Nghiên cứu “Tỷ lệ TTĐT của BN THA điều trị ngoại trú và các yếu tố liên quan tại BV quận TânPhú năm 2020” được thực hiện nhằm cung cấp cho BV thực trạng TTĐT của BNTHA đang được quản lý
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TẠI BỆNH VIỆN QUẬN TÂN PHÚ
ĐỀ CƯƠNG TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
TP Hồ Chí Minh, năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn: PGS.TS Tô Gia Kiên
TP Hồ Chí Minh, năm 2020
Trang 3Tôi đăng ký đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp đại học.
Trang 4LỜI ĐĂNG KÝ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
BHYT Bảo hiểm y tế
TBMMN Tai biến mạch máu nãoTHA Tăng huyết áp
THCS Trung học cở
THPT Trung học phổ thôngTTĐT Tuân thủ điều trị
Trang 6BMI Body mass index (Chỉ số khối cơ thể)
CDC Centers for Disease Control and Prevention
(Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh)
MMAS Thang đo Morisky Medication Adherence ScaleIDI&WPRO (Hiệp hội ĐTĐ các nước châu Á)
ISH International Society of Hypertension
(Hội tăng huyết áp quốc tế)
PR Prevalence Ratio (Tỷ số tỷ lệ hiện mắc)
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh không lây nhiễm là nguyên nhân hàngđầu gây ra những khiếm khuyết về sức khỏe trong hai thập kỷ tới và trong số cácbệnh không lây nhiễm thì tăng huyết áp là phổ biến nhất[17] Tăng huyết áp (THA)
là một vấn đề sức khỏe cộng đồng đầy thách thức bởi việc quản lý THA ở các tuyếncòn khó khăn dẫn đến chi phí về y tế và xã hội cao[2] Căn bệnh này còn đượcmệnh danh là kẻ giết người thầm lặng với diễn tiến âm thầm, hầu hết không có triệuchứng và vô cùng nguy hiểm, đưa đến những biến chứng nặng nề như tai biến mạchmáu não, nhồi máu cơ tim cấp tính, suy tim, suy thận và có thể dẫn đến tử vong nếukhông được điều trị tốt[5] Vì thế, THA là yếu tố nguy cơ gây tử vong hàng đầu với
số ca tử vong ước tính mỗi năm trên thế giới là 9,4 triệu ca trong số gần 17 triệu ca
tử vong do bệnh tim mạch, là nguyên nhân chính gây ra ít nhất 45% số ca tử vong
do bệnh tim mạch và 51% số ca tử vong do đột quỵ[69], đồng thời còn được xem lànguyên nhân thứ ba làm giảm số năm sống khỏe mạnh do bệnh tật[42] Tần sốngười mắc bệnh THA đang có chiều hướng gia tăng ở hầu hết các quốc gia trên thếgiới Theo thống kê từ một phân tích gộp gồm 1479 nghiên cứu đo lường dựa trêndân số thế giới, số người mắc THA trong năm 1975 là 594 triệu người[56] Đếnnăm 2015, con số này đã tăng lên hơn 1,1 tỷ người Dự đoán đến năm 2025, con sốnày sẽ tăng lên 29%, tương đương 1,56 tỷ người[40]
Việc điều trị bệnh THA thành công nhìn chung có 2 biện pháp chính: chế độkhông dùng thuốc và chế độ sử dụng thuốc hạ HA[15] Thế nhưng việc điều trịTHA lại bị tác động bởi nhiều yếu tố như yếu tố từ bác sĩ (BS) điều trị, yếu tố ngườibệnh Ở Hoa Kỳ nơi có hệ thống chăm sóc tốt trong điều trị thế nhưng việc kémtuân thủ điều trị (TTĐT) THA đã tiêu tốn khoảng 100 tỉ đôla mỗi năm BN có thể
vô tình hay cố ý không tuân thủ theo toa thuốc của BS trong quá trình điều trị[16]
Sự tuân trị kém này không những dẫn đến gia tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong
do bệnh tim mạch, còn tăng chi phí điều trị cả ở cấp độ cá nhân lẫn khía cạnh xãhội Tại Việt Nam tỷ lệ TTĐT THA vẫn còn ở mức thấp cụ thể đạt 8,8% trongTTĐT thuốc và 27,5% TTĐT không dùng thuốc trong nghiên cứu của Trượng VănTrang (2015) trên đối tượng BN THA tại TTYT huyện Ninh Phước tỉnh Ninh
Trang 10Thuận[14] Nghiên cứu của Lê Thị Bích Trâm (2017) cho thấy BN TTĐT ở mứctrung bình và thấp lần lượt 40,1% và 37,5%, tỷ lệ TTĐT không dùng thuốc chiếm21%[13] Hay một nghiên cứu cắt ngang khác thực hiện tại BV đa khoa khu vựcNam Bình Thuận năm 2018 trên 267 BN THA do các tác giả Nguyễn Thị NgọcHiền cho biết tỷ lệ tuân thủ là 13,9% và tỷ lệ không TTĐT chiếm 25,1% Nguyênnhân kém TTĐT bao gồm: quên uống thuốc (39,7%), tự ý mua thuốc mà khôngthông báo với bác sĩ (53,6%), tự ý ngưng thuốc (27%) chiếm một tỉ lệ đáng chú ýtrong các yếu tố ảnh hưởng đến việc TTĐT Các yếu tố liên quan đến TTĐT: tuổi,trình độ học vấn, kinh tế gia đình, thời gian mắc bệnh,bệnh mạn tính kèm theo, kiếnthức về THA[6]
Tân Phú, một trong những quận điểm của chương trình sàng lọc bệnh THA trênđịa bàn thành phố Hồ Chí Minh Theo thống kê của bệnh viện trong 6 tháng đầunăm 2019 theo thống kê số BN THA được quản lý tại BV là 1038 Nghiên cứu “Tỷ
lệ TTĐT của BN THA điều trị ngoại trú và các yếu tố liên quan tại BV quận TânPhú năm 2020” được thực hiện nhằm cung cấp cho BV thực trạng TTĐT của BNTHA đang được quản lý điều trị tại BV, đồng thời xác định những yếu tố có liênquan đến sự TTĐT Kết quả là thông tin hữu ích cho các nhà quản lý chương trìnhTHA có hướng tư vấn, động viên và truyền thông hiệu quả cho BN và gia đình BNgiúp tăng hiệu quả điều trị và giảm tác hại của bệnh
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ tuân thủ điều trị của BN THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quận TânPhú năm 2020 là bao nhiêu và các yếu tố nào ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của
BN THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quận Tân Phú?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 112. Xác định tỷ lệ BN THA điều trị ngoại trú có tuân thủ chế độ điều trị không bằng
thuốc gồm: Hút thuốc lá, uống rượu, chế độ ăn và VĐTL tại Bệnh viện quận Tân Phú năm 2020
3. Xác định mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với các thông tin cá nhân, tiền căn
gia đình và bản thân, chỉ số nhân trắc, kiến thức THA, hành vi lối sống, môi trường y tế và gia đình
DÀN Ý NGHIÊN CỨU
KIẾN THỨC TĂNG HUYẾT ÁP
Kiến thức về bệnh THAKiến thức về chế độ điều trị THA
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THA thuốc và không thuốc
TIỀN CĂN GIA ĐÌNH VÀ BẢN THÂN
Tiền sử gia đìnhThời gian điều trị bệnhBệnh đi kèm khácBMI
HÀNH VI LỐI SỐNG
Hút thuốc láUống rượu, biaChế độ ănVận động thể lực
Trang 12HƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Khái quát bệnh tăng huyết áp
1.1.1. Định nghĩa tăng huyết áp
THA còn có nhiều tên gọi khác tùy theo vùng miền như cao huyết áp, cao máu,lên máu, tăng xông[2] THA là một tình trạng trong đó các mạch máu tăng áp lựcliên tục, khi huyết áp tăng tới mức có thể gây ra tổn thương mạch máu, mắt, não,tim, thận… huyết áp càng lớn thì tim càng khó bơm máu[70]
Ở người trưởng thành, huyết áp bình thường khi huyết áp tâm thu dưới 120mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80 mmHg[8] Theo Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) và Hiệp hội THA Thế giới (WHO/ISH): một người trưởng thành khi cóhuyết áp tâm thu (HATT)>=140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr)>=90mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ huyết áp hằng ngày được gọi là THA[8, 18] Tuy nhiên, đến năm 2017, Hiệp hội tim mạch Hoa kỳ (AHA) đã đưa ra hướngdẫn mới về chẩn đoán và phân loại THA Theo đó, một người được gọi là THA khihuyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 130 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớnhơn hoặc bằng 80 mmHg[66]
1.1.1. Phân độ tăng huyết áp
Bảng 1.1.1 Bảng Phân loại THA theo WHO-ISH, khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam năm 2018 và hướng dẫn của Bộ Y Tế
Phân độ huyết áp Huyết áp tâm
thu (mmHg) Huyết ấp tâm trương (mmHg)
Huyết áp bình thường 120 – 199 Và/ hoặc 80 – 84
Tiền tăng huyết áp 130 – 139 Và/ hoặc 85 – 89
Tăng huyết áp tâm thu
Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọnmức cao hơn để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mứcbiến động của huyết áp tâm thu[11]
1.1.1. Nguyên nhân của tăng huyết áp
Trang 13THA nguyên phát: Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên
nhân, chiếm hơn 90% trường hợp bị THA[7]
THA thứ phát[7]:
Chỉ khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát)
Bệnh thận: Viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn hai bên do mắc phải thận đanăng, ứ nước bể thận, u thận làm tiết rénin, hẹp động mạch thận
Nội tiết: Bệnh vỏ tuyến thượng thận, hội chứng Cushing, hội chứng Conn, u sảnxuất quá thừa các Corticosteroid khác (Corticosterone, desoxycortisone), sai lạctrong sinh tổng hợp Corticosteroid
Bệnh tủy thượng thận, u tủy thượng thận (Pheochromocytome)
Bệnh tim mạch: Bệnh hẹp eo động mạch chủ, viêm hẹp động mạch chủ bụngcho xuất phát động mạch thận, hở van động mạch chủ
Thuốc: Các hormone ngừa thai, cam thảo, carbenoxolone, A.C.T.H Corticoides,Cyclosporine, các chất gây chán ăn, các IMAO, chất chống trầm cảm vòng
Nhiễm độc thai nghén
Các nguyên nhân khác: Bệnh cường giáp, bệnh Beri-beri, bệnh Paget xương,bệnh đa hồng cầu, hội chứng carcinoid, toan hô hấp, tăng áp sọ não
1.1.1. Triệu chứng của tăng huyết áp
Tăng huyết áp có thể diễn tiến chậm, phần lớn tăng huyết áp không có triệuchứng Khi xuất hiện triệu chứng tăng huyết áp, thường lúc này đã là biến chứnghoặc tình trạng tăng huyết áp đã nặng[2] Việc phát hiện bệnh có thể qua các lầnthăm khám sức khỏe hay bệnh nhân đến khám vì một bệnh khác
Các triệu chứng nếu có của tăng huyết áp, được xếp thành 3 nhóm triệu
chứng[7]:
- Nhóm triệu chứng do huyết áp tăng: Nhức đầu vùng chẩm vào buổi sáng saukhi thức dậy, hay hết sau vài giờ, chóng mặt, hồi hộp, mau mệt mỏi
Trang 14- Nhóm triệu chứng mạch máu do tăng huyết áp: Chảy máu mũi, nhìn lóa do tổnthương võng mạc, đau ngực do bóc tách động mạch chủ ngực, chóng mặt tư thế.
