Số lên đến 100.000 cá thể, các quần thể sinh sản của chim cánh cụt Macaroni là một trong những lớn nhất và dày đặc nhất của tất cả các loài chim cánh cụt.. Sau khi trải qua mùa hè sinh s[r]
Trang 1Quan cưu Victoria (danh pháp hai phần: Goura victoria) là một loài chim
thuộc Họ Bồ câu Đây là một loài chim bồ câu có màu xám xanh, lớn mào màu xanh giống như đăng ten, ngực và mống mắt nâu đỏ Loài này có kích thước trên mức trung bình, dài 74 cm và nặng 2.384 gram Một trong ba loài
bề ngoài tương tự như của chim bồ câu này là quan cưu phương tây, quan cưu phương nam, quan cưu Victoria phân bố trong vùng đồng bằng và rừng đầm lầy ở miền bắc New Guinea và các đảo xung quanh Chế độ ăn uống của nó bao gồm chủ yếu các loại trái cây, sung, hạt giống và vật không xương sống Con mái thường đẻ một quả trứng duy nhất màu trắng Danh pháp của nó đặt theo Nữ hoàngVictoria của Vương quốc Anh.
Có hai phân loài Goura victoria victoria, loài đề xuất trong hai phân loài phân bố ở Yapen,Biak & Supiori Goura victoria beccarii phân bố ở đại
lục New Guinea.
Trang 2Cu luồng (danh pháp hai phần: Chalcophaps indica) là một loài chim thuộc Họ Bồ câu
Đây là loài bản địa khu vực nhiệt đới miền nam châu Á và Úc Loài bồ câu này là một loài gia cầm được nuôi khắp nơi ở vùng nhiệt đới miền nam châu Á từ Pakistan sang Sri Lanka và đông sang Indonesia và miền bắc và miền đông Australia Chim bồ câu cũng được biết đến với tên gọi bồ câu lục bảo, bồ câu xanh Cu luồng là loài chim nhà biểu tượng bang của bang Tamil Nadu Ấn Độ
Nó có một số phân loài, với ba phân loài ở Úc, longirostris từ Kimberly, Tây Úc đến bán đảo Cape York, chrysochlora từ bán đảo Cape York vào miền nam New South Wales cũng như đảo Norfolk và đảo Lord Howe, và natalis từ đảo Christmas
Đây là một loài phổ biến ở các rừng nhiệt đới và rừng rậm ẩm ướt tương tự, trang trại, vườn, rừng ngập mặn và ven biển Nó xây dựng một tổ trên cây ở độ cao đến 5 mét và đẻ hai trứng màu kem Mùa sinh sản có xu hướng diễn ra ở Australia vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè ở đông nam Australia và vào cuối mùa khô ở miền bắc Australia
Chúng bay tốc độ nhanh chóng và trực tiếp
Trang 3Chim Moa[3][4] là tên gọi để chỉ 11 loài chim không biết bay đã tuyệt chủng thuộc 6chi [5] ,
vốn là những loài đặc hữu của Tân Tây Lan Hai loài lớn nhất, Dinornis
giganteusvà Dinornis novaezelandiae, có chiều cao lên tới 37 m (121 ft) nếu cổ kéo dài
ra, và nặng khoảng 230 kg (510 lb).[6]
Chim Moa là thành viên của nhóm chim chạy thuộc bộ Dinornithiformes.[5] 11 loài chim moa[5] là những chim không có cánh, nói cách khác cánh của chúng tiêu giảm tới mức gần như không còn dấu vết gì chứ không như những loài chim chạy khác vẫn còn duy trì cặp cánh yếu không bay được Trước đây chúng từng là loài động vật ăn cỏ thống trị suốt hàng nghìn năm trên các cánh rừng, thảo nguyên, vùng cây bụi và phụ núi cao thuộc Tân Tây Lan; và loài thiên địch duy nhất của chúng chỉ là Đại bàng Haast Tuy nhiên khi những người dân bản địa Māori xuất hiện thì chúng bị săn bắt đến mức tuyệt chủng trong một thời gian ngắn Phần lớn giới khoa học đều cho rằng, hầu hết các loài chim Moa đã
bị tuyệt diệt do săn bắn và do mất môi trường sống trước khi người châu Âu tìm thấy Tân Tây Lan
Trang 4Tinamidae là một họ chim duy nhất trong bộ Tinamiformes, họ này
gồm 47 loài, phân bố ở Trung và Nam Mỹ Là một trong những nhóm chim cổ nhất còn sinh tồn, chúng có quan hệ gần với đà điểu Nhìn chung, chúng sống trên mặt đất, các loài này được tìm thấy trong nhiều môi trường sống khác nhau.
