Hiện nay quy trình đào tạo các tàinăng Cầu lông trẻ cho đất nước, không chỉ là việc tuyển chọn chính xác hay đề ra kế hoạch huấn luyện với các chu kỳ khác nhau, các bài tập thể lực chung
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hội nhập của nước ta hiện nay, nhiệm vụ phát triển thểthao thành tích cao là một trong những chiến lược quan trọng của Ngành Thểdục thể thao Để đạt thành tích cao về thể thao thì công tác đào tạo vận động viêntrẻ có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần hoàn chỉnh hệ thống đào tạo tài năngthể thao quốc gia đặc biệt là thế hệ trẻ, nhằm từng bước nâng cao vị thế của thểthao Việt Nam trên đấu trường khu vực và thế giới
Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên, trong thời gian qua Ngành Thể dụcthể thao đã đầu tư nhiều cho công tác tuyển chọn và đào tạo vận động viên trẻzác môn thể thao trọng điểm thông qua các công trình nghiên cứu, ứng dụngkhoa học công nghệ hiện đại
Chỉ thị 36CT/TW ngày 24/9/1994 của Ban Bí thư TW Đảng đã nêu rõmục tiêu trước mắt phải là: “Đào tạo được một lực lượng VĐV trẻ có khả năngnhanh chóng tiếp cận các thành tựu thể thao tiên tiến của thế giới Tham gia vàđạt kết quả ngày càng cao trong các hoạt động thể thao khu vực, châu Á và thếgiới, trước hết ở những môn thể thao mà ta có nhiều khả năng”
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2001 có đoạn viết: “Có chínhsách và cơ chế phù hợp để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thểthao nước ta đạt vị trí cao của khu vực, từng bước tiếp cận với Châu lục và Thếgiới ở những môn Việt Nam có ưu thế”
Vì thế chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ tươnglai là hết sức quan trọng và cấn thiết Đại hội Đảng còn nêu rõ: “Sự cường tráng
về thể chất lá nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tàisản trí tuệ và vật chất cho xã hội”
Trang 2
Theo tinh thần trên, công tác huấn luyện thể lực cho VĐV trẻ ở các mônthể thao nói chung và môn Cầu lông nói riêng thật sự là “điểm nóng” mà ngànhTDTT hết sức quan tâm và coi trọng
Cầu lông là một trong những môn thể thao trọng điểm của Việt Nam Xuấthiện ở nước ta muộn hơn so với các môn thể thao khác, song Cầu lông lại pháttriển nhanh chóng, rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân Xuất phát từ những lợiích mà môn thể thao này mang lại cho người tập, đến nay nó đã trở thành mônthể thao được sự ưu thích của mọi người Sự phát triễn môn cầu lông là phù hợpvới điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay, phù hợp với tầm vóc, tố chất thể lực,phẩm chất ý chí của người Việt Nam
Phát triển tốt chất thể lực là cơ sở, là nền tảng để tiếp thu và nắm vững yếulĩnh kỹ thuật môn Cầu lông Việc tiếp thu và vận dụng có hiệu quả kỹ thuật chỉ
có thể thực hiện trên nền tảng thể lực chung và thể lực chuyên môn vững chắc
Huấn luyện thể lực còn đảm bảo phát triễn mối quan hệ chặt chẽ giữa nângcao năng lực tốt chất của cơ thể VĐV với việc nâng cao năng lực tâm lý, có tácdụng tích cực đến việc giáo dục các phẩm chất, nhân cách, đặt biệt là giáo dục ýchí cho VĐV Điều này thể hiện ở những cố gắng nổ lực hoàn thành khối lượngtập luyện, phấn đấu vượt qua bản thân, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, chủ độngtrong thi đấu
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ thi đấu quốc tế, thì việcđào tạo lực lượng VĐV Cầu lông trẻ có thể lực, có thành tích cao là đội ngũ kếcận cho đội tuyển quốc gia là rất cần thiết Hiện nay quy trình đào tạo các tàinăng Cầu lông trẻ cho đất nước, không chỉ là việc tuyển chọn chính xác hay đề
ra kế hoạch huấn luyện với các chu kỳ khác nhau, các bài tập thể lực chung vàchuyên môn có hiệu quả cao, mà còn phải định kỳ kiểm tra, đánh giá trình độ tập
Trang 3luyện, trình độ thể lực của VĐV, giúp cho HLV kịp thời điều chỉnh lượng vậnđộng cho phù hợp với trình độ tập luyện thể lực của từng VĐV trong các giaiđoạn huấn luyện.
Là người Châu Đốc, yêu thích thể thao đặc biệt là Cầu lông tôi luôn mongmuốn đội tuyển Cầu lông quê nhà đạt thành tích cao Tuy nhiên theo quan sát vàtìm hiểu thực tế đội tuyển trẻ Cầu lông nam lứa tuổi 15 - 17, tôi nhận thấy thể lựccác vận động viên còn hạn chế, chưa có thang điểm đánh giá thể lực cụ thể và sốlượng các bài tập để phát triển thể lực chuyên môn chưa phong phú Xuất phát từnhững lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ THỂ LỰC CHUYÊN MÔN VÀ
KỸ THUẬT CỦA NAM VẬN ĐỘNG VIÊN CẦU LÔNG TRẺ LỨA TUỔI
15 - 17 THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC – AN GIANG”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn của nam vận động viêncầu lông trẻ Từ đó cung cấp được nhiều thông tin bổ ích (nhất là với các huấnluyện viên và VĐV cầu lông); góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo vàhuấn luyện vận động viên cầu lông trẻ Thành phố Châu Đốc, Tỉnh An Giang
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
1.3.1 Mục tiêu 1 : Lựa chọn và xác định các test đánh giá thể lực chuyên
môn và kỹ thuật của nam vận động viên cầu lông trẻ
- Tổng hợp và lựa chọn các test đánh giá thể lực chuyên môn và kỹ thuật của nam vận động viên Cầu lông trẻ.
- Phỏng vấn các chuyên gia, huấn luyện viên về các test đánh giá thể lực chuyên môn và kỹ thuật của nam vận động viên Cầu lông trẻ.
Trang 4
- Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá thể lực chuyên môn và kỹ thuật của nam vận động viên Cầu lông trẻ.
1.3.2 Mục tiêu 2: Đánh giá sự phát triển thể lực chuyên môn và kỹ thuật
của nam vận động viên Cầu lông trẻ thành phố Châu Đốc, Tỉnh An Giang
sau sáu tháng tập luyện
- Đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn của nam vận động viên cầu lông trẻ lứa tuổi 15-17.
- Đánh giá sự phát triển thể lực chuyên môn của nam vận động viên Cầu lông trẻ lứa tuổi 15-17.
1.3.3 Mục tiêu 3: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn và kỹ
thuật của nam vận động viên Cầu lông trẻ thành phố Châu Đốc, Tỉnh An Giang
sau sáu tháng tập luyện
Xây dựng thang điểm đánh giá thể lực chuyên môn của nam vận động viên Cầu lông trẻ lứa tuổi 15-17 thành phố Châu Đốc, Tỉnh An Giang.