- Nhóm triệu chứng do bệnh căn bản của tăng huyết áp thứ phát: Như nhức đầutừng cơn kèm hồi hộp, đánh trống ngực, đỏ bừng mặt (trong tăng huyết áp do utủy thượng thận), yếu liệt cơ do hạ Kali máu (bệnh Crohn)
1.1.1. Biến chứng
Các biến chứng thường gặp của THA được đề cập là[7]:
- Các biến chứng tim mạch: nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, suy tim
- Các biến chứng về não: tai biến mạch máu não (bao gồm xuất huyết não và nhún não), bệnh não do THA
- Các biến chứng về thận: tiểu đạm, suy thận
- Các biến chứng về mắt, tiến triển theo các giai đoạn, thẩm chí có thể dẫn đến
mù lòa
- Các biến chứng về ngoại vi, trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách thành động mạch chủ có thể dẫn đến chết người
1.1.1.6 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tăng huyết áp
1.1.6.1 Yếu tố nguy cơ không dự phòng được
Các nhà nghiên cứu ghi nhận một số yếu tố thuận lợi dễ dẫn đến bệnh, trongthực tế các yếu tố này thường tác động lẫn nhau:
Trang 15cơ tăng huyết áp gấp 4 lần người < 44 tuổi và người > 65 tuổi có nguy cơ tăng huyết
áp gấp gần 2 lần[59]
Giới
Khả năng phát triển bệnh THA của nam và nữ gần tương đương nhau, nhưngnhững rủi ro mắc bệnh của họ khác nhau tùy các lứa tuổi Nam ở độ tuổi <45 cónguy cơ mắc THA cao hơn nữ, từ 45-64 tuổi nam và nữ có xu hướng mắc huyết ápnhư nhau Sau đó, tỷ lệ THA ở phụ nữ THA cao hơn nhiều so với nam giới[21] Cácđiều kiện ảnh hưởng đến đàn ông nhiều hơn phụ nữ trước 64 tuổi[28] Ở nữ giới khi
65 tuổi trở lên có nguy cơ mắc THA cao hơn nam giới[21] THA không kiểm soátđược kết hợp với các yếu tố nguy cơ của THA và lối sống nổi bật hơn trong giớinam[23]
Tăng lipid máu
Tăng lipids máu là yếu tố nền tảng gây ra xơ vữa động mạch, tăng huyết áp gópphần làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch[39]
Đái tháo đường
Theo số liệu thống kê, có 60% người bị đái tháo đường đồng thời mắc tănghuyết áp[37] Sự kết hợp đồng thời tăng huyết áp và đái tháo đường làm tăng nguy
cơ mắc bệnh tim mạch gấp 4 lần so với tăng huyết áp bình thường, biến chứng vimạch máu và do đó nguy cơ mắc bệnh thận giai đoạn cuối, mất thị lực và cắt cụt chikhông do chấn thương[62] Kiểm soát huyết áp, cholesterol và đường huyết là yếu
tố giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch trên bệnh nhân tăng huyết áp có mắc đáitháo đường; giảm tỷ lệ tử vong do tim mạch, các biến cố tim mạch lớn, bệnh thận
và bệnh võng mạc[37]
1.1.6.2 Các yếu tố nguy cơ dự phòng được
Tình trạng kinh tế xã hội
Trang 16Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ THA là bệnh có các chi phí y tế dự phòng lớnnhất[34] Nghèo là một trong số các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến mô hình bệnhtật và mô hình tử vong của cộng đồng Sự chênh lệch về thu nhập cũng ảnh hưởngđến bệnh tật trong đó có THA Một khảo sát Sức khỏe và Dân số tại Bangladesh ghinhận từ 7876 người lớn tuổi từ 35 tuổi trở lên với kết quả tỷ lệ chuẩn hóa theo tuổicủa tiền THA và THA là 27,1 và 24,4% Trong số BN THA, 50,1% biết về tìnhtrạng của họ, 41,2% là trong điều trị, nhưng chỉ có 31,4% đã được kiểm soát THA.
Có sự khác biệt lớn trong quản lý THA giữa các hộ gia đình nghèo và các hộ giađình giàu có Các hộ gia đình giàu có nhiều khả năng được nhận thức bệnh cóOR=1,92 với KTC 95% (0,97-3,79) và p = 0,06, được điều trị có OR=3,34 với KTC95% (1,55-7,18) và p < 0,001, BN đã được kiểm soát tình trạng THA có OR= 2,88với KTC 95% (1,28-6,46) và p = 0,01 so với các cư dân nghèo[63]
Thừa cân, béo phì
Thừa cân, béo phì cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp Nguy cơtăng huyết áp cao gấp 7-8 lần ở những người có tỉ số vòng eo/vòng mông cao hơn
so với bình thường[53] Giảm cân có thể giảm nguy cơ tăng huyết áp và các bệnh đikèm như đái tháo đường, rối loạn lipid máu[4]
Hút thuốc lá
Sử dụng thuốc lá làm tăng nguy cơ bị HA cao Những người hút thuốc lá có tỷ lệTHA cao hơn những người không hút thuốc lá và có thể gây hại cho tim và mạchmáu Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích đặc biệt có chất nicotin kíchthích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp, hút một điếu thuốc
lá có thể làm tăng huyết áp tâm thu lên tới 11mmHg, huyết áp tâm trương lên9mmHg và kéo dài trong 20-30 phút Vì vậy nếu không hút thuốc lá cũng là biệnpháp phòng bệnh THA[3]
Ăn mặn
Trang 17Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng giúp cơ thể khỏe mạnh, chế độ ăn nhiều muốilàm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp Theo khuyến cáo WHO, một người trưởng thànhchỉ nên nạp ít hơn 2g Natri tương đương ít hơn 5g muối mỗi ngày[68] Ăn giảmmuối sẽ góp phần làm giảm huyết áp, ăn giảm 4,7-5,8g muối trong khẩu phần ănhàng ngày sẽ làm giảm huyết áp bình quân 4-6 mmHg và làm tăng tác dụng hạ ápcủa thuốc[4].