Trang 5Chim cánh cụt quai mũ (danh pháp hai phần:Pygoscelis antarctica) là một
loài chim cánh cụtsinh sống ở quần đảo Nam Georgia và Nam
Sandwich, Nam Orkneys, Nam Shetland, Balleny,đảo Bouvet và Nam Cực Chúng có kích thước cơ thể dài đến 68 cm và cân nặng đến 6 kg[2] Tuy nhiên, trọng lượng của chúng có thể chỉ thấp ở mức 3 kg (6,6 lbs) phụ thuộc vào chu kỳ sinh sản Chim trống to và nặng hơn chim mái.[3][4] Chúng ăn các loàiđộng vật thân mềm và cá Chúng bơi đến 80 km ra khơi mỗi ngày.
Trang 6Chim cánh cụt hoàng đế (Aptenodytes forsten) là loại chim lớn nhất và nặng nhất trong số tất cả
những loài chim cánh cụt sống và đặc hữu ở Châu Nam Cực Con trống và con mái có bộ lông và kích thước tương tự nhau, chiều cao đạt tới 122 cm (48 in) và cân nặng từ 22 đến 45 kg (49 đến
99 lb) Đầu và lưng chúng màu đen, bụng và chân màu trắng, ngực màu vàng nhạt và tai màu vàng tươi Cơ thể thuôn dài Chim cánh cụt không biết bay, đôi cánh nhỏ và dẹt cùng chân chèo thích nghi với môi trường nước.
Thức ăn thường ngày của chim cánh cụt hoàng đế là cá, nhưng đôi khi chúng cũng ănđộng vật giáp xác, các loài nhuyễn thể, động vật thân mềm và mực Trong khi săn, loài này có thể lặn xuống dưới nước trên 18 phút và lặn sâu tới 535 m (1.755 ft) Chúng có một số đặc điểm giúp thích nghi với điều kiện này, bao gồm một hemoglobin có cấu trúc bất thường cho phép nó hoạt động ở nơi có nồng độ ôxy thấp, xương rắn để giảm chấn thương áp suất, và khả năng giảm
sự trao đổi chất ở cơ thể nó và tắt các chức năng cơ quan không cần thiết.
Chim cánh cụt hoàng đế nổi tiếng với những chuỗi hành trình của các con lớn mỗi năm để giao phối với nhau và nuôi con cái Các loài cánh cụt chỉ sinh sản duy nhất vào mùa đông ở Châu Nam Cực, chúng phải đi quãng đường dài khoảng từ 50–120 km (31–75 mi) trên băng để tới khu vực sinh sản, nơi có hàng ngàn cá thể Những con mái sẽ đẻ ra một quả trứng duy nhất, sau đó con trống sẽ lo việc ấp trứng, còn con mái ra biển kiếm mồi Sau đó, con trống và con mái thay nhau tìm kiếm thức ăn ngoài biển và chăm sóc cho cánh cụt con ở nơi sinh sản Tuổi thọ của chim cánh cụt hoàng đế là 20 năm, mặc dù có một số con có thể sống tới 50 tuổi.
Trang 7Chim cánh cụt Macaroni (danh pháp khoa học: Eudyptes chrysolophus) là một loàichim cánh cụt Loài này cư trú ở cận Nam Cực đến bán đảo Nam Cực Một trong sáu loài chim cánh cụt có màu, rất chặt chẽ liên quan đến chim cánh cụt hoàng gia , và một số tác giả xem xét hai là một loài duy nhất Nó mang một mào màu vàng nổi bật, và khuôn mặt và phía trên có màu đen và ranh giới rõ ràng từ phần dưới màu trắng Con trưởng thành cân nặng trung bình 5,5 kg (12 lb) và dài
70 cm (28 in) Con mái và con trống bề ngoài tương tự mặc dù con trống lớn hơn một chút với
mỏ tương đối lớn Giống như tất cả chim cánh cụt, nó không bay được, với một cơ thể sắp xếp hợp lý và đôi cánh cứng lại và dán thành chân chèo cho một lối sống biển.
