Mục tiêu đề tài 2.1 Mục tiêu chung Nhóm nghiên cứu chọn đề tài này với mục đích làm rõ hơn về chức năng giáo dụctrong văn học và tìm hiểu những thông điệp giáo dục mà nhà văn Hồ Biểu Chá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA NGỮ VĂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM
2014 – 2015 XÉT GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ
(Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội và Nhân văn.)
Sinh viên thực hiện: Tống Thanh Thương Nam, Nữ: Nữ
Dân tộc: Kinh
Ngành học: Sư phạm Ngữ Văn
Người hướng dẫn: Ths Lê Sỹ Đồng
Bình Dương, tháng 4 năm 2015
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Chức năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh
- Sinh viên thực hiện: Tống Thanh Thương
- Lớp: D12NV03 Khoa: Ngữ văn
- Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: Ths Lê Sỹ Đồng
2 Mục tiêu đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nhóm nghiên cứu chọn đề tài này với mục đích làm rõ hơn về chức năng giáo dụctrong văn học và tìm hiểu những thông điệp giáo dục mà nhà văn Hồ Biểu Chánh muốntruyền tải thông qua tác phẩm của mình Đồng thời, đề tài này sẽ giúp sinh viên khoa vănhiểu rõ hơn về chức năng giáo dục trong bộ môn lí luận văn học
Qua đề tài này, nhóm còn mong muốn đưa những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đếngần với bạn đọc hơn để những tác phẩm của ông đặt đúng vào vị trí và chức năng của nóđối với thi đàn văn học Việt và đối với mỗi người
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những thông điệp giáo dục trong một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Hồ
Biểu Chánh
- Góp thêm nguồn tài liệu cho sinh viên khoa Ngữ văn đối với học phần Lí luận văn
học, Văn học Việt Nam hiện đại I
- Đưa những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đến gần với bạn đọc hơn.
Trang 4- Khẳng định hướng nghiên cứu văn học dựa trên phương diện chức năng là không thể
thiếu trong quá trình tìm hiểu sâu nội dung các tác phẩm văn học
Tóm lại, mục tiêu là hướng đến hoạt động học tập và nghiên cứu Đề tài “Chức
năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh” sẽ giúp cho người
học mở rộng nguồn kiến thức về nội dung văn học, có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn
về các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Đồng thời, nó sẽ gợi mở thêm nhiều đề tài chongười học trong quá trình chọn đề tài làm nghiên cứu khoa học từ phương diện chứcnăng Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Trường Đại học ThủDầu Một
3 Tính mới và sáng tạo
Tính mới là, các công trình nghiên cứu về tác giả Hồ Biểu Chánh và tác phẩm củaông tuy công phu nhưng đa phần chỉ tập trung vào những vấn đề mang tính tổng quan.Điều đó chứng tỏ, việc nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về chức năng giáo dục các táctác phẩn của Hồ Biểu Chánh chưa thực sự được quan tâm đúng mực Vậy việc thực hiện
đề tài “Chức năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh” là
hoàn toàn mới
Tính sáng tạo là, nghiên cứu về tác giả Hồ Biểu Chánh và tác phẩm của ông đã đượccác nhà nghiên cứu văn học quan tâm và khảo cứu từ nửa thế kỉ trước Điều này đồngnghĩa với việc để tìm ra một hướng nghiên cứu mới về tác phẩm của Hồ Biểu Chánhkhông phải là dễ dàng Ở đề tài này, chúng tôi đã vận dụng hướng nghiên cứu từ phươngdiện chức năng để làm rõ nội dung tác phẩm, tức xem chức năng nghệ thuật là một tiêuchí để đánh giá trị của một tác phẩm văn học
4 Kết quả nghiên cứu
Tổng hợp và nhận xét những thông tin về hoàn cảnh thời đại, cuộc đời, sự nghiệpcủa nhà văn Hồ Biểu Chánh
Sắp xếp một cách có hệ thống những bài học giáo dục mà Hồ Biểu Chánh truyền đạttrong tác phẩm của mình bao gồm:
Giáo dục về thẩm mĩ
Giáo dục về đạo đức, tình cảm
Trang 5 Giáo dục về tư tưởng, trách nhiệm.
Đưa ra những nhận xét tổng quan về chức năng giáo dục của văn học trong học phần
Lí luận văn học, Văn học Việt Nam hiện đại I
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài
- Giúp người đọc đến gần hơn với những tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh
- Giúp người đọc nhìn nhận lại bản thân và rèn luyện lối sống sao cho phù hợp vớiđạo đức và thuần phong mỹ tục Việt Nam
- Khẳng định những giá trị giáo dục mà nhà văn gởi vào tác phẩm của mình
- Nâng cao chất lượng hoạt động dạy học ở học phần Lí luận văn học, Văn học ViệtNam hiện đại I, và các bài giảng văn về tác phẩm của Hồ Biểu Chánh trong chương trìnhphổ thông
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác
giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Chúng tôi dự kiến:
- Công bố bài viết trên tạp chí khoa học
- In tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Ngữ văn.
Ngày tháng nămSinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài(Ký, họ và tên)
Trang 6Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Đề tài “Chức năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh”
do sinh viên Tống Thanh Thương thực hiện không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ýnghĩa thực tiễn, ứng dụng
Trước hết, đề tài này đi sâu nghiên cứu, khái quát hóa các khía cạnh giáo dục trongcác tác phẩm của Hồ Biểu Chánh – một tác giả lớn của Nam Bộ hồi đầu thế kỉ XX
Thứ hai, đề tài này đã khơi lại nguồn cảm hứng cho các độc giả, và gây thêm sự chú
ý đến các nhà nghiên cứu văn học đối với nhà văn Hồ Biểu Chánh
Thứ ba, sinh viên đã nghiên cứu từ hướng chức năng của văn học nghệ thuật, điềunày gợi ra thêm hướng nghiên cứu cho những lớp sinh viên kế cận khi nghiên cứu vănhọc từ tri thức học được ở phân môn Lí luận văn học
Thứ tư, khi được thông qua, đề tài này khi được Hội đồng Khoa học thông qua, cóthể in thành tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành sư phạm, sinh viên khoa Ngữ vănkhi học học phần Văn học Việt Nam hiện đại I, và dạy các bài giảng văn liên quan tới tácphẩm, tác giả Hồ Biểu Chánh trong chương trình phổ thông sau khi ra trường
Tóm lại, đề tài “Chức năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu
Chánh” do sinh viên Tống Thanh Thương thực hiện đã góp thêm vào việc nâng cao chất
lượng dạy học đối với sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Thủ Dầu Một
Đồng ý cho bảo vệ đề tài
Ngày tháng năm
Xác nhận của lãnh đạo khoa Người hướng dẫn
(Ký, họ và tên) (Ký, họ và tên)
Trang 7UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Tống Thanh Thương
Sinh ngày: 06 /10/1994
Nơi sinh: Bình Dương
Lớp: D12NV03 Khóa: 2012 - 2016
Khoa: Ngữ Văn
Địa chỉ liên hệ: 589 Phạm Ngũ Lão, phường Hiệp Thành, tỉnh Bình Dương
Điện thoại: 0997 244 245 Email: thanhthuong061094@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Trang 8UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Bình Dương, ngày tháng 05 năm 2015
Kính gửi: Ban tổ chức Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
Tên tôi là: Tống Thanh Thương Sinh ngày 06 tháng 10 năm 1994
Sinh viên năm thứ: 3 Tổng số năm đào tạo: 4
Lớp: D12NV03 Khoa : Ngữ Văn
Ngành học: Sư phạm Ngữ Văn
Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm chính:
Địa chỉ liên hệ: 589 Phạm Ngũ Lão, phường Hiệp Thành, tỉnh Bình Dương
Số điện thoại (cố định, di động): 0997 244 245
Địa chỉ email:thanhthuong061094@gmail.com
Tôi làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho tôi được gửi đề tài nghiên cứu khoahọc để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một” năm 2015
Tên đề tài:
“Chức năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh”
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Lê SỹĐồng, đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nào khác tại thời điểm nộp
hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp
Nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm trước khoa và Nhà trường
Xác nhận của lãnh đạo khoa Người làm đơn
(Ký, họ và tên) (Sinh viên chịu trách nhiệm
chính thực hiện đề tài
ký và ghi rõ họ tên)
Trang 9MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận đề tài 6
6 Cấu trúc của đề tài 7
Chương 1: Đôi nét về hoàn cảnh lịch sử và tác giả Hồ Biểu Chánh 9
1.1 Những vấn đề lịch sử 9
1.1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội 9
1.1.2 Sơ lược về tình hình văn học 12
1.2 Nhà văn Hồ Biểu Chánh 13
1.2.1 Cuộc đời 13
1.2.2 Tác phẩm 16
Chương 2: Giáo dục thẩm mĩ trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh 23
2.1 Thẩm mĩ về nội dung 23
2.2 Thẩm mĩ về hình thức 35
