Giải phẫu hốc mũi: Hốc mũi gồm có 4 thành là [5]: thành trên hay trần của hốc mũi, thành dưới hay sàn của hốc mũi, thành ngoài còn gọi là vách mũi xoang, thành trong hay vách ngăn cùng
Trang 1CHUYÊN ĐỀ:
GIẢI PHẪU HỐC MŨI
VÀ CÁC XOANG
CẠNH MŨI
MỤC LỤC Trang
I Đặt vấn đề……… 3
Trang 2II Nội dung
1.Giải phẫu hốc mũi 3
2.Giải phẫu các xoang cạnh mũi……… 6
2.1 Xoang hàm……… 6
2.2 Xoang sàng……… 7
2.3 Xoang trán……… 9
2.4 Xoang bướm………9
3.Hệ thống mạch máu mũi xoang…… 10
III Tài liệu tham khảo……….… 12
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý mũi xoang là bệnh lý thường gặp nhất trong chuyên ngành tai mũi họng,
vì vậy một bác sĩ tai mũi họng cần năm rõ cấu trúc giải phẫu hốc mũi và các xoang cạnh mũi Điều này giúp cho việc thăm khám và chẩn đoán một cách chính xác bệnh lý mũi xoang đồng thời giúp cho phẫu thuật viên có thể đánh giá được các chẩn đoán hình ảnh khác như nội soi, CT-Scan, MRI để lên kế hoạch phẫu thuật cho bệnh nhân
II NỘI DUNG
1 Giải phẫu hốc mũi:
Hốc mũi gồm có 4 thành là [5]: thành trên hay trần của hốc mũi, thành dưới hay sàn của hốc mũi, thành ngoài (còn gọi là vách mũi xoang), thành trong hay vách ngăn cùng với 2 lỗ là lỗ mũi trước và lỗ mũi sau Do đặc điểm phẫu thuật nội soi u nhú mũi xoang liên quan chủ yếu đến vách mũi xoang nên chúng tôi tập trung mô
tả vùng này
- Vách mũi xoang không bằng phẳng do sự hiện diện của các xương cuốn và khe cuốn tương ứng Xương cuốn thông thường đi từ dưới lên trên bao gồm: xương cuốn dưới, xương cuốn giữa và xương cuốn trên Đôi khi có xương cuốn thứ tư gọi
là cuốn Santorini nằm ở trên xương cuốn trên
- Ngách mũi là những khe rãnh được tạo bởi các cuốn mũi với vách mũi xoang, với tên gọi tương ứng với cuốn mũi bao gồm ngách dưới, ngách giữa và ngách trên + Ngách mũi dưới: Phía trước-trên có lỗ thông của ống lệ tỵ Phía sau trên là nơi tiếp nối của mỏm hàm xương cuốn dưới và xương khẩu cái
+ Ngách mũi giữa: Có ba cấu trúc giải phẫu quan trọng nằm ở khe này,
đó là mỏm móc, bóng sàng và khe bán nguyệt
Mỏm móc: Nằm ở thành ngoài hốc mũi, che khuất lỗ thông xoang hàm ở phía sau Khi mỏm móc có những bất thường về giải phẫu (quá phát, đảo chiều…) sẽ gây chèn ép, làm hẹp đường dẫn lưu của các xoang ở khe bán nguyệt
Bóng sàng: Nằm phía sau và cách mỏm móc bởi rãnh bán nguyệt Kích thước và hình dáng của bóng sàng khá thay đổi, do đó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến phễu sàng và khe bán nguyệt
Trang 4Khe bán nguyệt: là một khe lõm nằm giữa mỏm móc và bóng sàng, phần dưới thu nhỏ lại thành hình phễu gọi là phễu sàng Trong khe này có các lỗ dẫn lưu của hệ thống xoang sàng trước, xoang trán và xoang hàm
+ Ngách mũi trên: trong khe này thường có 2 lỗ: lỗ đổ ra của xoang sàng sau nằm
ở phần trước, lỗ bướm khẩu cái là lỗ đổ ra của xoang bướm nằm ở phần sau
Hình 1.1: Hình nội soi mũi phải bằng ống nội soi 30 độ
1 Cuốn giữa, 2 Vách ngăn, 3 Cuốn dưới, 4 Cửa mũi sau [1]
Trang 5Hình 1.2: Hình nội soi vùng cửa mũi sau phải bằng ống nội soi 30 độ
1 Cuốn giữa, 2 Cuốn trên, 3.Vách ngăn,
4 Lỗ vòi nhĩ, 5 Cửa mũi sau, 6.Khe bướm sàng [1]
- Phức hợp lỗ ngách: vùng ngã tư dẫn lưu của xoang vào hốc mũi bao gồm mỏm móc, bóng sàng, cuốn giữa, phễu sàng, khe bán nguyệt, khe giữa; đây là vùng hay gặp chân bám u nhú và đồng thời là vùng giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật nội soi u nhú mũi xoang
Hình 1.3: Thiết đồ đứng dọc qua vách mũi xoang [2]
2 Giải phẫu các xoang cạnh mũi:
Trang 6Bao gồm các xoang hàm, hệ thống xoang sàng, xoang trán và xoang bướm, trong