Chế độ ăn uống của nó bao gồm một loạt các động vật giáp xác, chủ yếu là nhuyễn thể, cũng như con cá nhỏ và động vật thân mềm, chúng ở trong nước biển hàng năm nhiều hơn loài chim biển khác Loài chim này thay lông mỗi năm một lần, ở trên bờ 3-4 tuần trước khi quay trở lại biển Số lên đến 100.000 cá thể, các quần thể sinh sản của chim cánh cụt Macaroni là một trong những lớn nhất và dày đặc nhất của tất cả các loài chim cánh cụt Sau khi trải qua mùa hè sinh sản, chim cánh cụt phân tán thành vào các đại dương trong sáu tháng, một nghiên cứu năm 2009 cho thấy rằng các chim cánh cụt Macaroni từ Kerguelen đã đi qua hơn 10.000 km (6.200 dặm) ở trung bộ
Ấn Độ Dương Với khoảng 18 triệu cá thể, chim cánh cụt Macaroni có số lượng nhiều nhất các loài chim cánh cụt Tuy nhiên, hiện tượng giảm phổ biến rộng rãi trong dân số đã được ghi nhận
kể từ giữa những năm 1970 Những yếu tố này dẫn đến tình trạng bảo tồn của chúng được phân loại loài dễ thương tổn
Trang 8Chim cánh cụt hoàng gia (danh pháp hai phần: Eudyptes schlegeli) là một loài chim
cánh cụt có thể được tìm thấy trên các đảo cận Nam Cực trong khu vực Úc (Macquarie đảo và các đảo lân cận) Đây là một trong những loài chim cánh cụt có mào Không có sự phân biệt giữa các phân loài trên tán Penguin, nhưng không nên nhầm lẫn với tên tương
tự chim cánh cụt vua hoặc chim cánh cụt hoàng đế Phân loại của IUCN xếp loại chim cánh cụt Hoàng gia vào nhóm loài dễ thương tổn Tên khoa học kỷ niệm các nhà động vật học người Đức Hermann Schlegel
Có một số tranh cãi về liệu các chú chim cánh cụt Hoàng gia là một phân loài của chim cánh cụt Macaroni Người ta đã biết đến các cá thể hai nhóm giao phối với nhau, mặc dù điều này là tương đối hiếm Thực tế, các loài chim cánh cụt khác đã được biết đến để tạo thành hỗn hợp các loài cặp trong tự nhiên
Trang 9Chim cánh cụt vua (danh pháp hai phần: Aptenodytes patagonicus) là một loài chim
cánh cụt Đây là loài chim cánh cụt lớn thứ nhì, có trọng lượng khoảng 11 đến 16 kg (24
đến 35 lb), chỉ xếp thứ nhì sau chim cánh cụt hoàng đế Có hai phân loài;A p
patagonicus và A p halli A p patagonicus sinh sống ở Nam Đại Tây Dương và A p halli ở những nơi khác.
Chim cánh cụt vua ăn cá nhỏ, chủ yếu là các loài cá đèn lồng (Myctophidae) và mực, ít phụ thuộc vào thức ăn là các loài nhuyễn thể và giáp xác Khi tìm kiếm thức ăn chúng luôn lặn sâu hơn 100 mét (330 ft), thường là hơn 200 mét (660 ft)
Chim cánh cụt sống dựa vào các đảo cận nam cực tại các phạm vi vươn tới phía bắcNam Cực, South Georgia, và các đảo khác trong khu vực có khí hậu ôn đới Tổng quần thể được ước tính là 2,23 triệu đôi và đang tăng lên.[1]
Trang 10Chim cánh cụt Magellan ( danh pháp hai phần :Spheniscus magellanicus là
một loài chim cánh cụt Chúng sinh sản ở vùng ven biển Argentina, Chile
bắt gặp xa đến phía bắc như Rio de Janeiro Nó là loài có số lượng đông nhất của chim cánh cụt Spheniscus Loài có mối quan hệ gần nhất với nó là chim cánh cụt Humboldt và chim cánh cụt Galápagos Chúng có nguồn gốc từ eo
tên gọi[1] Chim cánh cụt Magellan là loài chim cánh cụt có kích thước vừa, cao 61–76 cm (24-30) và cân nặng giữa 2.7 kg và 6,5 kg (5,9-14,3 lbs)[2][3] Con trưởng thành có lưng màu đen và bụng màu trắng Có hai dải màu đen giữa đầu và ngực, với dải dưới định hình cái móng ngựa ngược Đầu là màu đen với một đường viền màu trắng rộng chạy từ phía sau mắt, xung quanh lông đen tai và cằm, và vào cổ họng Con non có lưng màu xám xanh, với một màu xanh xám nhạt dần trên ngực Chim cánh cụt Magellan có thể sống đến 25 năm trong tự nhiên, nhưng hơn 30 năm trong điều kiện nuôi nhốt.