Uống nhiều rượu
Theo khuyến cáo của Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ đối với phụ nữ nênuống không quá 1 ly/ ngày và đàn ông nên uống không quá 2 ly/ ngày[25] Đàn ôngthường tiêu thụ nhiều rượu hơn so với phụ nữ và nguy cơ THA tuyến tính với mộtliều đáp ứng, kết quả cho thấy rằng tiêu thụ rượu thường xuyên, đặc biệt là ở namgiới, là một yếu tố nguy cơ quan trọng cho việc phát triển bệnh THA[30]
Vận động thể lực
Lối sống tĩnh tại cũng là một yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp Vận động hàngngày từ 30 đến 45 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạchnói chung và tăng huyết áp nói riêng[3]
1.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 2000 ước tính 26% dân sốthế giới (972 triệu người) bị tăng huyết áp và tỷ lệ lưu hành dự kiến sẽ tăng lên 29%vào năm 2025, chủ yếu là do sự gia tăng ở các quốc gia đang phát triển kinh tế[71] Năm 2010, trên thế giới có 31,1% dân số trưởng thành bị tăng huyết áp Trong
đó, tỷ lệ người THA ở các nước thu nhập trung bình và thấp (31,5%) cao hơn cácnước thu nhập cao (28,5%), có khoảng 75% những người THA (1.04 tỷ người) sống
ở các nước thu nhập trung bình và thấp; tỷ lệ THA chuẩn hóa theo tuổi tăng 2,6% ởcác nước có thu nhập cao, nhưng lại tăng 7,7% ở các nước có thu nhập trung bình
và thấp; tỷ lệ nhận thức, điều trị và kiểm soát thấp hơn nhiều ở nước thu nhập trungbình và thấp so với các nước thu nhập cao Tuy nhiên, vì dân số có chiều hướng giatăng và xu hướng đang dần già hóa nên số người mắc THA không kiểm soát được
Trang 18đã tăng, ước tính theo khu vực thế giới có khoảng 1,39 tỷ người lớn ở độ tuổi 20 bịtăng huyết áp (694 triệu là nam và 694 triệu là phụ nữ) Theo thống kê, tỷ lệ THAcao nhất ở khu vực Châu Âu và Trung Á, với 37,25% cả hai giới Tỷ lệ THA thấpnhất ở khu vực Bắc Phi với 27,95% cả hai gới Tỷ lệ THA cao nhất ở nam giới là ởnước phát triển, Đông Á và Thái Bình Dương, Châu Âu và Trung Á, châu Phi cậnSahara Trong khi tỷ lệ THA cao nhất ở nữ giới là ở Mỹ La Tinh và Caribe, TrungĐông và Bắc Phi, Nam Phi Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương có gánh nặngtăng huyết áp tuyệt đối lớn nhất với 439 triệu người bị tăng huyết áp, còn khu vựcTrung Đông và Bắc Phi có gánh nặng tăng huyết áp tuyệt đối thấp nhất[50].
Năm 2015, Trung và Đông Âu, châu Phi cận Sahara và Nam Á có mức huyết ápcao nhất Tỷ lệ THA giảm ở các quốc gia có thu nhập cao và một số quốc gia thunhập trung bình, còn tại những nơi khác không có sự thay đổi Số lượng ngườitrưởng thành mắc THA tăng từ 594 triệu người vào năm 1975 lên 1,13 tỷ ngườitrong năm 2015, với sự gia tăng chủ yếu ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.Huyết áp trung bình giảm ở phụ nữ vùng trung tâm và Đông Âu, Mỹ Latinh vàCaribê, gần đây là tại trung tâm Châu Á, Trung Đông và Bắc Phi, nhưng xu hướngước tính ở các khu vực này có sự không chắc chắn nhiều hơn so với những khu vực
có thu nhập cao Ngược lại, huyết áp trung bình có thể tăng ở phía Đông và ĐôngNam châu Á, Nam Á, Châu Đại Dương và châu Phi cận Sahara[56]
Từ năm 1985 đến 2016, tỷ lệ tăng huyết áp và huyết áp trung bình tăng ở ChâuĐại Dương và Nam Á Nam và nữ ở Nam Á và Trung Á, Trung Đông và Bắc Phi sẽ
có tỷ lệ tăng huyết áp cao nhất Ngược lại, Châu Á Thái Bình Dương có thu nhậpcao sẽ có tỷ lệ mắc thấp nhất, tiếp theo là khu vực phương Tây có thu nhập cao, với
tỷ lệ phổ biến khoảng 1% Thứ tự các khu vực về tỷ lệ lưu hành vượt mức tương tựnhau giữa nam và nữ, ngoại trừ nam giới ở Trung và Đông Âu có thứ hạng về tỷ lệlưu hành vượt mức kém hơn so với phụ nữ trong cùng khu vực Huyết áp tâm thu vàhuyết áp tâm trương trung bình có sự khác nhau giữa các khu vực: cao nhất ở khuvực Nam Á và Trung Á, Trung Đông và Bắc Phi; thấp nhất ở Châu Á Thái BìnhDương và các quốc gia phương Tây có thu nhập cao; một số quốc gia xu hướnggiảm đáng kể Huyết áp trung bình tăng ở phụ nữ Châu Á Thái Bình Dương có thu
Trang 19nhập cao và châu Phi cận Sahara Ngược lại, huyết áp trung bình ở nam giới cácquốc gia Phương Tây có thu nhập cao, Trung và Đông Âu[57]
Một số khảo sát và nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người mắc THA lại có xu hướngtăng nhanh ở các quốc gia đang phát triển như ở khu vực châu Á và châu Phi Theokhảo sát kiểm tra sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia năm 2011-2012 ở Mỹ, ước tính
có khoảng 75 triệu người trưởng thành bị THA (32%), tức là cứ 3 người trưởngthành thì có 1 người mắc THA, nhưng trong số đó chỉ có khoảng một nửa (54%)kiểm soát được tình trạng THA của mình[29, 32, 60] Ở Trung Quốc, năm 2017,một nghiên cứu được tiến hành trên 1,7 triệu người từ 35-75 tuổi đến từ 31 tỉnh, chokết quả gần một nửa số người bị THA, chưa đến một phần ba đang được điều trị vàdưới một phần mười hai người kiểm soát được huyết áp[38]
1.1.1. Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Khảo sát quốc gia về tình trạng thừa cân ở người trưởng thành được thực hiệnbởi Viện Dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam năm 2005 trên cỡ mẫu là 17.199 ngườitrưởng thành ở độ tuổi từ 25 – 64 tuổi Nghiên cứu sử dụng thiết kế lấy mẫu hai giaiđoạn để có được mẫu đại diện trên toàn quốc là những người trưởng thành ở độ tuổi
từ 25 đến 64 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy trong năm 2005, tỷ lệ tăng huyết
áp là 20,7% với KTC 95% khoảng tin cậy (CI = 19,4 - 22,1), tỷ lệ tiền tăng huyết áp
là 41,8% với KTC 95% (CI = 40,4 - 43,1), nghĩa là cứ 5 người trưởng thành từ 25 –
64 tuổi thì sẽ có 1 người mắc THA Đồng thời, cùng với con số 20,7% mắc THAđồng nghĩa với việc có hơn 8 triệu người Việt Nam mắc bệnh THA trong năm 2005.Căn bệnh này phổ biến ở nam giới (25,2%) hơn so với phụ nữ (15,9%) và đặc biệtnhững người ở độ tuổi càng lớn thì khả năng mắc bệnh càng cao Trong số các bệnhnhân tăng huyết áp có 25,9% nhận thức được tăng huyết áp của họ, 12,2% đangđược điều trị và 2,8% bị huyết áp trong tầm kiểm soát; trong số các bệnh nhân tănghuyết áp được điều trị có 32,4% đã kiểm soát được huyết áp Kết quả mô hình nàyphù hợp với kết quả của một vài khảo sát nhỏ đã được báo cáo trước đây tại ViệtNam về tỷ lệ hiện mắc THA quan sát được đang có xu hướng gia tăng ở Việt Nam,nhưng nghiên cứu này tiến bộ hơn những nghiên cứu trước ở điểm không bao gồmchỉ dân số già mà đã mở rộng độ tuổi từ 25 – 64 tuổi và sử dụng mẫu đại diện bao
Trang 20gồm nhiều người từ các khu vực trên toàn quốc 8 chứ không bó hẹp người tham gia
từ khu vực thành thị Đồng thời, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc tại Việt Nam làtương đương với kết quả ở một số quốc gia châu Á khác như Trung Quốc (18%),Thái Lan (21,7%) và Hàn Quốc (22,9%)[33]
Cuộc khảo sát STEPS của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được thực hiện tại Việtnam năm 2015 Khảo sát thực hiện trên 3.856 người ở những người từ 18 – 69 tuổiđang cư trú trên tất cả 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam Kết quả cho thấy, tỷ lệchung của tăng huyết áp ở Việt Nam năm 2015 là 18,9% với KTC 95% (17,4%-20,6%) Tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới (23,1%) cao hơn ở nữ giới (14,9%) Cácyếu tố tương quan đáng kể với tăng huyết áp là tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể vàtình trạng bệnh tiểu đường Nghiên cứu này còn cho thấy rằng tỷ lệ nhận thức, điềutrị và kiểm soát huyết áp cao còn thấp lần lượt tương ứng là 43,1%, 24,9% và 9,7%.Mức độ nhận thức về huyết áp tăng cao hơn ở nhóm tuổi lớn hơn và người thừa cân
và thấp hơn ở các nhóm dân tộc thiểu số Huyết áp tăng ở Việt Nam là một vấn đềnghiêm trọng do cường độ của nó và tỷ lệ không nhận thức cao trong dân số Do đó,các can thiệp nên giải quyết tất cả mọi người trong xã hội, tập trung vào các nhómthiệt thòi là nông thôn và dân tộc thiểu số[35]