đó xoang hàm và xoang sàng là hai hệ thống xoang có liên quan mật thiết với phức hợp lỗ ngách nhất
Hình 1.4: Hệ thống xoang trước trên diện cắt coronal [3]
2.1 Xoang hàm:
Gồm hai xoang hai bên nằm trong xương hàm trên, xương hàm có hình tháp, 3 mặt, một đỉnh và một đáy
- Mặt trên: tương ứng với sàn ổ mắt, ở mặt này có rãnh dưới ổ mắt chứa thần kinh dưới ổ mắt
- Mặt trước: tương ứng với hố nanh, là mặt phẫu thuật của xoang hàm
- Mặt sau: liên quan đến hố chân bướm hàm
- Đáy xoang hàm: tương ứng với vách mũi xoang Đáy xoang hàm liên quan ở phía dưới với khe dưới, ở phía trên với khe giữa Lỗ thông xoang hàm đổ vào khe giữa Ngoài ra còn có các lỗ thông xoang phụ
- Đỉnh xoang hàm nằm trong xương gò má, ở phía ngoài
2.2 Xoang sàng:
Trang 7Hệ thống xoang sàng hay mê đạo sàng có cấu tạo rất phức tạp bao gồm nhiều tế bào sàng, khối sàng có hộp hình chữ nhật dẹt nằm nghiêng kích thước khoảng 3x4
cm chiều cao trước sau và 0,5-1 cm chiều ngang
Hình 1.5: Xoang sàng và xoang bướm dưới diện cắt axial [3]
Liên quan của khối sàng như sau:
+ Thành ngoài: liên quan với ổ mắt qua xương lệ và xương giấy
+ Thành trong: liên quan với xương cuốn trên, xương cuốn giữa và khe khứu
+ Thành trên: phía trước là đoạn sàng của xương trán, phía sau là đoạn sàng lệ Phía dưới là phần trên của xoang hàm
+ Thành trước là gốc mũi và ngành lên xương hàm trên
+ Thành sau là mặt trước thân xương bướm
Phân loại theo Ballenger [4]: hệ thống sàng gồm có hai loại
- Hệ thống xoang sàng chính thống: gồm có hai nhóm sàng trước và sàng sau được phân chia bởi chân bám cuốn giữa hay mảnh nền
+ Hệ thống sàng trước: nằm phía trước mảnh nền gồm nhiều tế bào sàng đổ vào khe giữa Các tế bào chính gồm: tế bào đê mũi, tế bào bóng trên và bóng dưới
Trang 8+ Nhóm xoang sàng sau: nằm sau mảnh nền, đổ vào khe trên Thường có ba tế bào sàng sau
- Nhóm xoang sàng xâm lấn vào các xương lân cận: giống như cách phân loại của Légend gồm có xoang sàng xâm lấn một xương (Sàng-trán, sàng-hàm, sàng-bướm, sàng-lệ, sàng-khẩu cái) và xoang sàng xâm lấn hai xương cùng một lúc (sàng trán bướm)
Tế bào đầu tiên nằm phía trước trong sát sau mảnh nền, tế bào trung tâm nằm phía sau ngoài sát mảnh nền cuốn trên Sau cùng là tế bào Onodi hay tế bào trước bướm, tế bào này đôi khi rất phát triển, có thể dọc thành bên xoang bướm, thậm chí tới trần của xoang bướm Trong trường hợp này dây thần kinh thị giác có thể lồi sát thành bên của tế bào Onodi
Hình 1.6: Tế bào Onodi [2]
Trang 92.3 Xoang trán:
Gồm hai xoang ở hai bên, thực chất là một tế bào sàng phát triển vào xoang trán nằm giữa hai bản của xương trán Xoang trán bình thường có hình tháp 3 mặt, một đáy và một đỉnh
+ Thành trước: dày 3-4 mm, tương ứng vùng lông mày
+ Thành sau: qua thành này liên quan với màng não cứng
+ Thành trong: hay vách ngăn hai xoang trán, thường mỏng lệch về một bên
+ Đáy của xoang: gồm phần ngoài hay đoạn ổ mắt và phần trong hay đoạn sàng Đoạn ổ mắt lồi vào trong lòng xoang thường bị chia nhiều ngăn nhỏ bởi các vách ngăn xuất phát từ đáy xoang Đoạn sàng nằm thấp hơn thu hẹp dần thành hình phễu trán đổ vào lỗ thông xoang trán
2.4 Xoang bướm:
Gồm hai xoang bướm phải và trái kích thước thường không cân xứng, nằm trong thân xương bướm ngăn cách bởi vách ngăn Lỗ thông xoang bướm đổ ra ngách sàng bướm nằm giữa đuôi cuốn trên và vách ngăn
Xoang bướm có liên quan với những cấu trúc quan trọng đặc biệt là nền sọ
+ Thành trước: liên quan với tế bào trước bướm (tế bào onodi)
+ Thành bên: liên quan với động mạch cảnh trong nằm trong xoang tĩnh mạch hang, các dây thần kinh II, III, IV, V1, V2, VI