Chương 3: Giáo dục đạo đức, tình cảm trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh 40
3.1 Đạo đức 40
3.2 Tình cảm tâm hồn 48
Chương 4: Giáo dục tư tưởng, trách nhiệm trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh 53
4.1 Tư tưởng 53
4.2 Trách nhiệm 58
Kết luận 64
Thư mục tài liệu tham khảo 67
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục luôn được coi là vấn đề quan trọng hàng đầu của mọi quốc gia Con người
có thể giáo dục bản thân thông qua các hình thức khác nhau như: giáo dục tại trường, cácphương tiện truyền thông, báo chí… và hơn bao giờ hết văn học là một phương tiện hữuhiệu làm cho những con người có cùng chung nỗi đau, khát vọng, quan niệm đạo đức và
lý tưởng thẩm mỹ xích lại gần nhau, đoàn kết với nhau Văn học biến những tư tưởng,tình cảm, chuyển nhận thức của con người thành hành động thực tiễn Nó là công cụ hỗtrợ đắc lực cho việc hoàn thiện đạo đức lẫn nhân cách con người thông qua chức năng
giáo dục như lời tâm sự của Macxim Gorki trong bài viết “Tôi đã học tập như thế nào”:
“Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để lên
tới gần Con Người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy” [36] Rõ ràng, văn học ra đời bên cạnh mục đích thoả mãn nhu cầu của người
đọc nó còn có một chức năng quan trọng hơn là giáo dục con người về mọi phương diện
tư tưởng, đạo đức, tình cảm, tâm hồn… Văn học đưa con người tách ra khỏi loài vật vànâng tâm hồn con người lên, để con người sống biết yêu thương, biết tình nghĩa Chính vìthế, mỗi nhà văn, nhà thơ thường hay đưa những giá trị giáo dục vào trong tác phẩm củamình Từ nhận thức trên, chúng tôi nhận thấy, cần phải tiếp tục nghiên cứu chức nănggiáo dục của văn học
Hồ Biểu Chánh là nhà văn lớn của Nam Bộ đầu thế kỉ XX Các tác phẩm của ôngkhông chỉ thể hiện chức năng giải trí mà còn thể hiện chức năng giáo dục một cách sâusắc Người đọc sẽ dễ nhận ra những triết lí nhân sinh, những quan niệm đạo đức và nhữngbài học giáo dục về tư tưởng, tình cảm con người trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh.Với lối kể tự nhiên, bình dân, mộc mạc, ngôn từ gần gũi với cuộc sống con người đặc biệt
là những người vùng đất Nam Bộ, những triết lí nhân sinh, những câu chuyện về nhữngcon người và số phận của họ luôn để lại cho người đọc những ấn tượng, những chiêmnghiệm, suy ngẫm về cách sống, cách làm người Ấy vậy mà, chưa có bất kì đề tài nàocủa sinh viên khoa Ngữ Văn, trường Đại học Thủ Dầu Một nghiên cứu về tác giả Hồ Biểu
Trang 11Chánh cũng như chức năng giáo dục trong các tác phẩm của ông Do đó, việc nghiên cứu
đề tài “Chức năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh” là hết
sức cấp thiết Đề tài này ngoài việc giúp cho sinh viên khoa Ngữ Văn, trường Đại họcThủ Dầu Một có cái nhìn sâu sắc hơn về các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh mà nó còn gópthêm một nguồn tài liệu tốt cho sinh viên ngành sư phạm Ngữ Văn khi học học phần Vănhọc Việt Nam hiện đại I và học phần Lí luận văn học
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu chọn đề tài này với mục đích làm rõ hơn về chức năng giáo dụctrong văn học và tìm hiểu những thông điệp giáo dục mà nhà văn Hồ Biểu Chánh muốntruyền tải thông qua tác phẩm của mình Đồng thời, đề tài này sẽ giúp sinh viên khoa NgữVăn hiểu rõ hơn về chức năng giáo dục trong bộ môn Lí luận văn học và Văn học ViệtNam hiện đại I
Qua đề tài này, nhóm còn mong muốn đưa những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đếngần với bạn đọc hơn để những tác phẩm của ông đặt đúng vào vị trí và chức năng của nóđối với thi đàn văn học Việt và đối với mỗi người
Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ những thông điệp giáo dục trong một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn
Hồ Biểu Chánh
- Góp thêm nguồn tài liệu cho sinh viên khoa Ngữ văn đối với học phần Lí luận
văn học, Văn học Việt Nam hiện đại I
- Đưa những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đến gần với bạn đọc hơn.
- Khẳng định hướng nghiên cứu văn học dựa trên phương diện chức năng là không
thể thiếu trong quá trình tìm hiểu sâu nội dung các tác phẩm văn học
Tóm lại, mục tiêu là hướng đến hoạt động học tập và nghiên cứu Đề tài “Chức
năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh” sẽ giúp cho người
học mở rộng nguồn kiến thức về nội dung văn học, có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn
về các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Đồng thời, nó sẽ gợi mở thêm nhiều đề tài chongười học trong quá trình chọn đề tài làm nghiên cứu khoa học từ phương diện chức
Trang 12năng Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Trường Đại học ThủDầu Một.
Nguyễn Ngọc Thạch viết: “Trên nửa thế kỷ trước, Hồ Biểu Chánh đã phác họa được bức
tranh hiện thực về kiếp sống người bần cố nông dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, ở một vùng đồng bằng sông Cửu Long Hồ Biểu Chánh đã dựng lại cảnh sống vất vả, cực nhọc đói cơm, rách áo, bị đàn áp nhục mạ của người nông dân nghèo Cũng mới chỉ có một số nét phác họa, giá trị của nó thật đáng trân trọng Hơn ai hết, Hồ Biểu Chánh khắc họa được nhiều khuôn mặt đầy tình nghĩa, giàu nhân ái của tầng lớp nông dân nghèo, tất nhiên cũng trong những chuẩn mực đạo lý đã nói trên” Như vậy, Nguyễn Ngọc
Thạch đã đề cập đến những vấn đề xã hội trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Cũng trong buổi hội thảo trên, đồng chí Nguyễn Ngọc Hiếu lại nhìn nhận tác phẩm
của Hồ Biểu Chánh ở phương diện nghệ thuật “Đọc các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, ta
thấy tác giả thường chú trọng nhiều vào những biểu hiện bên ngoài như sắc diện, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động của nhân vật Tâm lý nhân vật được bộc lộ chủ yếu từ những biểu hiện bên ngoài ấy Ít khi tác giả nói nhiều về những giằng co, trăn trở của nội tâm hay những suy nghĩ sâu kín phức tạp Xây dựng tác phẩm như vậy, có người cho tác giả quá giản đơn, cạn cợt, thiếu sự sâu xa, tinh tế, làm giảm giá trị tác phẩm Trong một vài trường hợp, tác giả sơ lược quá đáng thì nhận xét trên có phần đúng Nhưng nhìn toàn cục, thì sự thật có phần ngược lại Chính do chú ý mô tả những biểu hiện bề ngoài nhiều hơn những biến chuyển bên trong tâm hồn nhân vật mà nhân vật của tác giả còn là người Nam Bộ và rõ là người Nam Bộ Người buồn thì tả cảnh buồn, phô diễn những ý nghĩ trầm tư, sâu lắng không thể dùng giọng văn sôi động… đó là quy luật của văn chương Sao ta lại không thấy rằng để thể hiện những con người bình dị, chân chất, có suy nghĩ giản đơn, mộc mạc, có tình cảm dứt khoát, rõ ràng, quen hiếu động, hễ nghĩ gì thì nói
Trang 13nấy, nói gì làm nấy mà cứ chẻ nhỏ những nghĩ suy của họ ra như ta chẻ sợi tóc làm tư thì đó là một sự “ép uổng” Ta không phủ nhận là có những lúc Hồ Biểu Chánh quá giản lược, dễ dãi, nhưng nhìn chung thủ pháp biểu hiện của tác giả là phù hợp với đặc tính của con người Không biết tác giả có ý thức về điều đó hay không, nhưng thực tế nó
đã góp phần đắc lực vào việc thể hiện chân thật, tự nhiên bản tính con người Nam Bộ”.
Có thể thấy, Nguyễn Ngọc Hiếu đã chú ý đến chất Nam Bộ để đánh giá giá trị thẩm mĩnghệ thuật các sáng tác của Hồ Biểu Chánh
Còn trong cuốn “Trương Vĩnh Kí, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Phạm
Duy Tốn, Hồ Dzếch” xuất bản vào năm 1988, giáo sư Nguyễn Lộc có nhận xét về Hồ
Biểu Chánh như sau: “điều Hồ Biểu Chánh quan tâm sâu xa và thể hiện đậm nét trong
tác phẩm của mình là: làm thế nào cho xã hội có được phong hoá lành mạnh Vốn là người bản chất nhân hậu, ông chưa bao giờ đứng về phía cái mới để đả kích cái cũ, hay ngược lại đứng về phía cái cũ để đả kích cái mới Thái độ của ông là tìm cách dung hoà giữa cái mới và cái cũ Theo ông, cái mới và cái cũ đều có những ưu điểm riêng của nó”
[23, 72] Với nhận xét này, Nguyễn Lộc lại khẳng định chức năng giáo dục trong các tácphẩm của Hồ Biểu Chánh chính là cải tạo xã hội, tức là “làm thế nào cho xã hội có đượcphong hoá lành mạnh”
Đến năm 1999, trong “Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX”, Nguyễn Văn Trung,
viết rằng:
“Dạy văn học trên 20 năm ở miền Nam, nhưng mới chỉ đọc Hồ Biểu Chánh gần đây
vì trước đây khinh chê, không thèm đọc” Sau khi đọc xong, nhận thấy tiểu thuyết của Hồ
Biểu Chánh thật cảm động, thật hay, thật hấp dẫn Một người bạn lớn tuổi của ông đã thú
nhận, với ông: “chả nhẽ tôi trên 60 tuổi rồi mà còn bị xúc động như muốn rơi nước mắt”.
