1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp tại công ty TNHH tín luật

28 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 74,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo định nghĩa tại Mục 11a của Luật Mẫu WIPO về Nhãn hiệu, tên thương mại và cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển năm 1967 thì nhãn hiệu là: “Dấu hiệu dùng để phân biệt hà

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sở hữu trí tuệ là một chế định pháp luật quan trọng, là một trong những nền tảng củachính sách phát triển kinh tế của một quốc gia và là chất xúc tác quan trọng cho sự pháttriển đó SHTT cũng là một công cụ ngày càng quan trọng đối mỗi quốc gia trong bốicảnh toàn cầu hóa được đẩy mạnh như hiện nay Trong những năm gần đây, nó dần trởthành một bộ phận giữ vai trò then chốt cho sự phát triển kinh tế trong nước cũng nhưviệc tạo ra càng nhiều cơ hội xuất khẩu thông qua việc nâng cao năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp bản địa Chính vì thế, sự bảo hộ đối với SHTT là một trong những yếu

tố mang tính chất quyết định để thúc đẩy chuyển giao công nghệ cũng như việc thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài vào một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.Đặc biệt là sự bảo hộ đối với các nhãn hiệu hàng hóa của các doanh nghiệp trên thịtrường hiện nay

Nhãn hiệu ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại và mua bán hànghóa của một doanh nghiệp Bởi vì, nhãn hiệu làm tăng giá trị của sản phẩm trên thịtrường đồng thời tạo lợi nhuận bền vững cho công ty sở hữu Nhãn hiệu càng nổi tiếng thìkhả năng gia tăng thị phần của nó trên thị trường càng cao Nhãn hiệu của một sản phẩmtrở thành trung tâm của hoạt động marketing Trong quá trình hội nhập, nhãn hiệu lạicàng trở nên quan trọng Nhãn hiệu được coi như một tài sản quý giá của doanh nghiệp

và là một công cụ cạnh tranh của thời kì hội nhập

Trong thời gian gần đây, thực trạng về việc vi phạm SHTT đối với nhãn hiệu như saochép, bắt chước, làm giả các nhãn hiệu nổi tiếng ngày càng trở nên phổ biến hơn Trongkhi đó, việc bảo hộ nhãn hiệu hay việc xử lý tội phạm SHTT của Nhà nước còn gặp nhiềukhó khăn, bất cập Do đó cần thiết có một sự nhận thức đúng đắn về nhãn hiệu và nócũng là sự bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn thành công trên thương trường Với tầmquan trọng như vậy, nhãn hiệu đã đẩy các doanh nghiệp Việt Nam phải tiến hành mộtnhiệm vụ chiến lược đó chính là định vị được một hình ảnh nhãn hiệu trong tâm trí kháchhàng Vì thế, việc doanh nghiệp chủ động bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của mình bằng việcđăng ký bảo hộ nhãn hiệu là một biện pháp tự bảo hộ doanh nghiệp

Với tư cách là một trong những công ty chuyên về lĩnh vực SHTT, Tín Luật luôn cố gắnghết mình trong việc tư vấn và giúp khách hàng lựa chọn các giải pháp linh hoạt chonhững khó khăn trong việc tiếp cận các vấn đề này Nhận thấy tính cấp thiết trong việcbảo hộ nhãn hiệu đối với doanh nghiệp trong và ngoài nước, với mong muốn dựa vào

Trang 2

thực trạng từ chính công ty thực tập để đưa ra những biện pháp giải quyết những khó

khăn trên, em lựa chọn đề tài: “Thực trạng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp tại Công ty TNHH Tín Luật” làm đề tài nghiên cứu thực tập

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của bài nghiên cứu là tìm hiểu, phân tích những lý luận cơ bản về nhãn hiệu vàthực trạng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở Công ty TNHH Tín Luật Từ đó, nhận thức rõ tầmquan trọng của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đối với doanh nghiệp và đưa ra những giảipháp nhằm tối ưu hóa những hạn chế trong thực tiễn

3 Đối tượng nghiên cứu

Bài báo cáo này tập trung nghiên cứu về thực trạng việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tạiCông ty TNHH Tín Luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Bài báo cáo thực tập sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích,phương pháp so sánh

Tham khảo sách, giáo trình nghiệp về sở hữu trí tuệ

Tìm hiểu qua quan sát thực tế về việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Công ty TNHH TínLuật