- Xây đựng bảng phân loại thể lực chuyên môn của nam vận động viên Cầu lông trẻ lứa tuổi 15-17 thành phố Châu Đốc, Tỉnh An Giang.
Trang 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1 Đặc điểm của môn cầu lông.
Trong hoạt động hàng ngày ai cũng cần có sức khỏe và thể lực Sức khỏe làvốn sẵn có của mỗi người (sự sống) và phụ thuộc vào tình trạng phát triển(không bệnh tật) của mỗi cơ thể Thể lực là kết quả của quá trình ăn, uống, bồidưỡng, môi trường, trạng thái tâm lý, khả năng thích nghi và sự rèn luyện thểdục thể thao đều đặn
Sức khỏe khác với thể lực Sức khỏe thường thường gắn liền với sự sống,bệnh tật, còn thể lực thường gắn với năng lực, sức mạnh, sức bền Có thể người
có sức khỏe nhưng thiếu thể lực hoặc không có thể lực; và khi đánh giá hoặckiểm tra người có thể lực bao giờ họ cũng có đủ sức khỏe
Trong hoạt động thể dục thể thao nói chung, nếu người có sức khỏe vàthể lực ở mức bình thường (bẩm sinh) thì không thể đạt được thành tích caotrong tập luyện chuyên môn và trong thi đấu Trong thi đấu, các môn thể thaođều có tiêu chuẩn bắt buột rèn luyện nâng cao thể lực, ngoài yêu cầu thể lực nhấtđịnh còn phải biết kết hợp nhuần nhuyễn các yếu lĩnh về kỹ thuật, chiến thuật,trạng thái tâm lý, môi trường và phương tiện Một vận động viên có sức khỏe ,thể lực tuyệt vời nhưng nếu thiếu kỹ thuật, chiến thuật, yếu tố tâm lý, môitrường, phương tiện thì không thể chiến thắng được đối phương, nhất là trongmôn thể thao cầu lông (môn thể thao đối kháng) Ngược lại nếu một vận độngviên có các yếu tố kỹ thuật, thể lực thì cũng khó có thể chiến thắng được đốiphương Vận động viên A và vận động viên B, cả hai đều có trình độ kỹ thuật,chiến thuật, trạng thái tâm lý và các điều kiện khác như nhau, nếu vận động viên
Trang 6A có thể lực hơn vận động viên B thì vận động viên A sẽ thắng được vận độngviên B vào những séc cuối Cho nên thể lực là nền tảng, là chỗ dựa để phát huy
kỹ thuật, chiến thuật Ngay trong luyện tập hàng ngày, vận động viên thiếu thểlực tố chất kém thì cũng không thể đạt được thành tích cao, vì khi thể lực yếukém thì không thể thực hiện được đúng mức các yếu lĩnh của bài tập và các yếu
tố kỹ thuật theo yêu cầu tập luyện Từ đó dễ hình thành một thói quen và vậnđộng viên sẽ kém tiến bộ, thậm chí không có tiến bộ trong chuyên môn Đặc biệtnhững vận động viên thể lực kém rất dễ bị mệt mỏi, chán nản, không bảo đảmhết khối lượng luyện tập hàng ngày, hàng tuần
Ngoài ra, vận động viên còn phải có tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao
ở từng vị trí tập luyện và trong các tình huống thi đấu, có lòng tự hào về bảnthân, quê hương và Tổ Quốc mình
Mặc dù Cầu lông được du nhập vào Việt Nam hơn 25 năm, tổ chức liênđoàn cầu lông đã được triển khai tới các tỉnh, thành, ngành, phong trào ngày nay
đã lên đỉnh cao đáng kể; số vận động viên có trình độ cũng được đào tạo tậphuấn thêm… Nhưng qua các cuộc thi đấu quốc tế ở Thượng Hải năm 1994, BắcKinh năm 1995, Indonesia năm 1996 và Sea games 19 năm 1997, các vận độngviên cầu lông của Việt Nam thường bị loại ngay vòng đầu mà lí do chủ yếu chỉ
vì thể lực yếu… Trước Sea Games 19 Tổng cục thể dục thể thao và Liên đoàncầu lông Việt Nam đã mời huấn luyện viên Indonesia sang Việt Nam huấn luyệncho đội tuyển 4 - 5 tháng và cũng đưa đội tuyển sang Indonesia tập huấn thêm 2tháng trước khi thi đấu, nhưng các vận động viên Việt Nam vẫn bị loại ở vòngđầu
Trang 7
Vì sao? Nguyên nhân là chúng ta chưa có định hướng chiến lược về môn thểthao này, quá trình tập huấn, huấn luyện của đội tuyển đầu tư chưa đúng mức,chưa có hệ thống, đặc biệt về mặt huấn luyện thể lực.
1.1 Đặc điểm tố chất thể lực trong môn cầu lông
Cầu lông là một môn thể thao đỏi hỏi toàn diện về các tố chất thể lực Cầulông đồng thời là một trò chơi rất linh hoạt, có yêu cầu cao về chiến thuật, kỹthuật, thể lực và tâm lý Khó đánh giá được mặt nào là quan trọng nhất bởi vì:
Một là, nó không thể đo lường chính xác
Hai là, nó phụ thuộc vào lứa tuổi và tiêu chuẩn của từng cá nhân vận độngviên Đối với một người mới tập thì việc học kỹ thuật là phần quan trọng nhất.Tuy vậy, để đạt tới trình độ thi đấu xuất sắc thì các khía cạnh thể lực và tâm lývẫn là những phần quan trọng nhất cần phải quan tâm
Ba là, kỹ thuật tốt có thể bù đắp được một phần hoặc toàn bộ cho mộttrạng thái sung sức về thể lực còn thấp Tuy nhiên thể lực kém có thể làm hỏngnhững kỹ thuật tốt vào cuối séc thứ nhất và trong suốt khoảng thời gian cuốicùng còn lại của trận đấu Nói cách khác tất cả các mặt yêu cầu đối với thể thaođều có liên quan chặc chẽ với nhau đều này được minh họa ở hình 1
Trang 8
6
2 1
11
12
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố tập
luyện trong môn cầu lông.
Trang 96) Kiểu phòng thủ thông thường sẽ không làm phát triển được quả đập cầu 7) Các quả đập dễ trở nên không còn chắc ăn trong các tình thế đang dẫn điểm.
8) Cảm giác phòng thủ kém sẽ làm giảm mất cơ hội chống lại những đấu thủ chơi hăng hái.
9) Tinh thần thi đấu có thể huy động được những nguồn sức mạnh tiềm ẩn 10) Hoạch định chiến thuật một cách có tổ chức tốt sẽ làm tăng lòng tự tin 11) Sự sung sức thể lực ở mức cao sẽ kích thích tinh thần.
12)Có đủ kiên nhẫn để chơi một trận cầm chừng theo chiến thuật hay không?