Trang 11Gà tây hoang (Meleagris gallopavo) là một loài chim thuộc họ Gà tây, là loài bản địaBắc Mỹ và là thành viên nặng nhất trong bộ Galliformes Gà tây hoang dã là loài ăn tạp, tìm kiếm thức ăn trên mặt đất hoặc leo cây bụi và cây gỗ nhỏ để tìm mồi Chúng thích ăn hạt có vỏ cứng như cột cứng như hạt sồi, các loại hạt, và cây khác nhau, bao gồm
cả hạt dẻ, hạt dẻ, mại châu, và thông pinyon cũng như hạt giống khác nhau, quả mọng như cây bách xù và thường xanh dây leo, rễ cây và côn trùng Gà tây cũng đôi khi ăn
cả động vật lưỡng cư và bò sát nhỏ như thằn lằn và rắn.Gà tây hoang thường xuyên tìm kiếm thức ăn trong đồng cỏ nuôi bò, đôi khi ghé thăm sân ăn gia cầm, và đất canh tác thuận lợi sau khi thu hoạch sạch các hạt giống trên mặt đất Gà tây hoang cũng ăn nhiều loại cỏ
Trang 12Thiên nga trắng (danh pháp hai phần: Cygnus olor) là một loài chim thuộc chi thiên nga, họ Vịt Nó là loài bản địa phần lớn châu Âu và châu Á và là một loài trú đông ở viễn bắc châu Phi Nó là loài du nhập ở Bắc Mỹ, lục địa Úc Á và nam châu Phi Nó có chiều dài 125 đến 170 xentimét (49 đến 67 in) , bộ lông chủ yếu màu trắng hoàn toàn với mỏ màu cam có viền đen Thiên nga trắng lấn đầu được mô tả chính thức bởi nhà tự nhiên học Johann Friedrich Gmelin với danh pháp Anas olor năm1789, và đã đượcJohann Matthäus Bechstein chuyển sang chi Cygnus năm 1803 Nó là loài điển hìnhcủa
chi Cygnus.[2] Cả cygnus và olor đều có nghĩa "thiên nga" trong tiếng Latin; cygnusliên
quan đến tiếng Hy Lạp kyknos.[3][4] Đồng âm Sthenelides olor đôi khi đã được sử dụng
trong quá khứ
Trang 13Thiên nga đen (danh pháp hai phần: Cygnus atratus) là một loài chim thuộc phân
chiChenopis trong chithiên nga, họ Vịt Đây là loài bản địa của Úc, loài này đã bị săn bắt đến mức tuyệt chủng nhưng sau đó được nhập nội vào New Zealand Loài này chủ yếu sinh sản ở đông nam và tây nam của Úc Ở Úc, chúng là loài du cư phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Bộ lông của nó gần như màu đen với mỏ đỏ Loài này được nhà tự nhiên
Úc John Latham mô tả khoa học năm 1790, trước đây nó được đặt trong chi đơn
loàiChenopis Nó là loài sống đơn lẻ hay sống theo theo bầy lỏng lẻo với số lượng hàng trăm đến hàng ngàn con[2]
Trang 14Thiên nga lớn ( danh pháp khoa học : Cygnus cygnus) là một loài thiên
nga thuộc họ Vịt Loài này sinh sản ở Iceland và các vùng gần cực bắc châu
Âu và châu Á, di cư sang châu Âu và châu Á ôn đới trong mùa đông Nó có mối quan hệ chặt chẽ với loài thiên nga Bắc Mỹ thiên nga kèn Nó có bề ngoài giống với thiên nga Bewick nhưng nó lớn hơn với chiều dài 140–
165 cm (55–65 in) và sải cánh 205–275 xentimét (81–108 in) Cân nặng điển hình từ 7,4–14 kg, mức trung bình 9,8–11 kg đối với con trống và 8,2-9,2 kg đối với con mái Cân nặng thay đổi 155 kg (340 lb) đối với con trống trú đông ở Đan Mạch Nó được xem là một trong các loài chim bay nặng nhất.[2] [3]
Trang 15Le nâu bụng đen ( danh pháp hai phần : Dendrocygna autumnalis là một loài
chim thuộc Họ Vịt Loài này sinh sản từ cực nam Hoa Kỳ và miền trung đến trung nam bộ Nam Mỹ Tại Mỹ, nó có thể được tìm thấy quanh năm ở các khu vựcn của vùng đông nam Texas, và theo mùa ở phía đông nam Arizona,
và Gulf Coast của tiểu bang Louisiana Nó là một loài sinh sản hiếm hoi tại các địa điểm khác nhau chẳng hạn như Florida, Arkansas, Georgia và Nam Carolina.