5 Bố cục báo cáo

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Quy trình, thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Công ty TNHH Tín Luật.Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Công

ty TNHH Tín Luật

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1: Khái quát chung về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

1.1.1: Nhãn hiệu

Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa ngày càng mãnh liệt đặc biệt là ở khíacạnh toàn cầu hóa kinh tế Hiện nay, việc xây dựng một nhãn hiệu mạnh là vấn đề bứcthiết đối với sự tồn tại và phát triển của bất cứ một doanh nghiệp nào Đặc biệt, là đối vớiViệt Nam đang trong giai đoạn gia nhập các tổ chức thương mại trong khu vực và thế

giới Chính vì thế, chúng ta có thể thấy rõ thuật ngữ “nhãn hiệu” ngày càng được sử

dụng rộng rãi không chỉ trong kinh tế, thương mại mà cả trên các phương tiện thông tinđại chúng và đời sống thường nhật Như vậy, Nhãn hiệu là gì? Nó có chức năng gì? Vàtại sao chúng ta phải bảo hộ nhãn hiệu? Đây luôn là những câu hỏi được đặt ra cho nhữngnhà quản lý nhà nước, cho doanh nghiệp, cho nhà nghiên cứu cũng như người tiêu dùng

xung quanh thuật ngữ “nhãn hiệu”.

1.1.1.1: Khái niệm nhãn hiệu:

Nhãn hiệu là một trong những yếu tố đầu tiên khi mà doanh nghiệp phải đặt ra khi chuẩn

bị đưa một sản phẩm nào đó ra thị trường và việc đăng ký nhãn hiệu là thủ tục cần thiết

mà DN phải thực hiện nhằm mục đích xác lập quyền SHTT của chủ sở hữu đối với nhãnhiệu

Trên thực tế, mỗi quốc gia đều có một khái niệm riêng về nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên,

để hạn chế những xung đột, tranh chấp giữa các công ty, doanh nghiệp liên quan về nhãnhiệu nhất là trong thời đại tự do hóa thương mại quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ,bắt buộc phải có những quy định thống nhất về nhãn hiệu ở phạm vi toàn cầu

Theo định nghĩa tại Mục 1(1)(a) của Luật Mẫu WIPO về Nhãn hiệu, tên thương mại và

cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển năm 1967 thì nhãn hiệu là: “Dấu

hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm các doanh nghiệp đó Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm Dấu hiệu này có thể

là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên Nhãn hiệu hàng hóa chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó

Trang 4

sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không được trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm.”

Định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa trên đây của WIPO xác định các điều kiện về bản chấtcủa nhãn hiệu hàng hóa Định nghĩa này được thể hiện trong Hiệp định về các khía cạnhliên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ( được viết tắt là Hiệp định TRIPS ); cụthể tại Khoản 1 Điều 15 của Hiệp định TRIPS quy định:

“Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phô thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải nhìn thấy được”.

Như vậy, so với các công ước quốc tế về SHTT thì khái niệm nhãn hiệu được quy địnhtrong Luật SHTT Việt Nam có nhiều nét tương đồng nhưng được rút gọn một cách tối đa

Và, khái niệm đó được quy định tại khoản 16 Điều 14 Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu

hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.”

1.1.1.2: Chức năng của nhãn hiệu:

Vai trò quan trọng nhất của mỗi nhãn hiệu hàng hóa chính là chức năng phân biệt sảnphẩm của một doanh nghiệp cụ thể với các sản phẩm giống nhau hoặc tương tự nhau docác cơ sở sản xuất, kinh doanh khác khi đưa ra thị trường Tuy nhiên, chức năng phânbiệt không phải là chức năng duy nhất của nhãn hiệu hàng hóa, mà nhãn hiệu hàng hóacòn có các chức năng khác nhau

Các chức năng khác của nhãn hiệu bao gồm:

- Chức năng thông tin sản phẩm: nhãn hiệu không chỉ dùng để phân biệt sản phẩm hànghóa, dịch vụ mà còn giúp người tiêu dùng thông qua nó để biết được chất lượng, nguồngốc của sản phẩm đó Từ đó, người tiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn sản phẩm hànghóa, dịch vụ phù hợp với những tiêu chí của bản thân

- Chức năng quảng cáo: nhãn hiệu với vai trò cá thể hóa sản phẩm về hình dạng, màu sắccùng với sự nổi tiếng của chính nhãn hiệu đó giúp doanh nghiệp thực hiện chức năngquảng cáo Do vậy, nhãn hiệu có một vai trò then chốt trong chiến lược quảng cáo và tiếp

Trang 5

thị của công ty nhằm xây dựng hình ảnh và uy tín về các sản phẩm của công ty trong mắtngười tiêu dùng.

