đông Sơn, Tân Việt), Nguyễn Tường Long (bút danh Hoàng Đạo, Tứ Ly), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Trần Khánh Giư (bút danh Khái Hưng, Nhị Linh), Hồ Trọng Hiếu (bút danh Tú Mỡ), Nguyễn Thứ Lễ (bút danh Thế Lữ, Lê Ta) Sau này có thêm Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu) và một số nhà văn, nhà thơ khác như: Huy Cận, Trọng Lang, Đoàn Phú Tứ, Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Phạm Cao Củng, Nguyễn Khắc Hiếu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Đinh Hùng, Nguyễn Công Hoan, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Tường Bách… Tự lực văn đoàn được thành lập

với “chủ trương đổi mới văn hóa xã hội theo kiểu Âu Tây; chủ trương hiện đại hóa

văn học và ủng hộ khuynh hướng hiện đại hóa văn học; cổ vũ lối sống phù hợp với tâm lí thanh niên: vui vẻ, trẻ trung, tài hoa son trẻ” [4; 118] Hai cơ quan ngôn luận

lớn của nhóm là tờ báo Ngày Nay và báo Phong Hóa Thời gian tồn tại của Tự lực văn đoàn có thể chia làm 3 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên bắt đầu từ năm 1932 đến

năm 1934 Giai đoạn này có rất nhiều bộ tiểu thuyết lãng mạn như Hồn bướm mơ

tiên, Gánh hàng hoa, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt… Trong đó Hồn bướm mơ tiên

của Khái Hưng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tự lực văn đoàn Tác phẩm đã đề

cập đến sự “mâu thuẫn giữa tình yêu và tôn giáo, đã khẳng định quyền tự do cá

nhân và quyền sống của con người” [4; 120]

Từ đó, hàng loạt các tác phẩm về sau được sáng tác theo những tôn chỉ của

nhóm Chẳng hạn như sau tác phẩm Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Nhất Linh cũng cho ra đời tác phẩm Đoạn tuyệt Tác phẩm này dược báo chí đương thời bình luận: “cuốn Đoạn tuyệt là một vòng hoa tráng lệ đặt trên đầu chủ nghĩa cá nhân

Trang 31

Tác giả đã đường hoàng công nhận sự tiến bộ và hăng hái tín ngưỡng tương lai Ông giúp bạn trẻ vững lòng phấn đấu, nghĩa là vui mà sống” [16; 535] Có thể thấy

những năm đầu thành lập, đa phần các tác giả trong nhóm Tự lực văn đoàn luôn ý thức đấu tranh cho quyền sống, quyền tự do của con người Đồng thời họ cũng lên

án, phê phán những vấn nạn cổ hủ, phong kiến trong xã hội đương thời

Bước sang những năm 1935 đến 1939, bên cạnh khuynh hướng phê phán lễ giáo phong kiến, nhóm Tự lực văn đoàn đã sáng tác theo hai khuynh hướng mới là

“nghiêng về bình dân với sự đồng cảm chân thành” [16; 531] và khuynh hướng lí

tưởng hóa hình ảnh người chinh phu Người lính ra chiến trận với một lý tưởng và một hình ảnh đẹp đẽ, quyến rũ Một số tác phẩm nổi bật trong giai đoạn này như:

Gió đầu mùa, Con trâu, Tiêu Sơn tráng sĩ, Đôi bạn,… Giai đoạn cuối cùng bắt đầu

từ cuối năm 1939 Giai đoạn này là giai đoạn suy tàn của Tự lực văn đoàn Tư tưởng cải cách văn hóa xã hội trong khuôn khổ pháp luật của Tự lực văn đoàn bị phá sản, mọi hoạt động cải cách không còn khả năng thực hiện Báo Ngày Nay bị

đình bản vì bị coi là “tờ báo của bọn phiến loạn” [4; 123] Văn học thời kì này

không còn mang sự vui vẻ, trẻ trung, thay vào đó là tình trạng bế tác, tuyệt vọng của một số thanh niên tri thức lúc bấy giờ Một vài tác phẩm tiêu biểu cho nội dung này

là Đẹp, Bướm trắng và Băn khoăn…

Nhìn chung, tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn đã có công đổi mới và phát triển nền tiểu thuyết Việt Nam Đồng thời, Tự lực văn đoàn đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng tiểu thuyết Việt Nam lên một tầng cao mới Đó cũng là nền tảng cho các nhà tiểu thuyết sau này kế thừa và phát huy những thành tựu đó