Mỗi một cú đập gồm một số động tác phức tạp phải được lặp đi lặp lại không
có sai sót, thậm chí các điều kiện từ cú đánh này đến cú đánh sau đó là hoàn toànkhác nhau (cú đánh trả lại chỉ có nghĩa làm cho quả cầu lông bay qua lưới).Hình 1 cũng minh họa tầm quan trọng của sự sung sức về thể lực Phân tíchlượng vận động thường bắt đầu bằng việc đánh giá toàn bộ các yêu cầu của môncầu lông Sự phù hợp về thể lực quyết định trực tiếp tới mức yêu cầu để có thể sửdụng kỹ thuật, chiến thuật và các khả năng tâm lí của người tập
1.2 Huấn luyện thể lực
Huấn luyện thể lực là dùng các phương tiện của Thể Dục Thể Thao tácđộng lên người tập một lượng vận động nhằm biến đổi và hoàn thiện các chứcnăng chức phận của cơ thể
Thành tích thể thao của môn cầu lông như đã đề cập ở trên là sự tổng hợpkết quả của nhiều yếu tố hợp thành, nên không thể coi nhẹ bất kỳ một yếu tố nào,
mà phải phát triển đồng bộ và toàn diện Huấn luyện thể lực trong cầu lông làmột quá trình sư phạm, mang tính giáo dục cao, được thực hiện trong sự thốngnhất với các mặc giáo dục, đạo đức, ý chí, thẩm mỹ, năng lực tiếp thu kỹ thuật,
Trang 10chiến thuật Việc xem xét huấn luyện thể lực không chỉ từ góc độ nâng cao thànhtích mà còn ở cả sự phát triển thể chất, củng cố sức khỏe, chuẩn bị cho con người(người tập) có khả năng sẵn sàng cao đối với lao động sản xuất và bảo vệ TổQuốc.
Nhìn chung năng lực tốc độ của con người mang tính chất chuyên biệt khá rõrệt Việc chuyển hóa trực tiếp của sức nhanh chỉ điễn ra trong những động táctương tự về tính chất vận động, có thể chuyển hóa ở giai đoạn đầu của người tập.Còn ở những người tập luyện lâu năm, có trình độ cao hầu như việc chuyển hóasức nhanh không diễn ra Do vậy, việc phát triển sức nhanh không chung chung,
mà rất cụ thể đối với năng lực tốc độ
Trang 11
1.2.2 Sức mạnh
Sức mạnh là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài hoặc chống lại lực cản
đó nhờ sự nỗ lực của cơ bắp sức mạnh có liên hệ chặc chẽ với các tố chất thể lựckhác, với kỹ thuật động tác và tâm lí người tập
Trong hoạt động khắc phục, lực cản là lực chống lại chuyển động Tronghoạt động nhượng bộ, lực cản là lực tác động theo hướng của chuyển động Cơbắp có thể phát huy sức mạnh trong những trường hợp sau:
- Không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh lực)
- Giảm độ dài cơ (chế độ khắc phục)
- Tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ)
+ Sức mạnh bột phát: biểu hiện chỉ số sức mạnh lớn nhất trong một thời gianngắn nhất và được biểu thị bằng công thức:
I = F max / t max
Như vậy, những người có trình độ tập luyện như nhau, song trọng lượng
cơ thể khác nhau thì trọng lượng cơ thể càng lớn sẽ có sức mạnh tuyệt đối cànglớn, nhưng sức mạnh tương đối sẽ giảm đi
1.2.3 Sức bền
Trang 12
Là khả năng làm việc trong một thời gian tương đối dài mà không bị giảmsút cường độ vận động và ý chí Hay nói cách khác, sức bền là khả năng chốnglại mệt mỏi trong hoạt động với thời gian kéo dài nào đó.
Sự phát triển sức bền phần lớn phụ thuộc vào quá trình sinh học đảm bảocho việc hoạt động lâu dài và ổn định của hệ thần kinh đối với các kích thích cócường độ lớn Ngoài ra, cũng là thành phần quan trọng để duy trì cường độ vậnđộng khi mệt mỏi Do đó cần kết hợp việc phát triển sức bền với việc rèn luyện ýchí
1.2.4 Mềm dẻo
Mềm dẻo là khả năng thực hiện các động tác với bên độ lớn của hệ vậnđộng
Mềm dẻo được thể hiện ở trình độ linh hoạt của các khớp, độ đàn hồi của
cơ bắp và dây chằng Do đó mà người ta thường đánh giá mềm dẻo theo số đo độgóc hay chiều dài
Mềm dẻo mang tính chất chuyên biệt và phụ thuộc vào tính chất và chấtlượng hoạt động, môi trường bên ngoài, trạng thái cơ thể, lứa tuổi, giới tính…
Có hai loại mềm dẻo:
- Mềm dẻo tích cực do sự nổ lực của cơ bắp.
- Mềm dẻo thụ động do tác động của ngoại lực.
1.2.5 Khéo léo
Mặc dù chưa có một tiêu chuẩn đánh giá thống nhất về bản chất của khéoléo, song trong thực tiễn Giáo Dục Thể Chất, thường người ta xem tố chất khéoléo là năng lực tiếp thu nhanh các động tác mới và biến đổi kịp thời, chính xác,
Trang 13
linh hoạt các nhiệm vụ vận động cho phù hợp với các tình huống thay đổi bấtngờ của hoàn cảnh.
Từ khái niệm trên cho thấy, tiêu chuẩn đầu tiên của khéo léo là tính phứctạp của động tác phối hợp, kế đến là tính chính xác của động tác trong khônggian, thời gian và dùng lực Do đó việc phát triển các năng lực phán đoán khônggian, thời gian, định hướng, năng lực phối hợp vận động là rất cần thiết
- Phản ứng vận động đơn giản: là sự đáp lại tín hiệu đã biết trước nhưng
xuất hiện một cách bất ngờ bằng những động tác đã định trước
Chẳng hạn có thể hình thành cảm giác tốc độ theo một số giai đoạn sau đây:+ Người thực tập cố gắng phản ứng lại tính hiệu với tốc độ lớn nhất và thực hiệncác động tác Sau mỗi lần tập, huấn luyện viên báo thời gian
+ Thực hiện như trên, nhưng người tập tự đánh giá thời gian Sau đó huấn luyệnviên báo thời gian thực tế và so sánh Nhiều lần tập như vậy sẽ hình thành cảmgiác tốc độ chính xác
+ Chạy với tốc độ định trước
- Phản ứng vận động phức tạp: Là loại phản ứng đối với vật di động hoặc
lựa chọn
+ Phản ứng đối với các vật di động thường gập trong các môn bóng và các mônđối kháng cá nhân Trong trường hợp này dòi hỏi vận động viên phải nhận biết
Trang 14đối tượng nhanh, đánh giá nhanh phương hướng và tốc độ của vật di động, chọn
kế hoạch hành động, thực hiện kế hoạch đó với thời gian ngắn nhất Phươngpháp phổ biến là:
Tăng tốc độ di chuyển của đối tượng
Tăng sự đột ngột của đối tượng
Rút ngắn cự li
Thu hẹp hình dạng đối tượng
Những trò chơi với bóng rất bổ ích cho sự phát triển phản ứng loại này
+ Phản ứng lựa chọn gắn liền với việc phải chọn một hành động cần thích trong
số các hành động có thể xảy ra để đáp lại một cách thích hợp với sự thay đổi củatình huống trong bóng đá, bóng chuyền, quyền anh… những ví dụ như vậy rấtnhiều
Các loại trò chơi vận động, trò chơi linh hoạt, các môn bóng có ý nghĩa rất lớnđối với sự phát triển phản ứng lựa chọn
b) Phát triển sức nhanh của động tác:
- Yêu cầu chủ yếu ở đây là thực hiện nhanh nhất một động tác riêng lẻ nào đótrong một hành động hoàn chỉnh, phức tạp
Do đó việc giáo dục sức nhanh động tác cần kết hợp chặc chẽ với việc giáo dụccác tố chất khác và với việc hoàn thiện kĩ thuật
- Phương tiện để phát triển sức nhanh động tác:
Để phát triển sức nhanh động tác, người ta sử dụng các bài tập có thể thực hiệnvới tốc độ tối đa, yêu cầu chung ở đây là:
+ Kỹ thuật sao cho có thể thực hiện với tốc độ giới hạn, tức là phải nắm vững kỹthuật, kỹ thuật phải đơn giản và thường sử dụng các bài tập không có chu kì.