GS Trung đặt ra câu hỏi: “Tại sao một cuốn truyện sau hơn nửa thế kỷ, vẫn còn hấp dẫn,
gây xúc động với người ở một địa phương khác với địa phương của tác giả?” [2, 667].
Hồ Biểu Chánh sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ nên các sáng tác của ông mang đậmchất miền Nam, các tác phẩm của ông hầu như đều đề cập đến những vấn đề phổ biếntrong xã hội lúc bấy giờ Có lẽ, nhà văn đã tận mắt chứng kiến những cảnh đời, những
Trang 14hiện tượng của xã hội, thấu hiểu những tâm tư, tình cảm nên đã viết ra những dòng cảmxúc chân thật nhất.
Cũng có thể là do những giá trị giáo dục trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, nó làmcho người đọc tự tìm đến những bài học của cuộc sống, nhận ra được chân lí của cuộc
đời: “Đời người chỉ sống có một lần Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm
tháng đã sống hoài sống phí…” [34] như Nikolai A.Ostrovsky đã từng suy nghĩ.
Tiếp theo đó, đến năm 2001, Hoài Anh trong “Chân dung văn học” có nhận định
về Hồ Biểu Chánh như sau “Điều kì lạ của Hồ Biểu Chánh là ông vẫn ung dung, thanh
thản với phong thái của một nhà hiền triết đem những bài học luân lí của quá khứ để nhắc nhở hiện tại và hướng tới tương lai…” [1, 143] Như vậy, nhà nghiên cứu Hoài Anh
rất rõ chức năng giáo dục trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chính là “những bài học
luân lí”.
Còn giáo sư Lê Ngọc Trà cho rằng “cái mới của Hồ Biểu Chánh là ông nói đạo lí đi
kèm với chuyện đời, kể lại những cảnh đời khác nhau, có thể là không gắn gì với biến động chính trị, kinh tế xã hội nhưng lại gắn chặt với đời người, lại là nội dung của đời sống hằng ngày” [1, 73] Vậy, Lê Ngọc Trà đã gắn chức năng giáo dục trong các tác
phẩm của Hồ Biểu Chánh với chức năng phản ánh – gắn với chuyện đời
Qua những nhận xét và những ý kiến nêu trên, có thể thấy, Hồ Biểu Chánh và cáctác phẩm của ông luôn được giới nghiên cứu quan tâm đến Hầu hết những vấn đề liênquan đến tác giả và tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đều đã được nghiên cứu tìm hiểu Tuynhiên, cho đến nay, chúng tôi chưa khảo sát được công trình nào nghiên cứu công phu,
toàn diện về đề tài “Chức năng giáo dục trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu
Chánh” Chúng tôi hi vọng, khi thực hiện thành công đề tài này nó sẽ bổ khuyết cho các
công trình nghiên cứu về nhà văn Hồ Biểu Chánh và tác phẩm của ông Bên cạnh đó, đềtài này cũng giúp chúng tôi tiếp cận một cách có hệ thống những tư tưởng giáo dục mà HồBiểu Chánh muốn gởi đến bạn đọc
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp sưu tầm
Trang 15Có thể nói cho đến thời điểm hiện tại thì những tác phẩm của nhà văn Hồ BiểuChánh đã được tái bản nhiều lần nên chúng tôi cần phải tiến hành sưu tầm lại tất cả cáctác phẩm để có đầy đủ nguồn tư liệu phong phú cho đề tài Ngoài ra chúng tôi còn tiếnhành sưu tầm những bài viết, những bài nghiên cứu về nhà văn Hồ Biểu Chánh để làm cơ
sở cho lịch sử vấn đề.
4.2 Phương pháp phân tích
Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích vì khi nghiên cứu về một đối tượng nào
đó trước hết chúng ta cần phân chia nó thành những bộ phận, những yếu tố cấu thành đơngiản hơn để nghiên cứu và từ đó dễ dàng phát hiện ra những yếu tố cần thiết giúp chochúng ta nghiên cứu được mạch lạc hơn
4.3 Phương pháp so sánh
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi dùng phương pháp so sánh để đối chiếu cácvăn bản với nhau nhằm tìm ra các tác phẩm đáng tin nhất để đưa vào bài nghiên cứu khoahọc
4.4 Phương pháp giáo dục học
Từ những tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, chúng tôi mong rằng sẽ rút ranhững bài học về các giá trị thẩm mĩ, đạo đức, tình cảm, tư tưởng, trách nhiệm mà nhàvăn đã gửi gắm vào tác phẩm của mình
4.5 Phương pháp liên ngành
Các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh phản ánh nhiều nét về lịch sử, văn hóa, địa lí…ởvùng đất Nam Bộ nên phương pháp liên ngành rất hữu ích Nó không chỉ giúp cho việcxác định đánh giá nội dung tác phẩm mà còn cả phong cách nghệ thuật của Hồ BiểuChánh
4.6 Phương pháp tổng hợp
Dựa vào phương pháp này, chúng tôi có thể đưa ra những nhận định chung nhất,khái quát nhất về các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Đồng thời, chúng tôi có thể đi đến kếtluận thật cụ thể về đóng góp của chức năng giáo dục trong các tác phẩm của nhà văn này
5 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI
Trang 166 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì nội dung chính được chia thành 3 chương sau:
Chương 1: Đôi nét về hoàn cảnh lịch sử và tác giả Hồ Biểu Chánh
1.1 Những vấn đề lịch sử
1.1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội1.1.2 Tình hình văn học
1.2 Nhà văn Hồ Biểu Chánh
Trang 171.2.1 Cuộc đời1.2.2 Tác phẩmTiểu kết
Chương 2: Giáo dục thẩm mĩ trong một số tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Trang 18CHƯƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ
Thực dân Pháp vào Việt Nam với cái mác tuyên truyền “hoà bình”, “chiến thắng”,
“văn minh” nhằm mục đích chính để khai thác, bóc lột, vơ vét tài nguyên thiên nhiên, sứcngười và của cải của nhân dân Việt Nam
Về nông nghiệp, chúng cướp đoạt ruộng đất của nông dân lập đồn điền, trồng lúa,trồng cây công nghiệp và thí nghiệm trồng cao su… Sau khi cướp đoạt ruộng đất củanông dân, thực dân Pháp không khai thác bóc lột theo phương thức tư bản chủ nghĩa như
ở “nước mẹ đại Pháp” mà vẫn duy trì phương thức bóc lột phong kiến lạc hậu, theo lốiphát canh thu tô
Về công nghiệp, với mục tiêu vơ vét nguyên liệu thuộc địa cung cấp cho thị trườngnước Pháp và thị trường thế giới để kiếm lời, tư bản Pháp từ đầu đã chú trọng đến các sản
Trang 19phẩm của ngành dầu mỏ, chủ yếu trong giai đoạn này là than đá Bên cạnh đó tư bản Phápchú trọng và phát triển tại chỗ một số ngành công nghiệp chế biến để cung ứng cho nhucầu đời sống và phục vụ cho nhu cầu nhà cửa, doanh trại.
Về thương nghiệp, mục đích của tư bản Pháp là biến Việt Nam thành thị trường độcchiếm của chúng, về nội thương lẫn ngoại thương
bộ mặt thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế, dần dần quy tụ nông thôn quanhthành thị, thay đổi kết cấu xã hội, làm mất thế lực nhiều lực lượng bảo thủ trì trệ, tạo điềukiện cho cái mới – sau khi đã thay da đổi thịt, biến hoá có điều kiện từ thành thị toả vềnông thôn, chi phối sự phát triển theo các kiểu xã hội hiện đại
Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội từ 1930 – 1945
Tình hình chính trị
Thời kì 1930 - 1945 là thời kì đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sức gaygắt Đó là thời kì thực dân Pháp càng phơi trần bộ mặt nham hiểm và tàn bạo, còn bọnphát xít Nhật thì càng nuôi tham vọng làm chủ Châu Á – Thái Bình Dương
Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào côngnhân và các phong trào yêu nước khác bùng nổ nhiều nơi và ngày càng mạnh mẽ Đỉnhđiểm của cuộc bùng nổ này là vào mùa thu năm 1945
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một dấu mốc đánh dấu cho bước phát triển củacách mạng Việt Nam Đó cũng là cuộc cách mạng có quy mô toàn quốc thứ hai trên thếgiới (sau cách mạng Nga), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Trang 20Trước tình hình đó, bọn xâm lược dùng đủ mọi thủ đoạn nhằm tiêu diệt Đảng Cộngsản và phong trào cách mạng.