Nếu tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách là tiền đề cho sự phát triển

tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn thì những bài thơ của Tản Đà chính là những dấu hiệu “nhen nhóm” cho sự phát triển của phong trào Thơ Mới Thơ Mới được hình thành và phát triển từ năm 1932 đến 1945 Dòng thơ này ra đời trong giai đoạn thực dân nửa phong kiến, các nhà thơ chán ghét thực tại tối tăm, mù mịt của nước nhà

Họ lên tiếng đòi tự do cá nhân, tự do cho dân tộc nhưng lại không đủ dũng cảm để đến với cách mạng

Trang 32

Sự phát triển của phong trào Thơ Mới có thể chia làm ba giai đoạn Giai đoạn

thứ nhất bắt đầu từ năm 1932 đến năm 1935 Tình già của Phan Khôi chính là bài

thơ khởi điểm cho phong trào Thơ Mới Lời bài thơ như những lời bộc bạch, những ước muốn thầm kín của đôi tình nhân già Hai mươi bốn năm về trước, họ không thể đến được với nhau Hai mươi năm sau gặp lại, chỉ biết nhìn nhau:

“Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau

Đôi cái đầu đều bạc Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được

Ôn chuyện cũ mà thôi Liếc đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi.” [2; 181]

Bài thơ này mang hình thức lạ, gần với văn xuôi và không cần tuân theo những bó hẹp về hình thức cũng như nội dung của các bài thơ ở giai đoạn trước Sau Phan Khôi, hàng loạt các nhà Thơ Mới xuất hiện như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên… Giai đoạn này xảy ra cuộc xung đột gay gắt giữa dòng thơ cũ và Thơ Mới Trong khi các nhà thơ cũ như Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ… kịch liệt phản ứng, chống đối phong trào Thơ Mới thì các nhà Thơ Mới lại vận động, kêu gọi thay thổi tư tưởng, thay đổi những quan niệm, tình cảm cũ Mãi đến cuối năm 1935, cuộc xung đột này tạm thời yên ắng với phần thắng nghiêng về phong trào Thơ Mới Những bài thơ của thơ cũ không nói lên được tâm tư, nguyện vọng của những tầng lớp đương thời Trong khi đó, phong trào Thơ Mới ra đời nắm bắt được những tâm tư, nguyện vọng, những đòi hỏi đổi mới trong văn chương Bên cạnh đó, Thơ Mới giải phóng con người khỏi sự ràng buộc bởi những quy luật, nguyên tắc và tư tưởng Thơ Mới nói hộ tiếng lòng của những tầng lớp thanh niên

Trong những năm đầu xuất hiện, Thơ Mới như những dòng nước tuôn trào mãnh liệt Những nhà Thơ Mới như được giải phóng khỏi những nguyên tắc gò bó, ước lệ cổ điển Tuy nhiên, đây là giai đoạn mới hình thành nên những khát vọng, mong muốn còn bộc lộ một cách dè dặt

Giai đoạn thứ hai của phong trào Thơ Mới bắt đầu từ năm 1936 đến năm 1939

Hoài Thanh nhận xét giai đoạn này như sau: “năm 1935, cái năm đại náo trong

làng thơ đi qua Bước sang 1936, sự toàn thắng trong Thơ Mới đã rõ rệt” [38; 26]

Trang 33

Trong giai đoạn này, xuất hiện nhiều nhà thơ khác Như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Anh Thơ…

Bước sang giai đoạn thứ ba (1940 – 1945), trước hoàn cảnh lịch sử và xã hội vai trò của giai cấp tư sản, tiểu tư sản dần dần bị mất đi, bị chèn ép trong xã hội Ngay từ khi khai sinh, Thơ Mới đã khẳng định mình nhưng càng về sau, những nhà Thơ Mới lại càng cảm thấy bơ vơ Họ không tìm được chỗ đứng xứng đáng cho bản thân mình Họ lại muốn chạy trốn khỏi hiện thực cuộc sống Điều này đã đẩy Thơ Mới vào con đường khủng hoảng Huy Cận bộc lộ nỗi bơ vơ, cô đơn của mình:

“Ta đi một mình trên đê nhỏ,

Ta góp chân nhanh cùng bốn gió,

Ta đi mau quá tầm chân người,

Ta gặp hồn ta trong vũ trụ.” [9; 63]

Vũ Hoàng Chương muốn quên đi thực tại, quên đi những buồn đau cuộc sống bằng những cơn say :

“Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bậc ngả nghiêng, cho điên rồ xác thịt!

Rượu, rượu nữa! và quên, quên hết!

Ta quá say rồi

Sắc ngả màu trôi ” [11; 11]

Nhìn chung, Thơ Mới đã có những đóng góp nhất định cho nền văn học Việt

Nam Thơ Mới là sự “tổng hợp giữa lãng mạn và hiện thực, trữ tình và anh hùng

ca, cảm xúc và trí tuệ, dân tộc và hiện đại” [16; 578]

1.3 Nhà văn Hồ Biểu Chánh

1.3.1 Cuộc đời

Hồ Biểu Chánh sinh ngày 1/10/1885, tên thật là Hồ Văn Trung, Biểu Chánh là

tự, lại có bút hiệu là Thứ Tiên Quê ở làng Bình Thành, tỉnh Gò Công

Gia đình của Hồ Biểu Chánh có công lớn đối với làng Bình Thành Nội tổ của ông đã xin tách làng Bình Xuân đề lập làng Bình Thành Cha của ông là Hồ Hữu

Trang 34

Tạo Ông đã giành được hơn 600 mẫu ruộng về cho làng trong cuộc tranh đấu đất ruộng với làng Bình Xuân Hồ Biểu Chánh sinh trưởng trong một gia đình đông con Ông là người con thứ năm trong số mười hai người con Từ nhỏ, Hồ Biểu Chánh đã chịu nhiều thiếu thốn do gia đình nghèo khó Ông bắt đầu học chữ Nho khi được chín tuổi và đến năm mười ba tuổi ông được học chữ Quốc ngữ Năm hai mươi tuổi, ông đỗ hạng nhì bằng thành chung Tuy gia đình nghèo khó nhưng Hồ Biểu Chánh lại được cha mẹ gom góp gạo tiền lo cho đi học Có lần, gần ngày lên trường nhưng nhà không có tiền Cha ông phải đi mượn tiền, mẹ ông phải cầm áo hàng để ông có tiền đi học Năm 1906, Hồ Biểu Chánh đi thi và đậu được bằng kí lục Soái phủ Nam kì Từ đây, ông bắt đầu con đường làm quan Sau đây là một số chức quan và những địa danh Hồ Biểu Chánh đã đến:

- 1906, Hồ Biểu Chánh đậu Ký lục Soái phủ Nam Kì, làm việc tại Dinh Thượng thơ ở Sài Gòn

- 1911, ông bị đổi đi Bạc Liêu

- 1912, ông tình nguyện đi tùng sự ở Cà Mau thay cho một đồng liêu Tám tháng sau, ông tiếp tục đổi đi Long Xuyên

- 1918, ông làm tại Gia Định

- 1920, ông tùng sự tại Văn phòng Thống đốc Nam Kỳ

- 1921, ông đậu Tri huyện

- 1927, Hồ Biểu Chánh được thăng Tri phủ, chủ quận Càng Long (Vĩnh Bình)

- 1932, ông làm chủ Ô Môn ( Cần Thơ)

- 1934, ông lại tiếp tục đổi đi Phụng Hiệp

- 1935, ông đổi về Sài Gòn

- 1936, ông được thăng Đốc phủ sứ

- 4/8/1941, ông làm Nghị viên Hội đồng Liên bang Đông Dương

Trang 35

- 26/8/1941, ông làm Nghị viện Hội đồng thành phố Sài Gòn

- 1942 - 1944, nghị viện Hội đồng Quản trị Sài Gòn Chợ Lớn

- Chevalier de I’Ordre Royal du Dragon de I’Annam (1927)