- Chức năng kinh tế: thông qua sự nổi tiếng của nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể bướcđầu xác định được chất lượng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và từ đó để quyết địnhviệc mua hay không mua sản phẩm đó

1.1.1.3: Ý nghĩa của việc bảo hộ nhãn hiệu:

Mặc dù hầu hết các doanh nghiệp đều ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng nhãnhiệu để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của đối thủ cạnhtranh nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp đều nhận thức được tầm quan trọng củaviệc bảo hộ nhãn hiệu thông qua đăng ký theo quy định của pháp luật Vì thế dẫn đến tìnhtrạng thiệt hại nghiêm trọng thậm chí bị mất nhãn hiệu của chính doanh nghiệp đó Đặcbiệt là trong bối cảnh thị trường tràn lan hàng giả, hàng kém chất lượng hay sự tinh vitrong thủ đoạn sao chép, bắt chước nhãn hiệu nổi tiếng Điều đó dẫn đến sự mất lòng tincủa người tiêu dùng đối với các sản phẩm này cũng như sự thiệt hại của chính nhữngnhãn hiệu nổi tiếng ấy Chính vì vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu có ý nghĩa đến sự sống còncủa một doanh nghiệp

Thứ nhất, đối với doanh nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu sẽ làm hạn chếmột cách tối đa các thiệt hại do việc khai thác, sử dụng nhãn hiệu bất hợp pháp nhãn hiệuđến từ các chủ thể khác Từ đó có thể đảm bảo được uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu trênthị trường Bảo hộ nhãn hiệu tạo nên một công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp quảng

bá và lưu thông hàng hóa một cách hữu hiệu trên thị trường cũng như bảo vệ và phát triểnthị phần của mình, đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm liên tục pháttriển kinh tế

Thứ hai, bảo hộ SHCN đối với nhãn hiệu cũng là cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho ngườitiêu dùng Bảo hộ nhãn hiệu sẽ đảm bảo cho người tiêu dùng không lựa chọn nhầm lẫnsản phẩm, hàng hóa mình cần, giúp cho người tiêu dùng sử dụng hiệu quả hơn đồng tiềncủa mình cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình

Thứ ba, việc bảo hộ nhãn hiệu tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thu hút đầu tư vàchuyển giao công nghệ nước ngoài Các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư điều quan tâmcủa họ là đối tượng SHCN mà họ đầu tư vào có được pháp luật tại nước mà họ đầu tư bảo

hộ hay không Nếu một nước mà việc bảo hộ nhãn hiệu không tốt, nhà đầu tư sẽ đối mặtvới thực trạng nhãn hiệu của mình sẽ bị xâm phạm và dẫn tới nguy cơ đầu tư thất bại dokhông tìm được chỗ đứng cho nhãn hiệu của mình

Trang 6

Thứ tư, từ việc bảo hộ nhãn hiệu giúp cho doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp độcquyền sử dụng nhãn hiệu đó trong một thời gian nhất định Trong thời gian bảo hộ, doanhnghiệp có thể chuyển giao quyền sử dụng (li-xăng) nhãn hiệu hoặc nhượng quyền thươngmại (franchise) nhãn hiệu được bảo hộ cho các doanh nghiệp khác qua đó doanh nghiệp

có thêm nguồn thu nhập bổ sung, nâng cao nguồn vốn tài chính của doanh nghiệp

Thứ năm, việc đăng ký bảo hộ giúp cho doanh nghiệp độc quyền sử dụng nhãn hiệukhông lo ngại đến việc doạnh nghiệp khác khai thác, sử dụng nhãn hiệu một cách bất bấtpháp Điều đó khuyến khích các doanh nghiệp tập trung đầu tư vào việc duy trì và nângcao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ để không lừa dối người tiêu dùng

1.1.2: Phân loại nhãn hiệu

Nhãn hiệu có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau, bao gồm:

- Nhãn hiệu thông thường: là nhãn hiệu dùng để phân biệt sản phẩm hàng hóa, dịch vụcủa các cá nhân, tổ chức khác nhau