Trang 15+ Người học cần nắm vững các bài tập tốc độ để khi thực hiện thì nỗ lực ý chíchủ yếu không phải tập trung vào cách thực hiện mà vào tốc độ động tác.
+ Cự li phải đảm bảo sao cho đến cuối lúc thực hiện động tác, tốc độ không bịgiảm do mệt mỏi Ví dụ: vận động viên cao cấp cũng không quá 20-22 giây(200m)
+ Phát triển sức mạnh - tốc độ, mạnh – bột phát
- Phương pháp:
Phương pháp chủ yếu ở đây là lặp lại, lặp lại tăng tiến, biến đổi…Các phươngpháp phải tuân theo một xu hương cơ bản là cố găng vượt tốc độ lớn nhất củabản thân trong các buổi tập Cần lựa chọn cụ li sao cho tốc độ di chuyển không
bị giảm đi vào cuối lần tập Ví dụ cự li không vượt quá 200m, thường sử dụngcác bài tập chạy 30 – 50 - 60m tốc độ cao Quãng nghỉ giữa các lần tập cần đủ để
có thể hồi phục tương đối hoàn toàn, nợi ôxi được thanh toán Nhưng nếu căn cứvào tốc độ hời phục của hệ thực vật thì quãng nghỉ tương đối dài, chẳng hạn 8 -
12 phút mỗi bài tập tốc độ cao Trong khi tốc độ hồi phục hưng phấn thần kinhrất nhanh Để giải quyết mâu thuẩn này, giữa các quãng nghỉ cần nghỉ ngơi tíchcực để duy trì hưng phấn thần kinh Phương tiện nghỉ ngơi tích cực thường là cácbài tập có cường độ thấp nhưng đòi hỏi nhiều nhóm cơ cùng tham gia hoạt động,nhờ đó các xung động thần kinh hướng tâm nhận lượng vận động tốc độ duy trìđược khả năng hưng phấn cao
c) Phát triển tần số động tác:
- Tần số động tác tiêu biểu cho các hoạt động có chu kì Thông thường, tần sốtay lớn hơn chân, tần số động tác tứ chi lớn hơn mình
Trang 16
- Phương tiện để phát triển tầng số động tác: để phát triển tầng số động tác,người ta sử dụng các bài tập phát huy được tốc độ tối đa, thực hiện các bài tập cóchu kì như chạy xuống dốc, chạy có lực kéo cơ học hoặc chạy theo nhịp, bàntrượt quay, kích thích tăng tầng số nhờ tín hiệu…
- Phương pháp:
Chủ yếu vẫn là phương pháp lặp lại, tăng tiến và biến đổi Cự li cần lực chọn saocho tốc độ không bị giảm đi vào giai đoạn cuối Ví dụ: 30 - 60m Nghỉ ngơi tíchcực để hồi phục tương đối hoàn toàn ( 1 phút – 2 phút)
Những điều cần chú ý: trong quá trình huấn luyện tốc độ, thường sử dụngphương pháp tập lặp lại Song nếu quá lạm lạm dụng sẽ dẫn đến hiện tượng “ hàng rào tốc độ”, thực chất đây là đỉnh của kĩ xảo tốc độ
Khi hiện tượng “hàng rào tốc độ” đã xảy ra, cần nhanh chóng sử dụng các biệnpháp khắc phục sau đây:
+ Dập tắt định hình động lực trên vỏ não, cho phép ngừng tập các bài tập tốc độmột thời gian thích hợp Trong thời gian nghỉ không tập tốc độ, cần tập các bàitập bổ trợ kỹ thuật và các tố chất vận động có liên quan, đặc biệt là sức mạnh –tốc độ, mạnh – bộc phát
+ Tạo điều kiện để hình thành tần số động tác cao hơn, ví dụ: chạy với người cótốc độ cao hơn, chạy xuống dốc, tập các bài tập có lực kéo
+ Thay đổi cấu trúc, điều kiện và phương pháp tập luyện khác (phương pháp pháđỉnh của kĩ xảo)
1.3.2 Phương pháp phát triển sức mạnh:
Sức mạnh của con người trong hoạt động TDTT phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nhau:
Trang 17
- Cấu trúc của cơ (thiết diện sinh lí của cơ).
- Nguồn năng lượng yếm khí.
- Quá trình điều hòa thần kinh - cơ.