Một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp về tỷ lệ lưu hànhtăng huyết áp tại Việt Nam năm 2019 dựa trên dữ liệu từ trên bài viết được chọn vàđược trích xuất bằng bảng tính được tiêu chuẩn hóa Kết quả cho thấy, tỷ lệ lưuhành gộp tăng huyết áp đo được ở Việt Nam là 21,1% dựa trên 10 nghiên cứu và18,4% dựa trên 3 khảo sát quốc gia Tỷ lệ gộp về nhận thức và điều trị tăng huyết ápthấp lần lượt là 9,3% và 4,7% Các tỷ lệ gộp cao hơn đáng kể ở nam giới như: tỷ lệtăng huyết áp được đo có OR = 1,8 với KTC 95% (CI = 1.6-2.1), nhận thức về tănghuyết áp có OR = 1.8 với KTC 95% (CI = 1.5-2.1) và điều trị tăng huyết áp có OR
= 1.8 với KTC 95% (CI = 1.6-2.1) Các tỷ lệ gộp của tăng huyết áp được đo, nhậnthức và điều trị tăng huyết áp thấp hơn đáng kể ở các vùng nông thôn Cần tăngcường các nỗ lực phòng ngừa tiên phát và thứ phát và quản lý bệnh để giảm tỷ lệmắc và tử vong, đặc biệt là ở các khu vực cư trú ở nông thôn[48]
1.1 Phòng ngừa và điều trị tăng huyết áp
Trang 211.1.1. Phòng ngừa tăng huyết áp
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống là những biện pháp để phòng ngừaTHA ở người trưởng thành, phối hợp với việc giáo dục truyền thông nâng cao nhậnthức và hiểu biết về bệnh THA cũng như các biến chứng của THA và các yếu tốnguy cơ tim mạch khác[1]
1.1.1. Điều trị tăng huyết áp
• Nguyên tắc chung[1, 11, 45]
- THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điềutrị lâu dài
- Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”
- “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu ngườibệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì “huyết
áp mục tiêu” cần đạt là < 130/80 mmHg Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu,cần duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ đểđiều chỉnh kịp thời
- Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích Khôngnên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan cấpcứu, trừ tình huống cấp cứu
• Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống[55]
- Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
- Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axit béo no
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơthể BMI từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ
- Hạn chế uống rượu/bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốcchuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốcchuẩn/tuần (nữ)
- Từ bỏ hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vậnđộng ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh, chú ý thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
- Tránh để lạnh đột ngột
• Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc tại tuyến cơ sở[1]
- Chọn thuốc khởi đầu:
Trang 22+ THA độ 1: có thể lựa chọn một loại trong số các nhóm như lợi tiểu thiazideliều thấp; ức chế men chuyển; chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài; chẹnbeta giao cảm (nếu không có chống chỉ định).
+ THA độ 2 trở lên: nên phối hợp 2 loại thuốc (lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chếmen chuyển, ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II, chẹn bêta giao cảm) + Từng bước phối hợp các thuốc hạ huyến áp cơ bản, bắt đầu từ liều thấp nhưlợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide 12,5mg/ngày), chẹn kênh canxi dạngphóng thích chậm (nifedipine chậm (retard) 10-20mg/ngày), ức chế menchuyển (enalapril 5mg/ngày; perindopril 2,5-5 mg/ngày…)
- Quản lý người bệnh ngay tại tuyến cơ sở để đảm bảo bệnh nhân được uốngthuốc đúng, đủ và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiệnsớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc theo 4 bước quản lý THA ởtuyến cơ sở
- Nếu chưa đạt huyết áp mục tiêu: chỉnh liều tối ưu hoặc bổ sung thêm loạithuốckhác cho đến khi đạt huyết áp mục tiêu
- Nếu vẫn không đạt huyết áp mục tiêu hoặc có biến cố: chuyển tuyến trên - hoặcchuyên khoa tim mạch
Trang 23Hình 1 1 Sơ đồ điều trị theo phác đồ điều trị THA theo BYT
1.1 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị
THA
1.1.1. Tuân thủ điều trị
“Tuân thủ là mức độ mà BN thực hiện theo các hướng dẫn được đưa ra chophương pháp điều trị theo của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe củamình”[65]
Theo Ranial và Morisky – 2011: “Tuân thủ là mức độ hành vi của BN đối vớiviệc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng vớikhuyến cáo của NVYT”[65]
Cải thiện lối sống
Phân độ HA và phân tầng nguy cơ tim mạch để xác định huyết áp mục tiêu và chiến lược điều trị
Mục tiêu : Huyết áp < 140/90 mmHg (< 130/80 nếu có ĐTĐ và bệnh mạn tính)
Nâng cao nhận thức và thay đổi lối sống để hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ tim mạch khác
Lựa chọn thuốc khởi đầu
Có chỉ định bắt buộc hoặc ưu
Tăng huyết áp độ 2-3 ( 100mmHg) Kết hợp 2 loại thuốc (Ưu tiên với lợi tiểu liều thấp)
Có thể dùng thêm chẹn kệnh canxi, ƯCMC, ƯCTT, chẹn betaGiám sát tư vấn , khuyến khích TTĐT Kiểmsoát hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ tim mạch
Có tác dụng phụKhông đạt được HA mục tiêu
Thay thế loại thuốc hạ áp khác Khuyến khích TTĐT
Tăng liều tối đa hoặc phối hợp thuốc đến
khi đạt HA mục tiêu
Tham khảo ý kiến chuyên gia tuyến trên
Trang 24Không tuân thủ được xác định là nguyên nhân chính của thất bại kiểm soátTHA Không TTĐT hạ HA là một yếu tố nguy cơ tim mạch đáng kể, thường vẫnkhông được công nhận[41] Những BN thực hành ít thay đổi lối sống để kiểm soát
HA có nhiều khả năng có điểm tuân thủ thấp hơn các BN chấp nhận thay đổi lốisống tốt[36] Việc kiểm soát quy mô rộng của THA là thách thức chưa khả thi đốivới các nước trên thu nhập cao, kể cả ở các nước thu nhập thấp và trung bình Điềutrị thành công THA liên quan đến việc kê đơn, sẵn có và tuân thủ các thuốc thíchhợp, duy trì và theo dõi lâu dài và điều chỉnh thuốc Tuân thủ bị cản trở bởi phác đồđiều trị phức tạp, nguồn cung hạn chế và khả năng chi trả của thuốc và các hệ thốngchăm sóc sức khỏe quá tải và thiếu nguồn lực[26] Một số trong những rào cản lớnnhất để đạt được sự kiểm soát HA là thất bại trong kê toa thuốc chống THA và thiếu
sự tuân thủ đơn thuốc[47]
Việc TTĐT là một yếu tố quyết định chính cho sự thành công Không tuân thủlàm suy giảm lợi ích lâm sàng tối ưu và do đó làm giảm hiệu quả tổng thể của hệthống y tế "Thuốc sẽ không có tác dụng nếu BN không dùng chúng" Thuốc sẽkhông hiệu quả nếu BN không điều trị theo quy định, ở các nước phát triển chỉ có50% BN mắc các bệnh mãn tính tuân thủ các khuyến cáo điều trị[72] TTĐT thuốcliên tục theo quy định là một nền tảng quan trọng của việc kiểm soát THA[36].Các rào cản đối với việc kiểm soát THA cũng được biết đến và bao gồm yếu tố
BN, chẳng hạn như không tuân thủ lời khuyên lối sống hay điều trị bằng thuốc, vàcác yếu tố nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả các tổ chức, môi trườngnơi chăm sóc được giao Theo như các yếu tố liên quan đến các BS có liên quan, kêđơn thuốc không tối ưu, quán tính đặc biệt điều trị là rất quan trọng Không tuân thủ
là một trong những trở ngại lớn nhất trong việc kiểm soát điều trị THA Tổ chức Y
tế Thế giới mô tả không tuân thủ theo các nguyên nhân quan trọng nhất của HAkhông kiểm soát được và ước tính 50-70% người không dùng thuốc hạ HA của họtheo quy định[43, 65]
1.1.1. Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị THA
Trang 25Về các yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT, các nhà nghiên cứu chỉ ra nhiều nguyênnhân, tức là phụ thuộc vào sự tuân thủ bệnh (mạn tính, không có triệu chứng và hậuquả cuối), điều trị (thuốc uống), đặc điểm và niềm tin của người dân (giới tính, độtuổi, trạng thái hôn nhân, giáo dục và tình trạng kinh tế-xã hội), thói quen cuộcsống, các khía cạnh văn hóa (thiếu nhận thức về mức độ nghiêm trọng của bệnh, sựthiếu hiểu biết, bệnh tật trong bối cảnh gia đình và lòng tự trọng) và làm thế nàonhững người có liên quan THA với các dịch vụ y tế[43] Các yếu tố liên quan vớiđiểm tuân thủ dùng thuốc hạ HA thấp khác nhau theo giới tính[36].