- Nhãn hiệu hàng hóa: là nhãn hiệu dùng cho hàng hóa Bao gồm những dấu hiệu dùng đểphân biệt hàng hóa của các đối tượng sản xuất khác nhau Thường được gắn trên chínhhàng hóa hoặc trên bao bì của hàng hóa đó

- Nhãn hiệu dịch vụ: là nhãn hiệu dùng cho dịch vụ Bao gồm những dấu hiệu dùng đểphân biệt dịch vụ của các đối tượng cung cấp dịch vụ khác nhau Thông thường, nhãnhiệu dịch vụ sẽ được gắn trên các bảng hiệu dịch vụ nhằm mục đích cho khách hàng dễdàng nhận biết các loại dịch vụ từ các chủ thể khác nhau

- Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viêncủa tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khôngphải là thành viên của tổ chức đó.1 Khác với nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu này chỉđược cấp cho các tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp và đó phải là tổ chức tập thểcủa các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất kinh doanh

Ví dụ: nhãn hiệu tập thể Melinda được sử dụng bởi 5200 thành viên của 16 hợp tác xãsản xuất tái tạo Valle di Non và Valle di Sole (Itali); nhãn hiệu tập thể được cấp cho xoàicát Hòa Lộc; nhãn hiệu tập thể “Datana và hình” của Hiệp hội vận tải hàng hoá đường bộ

Trang 7

tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấpdịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch

vụ mang nhãn hiệu.2 Đặc biệt, nhãn hiệu chứng chỉ được sử dụng đúng theo các tiêuchuẩn đã được xác định

Ví dụ: CE là nhãn hiệu hàng hóa đạt tiêu chuẩn Châu Âu; nhãn hiệu hàng Việt Nam chấtlượng cao…

- Nhãn hiệu liên kết: là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tựnhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan vớinhau.3 Nhãn hiệu liên kết tạo sự tin cậy cho người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm hànghóa, dịch vụ mới bởi họ biết được nguồn gốc xuất xứ cũng như mối liên kết với các sảnphẩm hàng hóa, dịch vụ đã dùng trước đây Ngoài ra, chủ sở hữu còn có thể ngăn chặntình trạng sản xuất hàng hóa có dấu hiệu tương tự của các chủ thể khác

Ví dụ: Wave, Wave S, Wave RS, là các nhãn hiệu cho dòng sản phẩm của Honda về xemáy Wave; các nhãn hiệu như Pepsi Mirindra hay Pepsi 7 up được dùng cho loại đồ uống

là nước cam ép hay nước chanh có ga…

- Nhãn hiệu nổi tiếng: là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnhthỏ Việt Nam.4

Ví dụ: nhãn hiệu Pepsi, Cocacola, Nike…

1.1.3: Điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ

Theo quy định tại Điều 72 Luật SHTT về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộthì nhãn hiệu chỉ được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

“1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình

ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc.

2 Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch

vụ của chủ thể khác.”

1.1.3.1: Dấu hiệu nhìn thấy được:

2 Khoản 18 Điều 4 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009.

3 Khoản 19 Điều 4 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009.

4 Khoản 20 Điều 4 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009.

Trang 8

Điều kiện đầu tiên để nhãn hiệu được bảo hộ phải là “dấu hiệu nhìn thấy được” Tuy

nhiên, hiện nay trên thế giới không có bất cứ một định nghĩa nào theo pháp luật nhằm

mục đích giải thích nghĩa của thuật ngữ “dấu hiệu” Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều liệt kê một danh sách các “dạng dấu hiệu” có thể được bảo hộ là nhãn hiệu Việt Nam cũng là quốc gia quy định theo cách thức như vậy, theo luật định, “dấu hiệu nhìn

thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc” được xem là nhãn hiệu.

Đây là các dấu hiệu mang tính truyền thống, thường được sử dụng để gắn lên hàng hóa,dịch vụ của chủ thể sản xuất, kinh doanh.5

Các dấu hiệu dùng để làm nhãn hiệu là những dấu hiệu có thể nhìn thấy được, nhận biếtđược bằng thị giác.6 Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nhãn hiệu được bảo hộ phải là

“dấu hiệu nhìn thấy” bằng thị giác còn những dấu hiệu được nhận biết bằng các giác

quan khác như âm thanh, mùi vị hay những dấu hiệu không thể nhìn thấy được bằng mắtthường thì không được bảo hộ là nhãn hiệu ở Việt Nam