Tình hình kinh tế
Chính sách kinh tế độc quyền vơ vét của thực dân Pháp làm cho Việt Nam trở thànhmột thuộc địa cung cấp nhân công rẻ mạt và nguyên liệu cho chính quốc, nơi cho vaynặng lại cắt cổ và thu thuế vô tội vạ, nơi mua hàng nông phẩm với giá vô cùng rẻ và bánđắt hàng công nghiệp, nơi độc quyền ngoại thương của giai cấp tư sản Pháp
Tình hình xã hội
Thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân Chúng mở nhà tù nhiều hơn trườnghọc Học sinh, sinh viên bị đầu độc bởi “chủ nghĩa siêu hình, chủ nghĩa chủ quan duytâm, chủ nghĩa nguỵ biện, chủ nghĩa hoài nghi…”
Nhìn chung, chính sách đàn áp về chính trị, bóc lột dã man về kinh tế và đầu độc vềvăn hoá của bọn xâm lược đã ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng phát triển văn học côngkhai, đẩy nó vào con đường ngày càng bế tắc Nhưng Đảng Cộng sản Đông Dương và sựlớn mạnh không ngừng của phong trào cách mạng, cũng như những ảnh hưởng của tưtưởng và sách báo phát xít đã tạo hậu thuẫn cho khuynh hướng văn học yêu nước, tiến bộ
và phát triển, đồng thời nuôi dưỡng cả một dòng văn học cách mạng từ trong bóng tốingày càng chiếu rọi ánh sáng ra ngoài
Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội này ảnh hưởng rất nhiều đến nội dung, tư tưởngtrong các sáng tác của Hồ Biểu Chánh
Các tác phẩm của ông đều phản ánh được hiện thực xã hội thời đó Mỗi tác phẩm
đều đề cập đến một thời điểm nhất định của xã hội chẳng hạn như “Chúa tàu Kim Quy”
là một tác phẩm viết về những bất công xã hội, số phận những con người nghèo khổ trong
thời điểm “năm Minh Mạng thập thất, nhằm năm Bính Thân” [14, 12] Hay “Đại nghĩa
diệt thân” cũng thế, tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội trong thời điểm“năm Tự Đức
thứ 11, nhằm năm Mậu Ngọ 1858” [5, 5] Thời điểm mà “nước Pháp lại cớ triều đình Việt Nam cấm đạo bèn phái Hải quân Trung tướng Rigault de Genouilly chỉ huy một đoàn chiến thuyền qua đổ bộ lên đánh hải khẩu Đà Nẵng…” [5, 5].
Trang 21Bên cạnh những vấn đề về lịch sử, những vấn đề về xã hội cũng được Hồ BiểuChánh phơi bày trong tác phẩm của mình Nền kinh tế nông nghiệp với cuộc sống của
những người nông dân hiện lên trước mắt người đọc “Qua tiết tháng giêng, trong chốn
thôn quê có cái thú vui vẻ phi thường Đường sá khô ráo, ra vô sạch sẽ, gió bấc hiu hiu mát mẻ vô cùng Lúa ở ngoài đồng chỗ thì đương gặt, chỗ thì đã chín tới rồi nên đứng ngó mông thì thấy một vùng đỏ đỏ vàng vàng, ấy là mồ hôi nước mắt của nông phu chan rưới ngót mấy năm trường, mà ấy cũng là cơm gạo, áo quần của nông phu trông cậy về năm sẽ tới” [4, 14] hay mâu thuẫn xã hội ở nông thôn vùng Nam Bộ qua các tác phẩm
như “Chúa tàu kim quy”, “Con nhà nghèo”,…, những thế lực đồng tiền chà đạp lên nhân cách con người qua “Tiền bạc, bạc tiền”, “Bỏ vợ”, “Bỏ chồng”… Bên cạnh đó,
những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh còn phản ánh đời sống văn hoá ở nông thôn Nam Bộ
qua các tác phẩm như “Cay đắng mùi đời”, “Con nhà nghèo”, “Cha con nghĩa nặng”.
Nhìn chung, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đã ảnh hưởng nhiều đến việc sáng táccủa Hồ Biểu Chánh Qua tác phẩm của ông, người đọc có thể thấy được được hoàn cảnhlịch sử, khung cảnh xã hội và đời sống con người Nam Bộ lúc bấy giờ
1.1.2 Sơ lược về tình hình văn học
Văn học giai đoạn 1900 - 1930
Từ những ảnh hưởng của kinh tế, xã hội, chính trị, văn học cũng có nhiều thay đổi.Hai địa bàn thành thị và nông thôn xuất hiện hai nền văn học khác nhau Bên cạnhcác nhà nho là lực lượng sáng tác chủ yếu trước đây, bây giờ còn xuất hiện những lựclượng sáng tác mới: những người làm báo, trong đó có cả những nhà cựu học viết bằngchữ Hán Dần dần bằng con đường dịch thuật, phỏng tác một số người viết báo chuyểnsang viết truyện ngắn, viết kịch đáp ứng những đòi hỏi của công chúng thành thị Hai lớplực lượng sáng tác đó khác hẳn nhau về quan niệm văn học, về mục đích sáng tác, vềphương pháp sáng tác, về tiêu chuẩn thẩm mĩ
Văn học thành thị thay cho văn học nông thôn, người trí thức tân học thay cho nhànho làm chủ văn đàn Những sự thay đổi đó xảy ra không giống như sự thay đổi trongquân sự, chính trị: đấu tranh - tiêu diệt - thay thế, mà trải qua một cuộc cạnh tranh âm
Trang 22thầm, lặng lẽ Văn học cũ cố gắng câch tđn, thích ứng nhưng vẫn không đâp ứng nổi nhucầu của xê hội Văn học mới còn nghỉo năn về nội dung, nghệ thuật còn chưa được hoănthiện nhưng dưới sự phât triển của thănh thị nó lại có sức mạnh dồn nền văn học cũ văocon đường không lối thoât đến khi nó mất hẳn.
Nhìn chung, văn học giai đoạn 1900 -1930 lă giai đoạn văn học có tính chất giaothời Tính chất giao thời đó được biểu hiện ở sự tồn tại song song của hai nền văn học cũ
vă mới Ở giai đoạn năy, văn học cũ tuy đê ở tín đê suy tăn nhưng vẫn còn giữ một vị tríđâng kể, vẫn còn có tâc dụng tích cực nhất định trong sự phât triển văn học của dđn tộc
Văn học năm 1930 - 1945
“Văn học năm 1930 - 1945 bị chi phối bởi hệ tư tưởng thống trị, tức lă hệ tư tưởng
tư sản vă hệ tư tưởng phong kiến Tất nhiín, chính sâch văn hoâ chỉ huy của đế quốc Phâp vă phât xít Nhật cũng không kiểm soât được đến mức tuyệt đối thị trường văn hoâ
“tự do” Mặc khâc, văn học Việt Nam 1930 - 1945 cũng chịu ảnh hưởng sđu sắc đến câc phong trăo câch mạng do Đảng cộng sản lênh đạo (nhất lă thời kì mặt trận dđn chủ) Tâc động của văn học nước ngoăi đến câc khuynh hướng của văn học thời kì năy cũng rất đa dạng vă phức tạp Chính những điều kiện nói trín đê lăm xuất hiện trín đăn văn học công khai nhiều khuynh hướng, nhiều phong câch đa dạng, phức tạp vă luôn luôn dao động, chuyển hoâ” [17, 342].
Trước sự chuyển biến của nền văn học nước ta lúc bấy giờ, Hồ Biểu Chânh đê cónhững sự lựa chọn riíng cho con đường nghệ thuật của mình Ông lă một người đa tăi vẵng viết rất nhiều thể loại như bâo chí, biín khảo, thơ, tiểu thuyết…
Trong thời kì mới ra đời của văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỉ XX, khi mă cả nước còn
bỡ ngỡ với dòng chữ quốc ngữ thì Hồ Biểu Chânh lă người đê can đảm, tiín phong mởđường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Ông đê ra sức tạo dựng vă bồi đắp cho nềntiểu thuyết, đưa nó đến gần hơn với người đọc
Trang 231.2 Nhà văn Hồ Biểu Chánh
1.2.1 Cuộc đời
Hồ Biểu Chánh sinh ngày 1/10/1885 tên thật là Hồ Văn Trung, Biểu Chánh là tự, lại
có bút hiệu là Thứ Tiên Quê ở làng Bình Thành, tỉnh Gò Công
Cha là Hồ Hữu Tạo làm hương chủ, lại có công tranh đấu với làng Bình Xuân giànhđược 600 mẫu ruộng làm công điền cho làng Bình Thành Gia đình có 12 người con, HồBiểu Chánh là người con thứ năm trong gia đình đông anh chị em đó Một người em thứnăm của ông là Hồ Văn Hiến bút hiệu Viên Hoành là một người viết rất nhiều cho các báonhư Đuốc nhà Nam, Trung lập, Công luận, Đông Pháp thời báo
Cuộc đời của Hồ Biểu Chánh có thể chia làm ba giai đoạn:
Thuở thiếu thời (1885 – 1906)
Hồ Biểu Chánh sinh trưởng trong một gia đình nghèo, cuộc sống vô cùng vất vả vàchịu nhiều thiếu thốn về mọi mặt Tự thuật về quãng đời lao khổ của mình, Hồ Biểu
Chánh từng viết “còn hai bữa nữa tới ngày ta phải đi, mẹ ta than hết tiền, cha ta mới đi
kiếm người đặng mượn tiền cho ta đi Ta lo quá, sợ không đi được Bữa chót, đến tối mà vẫn không thấy cha về Ta than nếu có một đồng bạc thì đủ cho ta đi Mẹ ta khuyên ta đừng lo ( ) thiệt khuya mẹ ta gói một cặp áo hàng, đi bộ với ta xuống chợ mà cầm Tiệm chịu cầm ba đồng Mẹ ta không chịu, ép ta phải lấy hết rồi đưa ta xuống tàu Lúc tàu mở dây mà chạy, ta đứng ngó mẹ ta trên cầu tàu, ta chảy nước mắt ” [19, 13].