Trang 16Vịt cổ xanh hay le le ( danh pháp hai phần : Anas platyrhynchos), có lẽ là
loài vịt được biết đến nhất và dễ nhận ra nhất, sinh sống trên khắp các vùng ôn đới và cận nhiệt đới tại Bắc Mỹ , châu Âu , châu Á , New
vịt cổ xanh di cư vào mùa đông Ví dụ, ở Bắc Mỹ, vào mùa đông, vịt cổ xanh di cư về Mexico.[1]
Vịt cổ xanh được cho là tổ tiên của tất cả các giống vịt nhà[2] [3] .
Trang 17Ngỗng Canada (danh pháp hai phần: Branta canadensis) là một loài ngỗng hoang dã
thuộc chi Branta, có nguồn gốc ở Bắc cực và các khu vực ôn đới của Bắc Mỹ, có đầu màu đen và cổ, có các mảng trắng trên mặt, và một cơ thể màu nâu xám Đầu và cổ đen với "quai nón" trắng đen phân biệt ngỗng Canada từ tất cả các loài ngỗng khác, với ngoại
lệ của ngỗng Barnacle, nhưng loài sau có ngực màu đen, và cũng có bộ lông màu xám, chứ không phải là màu hơi nâu Có bảy phân loài của loài chim này, các kích cỡ và chi tiết bộ lông khác nhau, nhưng tất cả đều nhận ra là ngỗng Canada Một số loài nhỏ hơn có thể là khó để phân biệt với ngỗng Cackling mới được tách loài
Loài này có thân dài khoảng từ 75 đến 110 cm và có sải cánh dài 127–185 cm (50-73)[2] Con trống thường có trọng lượng 3,2-6,5 kg (7,1-14 lb), và có thể là rất tích cực trong việc bảo vệ lãnh thổ Các mái và con trống trông hầu như giống hệt nhau nhưng hơi nhẹ 2,5-5,5 kg (5,5-12 lb), nói chung là 10% nhỏ hơn so với con trống, và có tiếng kêu khác
nhau Một con trống lớn đặc biệt của phân loài B c maxima, "ngỗng Canada khổng lồ"
(hiếm khi vượt quá 8 kg (18 lb)), cân nặng 10,9 kg (24 lb) và có sải cánh dài 2,24 m (7,3 ft) Mẫu vật này là con ngỗng hoang dã lớn nhất từng được ghi nhận của oài Tuổi thọ trong tự nhiên ngỗng sống sót đến tuổi trưởng thành khoảng 10-24 năm[3]
Trang 18Ngan bướu mũi hay vịt xiêm là các tên gọi chung của một loài động vật với danh pháp
hay ngan cỏ.[1] Đây là một loài trong họ Vịt có nguồn gốc từ Mexico, Trungvà Nam Mỹ Một quần thể hoang dã nhỏ tồn tại trong khu vực miền nam Hoa Kỳ, thuộc lưu vực Rio Grande ở Texas Cũng tồn tại các quần thể đã thuần hóa nhưng sống hoang dã trở lại ở Bắc Mỹ trong và xung quanh các công viên tại Hoa Kỳ và Canada Mặc dù ngan bướu mũi là một loài chim nhiệt đới, nhưng nó đã thích nghi với các điều kiện băng tuyết với nhiệt độ xuống tới -12°C (10°F) hay thấp hơn mà không bị bệnh tật gì[2]
Ngan bướu mũi hoang nói chung có bộ lông màu đen, xanh đen với cánh trắng, với các vuốt dài trên chân, đuôi rộng và phẳng Ngan trống dài khoảng 86 cm và cân nặng
khoảng 2,1-3,2 kg, to và nặng hơn so với ngan cái có kích thước 64 cm, nặng 0,97-1,3 kg Đặc trưng đặc biệt nhất của ngan bướu mũi là mặt đỏ không lông với mào dễ thấy ở phần gần mũi, nổi u trông như một cái bướu và chòm lông mào hơi dựng đứng
Ngan con chủ yếu có bộ lông tơ màu vàng với các đốm nâu trên đuôi và cánh Ngan con của một vài giống ngan thuần hóa có lông đầu sẫm màu và mắt xanh, những con khác có lông ở phần đầu màu nâu nhạt và các đốm sẫm màu trên gáy Chúng khá nhanh nhẹn và
có thể sống độc lập sau khi sinh