+ Thành dưới: là nóc vòm, loa vòi ở hai bên
+ Thành trên: liên quan đến tuyến yên
Trang 10Hình1.7: Liên quan xoang bướm với TK thị giác và
động mạch cảnh trong [1]
1 TK thị giác, 2 ĐM cảnh trong, 3 Lỗ thông xoang bướm,
4 Mặt trong, 5 Thành bên
3 Hệ thống mạch máu mũi xoang:
Hốc mũi được có một hệ thống mạch máu rất phong phú được cung cấp bởi các nguồn:
3.1 Hệ động mạch cảnh ngoài
Là động mạch cấp máu chính cho hàm mặt Từ nguyên ủy (phình cảnh ngang mức bờ trên sụn giáp) đến sau cổ hàm và tận hết ở đó bằng cách chia đôi thành 2 ngành cùng là động mạch hàm trong và động mạch thái dương nông
Động mạch cảnh ngoài có 6 nhánh bên: động mạch giáp trên, động mạch lưỡi, động mạch mặt, động mạch hầu lên, động mạch chẩm và động mạch tai sau Trong
đó nhánh cung cấp máu chính cho mũi xoang thường gặp nhất là động mạch hàm
Trang 11Hình 1.8: Hệ thống mạch máu mũi xoang [4]
* Động mạch hàm trong: xuất phát từ phía sau cổ hàm, động mạch hàm đi về phía trước tiếp xúc với mặt trong cổ hàm Tiếp theo động mạch đi theo một đường khúc khuỷu ngang qua mặt ngoài của cơ chân bướm ngoài rồi đi vào hố chân bướm khẩu cái Động mạch bướm khẩu cái là nhánh tận của động mạch hàm trong cung cấp máu cho hầu hết hốc mũi Đây là động mạch quan trọng nhất, sau khi thoát khỏi lỗ bướm khẩu cái ở phía sau của ngách mũi trên thì chia làm 2 nhánh:
+ Động mạch bướm khẩu cái ngoài (nhánh ngoài) cho các nhánh: động mạch mũi dưới nuôi dưỡng đuôi cuốn dưới và lỗ mũi sau, động mạch cuốn giữa nuôi cuốn giữa
+ Động mạch bướm khẩu cái trong (nhánh trong hay nhánh vách mũi) cho các nhánh: động mạch mũi trên nuôi dưỡng cho cuốn trên và nhánh rẽ về phía trong dọc theo mặt trước thân xương bướm, quặt xuống dưới đi theo mặt ngoài vách ngăn
Trang 12+ Động mạch khẩu cái trên cũng là một nhánh của động mạch cảnh ngoài Sau khi
đi dưới niêm mạc hàm ếch, động mạch lại chui vào lỗ khẩu cái trước và đổi tên thành động mạch mũi khẩu cái đến sàn mũi cho những nhánh nhỏ nuôi dưỡng vùng trước dưới của vách ngăn Động mạch này dễ bị vỡ gây ra chảy máu
* Động mạch hầu lên:
Xuất phát từ chỗ phân đôi của động mạch cảnh chung, đi lên nền sọ ở phía trong động mạch cảnh trong Động mạch cho các nhánh: động mạch màng não sau, các nhánh hầu và động mạch nhĩ dưới
3.2 Hệ động mạch cảnh trong
Đối với sự cấp máu ở hốc mũi, hệ động mạch cảnh trong đóng vai trò ít quan trọng hơn hệ động mạch cảnh ngoài Động mạch cảnh trong tách ra động mạch mắt, động mạch có hai nhánh vào mũi là động mạch sàng trước và động mạch sàng sau:
- Động mạch sàng trước: tách khỏi động mạch mắt ngang mức cơ chéo lớn, đi về phía trong qua cốt mạc hố mắt vào ống sàng đến hốc mũi cho hai loại nhánh:
+ Những nhánh cho phần trên trước của vách ngăn
+ Những nhánh cho phần trước của cuốn mũi
Động mạch sàng trước nối với động mạch mũi giữa và mũi dưới ở ngách giữa của động mạch cảnh ngoài
- Động mạch sàng sau nhỏ hơn động mạch sàng trước, chui qua ống sàng sau vào mũi, ống này cách ống sàng trước khoảng 12mm về phía sau Động mạch sàng sau nuôi dưỡng vách ngăn và thành ngoài hố mũi nhưng ở phía sau
III TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Lee T J, Huang C C, Chen Y W (2009), "Medially originated inverted
papilloma", Otolaryngol Head Neck Surg 140, p 324-329
2 Kim D Y, Sung-Lyong H, Chul H L (2012), "Inverted Papilloma of the
Nasal Cavity and Paranasal Sinuses: A Korean Multicenter Study ",
3 Kountakis ES, Metin O (2007), Rhinologic and Sleep Apnea Surgical
Techniques, Springer,