Tuân thủ là một hiện tượng đa chiều xác định bởi sự tương tác của năm yếu tốđều được gọi là “khía cạnh” trong đó các yếu tố liên quan đến BN là một yếu tốquyết định Năm yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT: yếu tố liên quan đến bệnh tật, BN,điều trị, kinh tế xã hội và hệ thống y tế [64, 72]
TTĐT phụ thuộc vào nhiều yếu tố và đã được chứng minh để thay đổi từ 0 đến100% trong các quần thể khác nhau được nghiên cứu Các yếu tố như tuổi, giới tính,tình trạng kinh tế xã hội thấp và mức độ nghiêm trọng của bệnh, số lượng thuốc mỗingày, tác dụng phụ của thuốc, thiếu hiểu biết của BN về bệnh và tầm quan trọng củaviệc điều trị, tình trạng sức khỏe bệnh tật kèm theo, thiếu sự hỗ trợ xã hội, mối quan
hệ giữa BN và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc, chi phí, sự lãng quên sự hiện diệncủa các vấn đề tâm lý, đặc biệt là trầm cảm, có tất cả được hiển thị để ảnh hưởngđến sự tuân thủ trong các quần thể khác nhau[65]
1.1.1.1. Yếu tố liên quan đến bệnh tật
Nghiên cứu các tác động của nhận thức về tuân thủ điều trị của BN THA tạiTrung tâm thành phố Tabriz đã cho thấy rằng nhận thức về hiệu quả của việc tuânthủ điều trị bằng thuốc, lý do tuân thủ thuốc, bệnh tật và niềm tin đối với thuốcđược kê đơn đều được công nhận là yếu tố dự báo quan trọng của việc tuân thủ điềutrị Nhận thức về mối đe dọa của bệnh và hiểu rõ hơn về bệnh được phụ nữ chủ yếuquan tâm nhiều hơn đàn ông, nên việc tăng cường khả năng quản lý bệnh và tuântheo chế độ dùng thuốc của họ sẽ tốt hơn[44]
Trang 261.1.1.1. Yếu tố liên quan đến bệnh nhân
Một nghiên cứu ở San José, Costa Rica và Tuxtla Gutiérrez, Chiapas, Mexico
về các rào cản đối với việc người bệnh tự quản lý bệnh tật của bản thân cho thấyrằng: BN gặp các rào cản và các yếu tố nguy cơ hiện diện từng giai đoạn khác nhauthì họ sẵn sàng thay đổi khác nhau “Các rào cản đối với tự quản lý bệnh bao gồm:không chấp nhận bệnh tật, thiếu thông tin về các triệu chứng, thông tin liên lạc giữacác nhà cung cấp và BN, khó đàm phán các cam kết cho việc chăm sóc sức khỏe,nhận thức về thực phẩm lành mạnh nhưng đắt tiền hoặc không đầy đủ, khó tuân thủđiều trị và kế hoạch giảm cân để kiểm soát trọng lượng, bổ sung các biến chứng sứckhỏe, và chăm sóc sức khỏe trở nên đơn điệu”[52]
Một nghiên cứu định tính thực hiện tại Kenya cho thấy rằng, yếu tố cá nhân(nhận thức và cảm xúc) rào cản ảnh hưởng đến việc chăm sóc bệnh tăng huyết áp.Yếu tố nhận thức được ghi nhận là rào cản chính trong việc chăm sóc tăng huyết
áp Mặc dù mọi người đã có một số kiến thức về nguyên nhân, cách điều trị và cácbiến chứng tiềm ẩn của tăng huyết áp, nhưng họ không cho rằng mình dễ bị tổnthương cho đến khi tình trạng này xuất hiện các triệu chứng không thể chịu đựngđược Nhiều người tham gia bày tỏ quan điểm rằng sẽ rất bất lợi khi phải rời khỏicác hoạt động bận rộn ở nhà và đi làm để chờ đợi hàng giờ tại cơ sở y tế để chămsóc, đặc biệt là nếu các dịch vụ y tế được coi là kém chất lượng Họ ưu tiên các nhucầu và bệnh tật hàng ngày khác với các triệu chứng nổi bật hơn, thích tập trung thờigian và tiền bạc vào các thách thức hàng ngày được coi là cấp bách hơn nhiều Cácyếu tố cảm xúc, chủ yếu được mô tả là nỗi sợ hãi đã được ghi nhận bởi những ngườitham gia là có ảnh hưởng đáng kể đến khuynh hướng của một cá nhân để liên kếtvới việc chăm sóc Chúng bao gồm nỗi sợ trở thành gánh nặng, được sàng lọc cácbệnh kỳ thị như HIV và gặp phải các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc khắc nghiệtbao gồm sự khắc nghiệt của lời nói, ngôn ngữ nói, bị mắng vì trễ hẹn hoặc bỏ lỡ, vàcách cư xử bất lịch sự[54]
1.1.1.1. Yếu tố liên quan đến kinh tế xã hội
Trang 27Kết cấu kinh tế xã hội là một yếu tố môi trường quan trọng ảnh hưởng đến xuhướng tìm kiếm sự chăm sóc Việc đưa ra quyết định về việc tiếp cận chăm sóc sứckhỏe thường là rào cản đối với phụ nữ, điều này góp phần vào việc chậm trễ tìmkiếm chăm sóc cho phụ nữ Nghèo đói và thiếu tài chính để chi trả các chi phí vậnchuyển, hóa đơn bệnh viện và thuốc là yếu tố ngăn cản nhiều người bắt đầu chămsóc, việc tuân thủ kém với thuốc hạ huyết áp[54] Ngoài ra, tình trạng kinh tế ảnhhưởng đến việc tuân thủ điều chỉnh lối sống của bệnh nhân như quản lý chế độ ănuống và mua thiết bị quản lý huyết áp[49]
1.1.1.1. Yếu tố liên quan đến điều trị
Tương tác thuốc được xem là một nhân tố quan trọng đối với những bệnh nhânđiều trị đa trị liệu Một tương tác thuốc xảy ra khi tác dụng của một thuốc thay đổi
do sử dụng đồng thời một loại thuốc khác, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị
và an toàn của một hoặc nhiều loại thuốc BN THA là đối tượng đặc biệt dễ bị tổnthương do tương tác thuốc vì tuổi cao, giới tính, kết hợp nhiều thuốc và ảnh hưởngtim mạch về sự trao đổi thuốc Theo một nghiên cứu về tương tác thuốc của bệnhnhân tăng huyết áp trong một bệnh viện cho thấy rằng, trong số các loại thuốc được
kê cho bệnh nhân tăng huyết áp trong bệnh viện phổ biến thuộc nhóm tuổi 40 – 60tuổi; phổ biến ở những bệnh nhân nam có r = 0,196 với p = 0,028; những bệnh nhânđược kê đơn nhiều hơn bốn loại thuốc (53,6%) dễ bị tương tác thuốc hơn nhữngngười khác; tương tác thuốc giữa giữa thuốc hạ huyết áp và thuốc bổ sung canxichiếm khoảng 30%, sau đó là 28,4% trong các thuốc hạ huyết áp[22]
Nghiên cứu cắt ngang tại thành phố phía Nam của Brazil thực hiện trên 422người và dữ liệu được thu thập diễn ra tại nhà của BN từ tháng 12/2011 đến tháng3/2012 Nghiên cứu cho thấy kết quả: 42,6% không TTĐT bằng thuốc và 17,7% cókiến thức kém về bệnh THA Các yếu tố liên quan đến việc không TTĐT bằngthuốc là: thuốc điều trị phức tạp, thiếu hiểu biết về bệnh và không hài lòng với cácdịch vụ chăm sóc sức khỏe Kết quả củng cố thêm rằng các thuốc điều trị THA phứctạp, ít kiến thức về căn bệnh THA và không hài lòng với các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe có ảnh hưởng đến quá trình không TTĐT thuốc chống THA của các BN[24]
Trang 281.1.1.1. Yếu tố liên quan đến hệ thống y tế
Các yếu tố của hệ thống y tế đã được báo cáo là rào cản đối với chăm sóc bệnhtăng huyết áp, trong đó phổ biến nhất là chất lượng chăm sóc kém và mối quan hệbệnh nhân của nhà cung cấp kém Rào cản về chất lượng chăm sóc bao gồm hạn chế
về thuốc, thiết bị hoạt động kém và nguồn nhân lực không đủ Ngoài ra, mối quan
hệ bệnh nhân của nhà cung cấp kém đã được cảm nhận là biểu hiện vắng mặt, ràocản ngôn ngữ, tham nhũng, ngược đãi và các dịch vụ kém, thời gian chờ đợi lâu tạicác cơ sở y tế công cộng Các phương pháp điều trị bổ sung và thay thế, đặc biệt làchăm sóc thảo dược được quảng cáo rộng rãi trong khu vực làm cho nhiều thànhviên trong cộng đồng bị thuyết phục sử dụng các loại thuốc không kê đơn và cũngthúc đẩy tự dùng thuốc hơn là tham gia vào lĩnh vực chuyên nghiệp[54]
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc BS lắng nghe và đồng cảm với
BN là một động lực quan trọng giúp cải thiện việc TTĐT, kiểm soát HA, cải thiệnmối quan hệ giữa BS – BN và sự tin tưởng giữa BN vơi BS Nhưng các bác sĩkhông có khuynh hướng muốn biết về quan điểm và mong đợi của bệnh nhân,thuyết phục họ đặt thêm câu hỏi, kiểm tra nhận thức của bệnh nhân, phân loại thôngtin và thảo luận vấn đề với họ Điều này dẫn đến sự không hài lòng của BN trongmối quan hệ của họ với bác sĩ, ảnh hưởng đến việc TTĐT và kiểm soát HA Cácnghiên cứu trước đây ghi nhận rằng so với những BN nam, BN nữ chú trọng hơn vềthời gian và giải thích từ các BS và thích các "định hướng" mà BS đưa ra nên sựkhông hài lòng của BN đã được xác định là một rào cản đối với sự tuân thủ ở BN
nữ hơn BN nam Vì vậy, Các nhà cung cấp dịch vụ y tế cần xem xét thời gian gặp
gỡ để giải thích và trò chuyện về thuốc tuân thủ - đặc biệt là trong quá trình thămkhám với phụ nữ, kể cả những người đã có bệnh trong nhiều năm - có thể cải thiệnhiệu quả tuân thủ và kiểm soát HA của bệnh nhân[20]
1.1 Cải thiện việc tuân thủ điều trị
Việc tuân thủ điều trị có ảnh hưởng lớn về sức khỏe và chi phí chăm sóc cho
BN THA Tuy nhiên, bằng chứng để hỗ trợ bất kỳ cách tiếp cận cụ thể hoặc canthiệp để cải thiện sự tuân thủ của BN với các thuốc hạ HA hoặc thay đổi lối sống
Trang 29theo quy định còn thiếu Việc tuân thủ phác đồ dùng thuốc lâu dài đòi hỏi phải thayđổi hành vi, trong đó có việc học tập, áp dụng và duy trì một thái độ dùng thuốc.Chiến lược như cung cấp phần thưởng, nhắc nhở và hỗ trợ gia đình để củng cố cáchành vi mới đã được tìm thấy để cải thiện sự tuân thủ các bệnh mãn tính Can thiệphành vi liên quan đến như vậy có thể là chìa khóa để cải thiện sự tuân thủ với cácthuốc hạ HA và cần được khám phá một cách chặt chẽ trong các thử nghiệm lâmsàng[67].