- Chevalier de I’Ordre Royal du Cambodge (1927)

- Bắc đẩu bội tinh (Chevalier de la Legion d’Honneur (1941)

Cũng trong thời gian này (1906 – 1946), Hồ Biểu Chánh đã thành lập một số

tờ báo, tạp chí như Đại Việt tạp chí (1918), Tribune Indigène và quốc dân diễn đàn Bên cạnh đó, Hồ Biểu Chánh còn làm giám đốc cho hai tờ báo là Nam Kì Tuần Báo

và Đại Việt Tạp Chí

Tuy có thời kì làm quan cho Pháp nhưng Hồ Biểu Chánh luôn giữ tấm lòng

trong sạch, khảng khái Ông quan niệm “tuy là tay sai của quan Pháp, song mình

cứ lấy tấm lòng ngay thẳng, siêng năng mà làm việc, đừng a dua, đừng bợ đỡ, phải thì ở, không phải thì đi, nói oan dám giận, nói bậy dám cãi, thì phận mình khỏi hổ,

mà thiên hạ lại được nhờ nữa” [20; 14]

Đến cuối năm 1946, khi chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Thinh thắt cổ tự tử,

Hồ Biểu Chánh từ giã cuộc đời làm quan và dành trọn thời gian cho việc sáng tác

Hồ Biểu Chánh qua đời vào ngày 4 - 11 - 1958 tại tư thất ở Phú Nhuận Ông được

an táng tại Biểu Chánh an tức viên ở xã Thông Tây Hội, quận Gò Vấp tỉnh Gia Định

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác

Trang 36

Hồ Biểu Chánh bước chân vào con đường sáng tác khi ông còn rất trẻ U tình

lục là quyển truyện dài đầu tay được ông sáng tác năm ông 24 tuổi Đến năm 1912,

ông cho ra đời quyển tiểu thuyết đầu tiên mang tên Ai làm được Trong những năm

về sau, ông liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm với những thể loại khác nhau Ông đã

đề lại cho nền văn học Việt Nam khoảng 64 cuốn tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập kí, 2 tác phẩm dịch, 28 tập khảo cứu và phê bình Bên cạnh đó, ông còn có một số bài diễn thuyết

và bình luận

Có thể thấy, Hồ Biểu Chánh là một cây bút đa tài Ông viết rất nhiều thể loại

từ thơ, truyện ngắn, báo chí, đoản thiên… và nổi bật hơn cả là tiểu thuyết Với số lượng khoảng 64 cuốn tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh đã phác họa nên khung cảnh chân thực và sinh động của xã hội Nam Bộ trong giai đoạn giao thời Đó là xã hội với những bon chen, sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp khắt nghiệt, con người luôn

chạy theo danh vọng, bạc tiền cùng những mốt Tây – Tàu – Ta lẫn lộn… “Qua tác

phẩm của mình, Hồ Biểu Chánh đã mạnh dạn vạch trần những tệ nạn của xã hội đượng thời Để rồi, bằng những tư tưởng nhân văn, bằng ngòi bút đạo lý ông hướng con người vươn tới những điều thiện, lánh xa điều ác” [1; 325]

Hướng sáng tác của Hồ Biểu Chánh chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi ba tác phẩm:

Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Phan Yên ngoại sử của

Trương Duy Toản và đặc biệt là Hoàng Tố Anh hàm oan của của Trần Thiên Trung Qua tác phẩm Hoàng Tố Anh hàm oan, Trần Thiên Trung đã viết một cái kết có hậu

cho Hoàng Tố Anh Sau bao nhiêu khổ sở, sóng gió, Hoàng Tố Anh được minh oan

và có một cuộc sống sung túc, hạnh phúc bên người yêu Lý Hữu Vận Lời văn bình

dị, cốt truyện li kì và kết thúc theo hướng thiện ác đáo đầu chung hữu báo, tác phẩm