1.1.3.2: Các dấu hiệu phải có khả năng phân biệt:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật SHTT thì nhãn hiệu được coi là có khả năng

phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các

trường hợp nhãn hiệu chứa đựng các dấu hiệu không có khả năng phân biệt tại khoản 2Điều này

Các trường hợp nhãn hiệu chứa các dấu hiệu không có khả năng phân biệt được quy địnhtại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT có thể được chia thành ba nhóm nhỏ sau: các dấu hiệumang tính mô tả chung đối với hàng hóa, dịch vụ; các dấu hiệu xâm phạm đến nhãn hiệucủa chủ thể khác; các dấu hiệu liên quan đến các đối tượng SHCN khác7 Trong đó:

- Nhóm thứ nhất, các dấu hiệu mang tính mô tả chung đối với hàng hóa, dịch vụ được

quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 2 Điều 74 Luật SHTT

Hình và hình hình học đơn giản (hình tròn, hình tam giác, hình elip…), chữ số, chữ cái,chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sửdụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu (ví dụ những ký tự không cónguồn gốc La tinh như chữ Ả rập, chữ Slavơ, chữ Nhật Bản, chữ Trung Quốc…) không

5 Sách tình huống Luật SHTT Việt Nam, tr 245.

6 Giáo trình Luật SHTT, NSB Hồng Đức, 2015, tr 292.

7 Sách tình huống Luật SHTT Việt Nam, tr 252.

Trang 9

được bảo hộ tại Việt Nam vì đối với đa số người tiêu dùng, dấu hiệu trên là các yếu tố xa

lạ, khó nhận biết, khó nhớ Tuy nhiên, trừ những nhãn hiệu đã trở nên nổi tiếng qua quátrình sử dụng lâu dài được người tieu dùng biết đến một cách rộng rãi, phổ biến

Ví dụ: Nhãn hiệu “One Two Three 123” của Doanh nghiệp tư nhân Thương mại – Dịch

vụ Nhiên Mỹ đăng ký Nhãn hiệu này đã bị Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định từ chối cấp

văn bằng bảo hộ vì chỉ là dạng chữ số đơn giản; Nhãn hiệu bia “333 Premium” của Công

ty cổ phần bia – rượu – nước giải khát Sài Gòn được Cục SHTT cấp văn bằng bảo hộ trên

cơ sở đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi dưới danh nghĩa một nhãn hiệu

Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụbằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến

Ví dụ: đăng ký nhãn hiệu chỉ bao gồm tên “bánh kẹo”, “bún bò Huế”, “nước cam”… chocác sản phẩm, dịch vụ vì đây là tên thông thường của hàng hóa

Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng,tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hànghóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quátrình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu

Ví dụ: Nhãn hiệu “Ngon Ngon ®” của Công ty CP phát triển công nghệ Nông Thôn cho sản phẩm “Thịt, cá, gia cầm và thú săn” bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ vì có dấu hiệu

chỉ đặc tính sản phẩm;

Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý (công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh,hợp tác xã, tập đoàn, quỹ tín dụng, bệnh viện, ngân hàng…), lĩnh vực kinh doanh của chủthể kinh doanh (xây dựng, đầu tư, bảo hiểm, luật, tư vấn, thương mại, bất động sản…).Mọi tổ chức, cá nhân khác đều có quyền sử dụng các dấu hiệu này để sử dụng trên sảnphẩm, dịch vụ của mình

Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ (ví dụ như nước mắm Phú Quốc, tỏi

Lý Sơn, cà phê Buôn Mê Thuột…) Các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý như vậy về cơ bảnkhông có khả năng phân biệt, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhậnrộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể(táo Ninh Thuận, hồ tiêu Lộc Ninh…) hoặc nhãn hiệu chứng nhận (rau Đà Lạt, cao suViệt Nam…) quy định tại Luật SHTT

- Nhóm thứ hai, các dấu hiệu xâm phạm đến nhãn hiệu của chủ thể khác được quy định từ

điểm e đến điểm i khoản 2 Điều 74 Luật SHTT Đây được xem là nhóm các dấu hiệuthường xuất hiện trong thực tiễn bảo hộ ở Việt Nam

Trang 10

Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn vớinhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơnđăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký đượchưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế màCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đãđược sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trướcngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên Nhãnhiệu đối chứng chưa được đăng ký mà được một chủ thể khác sử dụng cho hàng hóa, dịch

vụ của mình và được thừa nhận rộng rãi bởi người tiêu dùng

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đãđăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứthiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lạitrước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếngcủa người khác đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụmang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc

sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổitiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng

- Nhóm thứ ba, các dấu hiệu có liên quan đến các đối tượng SHCN khác, cụ thể là tên

thương mại, chỉ dẫn địa lý và kiểu dáng công nghiệp được quy định từ điểm k đến điểm nkhoản 2 Điều 74 Luật SHTT

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếuviệc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hànghóa, dịch vụ

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấuhiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hóa;Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên

âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu đượcđăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vựcđịa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

Trang 11

Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khácđược bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày

ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu

1.1.4: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam

1.1.4.1: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu.