Về cơ chế điều hòa thần kinh – cơ có hai trường hợp tùy thuộc vào cường độkích thích (trọng lượng) Khi cường độ kích thích nhỏ, các sợ cơ làm việc theochế độ luân phiên, tức là số lần lặp lại tăng lên thì số lượng các sợ cơ tham gialuân phiên hoạt động cũng tăng lên Nếu cường độ kích thích lớn thì cùng mộtlúc huy động rất nhiều sợ cơ tham gia hoạt động
Dựa trên cơ sở khoa học vừa nêu trên mà chúng ta định hướng cho việc hìnhthành các phương pháp tập luyện sức mạnh sau đây:
a) Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ chung trong quá trình giáo dục sức mạnh là phát triển toàn diện cácloại sức mạnh cần phát huy cao độ và hợp lí sức mạnh trong các hình thức hoạtđộng khác nhau và đặc cơ sở cho huấn luyện chuyên môn
b) Phương pháp phát triển sức mạnh:
- Sử dụng các bài tập với sức kháng lớn ở bên ngoài như tạ, sức đối kháng
của người cùng tập, vật đàn hồi, bao cát…
- Bài tập khắc phục trọng lượng của bản thân: lò cò, chống đẩy, kéo xà đơn,
ke bụng…
c) Phương pháp:
- Cách xác định đối kháng: trọng lượng hay lực đối kháng tối đa là trọng
lượng mà vận động viên có thể khắc phục được một lần trong trạng tháikhông quá hưng phấn, nếu 2 đến 3 lần là gần tối đa, từ 4 đến 7 lần là lớn,
từ 8 – 12 lần là trung bình, từ 13 – 20 lần là nhỏ…
Trang 18
- Huấn luyện sức mạnh thường sử dụng các bài tập tăng thêm trọng lượng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vận động sức mạnh bao gồm: trọnglượng (cường độ), số lần lặp lại, nhóm bài tập lặp lại và nghỉ giữa quãng
- Yêu cầu khi tập luyện: phải xuất phát từ nhiệm vụ huấn luyện, sắp xếp
lượng vận động hợp lí, sử dụng phương pháp một cách khoa học cho từngđối tượng cụ thể
Phương pháp gắng sức tối đa
Tập với cường độ 90 – 95 % sức tối đa thời gian nghỉ cần đầy đủ (khoảng
3 -5 phút) để hồi phục Đây là phương pháp tập luyện của những người có trình
độ huấn luyện Phương pháp này nhằm động viên một cách lớn nhất bộ máy thầnkinh – cơ tham gia vân động và tăng nhanh sự phát triển của cơ bắp Nhưng khitập lại rất căng thẳng về tâm - sinh lí, gây khó khăn cho việc hoàn thiện kỹ thuậtđộng tác, dễ chấn thương, chỉ nên tập 1 – 2 lần/ tuần Trước khi tập cần khởiđộng thật kĩ
Phương pháp gắng sức gần tối đa
Đặc điểm của phương pháp này là sử dụng trọng lượng chưa đến giới hạnvới số lần lặp lại giới hạn Thời gian nghỉ cần đầy đủ (khoảng 3 – 5 phút) để hồiphục Xu hướng hiện đại là tập với trọng lượng (4 – 7 lần) với số lần lặp lại tối
đa Người mới tập trọng lượng trung bình hoặc nhỏ, lặp lại tối đa, nhịp trungbình
1.3.3 Phương pháp phát triển sức bền:
Các nhân tố cấu thành phương pháp huấn luyện sức bền bao gồm số lượng
và cường độ bài tập, số lần lặp lại, thời gian nghỉ và tính chất nghỉ, đặc điểm cánhân về sinh học và tâm lí
Trang 19
a) Phát triển sức bền chung:
- Nguyên tắc chung là nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể, tức là nâng caomức hấp thụ ôxi tối đa, di trì khả năng đó trong thời gian dài, làm cho các quátrình hô hấp, tuần hoàn nhanh chóng bước vào hoạt động với hiệu suất cao nhất
- Phương tiện: những bài tập có hiệu quả nhất là những bài tập có nhiều nhóm cơtham gia Tốt nhất là tập trong các điều kiện tự nhiên, ở những nơi giàu ôxi(rừng, cánh đồng, bãi biển) Các bài tập phải được thực hiện với tốc độ gần mứcgiới hạn nhịp tim khoảng 150 lần/phút, thời gian tập 30 phút trở lên
- Phương pháp tập luyện đồng đều, liên tục, lặp lại và biến đổi là những phươngpháp chủ yếu để nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể
Các ví dụ sau đây nhằm giới thiệu một vài phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp tập luyện đồng đều:
Tốc độ duy trì đều nhằm làm cho tim, phổi hoạt động nhịp nhàng
Tốc độ ở mức gần giới hạn ( nhưng cũng không được quá nhỏ), 75 – 85% cường
độ tối đa Cự li đối với vận động viên cấp cao chạy 1000m/ 5 – 7 phút Cần duytrì cự li trong thời gian tối thiểu 10 – 12 phút Chỉ có vận động viên cấp Quốc Tếmới có thể đạt được 1 – 1,5 giờ
Số lần lặp lại tùy theo trình độ tập luyện, thường là 1 lần/buổi từ 2000m –3000m
+ Phương pháp giãn cách – biến tốc:
Cường độ bằng 75 – 85% cường độ tối đa đủ tạo được mạch đập 130 – 180lần/phút
Cự li: 1 – 1 phút 30 giây tương đương 400m – 600m Chỉ có ở cự li như vậy thìhoạt động mới diễn ra trong điều kiện nợ dưỡng và mức hấp thụ oxy sẽ đạt tối đa
Trang 20
khi nghỉ Quãng nghỉ ngắn: thông thường từ 1 – 3 phút, không được vượt quá 3 –
4 phút Nếu quá mao mạch sẽ co lại, mức hấp thụ oxy sẽ giảm xuống
Đặc điểm nghỉ ngơi: nghỉ tích cự tránh thụ động không hoàn toàn
Số lần lập lại được xác định theo trình độ tập luyện, có thể tổ chức theo nhómbài tập, giữa các nhóm nghỉ tích cực 1 – 15 phút
b) Phát triển súc bền chuyên môn:
Nguyên tắc nhung là nâng cao khả năng yếm khí (khả năng huy động nguồnnăng lượng dự trữ) Cụ thể là:
Nâng cao cơ chế phốt-pho creatin (cơ chế giải phóng năng lượng từ phốt-phocreatin):
+ Cường độ (cự li) hoạt động gần mức giới hạn: 90 – 95% Sử dụng tốc độ nhưvậy tránh được “ hàng rào tốc độ” và kiểm tra được kỹ thuật chạy, tốc độ chạy vàhình thành cảm giác tố độ
+ Thời gian mỗi hoạt động cần tính toán sao cho xấp xỉ từ 3 – 8 giây (chạykhoảng 20 – 80m, bơi từ 8 – 20m…) Nếu quá sẽ chuyển qua cơ chế gluco phân,bởi vì dự trữ phốt-pho creatin trong cơ rất ít, thời gian phân hủy hợp chất này chỉdiễn ra trong vài ba giây sau khi bắt đầu vận động
+ Khoảng cách nghỉ ngơi từ 2 – 3 phút mỗi lần tập luyện Cần nghỉ ngơi tích cựcgiữa các nhóm bài tập để duy trì hưng phấn thần kinh
1.3.4 Phương pháp phát triển mềm dẻo:
Nguyên tắc chỉ đạo chung là không nên phát triển mềm dẻo tới mức giớihạn, mà chỉ phát triển tới mức đủ để đảm bảo cho việc thực hiện thuận lợi cácđộng tác Thông thường phải cao hơn mức dự trữ mềm dẻo một ít Tính linh hoạtcủa các khớp, cột sống khớp chậu, đùi, vai giữ vai trò quan trọng nhất trong quátrình phát triển mềm dẻo
Trang 21
Để phát triển tố chất mềm dẻo, người ta sử dụng các bài tập có biên độ lớnnhằm kéo giãn các cơ và dây chằng Các bài tập này chia thành hai nhóm: cácbài tập tích cực và các bài tập bị động (tiêu cực).