Đời quan lộ (1906 – 1946)
Thời gian này, Hồ Biểu Chánh làm rất nhiều chức quan và đi rất nhiều nơi Có thời
gian ông còn làm cho Pháp Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh quan niệm rằng “tuy là tay sai
của Pháp, song nếu mình cứ lấy lòng siêng năng ngay thẳng mà làm việc, đừng a dua, đừng bợ đỡ, phải thì ở, không phải thì đi, nói oan dám giận, nói bậy dám cãi, thì phận mình khỏi hổ, mà thiên hạ lại được nhờ nữa” [19, 14] Có thể thấy, Hồ Biểu Chánh là
một người ngay thẳng, sống không thổ thẹn với lòng mặc dù ông làm việc cho thực dânPháp
Trang 24Sau đây là một thống kê nhỏ về các chức quan và những nơi mà Hồ Biểu Chánh đãđến:
- 1906, Hồ Biểu Chánh đậu Ký lục Soái phủ Nam Kì, làm việc tại Dinh Thượng thơ
ở Sài Gòn
- 1911, ông bị đổi đi Bạc Liêu
- 1912, ông tình nguyện đi tùng sự ở Cà Mau thay cho một đồng liêu Tám thángsau, ông tiếp tục đổi đi Long Xuyên
- 1918, ông làm tại Gia Định
- 1920, ông tùng sự tại Văn phòng Thống đốc Nam Kỳ
- 1921, ông đậu Tri huyện
- 1927, Hồ Biểu Chánh được thăng Tri phủ, chủ quận Càng Long
- 1932, ông làm chủ Ô Môn ( Cần Thơ)
- 1934, ông lại tiếp tục đổi đi Phụng Hiệp
- 1935, ông đổi về Sài Gòn
- 1936, ông được thăng Đốc phủ sứ
- 4/8/1941, ông làm Nghị viên Hội đồng Liên bang Đông Dương
- 26/8/1941, ông làm Nghị viện Hội đồng thành phố Sài Gòn
- 1942 - 1944, nghị viện Hội đồng Quản trị Sài Gòn Chợ Lớn
- 1946, ông làm Cố vấn và Đổng lý Văn phòng
Có thể thấy con đường sự nghiệp của Hồ Biểu Chánh có nhiều thay đổi và luânchuyển nhiều nơi Khoảng thời gian này và thời hưu trí là thời gian tập trung sáng tác vănhọc nhiều nhất của Hồ Biểu Chánh
Ở mỗi chuyến đi, ông đều mang trong mình những tâm sự riêng và nó được thể hiệnhầu hết trong các tác phẩm của ông Ví dụ trong chuyến đi Bạc Liêu của mình:
“Gượng gạo cùng ai tiếp chén mờiChia bâu nông nỗi dạ tơi bời”
(Họa bài “Tiễn biệt”)Hay chuyến đi Cà Mau với những nỗi niềm ham mê, vui thích
“Ham vui lạc bước đến Cà Mau
Trang 25Trời biển đâu đâu cũng một màu”
(Họa bài “Hoài hữu”)Hay vì bất đồng với viên chủ tỉnh mà ông phải đi Phụng Hiệp
“Cắc cớ ông xanh khéo đặt bàyHoa về Phụng Hiệp mấy hôm nay”
(Nhậm Phụng Hiệp cảm ngâm)
Cuối cùng là thời hưu trí (1946-1958)
Thời gian này Hồ Biểu Chánh chán ngán giã biệt chính trường Chúng tôi nhận thấy
Hồ Biểu Chánh là một nhà văn vô cùng tâm huyết với nghề cầm bút Ông có cái lòng yêunghề, yêu văn chương khiến người đọc vô cùng cảm phục Trong những ngày cuối đời mà
ông vẫn hết lòng với những cuốn tiểu thuyết của mình “vì niên kỷ đã cao, lại thêm bình
sanh làm việc nhiều, tự nhiên sức khỏe của ta phải suy giảm Tuy vậy mà trí não ta vẫn còn sáng, tinh thần ta vẫn còn cao, bởi vậy ta vẫn còn viết tiểu thuyết mạnh mẽ như hồi
Hồ Biểu Chánh mất ngày 4/11/1958 tại tư thất ở Phú Nhuận, hưởng thọ 74 tuổi, antáng tại Biểu Chánh an tức viên ở xã ThôngTây Hội, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định
1.2.2 Tác phẩm
Hồ Biểu Chánh là một cây bút đa tài, ông viết rất nhiều thể loại Ông viết văn, làmthơ, viết báo, đoản thiên, truyện ngắn… và nổi bật hơn cả là tiểu thuyết Ông bao quátđược những mảng hiện thực khác nhau ở thành thị và thôn quê Nam Bộ trong những nămsau đại chiến thế giới thứ nhất, với nhiều hạng người thuộc nhiều tầng lớp và giai cấp xã
Trang 26hội – quan lại, địa chủ, hội đồng, chúa tàu biển… Hồ Biểu Chánh đã vượt qua các nhà văncùng thời về sự bề bộn của cuộc sống và sự đông đúc, đa dạng của thế giới nhân vật Nhàvăn nhìn những vấn đề xã hội bằng con mắt đạo đức và nhân vật của ông được chia làmhai loại: có nghĩa có nhân và bất nghĩa bất nhân.
Sau đây là thống kê những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh do ông tự phân loại và liệtkê
8 Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn – 1925)
9 Thầy Thông ngôn (Sài Gòn – 1926)
10 Ngọn cỏ gió đùa (Sài Gòn – 1926, phỏng theo Những người khốn khổ của Victor Hugo)
11 Chút phận linh đinh (Càn Long -1928)
12 Kẻ làm người chịu (Càn Long - 1928)
13 Vì nghĩa vì tình (Càn Long - 1929)
14 Cha con nghĩa nặng (Càn Long - 1929)
15 Khóc thầm (Càn Long - 1929)
16 Nặng gánh cang thường (Càn Long - 1930)
17 Con nhà nghèo (Càn Long - 1930)
18 Con nhà giàu (Càn Long - 1931)
19 Ở theo thời (Sài Gòn - 1935)
Trang 2720 Ông Cử (Sài Gòn - 1935)
21 Một đời tài sắc (Sài Gòn - 1935)
22 Cười gượng (Sài Gòn - 1935)
23 Dây oan (Sài Gòn - 1935)
24 Thiệt giả, giả thiệt (Sài Gòn - 1935)
25 Nợ đời (Vĩnh Hội - 1936)
26 Đóa hoa tàn (Vĩnh Hội - 1936)
27 Lạc đường (Vĩnh Hội - 1937)
28 Từ hôn (Vĩnh Hội - 1937)
29 Tân Phong nữ sĩ (Vĩnh Hội - 1937)
30 Lời thề trước miễu (Vĩnh Hội -1938)
31 Tại tôi (Vĩnh Hội - 1938)
44 Nặng bầu ân oán (Gò Công - 1954)
45 Đỗ Nương Nương báo oán (Sài Gòn - 1954)
46 Lá rụng hoa rơi (Sài Gòn - 1955)
47 Tơ hồng vương vấn (Sài Gòn - 1955)
48 Đại nghĩa diệt thân (Sài Gòn - 1955)
Trang 2849 Trả nợ cho cha (Sài Gòn - 1956)
50 Những điều nghe thấy (Sài Gòn - 1956)
51 Ông Cả Bình Lạc (Sài Gòn – 1956)
52 Một duyên hai nợ (Sài Gòn – 1956)
53 Trong đám cỏ hoang (Phú Nhuận – 1957)
62 Lẫy lừng hào khí (Phú Nhuận – 1958)
63 Lần qua đời mới (Phú Nhuận – 1958)
64 Hy sinh (Phú Nhuận – 1958)
B Đoản thiên:
1 Chị Hai tôi (Vĩnh Hội – 1944)
2 Thầy Chung trúng số (Vĩnh Hội – 1944)
3 Hai Thà cưới vợ (Vĩnh Hội)
4 Một đóa hoa rừng (Vĩnh Hội – 1944)
Trang 29D Dịch thuật:
1 Tân soạn cổ tích (cổ văn Trung Quốc, Sài Gòn – 1910)
2 Lửa ngún thình lình (dịch tiếng Pháp, Sài Gòn – 1922)
E Hài kịch:
1 Tình anh em (Sài Gòn – 1922)
2 Toại chí bình sinh (Sài Gòn – 1922)
3 Đại nghĩa diệt thân (Bến Súc – 1945)
F Hát bội:
1 Thanh Lệ kỳ duyên (Sài Gòn 1926 – 1941)
2 Công chúa kén chồng (Bình Xuân – 1945)
3 Xả sanh thủ nghĩa (Bình Xuân – 1945)
4 Trương Công Định qui thần (Bình Xuân – 1945)
G Cải lương:
1 Hai khối tình (Sài Gòn – 1943)
2 Nguyệt Nga cống Hồ (Sài Gòn – 1943)
3 Vì nước vì dân (Gò Công – 1947)
H Biên khảo:
1 Pétain cách ngôn Á đông triết lý hiệp giải (Sài Gòn – 1942)
2 Gia Long khai quốc văn thần (Sài Gòn – 1944)
3 Gia Định Tổng trấn (Sài Gòn – 1944)
4 Chấn hưng văn học Việt Nam (Sài Gòn – 1944)
5 Trung Hoa tiểu thuyết lược khảo (Sài Gòn – 1944)
6 Đông Châu liệt quốc chí bình nghị (Bến Súc – 1945)
7 Tu dưỡng chỉ nam (Bến Súc – 1945)
8 Pháp quốc tiểu thuyết lược khảo (Bình Xuân – 1945)
9 Một lằn chánh khí: Văn Thiên Tường (Bình Xuân – 1945)
10 Nhơn quần tấn hóa sử lược (Gò Công – 1947)
11 Âu Mỹ cách mạng sử (Gò Công – 1948)
12 Việt ngữ bổn nguyên (Gò Công – 1948)
Trang 3013 Thành ngữ tạp lục (Gò Công – 1948)
14 Phật tử tu tri (Gò Công – 1948)
15 Nho học danh thơ (Gò Công – 1948)
16 Thiền môn chư Phật (Gò Công – 1949)
17 Địa dư đại cương (Gò Công – 1949)
18 Hoàng cầu thông chí (Gò Công – 1949)
19 Phật giáo cảm hóa Trung Hoa (Gò Công – 1950)
20 Phật giáo Việt Nam (Gò Công – 1950)
21 Trung Hoa cao sĩ, ẩn sĩ, xứ sĩ (Gò Công – 1951)
22 Nho giáo tinh thần (Gò Công – 1951)
I Văn vần
1 U tình lục (Sài Gòn – 1910)
2 Vậy mới phải (Long Xuyên – 1913)
3 Biểu chánh thi văn, tập I, II, III
4 Tuỳ bút phê bình
5 Hoài quốc công võ tánh Đại Việt tập chí số 34 – 36
6 Vườn xưa ghé mắt Đại Việt tập chí số 39 – 44
4 Một thiên ký ức: Nam Kỳ cộng hòa tự trị (Gò Công – 1948)
5 Tâm hồn tôi (Gò Công – 1949)
6 Nhàn trung tạp kỷ (tập I, II, III Gò Công – 1949)
Trang 31K Diễn văn
1 Cái chết của người xưa Sài Gòn – 1944
2 Mạnh tử với chu3 nghĩa dân chủ Bến Súc – 1945
3 Ít bài chúc tặng – 1945
4 Nho giáo với chánh trị Sài Gòn – 1946
5 Nho giáo – 1948
6 Giáo lí của đạo Phật – 1948
7 Độc lập trong Liên hiệp Pháp – 1948
8 Địa vị của đàn bà Việt Nam – 1948
Tiểu kết
Nhìn chung Hồ Biểu Chánh đã mạnh dạn hướng cái nhìn của ông vào thực tế của xãhội Nam Kì lúc bấy giờ, phơi bày lên trang viết hiện thực phức tạp, mâu thuẫn của cuộcđời mà ông đã nghe, đã thấy và đã phê phán Sau năm 1930 Hồ Biểu Chánh vẫn viết tiểuthuyết chương hồi, kết thúc có hậu Chỉ có như vậy tác giả mới bộc lộ được quan điểmđạo đức và tư tưởng của mình Trong sáng tác của ông đậm chất con người miền Nam, cóngôn ngữ lời ăn tiếng nói của đời thường, có những bài học giáo dục con người về mọimặt của cuộc sống… tất cả đã làm nên một nhà văn đa tài mang tên Hồ Biểu Chánh
Trang 32CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC THẨM MĨ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH 2.1 Thẩm mĩ về nội dung
Trước khi đi vào tìm hiểu chức năng thẩm mĩ trong một số tác phẩm của nhà văn HồBiểu Chánh, chúng tôi xin đưa ra ý kiến của một số nhà nghiên cứu về chức năng thẩm mĩtrong văn học như sau:
Theo “Giáo trình Lí luận văn học”, chức năng thẩm mĩ là “khả năng của văn học
trong việc thỏa mãn nhu cầu về cái đẹp, khát vọng vươn tới sự hoàn thiện, mang lại niềm vui, khoái cảm thẩm mĩ cho con người Văn học thực hiện chức năng thẩm mĩ qua hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật mang lại cho tâm hồn sự hưởng thụ thẩm mĩ cao đẹp, gợi dậy những khoái cảm mãnh liệt mà vô tư, trong sáng, không gắn với mục đích vụ lợi trực tiếp Qua hình tượng, văn học bồi dưỡng những năng lực thụ cảm thẩm
mĩ, hình thành thị hiếu, lí tưởng thẩm mĩ, khơi dậy trong tâm hồn con người tư chất nghệ
sĩ và năng lực sáng tạo theo quy luật của cái đẹp” [26, 223].
Như vậy, chức năng thẩm mĩ của văn học chính là việc giúp con người thỏa mãnnhu cầu về cái đẹp; nhu cầu giải trí, làm cho tinh thần hứng khởi (mang lại niềm vui; nhucầu về cái thiện (vươn tới sự hoàn thiện) Không chỉ vậy, văn học còn giúp con người cókhả năng thẩm định cái đẹp, biết phân biệt được cái đẹp cái xấu
Hay Charles DuBos cũng có câu nói về cái đẹp của văn chương “Văn học, đó là tư
tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng” [34].
Từ các ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy, chức năng nhận thức liên quan trực tiếp tới
“cái đẹp” Theo Biêlinxki: “cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu
thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật Đó là một định lí” [36] Và văn học
Trang 33ra đời nhằm sáng tạo ra cái đẹp để phục vụ cho nhu cầu thẩm mĩ của con người mà cáiđẹp ấy không đơn thuần là vẻ đẹp hình thức mà chính là vẻ đẹp về nội dung Văn họckhơi dậy trong lòng con người những khoái cảm, những cảm giác hỉ, nộ, ái, ố của lòngngười, đi sâu vào lòng người và đánh thức những cung bậc cảm xúc bị giấu kín
Đối với các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, chức năng thẩm mĩ được thể hiệnqua các phương diện sau:
Thứ nhất, nó làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người, hướng con người tới cáiđẹp
Trong tác phẩm “Dây oan”, Hồ Biểu Chánh đã đặc tả nét đẹp của cô Cúc Hương.
Trước hết là ở cách ăn mặc “cô mặc một cái áo màu khói nhang với một cái quần lụa
trắng, hàng lụa tầm thường chứ chẳng phải chi quý, nhưng mà áo may thợ nhấn eo lưng, cắt kích hẹp, rồi thả thùng rộng cho phê trò; còn quần thì giún lưng, lại ống rộng nên phía trên sát sao, phía dưới đầy đặn, coi thiệt là đẹp mắt” [9, 72 ]; không chỉ có vậy, để
tương ứng với bộ quần áo, Hồ Biểu Chánh còn tả thêm: “Áo quần đã sắc sảo mà cô lại
còn mang một đôi dép cao gót da màu xám, một tay ôm một cái bóp đầm với vài cuốn sách, một tay cầm một cây dù cán cụt, đầu bới tóc sát ót mà không choàng khăn” [9, 72].