Hòang Tố Anh hàm oan đã ảnh hưởng ít nhiều đến tư tưởng sáng tác của nhà văn

Hồ Biểu Chánh Có thể thấy, hầu hết các tác phẩm của ông đều kết thúc có hậu Những người làm việc tốt cuối đời sẽ được sống sung sướng, hạnh phúc còn những người làm việc ác đều bị trừng phạt thích đáng Hồ Biểu Chánh quyết định viết theo

Trang 37

hướng này nhằm mục đích cảm hóa nhân dân, đưa những người phạm phải sai lầm

về với chính nghĩa

Hồ Biểu Chánh còn có một số tác phẩm phóng tác từ những tác phẩm nước

ngoài như Chúa tàu Kim Quy phỏng theo Bá tước Monte Cristo của Alexandre Dumas, Cay đắng mùi đời phỏng theo Không gia đình của Hector Malot, Ngọn cỏ

gió đùa phỏng theo Những người khốn khổ của Victor Hugo… Tuy nhiên, những

tác phẩm do Hồ Biểu Chánh viết đều là hình ảnh về con người, xã hội Nam Bộ Ngôn ngữ trong tác phẩm mộc mạc, đời thường, gắn liền với lời ăn tiếng nói của

con người phương Nam Ví như tác phẩm Cay đắng mùi đời, tuy nó được phỏng theo tiểu thuyết Không gia đình của Hector Malot nhưng Hồ Biểu Chánh đã xây

dựng hệ thống nhân vật mang màu sắc Nam Bộ Bên cạnh đó, hình ảnh của làng quê Nam Bộ xưa cũng được Hồ Biểu Chánh đưa vào tác phẩm của mình Đó là hình ảnh của những cơn mưa dầm giữa tháng năm, những chiếc đò ngoài bến sông hay hình

ảnh của “bóng trăng chói tỏ trời Nam vằng vặc, dòng nước xanh tràn sông trước

minh mông Từ vàm Kỳ Hôn xuống tới mỏm Tam Lạch, trời trời nước nước ê hề trăng gọi, gió đùa, mặt nước lao xao mà lại rạng ngời coi như thể vàng trôi bạc

chảy” [52; 64] Đặc biệt qua nhân vật thầy Đàng, Hồ Biểu Chánh còn làm nổi bật

nét đẹp văn hóa của người Nam Bộ thông qua nghề đờn ca tài tử Có thể thấy, tuy một số tác phẩm được Hồ Biểu Chánh phóng tác từ những tác phẩm nước ngoài nhưng những tác phẩm ấy đều được Hồ Biểu Chánh thay đổi thành câu chuyện của con người và xã hội phương Nam

Mặt khác, do yêu cầu công việc, Hồ Biểu Chánh được đi nhiều nơi nên ông có nhiều kiến thức về lịch sử, địa lí, xã hội từng vùng quê khác nhau Do đó, đề tài của

Hồ Biểu Chánh phong phú, đa dạng và đề cập đến nhiều vấn đề xã hội đương thời Tác phẩm của ông có các nhân vật thuộc tầng lớp khác nhau như trẻ bán báo, ở mướn, thơ thuyền, nông dân, tá điền, điền chủ, những người “buôn phấn bán hương”, chúa tàu biển… Mỗi nhân vật là một cảnh đời, một câu chuyện tạo nên muôn vẻ của đời sống xã hội đương thời Việc đề cập đến nhiều vấn đề trong gia đình và xã hội Nam Bộ đầu thế kỉ XX cũng là lí do một số tác phẩm của Hồ Biểu

Trang 38

Chánh được chuyển thể thành phim Đó là các tác phẩm Ngọn cỏ gió đùa (1989),

Con nhà nghèo (1998), Ân oán nợ đời (2002), Nợ đời (2004), Cay đắng mùi đời

(2007), Tại tôi (2009), Tân Phong nữ sĩ (2009), Tình án (2009), Khóc thầm (2010),

Lòng dạ đàn bà (2011), Ngọn cỏ gió đùa (2013), Lời sám hối (2014), Hai khối tình

(2015), Con nhà giàu (2015)