Đối với việc điều trị có liên quan đến phác đồ điều trị phức tạp , thời gian điềutrị, khả năng dung nạp thuốc thấp, tác dụng phụ của điều trị có thể cải thiện TTĐTbằng cách đơn giản hóa phác đồ điều trị, ít thay đổi phác đồ điều trị và hướng dẫn
rõ cho BN từng loại thuốc
Đối với BN tăng cường truyền thông giáo dục để họ có thể nhận thấy tác hạicủa bệnh và từ đó tham gia tích cực vào việc tự kiểm soát và tự quản lý bệnh chobản thân[67] Cụ thể đã chứng minh rằng việc nâng cao nhận thức và cung cấp cácthông điệp đơn giản dẫn đến thăm nhà cung cấp cao và giảm HA trong dân số THA
ở Bangladesh Đồng thời thay đổi hành vi là có thể can thiệp và lặp đi lặp lại có thể
có hiệu quả hơn để duy trì sự thay đổi lối sống và cải thiện kiểm soát HA[31]
1.1 Tình hình tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan
1.1.1. Các nghiên cứu tuân thủ điều trị trên thế giới
Sự thiếu hiểu biết, các yếu tố nguy cơ liên quan, những thay đổi trong lối sống
và tuân thủ dùng thuốc của các đối tượng về THA có thể là một nhân tố chính củaviệc THA không kiểm soát được[23]
Tại Mỹ, khoảng 75 triệu người trưởng thành bị THA, cứ 3 người trưởng thànhthì có 1 người bị THA Khoảng 81% những người THA nhận thức được rằng họ đãTHA, chỉ có 73% được điều trị THA đã tiêu tốn chi phí quốc gia là 46 tỉ USD mỗinăm Con số này bao gồm các chi phí của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thuốcđiều trị THA và bỏ lỡ ngày làm việc[27]
Trang 30Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành năm 2014 tại một đơn vị Chiến lượcchăm sóc sức khỏe thành phố Montes Claros, Minas Gerais, đông nam Brazil trên
140 BN THA điều trị ngoại trú Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TTĐT bằng thuốc chiếm70,7%, béo phì (84%), hoạt động thể chất (84,3%), hút thuốc lá (62,9%), uống rượu(60,0%) và việc sử dụng thuốc (96,4%) Nguyên nhân dẫn đến việc không TTĐT là
do quên uống thuốc (18,22%), thiếu thuốc uống tại đơn vị (21,4%) Có mối liênquan có ý nghĩa giữa thu nhập gia đình và tuân thủ điều trị (p = 0,039), các đốitượng tăng huyết áp được hướng dẫn bởi các đại lý y tế cộng đồng có nguy cơkhông tuân thủ thuốc cao gấp 2,21 lần so với những người không được hướngdẫn[46]
Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành vào năm 2015 tại hai Trung tâm Y tếcông động ở Chatham County và Georgia, trên 150 BN điều trị 6 tháng tại trungtâm Kết quả cho thấy tỷ lệ không tuân thủ được báo cáo chiếm 52% số BN thamgia Tỷ lệ không tuân thủ điều cao do không nhận được thông tin về thuốc của họ(OR = 2,40 với KTC 95% = 1,01-5,74), không thường xuyên đến thăm sức khỏe(OR = 2,74, với KTC 95% = 1,09-6,88), có những thay đổi trong điều trị (OR =3,75, KTC 95% = 1,62-8,70), không có sự giúp đỡ từ người chăm sóc (OR = 0,15với KTC 95% = 0,04-0,60) và tích hợp việc dùng thuốc vào thói quen hàng ngày(OR = 0,18 với KTC 95% = 0,06-0,59)[19]
Một nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành tại phòng khám chăm sóc sứckhỏe ban đầu (PHC) ở thành thị KwaZulu-Natal năm 2017 do tác giả Olumuyiwa A.Olowe và Andrew J Ross thực hiện trên 349 BN THA trong độ tuổi từ 18 tuổi trởlên Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tuân thủ thuốc ở mức độ cao chiếm 17%,vừa phải là 63% và thấp chiếm tỷ lệ là 32,5% Hầu hết những người tham gianghiên cứu trả lời đôi khi họ quên uống thuốc và không tham gia tập thể dục theoquy định thường xuyên trong hầu hết các ngày Tỷ lệ các bệnh nhân đạt điểm “mức
độ kiến thức vừa phải” chiếm 90%, với điểm kiến thức trung bình là 10,36 Trong
số người tham gia nghiên cứu chỉ 49% số người tham gia có HA ở mức tối ưu khiđược đo trong ba lần khám gần đây nhất của họ tại phòng khám PHC Có mối liên
Trang 31quan có ý nghĩa giữa trình độ học vấn của bệnh nhân và mức độ tuân thủ điều trị
( p = 0,01), giữa kiến thức, tuân thủ điều và kiểm soát HA (p < 0,001)[61]
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 299 BN tại các trung tâm chămsóc sức khỏe ban đầu của Tây Ban Nha Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ BN tuân thủ điềutrị là 55,5% Tỷ lệ tuân thủ trung bình và thấp lần lượt là 39,8% và 4,7% và baogồm nhóm tuân thủ điều trị kém (44,5%) Các nguyên nhân không tuân thủ điều trịtrong nhóm tuân thủ điều trị kém: đôi khi quên uống thuốc (79,0%), đôi khi bất cẩn
về việc dùng thuốc (29,3%), ngừng thuốc khi cảm thấy tốt hơn (21,1%) và ngừngthuốc khi cảm thấy tốt hơn cảm thấy tồi tệ hơn (24,1%) Các yếu tố ảnh hưởng đếnviệc tuân thủ điều trị: tuổi, số lượng nhà thuốc được sử dụng để nạp thuốc, thông tinđiều trị nhận được, kiến thức của bệnh nhân về chế độ dùng thuốc và tự nhận thứcchất lượng cuộc sống[51]
1.1.1. Các nghiên cứu tuân thủ điều trị trong nước
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Nhi (2015) về “Tỷ lệ tuân thủ điều trị và cácyếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnhLong An”, trên 232 bệnh nhân đã được chẩn đoán THA đang điều trị trên địa bàn xãPhước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trịbằng thuốc là 48,3% và tuân thủ điều trị không bằng thuốc chiếm 89,7% Có mốiliên quan giữa giới, tuổi, trình độ học vấn, sống chung, các bệnh kèm theo, béo phì
và nguồn nhận thông tin với việc TTĐT Vấn đề nghiên cứu có sử dụng thang đođánh giá sự tuân thủ thuốc Morisky có độ tin cậy tương đối cao được sử dụng ở cácnước Châu Á, Hàn Quốc, Nhật Bản; được thiết kế qua bộ câu hỏi rõ ràng và đơngiản phù hợp với đối tượng và địa điểm nghiên cứu Tuy nhiên, kết quả của nghiêncứu chỉ có ý nghĩa tại thời điểm nghiên cứu và không tìm ra được trình tự nhân quảcủa các mối quan hệ trong phân tích nghiên cứu[9]
Nghiên cứu của Trượng Văn Trang (2015) được thực hiện trên 305 BN THAđiều trị ngoại trú tại TTYT huyện Ninh Phước, Ninh Thuận Kết quả nghiên cứucho thấy tỷ lệ TTĐT bằng thuốc chiếm 8,8%; nguyên nhân kém TTĐT thuốc: BN tự
ý mua thuốc khi hết toa (63,9%), BN đã từng quên uống thuốc (80,7%), tự ý ngưng
Trang 32thuốc do cảm thấy khó chịu (51,8%) TTĐT không dùng thuốc chiếm 27,5% trongđó: BN còn hút thuốc lá và uống rượu bia do công việc chiếm lần lượt 90,3%,49,4%; tỷ lệ BN có ý định bỏ uống rượu là 49,4%, bỏ hút thuốc lá 29% Chế độ ănnhạt hơn những khác trong gia đình (56,4%), các loại rau xanh (98,4%), trái cây(98%) Chế độ vận động thể lực (VĐTL) chiếm 63,9% và lý do không tuân thủ vậnđộng là do không có thời gian, sợ HA tăng và các bệnh đi kèm Nghiên cứu dễ thựchiện đối với tuyến cơ sở, không xảy ra sai lệch chọn lựa.Tuy nhiên việc đo lườngkiến thức, sự tuân thủ điều trị còn mang tính chủ quan[14].