Với cách miêu tả tỉ mỉ như thế, Hồ Biểu Chánh cho người đọc cảm nhận về “cái đẹp” ở sựhài hòa, sinh động Trông qua thì vẻ đẹp ấy có phần chải chuốt, cầu kì nhưng nhìn kì thìtoát lên vẻ mộc mạc, bình dị dễ gần Từ đó, gợi cho người đọc sự hứng khởi về “cái đẹp”trong cách ăn mặc
Đến cách tả người, tả tính cách, Hồ Biểu Chánh không ngần ngại đưa ra quan điểm
của mình về “cái đẹp” của một cô gái: “Cách ăn mặc cô đã đẹp mà lại thêm gương mặt
cô tròn, hàm răng cô khít, cặp mắt nghiêm chỉnh, nước da trong ngần, giồi phấn thoa son vừa phải mà thôi, nên ai nấy cũng biết cô ở vào hàng mỹ nữ kim thời, nhưng mà nhờ cái nét nghiêm nghị tự nhiên của cô nên không ai dám lẳng lơ hay là khinh khị” [9 ,72] Chỉ
ở đoạn này, Hồ Biểu Chánh chỉ rõ, một cô giá đẹp trước hết phải có gương mặt tròn – đó
là khuôn mặt của một người hiền lành, đôn hậu, chịu thương, chịu khó; Kế đến là phải cóhàm răng khít – có lẽ tác giả muốn đề cập đến nụ cười đẹp - người đẹp thì nụ cười phảiđẹp; Rồi nước da phải trắng ngần – một tiêu chí đẹp mang tính cổ điển Tuy nhiên, đó
Trang 34chưa phải là tất cả, tác giả nhấn mạnh: “nhưng mà nhờ cái nét nghiêm nghị tự nhiên của
cô” [9, 72], đây mới là tiêu chí quan trọng nhất, nét đẹp toát ra từ “nét nghiêm nghị”, đó
là sự đoan chính của cô gái, nét đẹp ở nội dung Thế là đã rõ, với Hồ Biều Chánh, “cáiđẹp” phải là sự kết hợp hài hòa giữa hình thức với nội dung, và nếu vẻ đẹp được miêu tả ởhình thức thì hình thức ấy phải là nội dung của hình thức chứ không đơn thuần là hìnhthức
Hay người đọc có thể bắt gặp được vẻ đẹp của người phụ nữ chưa chồng ở độ tuổi
ba mươi trong “Lòng dạ đàn bà” qua trang phục của cô ấy “trên xe thủng thẳng bước
xuống một cô, mặc quần lụa màu trứng gà, đầu choàng khăn sạt cũng màu trứng gà, vai mang cái choàng tơ màu xám khiết” [10, 6] Mỗi thời mỗi khác, thiếu thẩm mĩ của con
người khác nhau ở mỗi thời đại Với thời đại hiện nay, vẻ đẹp trang phục thường thấy lànhững chiếc quần jean với những chiếc áo thun mà các bạn trẻ hay mặc Với những người
ở độ tuổi ba mươi, trang phục của họ thường là những chiếc váy công sở, hay những chiếcđầm dài để tạo sự trẻ trung hơn… Nhưng với cách nhìn cái đẹp của Hồ Biểu Chánh ngàyxưa thì vẻ đẹp thể hiện qua chiếc áo bà ba, chiếc quần lụa, chiếc khăn choàng…chỉ quavài chi tiết miêu tả nhưng người đọc có thể thấy cách nhìn nhận cái đẹp của nhà văn HồBiểu Chánh Với ông, ông thích trang phục như áo bà ba, quần lụa… của những ngườiphụ nữ xưa, bởi nó thể hiện nét duyên dáng, kín đáo của người Việt Nam xưa
Đó là những chi tiết miêu tả về trang phục, Hồ Biểu Chánh còn miêu tả về khuôn
mặt người phụ nữ ấy “Cô trạc chừng 30 tuổi, gương mặt tròn trịa, nước da trắng trong,
má bầu mà lại ửng hồng, mài vòng nguyệt mà lại nhỏ rức, răng trắng mà khít rịt, môi mỏng mà đỏ au, miệng vui vẻ tươi cười, mắt long lang chói sáng Bước xuống xe cô lột cái áo choàng liệng vào xe, mùi dầu thơm bay ngọt ngào” [10, 6] Khi miêu tả người phụ
nữ, Hồ Biểu Chánh thường tập trung miêu tả gương mặt của họ Với việc miêu tả này, HồBiểu Chánh giúp người đọc có thể mơ hồ hình dung được tính cách của người ấy Nhữngchi tiết nêu trên có người đọc cảm nhận được đây là một người phụ nữ chững chạc nhưng
đầy sắc sảo, mưu mô thông qua cách miêu tả ngoại hình, đặc biệt là đôi chân mài “vòng
nguyệt mà lại nhỏ rức” [10, 6].
Trang 35Đó là những người phụ nữ giàu sang, quyền quý, còn đối với những người phụ nữkhắc khổ, vẻ đẹp không thể hiện ở việc “giồi phấn thoa son”, mà nó hiện lên qua vẻ chânchất, hiền lành và kham khổ của người phụ nữ lam lũ, bươn trải thông qua cách miêu tả
ngoại hình nhân vật Ba Thời trong “Cay đắng mùi đời” như “người đàn bà này trạc
chừng ba mươi bốn tuổi, áo xăn ngang, ống quần vo tới đầu gối, nước da không đen không trắng, mặt tròn, chơn mày rậm, mình mẩy ướt loi nhoi, sau lưng có giắt một cây nọc cây, trên đầu bịt trùm khăn vải trắng, ngoài đội thêm một cái nón lá dừa” [11, 7] Rõ
ràng Hồ Biểu Chánh đã làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của người đọc thông qua cáchmiêu tả về ngoại hình, nói người phụ nữ ấy khổ cực qua việc diễn tả về công việc, về cuộcsống thôi vẫn chưa đủ, trước tiên cần định hình vẻ khổ cực mà chân chất ấy thông quaviệc miêu tả ngoại hình và Hồ Biểu Chánh đã làm được điều ấy, chỉ đôi dòng nhưng ông
đã khắc họa nên bức chân dung của những con người lam lũ đặc biệt là người phụ nữ thờixưa
Một nhà khuyết danh từng nói rằng “Con người giống như cửa sổ kính nhuộm màu.
Họ bừng sáng và lấp lánh khi trời nắng và sáng sủa; nhưng khi mặt trời lặn, vẻ đẹp thực
sự của họ chỉ lộ ra nếu có ánh sáng từ bên trong” [34] Nếu đơn thuần chỉ xét vẻ đẹp của
con người qua vẻ bề ngoài thôi vẫn chưa thể đánh giá người đó như thế nào, tính cách rasao, cái chính là vẻ đẹp tâm hồn của họ Bên cạnh nhận thức về vẻ đẹp bên ngoài, HồBiểu Chánh còn làm người đọc thấy được vẻ đẹp của trái tim, của tâm hồn con người.Những tác phẩm của ông luôn xoáy sâu vào cái tâm của con người, nó đề cập đến mọi vấn
đề xã hội mà đặc biệt là trong gia đình Những toan tính nhỏ nhen, lòng ích kỉ, sự đố kị,
tham lam luôn có trong tác phẩm của ông Trong tác phẩm “Tại tôi” Hồ Biểu Chánh làm
cho người đọc cảm thấy bực tức trước lòng tham của vợ chồng Lí Thị Phụng Là ngườithân trong nhà nhưng vì những tham vọng về tài sản mà đã ra tay tàn ác với anh và cháuruột của mình dẫn đến hai cái chết thương tâm của vợ chồng Lý Như Thạch, khiến đứacháu không nhận lại tổ tiên và cũng là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh điên của chính conruột của mình Trong lời bà Cả Kim, tội ác của vợ chồng Lí Thị Phụng được phơi bày:
“hồi thằng Thạch đem vợ nó về, vợ chồng con Phụng không nói tiếng gì, song nó châm chích làm cho tôi giận thêm, nên tôi mới đánh đuổi đi Sau thằng Thạch gần chết tôi
Trang 36không thấy mặt nó và con nó lại phiêu bạt nữa Mới bữa hổm đây, tôi nghe ông Tự Cường nói con Thanh Nguyên là con của thằng Thạch Tôi mừng quá tính nhìn cháu, thì con Phụng kiếm chuyện bắt bẻ không chịu cho nhìn rồi ép tôi về liền, không kịp xây mộ
mả thằng Thạch” [13, 201] Hay đọc “Cay đắng mùi đời” người đọc không khỏi ghét cay
ghét đắng Phan Đức Lợi, bản thân là chú ruột lại đem cháu của mình bỏ rơi khiến cho mộtđứa trẻ phải chịu nhiều cay đắng trong cuộc đời, trải qua nhiều năm dài gian khổ cũng chỉ
vì gia tài của bà Hội đồng - mẹ của Được
Nếu Hồ Biểu Chánh làm cho người đọc căm ghét các nhân vật tham lam, độc ác,tính toán nhỏ nhen trong tác phẩm của mình thì ông cũng dùng ngòi bút ấy tạo cho ngườiđọc những cảm giác yêu thương và trân trọng những đức tính cao quý của nhân vật mang
bản chất lương thiện Trong“Cay đắng mùi đời”, người đọc xót xa cho thân phận long
đong của nhân vật Được Một cậu bé đáng lẽ được sinh ra trong chốn giàu sang, được ănngon mặc ấm nhưng vì sự ích kỉ, nhỏ nhen và tham lam của chính chú ruột mình khiếncho một cậu ấm lại trở thành một đứa trẻ bị bỏ rơi phải sống với nghề ca hát Bên cạnh
đó, người đọc cũng cảm động trước tấm lòng thương người và biết trả ơn của đứa trẻ ấy
“thằng Nhã ngày nay ăn mặc sung sướng, lên xe xuống ngựa, chớ không phải là thằng
Được xách đờn đi ca mà kiếm ăn như trước nữa, song nó không đổi tánh, chẳng hề quên mấy người yêu nó trong lúc nó bần hàn, bởi vị vợ chồng Ba Thời thì cất nhà đẹp trong kinh Xà No mà coi ruộng cho bà Hội đồng, con Liên thì áo lụa quần hàng chơn giầy chơn dép cũng như con ruột trong nhà” [11, 200] Rõ ràng, chỉ là một đứa trẻ nhưng Được đã