Trong các bài tập bị động (tiêu cực), tư thế duy trì được là nhờ tác độngcủa ngoại lực Lí luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, các chỉ số mềm dẻo đạtđược sau các bài tập tích cực sẽ duy trì lâu hơn sau các bài tập bị động Cần lưu
ý rằng, khả năng kéo giãn của cơ bắp và dây chằng tương đối nhỏ Nếu gắng sứckéo dài chúng quá mức trong một động tác nào đó thì hiệu quả sẽ tăng lên khôngđáng kể Các bài tập mềm dẻo tốt nhất nên tập thường xuyên hàng ngày hoặc tốthơn cả là ngày tập hai lần Trong mỗi giời học thể dục, các bài tập mềm dẻo chủyếu được sắp xếp vào cuối phần cơ bản
1.3.5 Phương pháp phát triển khéo léo
Để phát triển khéo léo, ta có thể sử dụng bất kì loại bài tập nào với điềukiện là trong các loại bài tập đó phải có thành phần mới, đòi hỏi sự phối hợp vậnđộng Việc tiếp thu các động tác mới đa dạng sẽ làm phong phú thêm vốn kĩnăng và kĩ xảo vận động
Tăng độ khó của các bài tập phối hợp như yêu cầu cao về độ chính xác vận động,biến đổi linh hoạt cho phù hợp với nhựng thay đổi đột ngột của tình huống xungquanh
Phát triển năng lực phối hợp vận động bằng cách hoàn thiện cảm giác khônggian, thời gian, khả năng giữ thăng bằng, khả năng luân phiên hợp lí giữa căngthẳng và thả lỏng cơ bắp…
1.4 Một số quan điểm đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực:
Đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực qua chức năng tâm – sinh lý:
Trang 22
Các nhà khoa học đã nghiên cứu xây dựng các test để đánh giá hiệu quảvận động chuyển oxy và tiêu thụ oxy như hệ tim mạch và hệ hô hấp Các tác giả
sử dụng các test như: test Lettunnôp (1937), Step test Haward (1942), testMarqia (1996), test Cooper (1970), test Pwc 170 (1960)… để đánh giá trình độchuẩn bị thể lực các đối tượng Các tác giả đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực quachức năng hệ thống các cơ quan trong cơ thể dựa vào các chỉ tiêu đo trong trạngthái động hoặc tĩnh
Các chỉ tiêu đo trong trạng thái động: mạch trong vận động, khả năng hấpthụ oxy tối đa, dung tích sống…phải kiểm tra các biến đổi tức thời của các cơquan trong cơ thể Các chỉ tiêu đo trong trạng thái tĩnh như: mạch đập yên tĩnh,huyết áp tĩnh, dung tích sống… Kiểm tra các biến đổi thích nghi lâu dài của cơthể Song tùy thuộc vào điều kiện nghiên cứu mà ta sử dụng các test trong điềukiện thích hợp
Đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực bằng phương pháp chức năng vận động:
Quan điểm đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực bằng các chì tiêu chức năngvận động được các nhà sư phạm áp dụng chủ yếu là các tác giả thường sử dụngcác chỉ tiêu đánh giá năng lực vận động và tố chất thể lực để đánh giá trình độchuẩn thể lực của đối tượng nghiên cứu như đánh giá sức mạnh, sứ nhanh, sứcbền, mềm dẻo và khả năng phối hợp
Một số tác giả sử dụng một test để đánh giá trình độ chuẩn thể lực như: Cooper( Test cooper), Test Pwc 170, Step test Haravard…Cooper K (1970) cho rằngsức bền chung trong hoạt động Thể Dục Thể Thao đồng thời phản ánh trình độthể lực chung của con người
Ở nước ta, các nhà sư phạm đã nghiên cứu đánh giá trình độ chuẩn bị thể lựcbằng các tổ hợp Test sư phạm như: Lê Đình Du và cộng sự (1973), Phạm Khắc
Trang 23Học, Vũ Bích Huệ, Đỗ Trọng Xanh (1978 – 1980), Nguyễn Thế Truyền, PhanHồng Minh (1984), Trần Đồng Lâm, Vũ Bích Huệ (1984)…
Các tác giả cho rằng mức độ phát triển của các tố chất thể lực của conngười không phải chỉ do những khả năng chức phận của các cơ quan trong
cơ thể (khả năng sinh lý) mà còn do những tố chất tâm lý, đặc biệt là nhữngphẩm chất ý chí, xác định
Theo tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn thì: ''Các tố chất thểlực là những điều kiện quan trọng để vận động viên có thể giành đượcthành tích cao trong thi đấu và là tiền đề cho việc thực hiện những yêu cầungày càng khó khăn trong quá trình tập luyện''
Theo các tác giả Trịnh Trung Hiếu và Nguyễn Sĩ Hà thì: ''Tố chất thểlực (hoặc tố chất vận động là những phẩm chất hình thành với vận động củacon người vốn có khi mới sinh ra Ngoài ra người ta còn hiểu tố chất thể lực
là những khái niệm có thể được xác định trước hết thông qua yếu tố nănglượng''
Theo PGS TS Nguyễn Toán và TS Phạm Danh Tốn thì: trình độ thểlực là mức độ phát triển về sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và các
tố chất thể lực khác của VĐV Cũng theo tác giả thì: trình độ kỹ thuật làtrình độ điêu luyện về mặt ấy của VĐV Do vậy, để đánh giá trình độ thểlực chuyên môn của môn thể thao lựa chọn qua từng giai đoạn huấn luyên
Các tác giả Bành Mỹ Lệ, Hậu Chính Khánh cho rằng: “ Lấy việc phát triển
tố chất thể lực của VĐV cầu lông làm thành nội dung chủ yếu của huấn luyện thểlực Hay nói cách khác là chú trọng phát triển các tố chất sức mạnh, tốc độ, sứcbền, mềm dẻo cho VĐV ”
Trang 24
Theo các tác giả Trần Văn Vinh, Đào Chí Thành 1998 cho rằng: Xuhướng huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV trong cầu lông hiện đại baogồm:
cơ thể ”
Từ các quan điểm nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước, cho phép đi đếnmột số nhận xét sau về quá trình huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn choVĐV cầu lông:
- Huấn luyện thể lực toàn diện là nguyên tắc cơ bản khi sử dụng lượng vậnđộng lớn trong quá trình huấn luyện không ngừng nâng cao năng lực làm việccủa hệ thống thần kinh trung ương và các trung khu của nó, nâng cao năng lựclàm việc của các cơ quan nội tạng, nhất là cơ quan tuần hoàn hô hấp dưới tácđộng của lượng vận động ngày càng lớn Đây chính là quá trình làm biến đổi,thích nghi và không ngừng nâng cao giới hạn khả năng hoạt động của cơ quanchức phận phù hợp với lượng vận động, duy trì trạng thái sung sức thể thao và cókhả năng điều chỉnh trạng thái đó vào đúng thời kỳ thi đấu
- Huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cầu lông là quá trình sử dụnghợp lý các phương tiện chuyên môn của quá trình giáo dục thể chất, tác động
Trang 25một cách toàn diện đến cơ thể VĐV, nhằm hình thành ở họ các năng lực chuyênmôn phù hợp cho luyện tập và thi đấu Thi đấu cầu lông hiện đại thường đượcthể hiện với tốc độ cao và cường độ lớn, đặc biệt ở các giải lớn mỗi trận đấucàng ở vòng trong càng mang tính chất căng thẳng, quyết liệt, do đó đòi hỏi mỗiVĐV có sự chuẩn bị tốt về thể lực Trong suốt thời gian trận đấu hoặc ngay trongmỗi tình huống cụ thể, đòi hỏi các VĐV phải di chuyển hợp lý trên sân, bật nhảytấn công liên tục, thực hiện động tác rồi lại di chuyển để tiếp tục kỹ thuật khác.Bởi vậy một yêu cầu trong huấn luyện thể lực cho VĐV là giúp họ có khả năngthích ứng về thể lực chuyên môn cao.