Nghiên cứu của Lê Thị Bích Trâm (2017) về “Tuân thủ điều trị của bệnh nhântăng huyết áp tại xã Phương Trà, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”, trên 384 bệnhnhân được chẩn đoán tăng huyết áp và đang điều trị ngoại trú hiện cư ngụ tại xãPhương Trà, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Kết quả của nghiên cho thấy BNtuân thủ điều trị bằng thuốc ở mức trung bình và thấp lần lượt là 40,1%, 37,5%; tỷ
lệ tuân thủ điều trị không dùng thuốc chiếm 21% Các nguyên nhân dẫn đến TTĐTkhông dùng thuốc thấp do BN có hút thuốc lá chiếm 31% và tỷ lệ tập thể dục cònthấp chiếm 34% Các yếu tố liên quan đến TTĐT: tuổi, giới, nghề nghiệp, bệnhTBMMN kèm theo Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả phù hợp cho việcxác định tỷ lệ TTĐT và mẫu chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống nên đạidiện cho dân số nghiên cứu Tuy nhiên, Vì là nghiên cứu cắt ngang mô tả nên khôngxác định được trình tự thời gian, nguyên nhân và hậu quả, chỉ xác định được tỷ lệtuân thủ điều trị tăng huyết áp tại thời điểm nghiên cứu[13]
Một nghiên cứu cắt ngang khác thực hiện tại BV đa khoa khu vực Nam BìnhThuận năm 2018 trên 267 BN THA do các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hiền cho biết
tỷ lệ tuân thủ là 13,9% và tỷ lệ không TTĐT chiếm 25,1% Nguyên nhân kémTTĐT bao gồm: quên uống thuốc (39,7%), tự ý mua thuốc mà không thông báo vớibác sĩ (53,6%), tự ý ngưng thuốc (27%) chiếm một tỉ lệ đáng chú ý trong các yếu tốảnh hưởng đến việc TTĐT Các yếu tố liên quan đến TTĐT: tuổi, trình độ học vấn,kinh tế gia đình, thời gian mắc bệnh,bệnh mạn tính kèm theo, kiến thức về THA[6]
1.1 Tổng quan về Bệnh viện quận Tân Phú
Trang 33Năm 2014, UBND quận Tân Phú có quyết định xếp hạng Bệnh viện quận TânPhú từ đơn vị sự nghiệp y tế hạng III lên đơn vị sự nghiệp y tế hạng II Trong nhữngnăm gần đây, Bệnh viện quận Tân Phú được UBND và Sở Y tế đầu tư xây dựng nhàcửa cho Bệnh viện khang trang, sạch đẹp, đồng thời đầu tư mua sắm nhiều trangthiết bị có giá trị lớn theo Đề án xây dựng bệnh viện quận Tân Phú được UBND phêduyệt Hiện nay, bệnh viện có đầy đủ máy móc, trang thiết bị thiết yếu để phục vụcông tác chẩn đoán và điều trị bệnh theo phân tuyến kỹ thuật của bệnh viện hạng II.Đặc biệt, bệnh viện được đầu tư nhiều máy móc, trang thiết bị có giá trị lớn giúpnâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh cho bệnh nhân như: máy MRI, máy
CT Scanner, máy XQ C-arm, máy phẫu thuật nọi soi, máy soi cổ tử cung, máy phárung tim, máy siêu âm màu 4D, máy sốc điện, các máy giúp thở, monitor, các máychạy thận nhân tạo, máy XQ kỹ thuật số, máy rửa và khử khuẩn y dụng cụ, máyphát điện dự phòng 400 KV Bệnh viện quận Tân Phú gồm có 07 Phòng ban chứcnăng, 01 Tổ Quản lý chất lượng và 18 khoa lâm sàng, cận lâm sàng, 320 giường vớicông suất sử dụng giường bệnh hàng năm là 100% Với 516 nhân viên, trong đó 127viên chức có trình độ Đại học và sau đại học Hàng năm, bệnh viện khám chữa bệnhngoại trú cho 2.176.986 lượt bệnh nhân Phấn đấu đạt chỉ tiêu 50% số bệnh nhânTHA được phát hiện sẽ được điều trị đúng theo phác đồ do Bộ Y tế quy định
Trang 34HƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
12.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả
.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện quận Tân Phú
.3 Đối tượng nghiên cứu
12.3.1 Dân số mục tiêu
Bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quận Tân Phú
.3.2 Dân số nghiên cứu
Bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú đến khám và điều trị tại Bệnh việnquận Tân Phú trong thời gian nghiên cứu
.4 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo một tỉ lệ của nghiên cứu mô tả cắt ngang:
n =
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
α: Xác suất sai lầm loại I (với α = 0,05)
Z: Trị số phân phối chuẩn bình thường Với α = 0,05 thì Z1- α/2 = 1,96
d: Độ chính xác hay Sai số biên cho phép của ước lượng trong nghiên cứu
p: Tỷ lệ tuân thủ mong muốn Theo là nghiên cứu “Tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnhnhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Nam BìnhThuận” của Nguyễn Thị Ngọc Hiền năm 2018 có p = 0,251[6]
Trang 35khám BSGĐ Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để tính cỡ mẫucho mỗi khu Sau đó, sử dụng kĩ thuật lấy mẫu thuận tiện để tiến hành lấy mẫu
Bước 1: Tiến hành chọn mẫu phân tầng cho mỗi khu Gọi:
- Tổng số bệnh nhân đến khám bệnh THA theo báo cáo hoạt động tháng11/2019 của bệnh viện là N
- Số bệnh nhân đến khám bệnh THA tại mỗi khu theo báo cáo hoạt động tháng11/2019 của bệnh viện là Ni
- Số bệnh nhân cần lấy mẫu tại mỗi khu là ni
- Cỡ mẫu cần lấy n = 322 bệnh nhân
Vậy, số bệnh nhân cần lấy tại mỗi khu vực là ni = n x (Ni/N) Cụ thể như sau:
Bảng 2 1 Số bệnh nhân cần thu thập tại mỗi khu
Tỷ lệ Ni/N (%) ni = n x (Ni/N)
BHYT thường
346
Bước 2: Từ cỡ mẫu bệnh nhân đến khám bệnh THA tại mỗi khu, nghiên cứu
viên tiến hành lấy mẫu thuận tiện tất cả bệnh nhân đã được chẩn đoán bệnh THAđến khám tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu theo số thứ tự khám cho đến khi
đủ cỡ mẫu và thỏa tiêu chí chọn vào, tiêu chí loại ra
Trang 36.7 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
Sai lệch chọn lựa trong quá trình nghiên cứu có thể xảy ra Nhằm kiểm soát việcsai lệch chọn lựa chúng tôi phải: Tập huấn các điều tra viên về tiêu chí chọn mẫutham gia nghiên cứu Mời những bệnh nhân thỏa các tiêu chí chọn mẫu tham gianghiên cứu, ghi lại mã số hồ sơ bệnh nhân, để tránh lặp lại Mẫu được chọn thuậntiện theo số thứ tự đến khám, tuy nhiên trường hợp khi đối tượng được chọn vắngmặt tạm thời tại lúc lấy mẫu thì điều tra viên ghi chú lại số thứ tự và chờ đối tượngnghiên cứu quay lại khám, còn nếu trong trường hợp từ chối phỏng vấn thì điều traviên sẽ thuyết phục và giải thích rõ về mục tiêu nghiên cứu
.8 Thu thập dữ kiện
.8.1 Phương pháp thu thập dữ kiện
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
Liên hệ với Bệnh viện cho phép việc tiến hành phỏng vấn bệnh nhân
Giai đoạn 2: Nghiên cứu thử trên 20 bệnh nhân
Giai đoạn 3: Thu thập dữ kiện
- Người đến khám tại Khoa khám bệnh và phòng khám bác sĩ gia đình sẽ lấy số thứ