Khi nói về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Q Thắng nhận

xét rằng: “các nhà phê bình, đa số đều phiền trách về cuộc đời chính trị của đốc

phủ Hồ Văn Trung, nhưng không ai phủ nhận công sức đóng góp văn học của nhà

văn Hồ Biểu Chánh” [39; 325]

1.4 Tiểu kết

Xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX đầy những rối ren và phức tạp Đặc biệt, công cuộc khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert Sarraut ảnh hưởng lớn đến xã hội Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng Xã hội hình thành nhiều tầng lớp, xuất hiện nhiều tệ nạn, những bất công Con người thời kì này cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa nước ngoài, đời sống tình cảm biến chuyển… Trước sự chuyển biến của xã hội, văn học cũng thay đổi Văn học giai đoạn này mang tính chất giao thời Sự xuất hiện của chữ quốc ngữ góp phần thúc đẩy sự ra đời của các dòng văn học Đây là một giai đoạn văn học có một vị trí quan trọng

trong lịch sử văn học Việt Nó “khép lại gần 10 thế kỉ văn học trung đại và mở ra

một hệ hình văn học mới – văn học hiện đại” [4; 33]

Trong thời gian này, văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh ở Nam Bộ và Bắc Bộ

Hồ Biểu Chánh là một tác giả tiêu biểu trong phong trào sáng tác chữ Quốc ngữ ở Nam Bộ Sự thay đổi của xã hội, những vấn đề trong gia đình Nam Bộ đương thời đều được Hồ Biểu Chánh đưa vào tác phẩm của ông Bằng lời văn giản dị, ngôn ngữ đời thường đậm chất Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh đã chỉ ra những mặt hạn chế của

xã hội đương thời để người đọc, người nghe nhận thấy, sửa chữa và khắc phục Tuy

Hồ Biểu Chánh học nhiều chữ Tây, giao tiếp nhiều với văn hóa phương Tây nhưng ông vẫn tôn trọng những tư tưởng truyền thống của dân tộc Những đức tính của Phật Giáo, Đạo giáo và Nho giáo vẫn hiện diện trong tác phẩm của ông Tác phẩm

Trang 39

của ông đều đề cao sự đạo đức, hiếu nghĩa, tiết hạnh, tình thương con người với con người… Những tác phẩm của ông thường kết thúc có hậu, những người làm việc tốt đều gặp điều tốt lành Đây vừa là thành công, vừa là mặt hạn chế của ông Ông cho người đọc niềm tin vào cuộc sống, giúp người đọc làm điều thiện, tránh điều ác Tuy nhiên, đó chỉ là những quan niệm đạo đức và tư tưởng cá nhân của ông Về phương diện ngệ thuật, những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh cũng có một số hạn chế nhất định Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh là người có công đầu trong việc đưa tiểu thuyết từ giai đoạn mới hình thành tiến đến giai đoạn phát triển

Tuy cuộc đời của Hồ Biểu Chánh có giai đoạn làm quan cho thực dân Pháp nhưng cái tài của Hồ Biểu Chánh không ai có thể phủ nhận Ông đã có những đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà Qua ngòi bút của ông, những vấn đề trong gia đình và xã hội Nam Bộ đầu thế kỉ XX được tái hiện một cách chân thực và sinh động Đó cũng là lí do Nguyễn Ngọc Thạch đã có lời nhận xét về Hồ Biểu Chánh:

“Trên nửa thế kỷ trước, Hồ Biểu Chánh đã phác họa được bức tranh hiện thực về kiếp sống người bần cố nông dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, ở một vùng đồng bằng sông Cửu Long Hồ Biểu Chánh đã dựng lại cảnh sống vất vả, cực nhọc đói cơm, rách áo, bị đàn áp nhục mạ của người nông dân nghèo Cũng mới chỉ có một số nét phác họa, giá trị của nó thật đáng trân trọng Hơn ai hết, Hồ Biểu Chánh khắc họa được nhiều khuôn mặt đầy tình nghĩa, giàu nhân ái của tầng lớp nông dân nghèo, tất nhiên cũng trong những chuẩn mực đạo lý đã nói trên” [34;

96]

Trang 40

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG TÁC PHẨM

CỦA NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH 2.1 Vấn đề trong gia đình quyền thế