có một tấm lòng thương người Trải qua nhiều năm sống khổ cực, đứa bé ấy đã nếm đủmùi cay đắng, cực nhọc của cuộc sống nên nó biết quý trọng tình thương hơn tiền bạc,biết đền ơn đáp nghĩa những người đã cưu mang mình, những người giúp mình trong lúc
hoạn nạn “Chẳng những là thằng Nhã hậu đãi những người yêu nó trong lúc nó nghèo
hèn mà thôi, mà hễ nó thấy con nhà nghèo thì nó động lòng thương nên hay xin mẹ cho bạc tiền hoặc cho quần áo” [11, 200] Người đọc cũng trân trọng tấm lòng tốt bụng của
Ba Thời, một người phụ nữ bất hạnh khi cưới phải ông chồng xấu tính, chỉ biết uốngrượu, và chửi đánh vợ nhưng cô lại là một người phụ nữ giàu lòng thương người, cô đãcoi và cưu mang Được như chính con ruột của mình
Trang 37Hay trước tấm lòng bồ tát của vợ chồng Thái – Hòa đã cưu mang và nuôi dưỡng Línên người Chỉ nghe qua lời của cô Hòa người đọc có thể nhận thấy ở nhân vật này có
một tấm lòng hiền lương và tốt đẹp biết dường nào “con nít phê phê ngộ nghĩnh như vậy
mà ai nỡ lòng nào mà ghét nó cho được Em nuôi nó, em cũng thương nó như con Đào của mình vậy Em yêu hai đứa đồng nhau, em chăm sóc chúng như nhau, chúng nó lớn
em cũng dạy dỗ chung hết hai đứa, làm như vậy có lỗi trách nhiệm gì đâu mà sợ” [12,
35] Chúng ta thấy hai vợ chồng đã có một đứa con là Đào, vậy mà họ không ghét bỏ Lí,thương yêu, nuôi nấng Lí như con ruột của mình So với vợ chồng Thái Hoà, một vàingười trong xã hội hiện đại ngày nay lợi dụng việc xin con nuôi nhằm mục đích xấu cũngkhông ít Qua tác phẩm này, Hồ Biểu Chánh còn muốn nhắn nhủ bạn đọc hãy làm đẹp chotâm hồn mình, đừng để những dục vọng xấu xa lấn át trái tim nhân hậu
Hay một cặp vợ chồng khác trong “Khóc Thầm” là ông bà Hội đồng Chánh, người
đọc có thể tìm thấy ở họ một tấm lòng thương những con người khổ cực “Hai vợ chồng
có danh giàu có và nhơn đức ở miệt Cái Sao, Cái Sắn Cái danh ấy không phải là danh giá, bởi vì thầy Hội đồng đứng bộ hơn năm trăm mẫu điền hạng nhứt, mỗi năm thầy thâu huê lợi gần hai chục ngàn giạ lúa, mà vợ chồng thầy ở rộng rãi, tá điền, tá thổ đứa nào túng tiền hoặc là túng lúa thì thầy cho mượn chớ chẳng hề thầy chịu cho vay, còn trong làng trong xóm ai gặp hoạn nạn thì thầy cứu giúp cho hết thảy” [6, 1] Thông thường,
những người giàu có như ông bà hội đồng đều khinh mạt nông dân, khinh mạt nhữngngười làm, kẻ ăn, người ở, những người nghèo hèn hay khó khăn Ấy vậy mà, ông bà hộiđồng này là những người tốt bụng, biết giúp đỡ những người nghèo quả thật là hiếm Bên
cạnh đó ông Hội đồng còn có lòng yêu nước, giúp dân “thầy tôn trọng quê hương, thầy
yêu mến đồng chủng, lại thầy hay chăm nom những vấn đề thuộc về khai thông dân trí, hoặc bảo thủ lợi quyền cho người Việt Nam Hội nào lập ra cũng có thầy hùn hết thảy”
[6, 1] Qua đó Hồ Biểu Chánh cho người đọc cái nhìn khác về cuộc sống, không phảinhững người giàu sang ai cũng ích kỉ, nhỏ nhen đâu đó trong xã hội vẫn còn có nhữngngười tốt như ông bà hội đồng Chánh, đừng vơ đũa cả nắm mà tội nghiệp cho họ
Có thể nói các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã làm cho tâm hồn con người trở nêntrong sáng vô ngần, nó hướng con người đi đến tận cùng của cái đẹp, giúp con người nhận
Trang 38ra giá trị thực sự của bản thân để biết sống sao cho đúng, cho tốt Văn chương của HồBiểu Chánh mang lại cho người đọc một khoái cảm thẩm mĩ vô tư nhưng không bàngquan, vô mục đích, vô trách nhiệm Những cái cảm nhận yêu ghét trên hoàn toàn không vìlợi ích của cá nhân và mưu cầu điều gì Đọc tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, người đọcđược sống trong một thế giới với đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc mà ở đó những nỗi buồnvui đều xuất phát từ một trái tim trong sáng Người đọc có thể nhận ra được những triết línhân sinh, đạo lí làm người để từ đó, hoàn thiện bản thân, hoàn thiện nhân cách của mìnhqua những tác phẩm của ông.
Thứ hai, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh giúp người đọc nâng cao năng lực cảm nhận,đánh giá cái đẹp
Trước hết, thiên nhiên trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là những cảnh thiên
nhiên đẹp.“Ðến nửa tháng năm trời mưa dầm dề ngày nào cũng như ngày nấy Chiều
bữa nọ trận mưa mới tan, bóng mặt trời chói chói phía bến đó, trong xóm nhà nhúm lửa nấu cơm chiều khói lên ngui ngút; tre níu nhau mừng trời mát lá giũ phất phơ Ngoài đồng náo nức nông phu; bạn cày thả ví tiếng vang vầy, công cấy hát hò hơi lảnh lót Dưới sông Bao Ngược ghe chài chở lúa trương buồm trôi theo dòng nước, chiếc nào chở cũng khẳm lừ Trên lộ Cây Dương xe ngựa đưa người núc ních chạy chậm rì, tiếng lục lạc nhỏ khua xa xa nghe như tiếng nhái” [11, 5] Đó là một góc của một vùng quê Nam
Bộ vào những ngày của tháng năm Qua việc miêu tả, người đọc có thể thấy những hìnhảnh thiên nhiên của một vùng quê vào tháng năm Một vùng quê yên bình với cảnh chiềubình dị đơn sơ với tiếng hát hò của những bạn cày thả ví, thật yên ả và trữ tình
Hay một mảnh vườn đẹp níu giữ bước chân người “Vườn Bồ Rô chẳng phải ban
ngày mát mẻ, ban đêm thanh tịnh như mấy sở vườn khác mà thôi đâu, nó lại còn có một tánh chất riêng nữa, là cũng đường xá quanh co đó, cũng cỏ cây thạnh mậu đó, mà người bận việc đi ngang qua thì nó chẳng hề chịu tỏ dấu chi làm cho người phải trìu mến rồi dừng bước mà ngắm cảnh động tình” [11, 115] Qua đó, người đọc có thể thấy hết được
cái cảnh đẹp của thiên nhiên của vùng quê Nam Bộ Không những nó phô bày vẻ đẹp của
mình để kêu gọi người đến chơi mà còn níu giữ bước chân kẻ du khách “nó đợi cho có
người thung dung nhàn lạc vô đó ngồi chơi, nó mới chịu làm cho cảm hứng say mê, rồi
Trang 39khiến cho phải nấn ná dần dà ngồi hoài không muốn đi, mà chừng đi ra cặp mắt vẫn còn ngó lộn lại” [11, 116].
Cảnh mặt trời lên trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh cũng khiến cho mọi vật mang
một sức sống tràn trề khởi đầu cho ngày mới “Sớm mai nầy mặt trời mọc lên bủa nắng
sáng loà, làm cho khúc đường từ chợ ra vàm Ô Môn, cảnh vật đều có vẻ tươi cười vui vẻ Trên đầu, nhành cây long lanh phơi lá, bộ mát mẻ lại sởn sơ Ở dưới sông nước chảy vô, giọt lờ đờ mà không dứt Ngoài đường người qua lại dập dìu, trong sân gà kiếm ăn sẩn bẩn” [13, 89] Một cảnh tượng thật đẹp, thật tinh tế, qua đó người đọc cảm nhận được sự
tinh tường của giác quan người viết Phải quan sát kĩ và thấu hiểu kĩ lắm Hồ Biểu Chánhmới có những miêu tả như vậy Những từ láy làm tăng thêm sức gợi cho tác phẩm Chỉqua vài nét miêu tả, nhưng Hồ Biểu Chánh đã vẻ nên một bức tranh sớm mai thật đẹp,thật vui và tràn đầy nhựa sống
“Đêm nọ chính là đêm mười bốn tháng mười thằng Được nằm trên một cái băng trong vườn Bồ Rồ mà ngủ Bóng trăng chói mấy ngọn cây sáng rỡ, tiếng dế kêu trong đám cỏ rủ rỉ; gió lao rao mát mẻ vô cùng, vườn rậm rạp im lìm vắng vẻ” [11, 116], trong
cảnh thiên nhiên như thế này, mọi vật đều tỉnh lặng chỉ còn tiếng dế kêu “rú rí” khuấyđộng màn đêm, trong khoảng thời gian ấy, lòng con người hay tĩnh tâm để suy nghĩ mọichuyện của cuộc đời, những trải nghiệm, những vui buồn trong cuộc sống nhất Và Được,
một chú bé với số phận long đong trong “Cay đắng mùi đời” đang “nằm nhớ mẹ nuôi,
thương thầy dạy, rồi lại nhớ đến con Liên, thì ứa nước mắt, lạnh trong lòng Nó nhớ đủ hết rồi lại nghĩ đến thân phận của nó bay giờ trong lưng còn có vài cắc bạc mà lưu linh ở đất kinh thành Sài Gòn là chỗ không quen với ai, thoảng như hết tiền rồi mới liệu như thế nào” [11, 117] Chính những vẻ đẹp trong thiên nhiên giúp người đọc nâng cao năng lực