- Trước những yêu cầu cao đòi hỏi của môn thể thao cầu lông, xu hướng
sử dụng các phương tiện chuyên dùng, cùng các phương tiện bổ trợ bằng máymóc hiện đại ngày càng phổ biến Đó là hệ thống các bài tập chuyên môn cóhoặc không có dụng cụ nhằm không ngừng nâng cao khả năng của cơ thể Sửdụng các điều kiện môi trường thiên nhiên như: Huấn luyện núi cao, bãi biển,huấn luyện ở các vùng khí hậu khác nhau, tạo cho VĐV thích ứng với các điềukiện thi đấu thay đổi
Tóm lại huấn luyện thể lực là quá trình sử dụng các bài tập thể chất
để tác động vào cơ thể vận động viên nhằm phát triển và hoàn thiện các tốchất thể lực đồng thời nâng cao khả năng hoạt động của cơ quan chức phậntương ứng với năng lực vận động của vận động viên
1.5 Những nghiên cứu có liên quan đến các test đánh giá trình độ tập luyện thể lực của vận động viên Cầu lông:
Trang 26
Khi lựa chọn các test đánh giá TLCM, nhiều tác giả lại thể hiện các quanđiểm riêng.
Theo Bo Omosegaard khi huấn luyện TCTL cho VĐV cầu lông trẻ, chiatheo các hình thức
- Bật cao với tại chỗ (cm).
- Bật nhảy một chân 10 bước (m).
- Bật nhảy đập cầu mạnh 40 quả (s).
- Luân phiên giậm nhảy vụt cầu bên phải và bên trái bắt chéo qua đầu mạnh
10 lần/ bên (s)
- Di chuyển luân phiên đập cầu phải, đỡ bỏ nhỏ, vụt trái 1 phát (lần).
- Nhảy dây đơn (lần/ phút).
Bành Mỹ Lệ - Hậu Chính Khánh ( Trung Quốc) chỉ đánh giá trình độ huấnluyện nói chung tác giả đưa ra các nội dung:
- Di chuyển tiến lùi theo đường thẳng 5 lần (20% tổng điểm).
- Di chuyển ngang phải trái 5 lần sân đơn (20% tổng điểm).
Trang 27
- Nhảy dây kép 1 phút (số lần (10% tổng điểm).)
- Di chuyển đánh cầu cao sau cuối sân (20% tổng điểm).
- Di chuyển đánh cầu chéo gốc sát lưới vào ô (20% tổng điểm).
- Kiểm tra năng lực thi đấu thực tế (10% tổng điểm).
Có thể nói tác giả chỉ chú trọng đến các nội dung chuyên biệt TCTL kết hợpvới kỹ thuật
Ở Trung Quốc khi tuyển chọn vận động viên cầu lông lứa tuổi 9-14 các HLV
- Chạy tiến lùi theo đường thẳng 5 lần (s).
- Ném quả cầu lông (m).
Trang 28- Di chuyển ngang sân đơn/phút (lần).
- Di chuyển tiến lùi/phút (lần).
Tâm lí học Mácxit cho rằng, cần phải nghiên cứu tuổi thanh niên một cáchphức hợp, phải kết hợp quan điểm tâm lí học và xã hội với việc tính đến nhữngquy luật bên trong của sự phát triển Đó là một vấn đề phức tạp và khó khăn,sinh lí cũng trùng hợp với hạn trưởng thành về mặt xã hội
Học sinh càng trưởng thành kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, các em ýthức được rằng mình được mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời do vậythái độ có ý thức của các em ngày càng phát triển
Thái độ của các em đối với các môn học cũng có tính lựa chọn hơn, ở các
em đã hình thành những hứng thú học tập gắc liền với khuynh hướng nghềnghiệp Cuối bậc trung học các em đã biết xác định cho mình một hứng thú ổnđịnh đối với một môn học nào đó với một lĩnh vực nhất định Hứng thú nàythường liên quan với việc chọn một nghề nhất định của các em
Trang 29
Tóm lại, ở tuổi thanh niên mới lớn những đặc điểm chung của con người
về mặt trí tuệ thông đã được hình thành và chúng vẫn còn tiếp tục hoàn thiện
Sự phát triển của ý thức là một đặc điểm nổi bậc trong sự phát triển nhân cáchcủa thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lí ở lứatuổi này Sự hình thành ý thức ở lứa tuổi này là một quá trình lâu dài trãi quanhững mức độ khác nhau quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ sôi nổi
và có tính chất đặc thù riêng Thanh niên có nhu cầu tìm kiếm và đánh giá nhữngđặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bãocủa mình
Ở lứa tuổi này sự hình thành thế giới quan, hệ thống những quan điểm về
tự nhiên và xã hội về các nguyên tắc và quy cách ứng xử… những điều đó được
ý thức vào các hình thức tiêu chuẩn, nguyên tắc, hành vi xác định, một hệ thốnghoàn chỉnh
1.6.2 Đặc điểm sinh lý.
* Đặc điểm cơ thể
Tuổi thanh niên là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sựphát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển của cơ thể của người lớn Tuổithanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý
Nhịp độ tặng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại Các em gái đã đạtđược sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng 16 - 17 tuổi, các em traivào khoảng 17 - 18 Trọng lượng của các em đã đuổi kịp các em gái và tiếp tụcvượt lên Sức mạnh cơ bắp tăng rất nhanh lực cơ của các em trai tuổi 16 vượt lêngấp 2 lần so với lực cơ của các em lúc 12 tuổi
Trang 30
Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe và đẹp.