2.1.1 Vấn đề hôn nhân

Trong những năm đầu thế kỉ XX, xã hội Nam Bộ chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Nếu trước đây, Việt Nam vẫn giữ được những vẻ đẹp truyền thống của nền văn hóa thuần Á Đông thì trong giai đoạn này, Việt Nam đang chịu

sự ảnh hưởng của hai nền văn hóa Đông Tây kết hợp Chính điều này đã phần nào làm thay đổi lối sống của người Việt Bên cạnh những tác động tích cực của văn hóa ngoại lai, thì những cái tiêu cực cũng dần len lỏi vào từng căn nhà, hẻm phố Cuộc sống gia đình dần dần bị rạn nứt do những toan tính về bạc tiền, danh lợi… Trong hôn nhân, vấn đề đầu tiên thường được Hồ Biểu Chánh đề cập là quan

niệm môn đăng hộ đối Trong những gia đình giàu sang, quyền thế, môn đăng hộ

đối luôn là tiêu chí hàng đầu để dựng vợ gả chồng Giàu sang thường đi chung với quyền thế, những gia đình giàu sang luôn muốn gả con gái cho quan lại, thông ngôn, kí lục… Và ngược lại, những bậc quan lại luôn muốn tìm vợ hay con dâu trong những nhà giàu sang, nhiều tài sản Hầu hết, những cuộc hôn nhân trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đều là những cuộc hôn nhân không tình yêu Những bậc làm cha, làm mẹ vì mong muốn con mình sống trong giàu có, sung sướng sẵn sàng gạt bỏ tình yêu của con để ép con lấy người có gia thế, quyền lực Trong tác phẩm

Tiền bạc, bạc tiền, những lời của Đỗ Thị nói lên được phần nào vấn đề môn đăng

hộ đối trong xã hội đương thời Khi nghe Bá Kỳ đề nghị gả Thanh Kiều cho Hiếu

Liêm, Đỗ Thị nói: “dầu có gả cũng để thủng thẳng cho cha mẹ lựa chỗ nào xứng

đáng cho con Thanh Kiều khỏi hèn hạ thân nó, chớ sao con biểu lại gả cho Hiếu Liêm? Má thấy nhà nghèo má sợ lắm” [44; 5] Cũng vì gia đình Hiếu Liêm không

môn đăng hộ đối với gia đình Đỗ Thị nên tình cảm của Hiếu Liêm và Thanh Kiều bị chia cắt Vì những suy nghĩ sai lầm ấy, cuộc đời của Thanh Kiều lận đận, truân chuyên Bên cạnh đó, những người có chức quan như thông ngôn, kí lục luôn muốn cưới con gái nhà giàu có để củng cố địa vị và “xứng tầm”

Ngày đăng: 07/07/2021, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Kim Anh (2004), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nxb đại học Quốc gia Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Kim Anh
Nhà XB: Nxb đại học Quốc gia Tp. HCM
Năm: 2004
2. Lại Nguyên Ân (2015), Tác phẩm đăng báo 1935 – Phan Khôi, Nxb Tri thức Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm đăng báo 1935 – Phan Khôi
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tri thức Hà Nội
Năm: 2015
3. Ban nghiên cứu Đảng trung ương (1984), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban nghiên cứu Đảng trung ương
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1984
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 8, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 8, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Lịch sử 12, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
9. Huy Cận (2001), Thơ Huy Cận, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Huy Cận
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2001
10. Nguyễn Huệ Chi (1983), Từ điển văn học tập 1, Nxb khoa học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học tập 1
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb khoa học Xã Hội
Năm: 1983
11. Vũ Hoàng Chương (1996), Thơ say – mây, Nxb Hội nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ say – mây
Tác giả: Vũ Hoàng Chương
Nhà XB: Nxb Hội nhà Văn
Năm: 1996
12. Nguyễn Du (2000), Truyện Kiều, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2000
13. Tản Đà, (2008), Thơ , Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ
Tác giả: Tản Đà
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
14. Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
15. Trần Bá Đệ (2003), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến nay, Nxb Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2003
16. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hựu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2013), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 - 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hựu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
17. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (1988), Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tập II, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1988

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w