tự và chờ khám Trong thời gian chờ khám nghiên cứu viên thực hiện phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn và đo huyết áp Thời gian phỏng vấn và ghi nhận huyết áp của một người trung bình 20 phút
- Đo huyết áp
+ Ngồi chờ 5 phút
+ Không uống cà phê 1 giờ trước khi đo Không hút thuốc 15 phút trước khi
đo Không dùng thuốc cường giao cảm
+ Băng quấn được đặt cách khuỷu tay 3cm, ống nghe đặt nơi động mạch cánh tay
+ Bơm nhanh túi hơi vượt quá chỉ số tâm thu 20 – 30 mmHg
+ Xả túi hơi chậm, mỗi 3 mmHg/giây
+ Tiếng mạch đầu tiên ghi nhận huyết áp tâm thu, tiếng mạch cuối cùng ghi nhận huyết áp tâm trương
.8.2 Công cụ thu thập dữ kiện
- Bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc “Tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú tại bệnh viện quận Tân Phú”, gồm có 6 phần (71 câu):
Trang 37• Phần A: Thông tin cá nhân gồm 9 câu
• Phần B: Chỉ số nhân trắc gồm 4 câu
• Phần C: Tiền căn gia đình và bản thân gồm 4 câu
• Phần D: Thông tin về điều trị THA gồm 33 câu
+ Phần I: Thông tin về điều trị bằng thuốc THA gồm 8 câu
+ Phần II: Thông tin về điều trị không bằng thuốc THA gồm 25 câu
• Phần E: Kiến thức về THA gồm 11 câu
• Phần F: Môi trường và gia đình gồm 10 câu
- Máy đo huyết áp
- Viết
.9 Định nghĩa và liệt kê biến số
.9.1 Thông tin cá nhân
Tuổi: Là biến định lượng được tính bằng cách lấy năm hiện tại (2020) trừ cho
năm sinh của bệnh nhân
Nhóm tuổi: Dựa vào biến tuổi, là biến thứ tự gồm có 3 giá trị:
Nghề nghiệp hiện tại: Công việc chính của bệnh nhân làm tại thời điểm nghiên
cứu, là biến danh định gồm có 7 giá trị:
• Công nhân: Người lao động chân tay, được thuê bằng hợp đồng lao động,làm việc trong các nhà máy xí nghiệp, có thu nhập khá ổn định
• Công nhân viên chức: Là những người làm các công việc ở các cơ quan,công ty hành chính Ví dụ: giáo viên, cán bộ trong ủy ban nhân dân xã, bác
sĩ, y tá, dược sĩ, cán bộ các ấp, văn thư, kế toán,…
• Buôn bán: Tự bản thân đứng ra buôn bán mà không thuộc quyền sở hữu của
cơ quan, xí nghiệp hay công ty nào
• Ở nhà/Nội trợ: Là những người không làm việc gì khác mà chỉ làm nhữngviệc trong gia đình như dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng nhưng không góp phầntạo ra kinh tế
Trang 38• Thất nghiệp: Là những người trong độ tuổi lao động nhưng không có việclàm.
• Hưu trí: Là những người trước đây là cán bộ công chức nay đã nghỉ hưu
• Khác: Là những người làm những nghề khác ngoài những việc kể trên
Trình độ học vấn: Được xác định dựa vào lớp cao nhất mà bệnh nhân đã hoàn
• Trên cấp III: Trung cấp/Cao đẳng/Đại học/Sau đại học
Tình trạng sống chung: Được xác định dựa vào nhân khẩu hiện đang sinh
sống cùng bệnh nhân và mối quan hệ trong gia đình với bệnh nhân, là biến danhđịnh gồm có 5 giá trị:
• Sống một mình
• Sống với vợ/chồng
• Sống với con
• Sống với cháu
• Khác (sống với anh/chị/em ruột, anh/chị/em họ hàng,…)
Tình trạng hôn nhân: Là biến danh định gồm có 4 giá trị:
• Độc thân: Là những người chưa từng lập gia đình, chưa từng kết hôn
• Đã kết hôn: Là những người đã lập gia đình và đang sống với vợ hoặc sốngvới chồng
• Ly thân, ly dị: Là những người đã lập gia đình nhưng hiện tại không sốngchung với vợ hoặc không sống chung với chồng
• Góa chồng/vợ: Là những người hiện tại chồng hoặc vợ của họ đã mất
Thu nhập bình quân: Phân loại dựa theo chuẩn nghèo TPHCM giai đoạn 2016
– 2020 (tiêu chí về thu nhập)[12], là biến thứ tự gồm có 3 giá trị:
• Chuẩn nghèo: Từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống (≤ 1,75 triệuđồng/người/tháng)
• Chuẩn cận nghèo: Trên 21 triệu đồng/người/năm đến 28 triệuđồng/người/năm (> 1,75 – 2,33 triệu đồng/người/tháng)
Trang 39• Khác: Trên 28 triệu đồng/người/năm (> 2,33 triệu đồng/người/tháng).
Tham gia BHYT: Bệnh nhân tham gia BHYT phải có thẻ BHYT còn hạn sử
dụng, là biến nhị giá gồm có 2 giá trị:
• Có: Có thẻ BHYT còn thời hạn sử dụng
• Không: Không có thẻ BHYT hoặc thẻ hết hạn sử dụng
.9.2 Chỉ số nhân trắc
Chiều cao: Là biến số định lượng đo chiều cao của bệnh nhân, là khoảng cách
từ gót chân đến đỉnh đầu Chiều cao được tính bằng centimet
Cân nặng: Là biến số định lượng đo cân nặng thực tế của bệnh nhân Cân nặng
Phân độ HA tại thời điểm nghiên cứu: Là biến thứ tự gồm có 3 giá trị (phân
loại theo WHO - ISH)
• THA độ I: 140/90 – 150/99 mmHg
• THA độ II: 160/100 – 179/109 mmHg
• THA độ III: ≥ 180/110 mmHg
.9.3 Tiền căn gia đình và bản thân
Tiền sử gia đình: Những người có quan hệ huyết thống (ông, bà, cha, mẹ) với
bệnh nhân mắc bệnh THA, là biến nhị giá gồm có 2 giá trị:
• Có: Khi những người có quan hệ huyết thống (ông, bà, cha, mẹ) với bệnhnhân có mắc bệnh THA
• Không: Khi những người có quan hệ huyết thống (ông, bà, cha, mẹ) với bệnhnhân không có mắc bệnh THA
Trang 40Thời gian điều trị bệnh: Là biến định lượng được xác định bằng cách tính từ
thời gian khi bệnh nhân bắt đầu điều trị THA đến thời điểm nghiên cứu
Bệnh kèm theo: Là tình trạng bệnh nhân đang có bệnh khác kèm theo, xác định
vào lời khai của bệnh nhân, là biến nhị giá gồm có 2 giá trị:
• Có: Khi bệnh nhân trả lời có ít nhất 1 bệnh kèm theo như bệnh đái tháođường (ĐTĐ), tăng cholesterol máu, thận, tai biến mạch máu não(TBMMN), xương khớp và bệnh khác
• Không: Khi bệnh nhân trả lời không có bệnh kèm theo
.9.4 Biến số về hành vi lối sống
Hút thuốc lá
Từng hút thuốc lá: Là biến nhị giá gồm có 2 giá trị:
• Có: Khi bệnh nhân trả lời có hút thuốc lá
• Không: Khi bệnh nhân trả lời không hút thuốc lá
Thời gian bắt đầu hút: Là biến định lượng được xác định bằng cách tính từ
thời gian khi bệnh nhân bắt đầu hút thuốc lá đến thời điểm nghiên cứu
Số điếu hút/ngày: Là biến định lượng được xác định thông qua phỏng vấn
bệnh nhân
Hút thuốc lá trong 6 tháng qua: Là trong 6 tháng qua vừa qua bệnh nhân còn
hút thuốc lá, là biến nhị giá gồm có 2 giá trị:
• Có: Là khi BN vẫn còn hút bất kỳ hình thức nào như xì gà, thuốc lá, thuốctẩu, thuốc lào và hút mỗi ngày hoặc không mỗi ngày trong vòng 6 tháng qua
• Không: Là khi BN trước đây có hút thuốc lá nhưng hiện nay đã bỏ, thời gian
bỏ phải được > 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu hoặc không hút thuốclá
Thử cai hút thuốc lá: Là biến nhị giá gồm có 2 giá trị:
• Có: Khi bệnh nhân trả lời có thử cai hút thuốc lá
• Không: Khi bệnh nhân trả lời không thử cai hút thuốc lá