1.1.4.1.1: Chủ thể có quyền nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu:

Theo quy định tại Điều 87 Luật SHTT thì mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam, người nướcngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở kinh doanh tại ViệtNam đều có quyền trực tiếp nộp đơn đăng ký nhãn hiệu cho hàng hóa của mình hoặc ủyquyền cho người đại diện nộp đơn

Nếu cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam hay tổ chức/cá nhân nước ngoàikhông có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam phải ủy quyền cho đại diện hợp pháptại Việt Nam đứng ra nộp đơn đăng ký

1.1.4.1.2: Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên:

Đây là một nguyên tắc đặc thù đối với các đối tượng quyền SHCN

Theo nguyên tắc này trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau cùng nộpđơn đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc không khác biệt với nhau hoặc các nhãn hiệutương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tựnhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùngdùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đơnhợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong những đơn đáp ứng các điềukiện để được cấp văn bằng bảo hộ

Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký của nhiều chủ đơn khác nhau cùng nộp cho mộtđối tượng có cùng ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn đầu tiên thì chỉ chấp nhận bảo hộ chomột đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thỏa thuận của tất cả các chủ đơn này Nếukhông thỏa thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp vănbằng bảo hộ.8

Chủ thể có thể viện dẫn quyền ưu tiên9 theo công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia (ví

dụ, theo Công ước Paris đối với nhẫn hiệu là 6 tháng)

8 Điều 90 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009.

9 Điều 91 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009.

Trang 12

1.1.4.1.3: Đơn đăng ký nhãn hiệu:

Đơn đăng ký của một nhãn hiệu phải là tập hợp các tài liệu liên quan đến đối tượng bảohộ:

- Tờ khai yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu: theo mẫu quy định, trong đó

có mẫu nhãn hiệu, danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; số lượng ba bản

- Mẫu nhãn hiệu: 9 mẫu; kích thước không lớn hơn 8cm x 8cm, đúng màu sắc yêu cầubảo hộ, có ảnh chụp hoặc hình vẽ phối cảnh nếu nahxn hiệu là hình ba chiều; nếu nhãnhiệu xin đăng ký là dạng màu sáu thì phải thêm ba mẫu nhãn hiệu đen trắng

- Bản mô tả nhãn hiệu

- Chứng từ nộp phí, lệ phí

- Giấy ủy quyền (nếu có)

- Bản sao GCNĐKKD

- Danh mục hàng hoá/dịch vụ mang nhãn hiệu

Nếu là nhãn hiệu tập thể thì phải có quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể theo quy định tạikhoản 4 Điều 105 Luật SHTT và điểm 37.6 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày14/02/2007, bao gồm:

- Tên, địa chỉ, căn cứ thành lập và hoạt động của tổ chức tập thể là chủ sở hữu nhãn hiệu;

- Các tiêu chuẩn để trở thành thành viên của tổ chức tập thể;

- Danh sách các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng nhãn hiệu;

- Các điều kiện sử dụng nhãn hiệu;

- Biện pháp xử lý hành vi vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu.10

- Thông tin về nhãn hiệu và hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;

- Nghĩa vụ của người sử dụng nhãn hiệu (bảo đảm chất lượng, tính chất đặc thù của hànghoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, chịu sự kiểm soát của người đăng ký nhãn hiệu, nộp phíquản lý nhãn hiệu );

10 khoản 4 Điều 105 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2009.

Trang 13

- Quyền của người đăng ký nhãn hiệu (kiểm soát việc tuân thủ quy chế sử dụng nhãnhiệu, thu phí quản lý nhãn hiệu, đình chỉ quyền sử dụng nhãn hiệu của người không đápứng điều kiện theo quy định của quy chế sử dụng nhãn hiệu );

- Cơ chế cấp phép, kiểm soát, kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu và bảo đảm chất lượng, uytín của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

- Cơ chế giải quyết tranh chấp.11

1.1.4.1.4: Xử lý đơn đăng ký:

 Thẩm định hình thức đơn:

Thời gian thẩm định: 01 tháng kể từ ngày nộp đơn

Mục đích của việc thẩm định hình thức đơn là nhằm kiểm tra việc tuân thủ các quy định

về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không

- Đơn đăng ký được coi là hợp lệ nếu đáp ứng:

Đầy đủ số lượng các tài liệu Đơn đăng ký nhãn hiệu thông thường gồm có: 02 Đơn đăng

ký nhãn hiệu, 05 Mẫu nhãn hiệu kèm theo đơn và Chứng từ nộp phí, lệ phí

Đơn đăng ký nhãn hiệu phải được khai đầy đủ, thống nhất theo mẫu bằng tiếng Việt chỉđược đánh máy hoặc in bằng loại mực khó phai mờ, một cách rõ ràng, sạch sẽ, không tẩyxoá, không sửa chữa

Danh mục sản phẩm, dịch vụ bảo hộ theo đơn phải được phân nhóm chính xác

Mẫu nhãn hiệu phải được trình bày rõ ràng với kích thước của mỗi thành phần trong nhãnhiệu không lớn hơn 80mm và không nhỏ hơn 8mm, tổng thể nhãn hiệu phải được trìnhbày trong khuôn mẫu nhãn hiệu có kích thước 80mm x 80mm in trên tờ khai;

Nộp đầy đủ phí, lệ phí đăng ký nhãn hiệu theo quy định

- Đơn đăng ký sẽ bị xem là không hợp lệ nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tạikhoản 2 Điều 109 Luật SHTT:

Đơn không đáp ứng các yêu cầu về hình thức Thí dụ như đơn đăng ký khai thiếu sótthông tin, không viết bằng tiếng Việt, đơn viết bằng tay không viết trên khổ giấy A4 hayđơn không đảm bảo tính thống nhất

11 Điểm 37.6 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007.

Trang 14

Đối tượng nêu trong đơn là đối tượng không được bảo hộ theo quy định của pháp luật vềdấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu tại Điều 73 Luật SHTT.

Người nộp đơn không có quyền đăng ký, kể cả trường hợp quyền đăng ký cùng thuộcnhiều tổ chức, cá nhân nhưng một hoặc một số người trong số đó không đồng ý thực hiệnviệc nộp đơn

Đơn đăng ký nộp không đúng quy định của pháp luật

Người nộp đơn không nộp phí và lệ phí

Trong trường hợp thẩm định hình thức đơn đăng đã đáp ứng đầy đủ điều kiện luật địnhthì CQNN có thẩm quyền tức Cục SHTT sẽ ra thông báo chấp nhận đơn đăng ký đó và nóđược công bố trên trang công báo SHCN vào tháng thứ hai kể từ ngày nhận được đơn

 Thẩm định nội dung đơn:

Thời gian thẩm định: không quá 09 tháng kể từ ngày công bố đơn

Mục đích của việc thẩm định nội dung nhằm kiểm tra, xem xét đối tượng yêu cầu cấp vănbằng bảo hộ có đủ các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật hay không và xácđịnh phạm vi bảo hộ

Trong trường hợp đơn đăng ký đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, Cục SHTT sẽthông báo cho người nộp đơn và yêu cầu họ làm các thủ tục cần thiết để cấp văn bằng bảo

hộ Nếu không đáp ứng được các điều kiện luật định, Cục SHTT sẽ gửi thông báo tớingười nộp đơn kèm lý do từ chối bảo hộ Người nộp đơn bị từ chối có quyền khiếu nạilên Bộ trưởng Bộ khoa học công nghệ hoặc kiện ra tòa án nhân dân theo quy định củapháp luật

Trước khi CQNN có thẩm quyền về SHCN thông báo từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặcquyết định cấp văn bằng bảo hộ, chủ thể nộp đơn có quyền yêu cầu sửa đổi, tách bổ sunghoặc rút đơn đăng ký nếu thấy cần thiết

1.1.4.2: Những đối tượng không được bảo hộ nhãn hiệu

Theo quy định tại Điều 73 Luật SHTT về các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩanhãn hiệu với mục đích bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ các quy chuẩn đạo đức xã hội:Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của cácnước

Ngày đăng: 07/07/2021, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w