Đa số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như ngườilớn
* Cơ sở sinh lý của HLTT của lứa tuổi 16 - 18:
Đặc điểm quan trọng của công việc HLTT cho thanh niên và quá trình huấnluyện diễn ra trên một cơ thể còn đang trưởng thành và phát triển Điều đó làmcho công tác huấn luyện VĐV đẻ thêm phức tạp và đòi hỏi phải nắm vững cácđặc điểm, lứa tuổi cũng như áp dụng phù hợp với mục tiêu và nội dung huấnluyện
Cần lưu ý rằng trong HLTT đối với thanh niên, không chỉ cần quán triệt các đặcđiểm sinh lý lứa tuổi mà các đặc điểm tâm lý cũng đóng vai trò không kém phầnquan trọng Vì vậy trong khoa học TDTT khái niệm tâm sinh lý tồn tại Tâm sinh
lý lứa tuổi được xem một cách hữu cơ trong toàn bộ quá trình huấn luyện, nhất làhuấn luyện HLTT cho thanh niên
Trạng thái ổn định của VĐV tuổi này nói chung ngắn hơn so với tuổi người lớn
- Hệ xương: Vẫn tiếp tục được cốt hóa mãi tới năm 24 - 25 mới hoàn thiện, các
cơ tăng khối lượng và đạt 43 - 44 % trọng lượng toàn thân Sự cốt hóa bộ xươngđiều đó có ý nghĩa đã chấm dứt sự phát triển chiều dài Quá trình đó xảy ra docác màng xương được phát triển dày lên bao bọc quanh sụn
- Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện khả năng tư duy, phân tíchtổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt cho việchình thành phản xạ có điều kiện
- Hệ cơ: Riêng cơ bắp cơ lớn phát triển nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) các cơ cophát triển sớm hơn cơ duỗi vì vậy phải sử dụng các bài tập sử dụng sức mạnh là
Trang 31
hợp lì nhưng các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức đảm bảo cho các loạicơ
- Hệ tuần hoàn: Đã phát triển hoàn thiện mạch đập của nam vào khoảng 70 - 75lần 1 phút, nữ 75 - 80 lần 1 phút Sau hoạt động mạch và huyết áp hồi phụctương đối nhanh cho nên phù hợp với những bài tập chạy dai sức và những bàitập có khối lượng và cường độ tương đối lớn
- Hệ hô hấp: Đã hoàn thiện vòng ngực trung bình của nam vào khoảng 75 - 80
cm, nữ 80 - 85 cm diện tích tiếp xức của phổi vào khoảng 120 - 150 cm, dunglượng phổi khoảng 4 - 5 lít, tần số hô hấp 10 - 20 lần 1 phút, vì vậy các bài tậpphát triển sức bền rất phù hợp với lứa tuổi này
* Sự phát triển tố chất thể lực theo lứa tuổi.
Quá trình hình thành và phát triển các tố chất thể lực, luôn có quan hệ chặt chẽvới sự hình thành kỹ năng vận động và mức độ phát triển các cơ quan và hệ cơquan thực vật của cơ thể
Sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình trường thành xảy ra không đồngđều Các tố chất đều có những giai đoạn phát triển với nhịp điệu nhanh và nhữnggiai đoạn phát triển tương đối chậm
Tập luyện TDTT nói chung đều có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển các tốchất vận động song nhịp độ phát triển đó không giống nhau ở các lứa tuổi khácnhau Các tố chất vận động đạt đến mức phát triển cao vào những thời kỳ khácnhau
- Sức mạnh:
Sự phát triển tố chất sức mạnh ở trẻ em phụ thuộc vào mức độ hình thành tổchức xương, cơ và dây chằng, tức là phụ thuộc vào bộ máy vận động
Trang 32
Theo Ramsay J.A, Blimkic C.J.R, Smith K, Garnens Mac Doagall J.O, Sale D.G(1990), trong quá trình phát triển của cơ thể, nhờ vào sự hoàn thiện điều hòa thầnkinh, sự thay đổi cấu tạo và bản chất hóa học của các cơ, khối lượng sức mạnh
cơ bắp biến đổi đáng kể Sức mạnh của các nhóm cơ tăng không đồng đều vì vậy
tỉ lệ sức mạnh giữa các nhóm cơ thay dổi tùy theo lứa tuổi Sức mạnh cơ bắpphát triển với nhiệt độ nhanh trong giai đoạn 13 - 15, đến 16 -18, các năm sau đósức mạnh phát triển chậm lại (nếu không có tập luyện)
- Tốc độ: tốc độ như một tố chất vận động được đặc trưng bởi thời gian tiềm
tàng của phản ứng vận động, tần số động tác và tốc độ của một động tácđơn lẻ Trong hoạt động thể lực tốc độ thường thể hiện một cách tổngquát
Thời gian phản ứng có thể đo được ở lứa tuổi 16 - 18 gần bằng người lớn (0,11cho đến 0,25 giây) Sự phát triển thời gian phản ứng xảy ra không đồng đều từ 9-
11 tuổi thời gian phản ứng giảm nhanh các năm sau nhất là 14 tuổi, 16 - 18 tuổithời gian các phản ứng lại giảm chậm Vì vậy luyện tập TDTT làm giảm thờigian của phản ứng rõ rệt
Tần số động tác (trong 10 giây) ở khớp khuỷu từ 4 - 15 tuổi tăng lên gấp 3 lần ởtuổi 11,12 tần số đạp xe lực kế (không tải) trung bình 20 lần/10 giây tăng lên 33lần ở tuổi 17 - 18
- Sức bền:
Trong quá trình trường thành của cơ thể, tố chất sức bền cũng biến dổi đáng kểtrong các hoạt động tĩnh và hoạt động động
Sức bền tĩnh được đánh giá bằng thời gian duy trì một gắng sức tĩnh nào đó, chỉ
số nào tăng dần theo lứa tuôi, mặc dầu khác nhau đối với các nhóm cơ
Trang 33
Từ 13 - 18 tuổi, sức bền trong các hoạt động treo.chống, trong thể dục có thểtăng lên từ 4 - 4.5 lần Sức bền động lực thường được đánh giá thông qua khảnăng hoạt động lực kế, và sự phát triển sức bền này cũng không đồng đều sứcbền ưa khí phát triển mạnh ở các lứa tuổi 15,16,17 và 18 trong khi sức bền yếmkhí phát triển mạnh ở lứa tuổi 10 - 12 đến 13 - 14 tuổi.
Sự phát triển sức bền còn được đánh giá thông qua chỉ số hấp thụ oxy tối đa của
cơ thể (V02 max) ở lứa tuổi 16 - 17 đạt 3,50 lít/phút
Sức bền biến đổi rất rõ rệt dưới tác động của sự tập luyện vì vậy các em có tậpluyện sức bền sẽ phát triển các em không tập luyện khoảng 50% ở lứa tuổi 16 -
sẽ đạt mức độ người lớn
Từ những công trình nêu trên, chúng tôi có một số nhận xét sơ bộ sau:
- Huấn luyện TLCM cho VĐV các môn thể thao nói chung và môn cầu lông nóiriêng phải xem xét đến nhiều yếu tố khác nhau như: yếu tố y sinh, sức nhanh,sức mạnh, sức bền và khả năng khéo léo tuy nhiên, do đặc thù của môn cầulông đòi hỏi VĐV phải có đầy đủ các tố chất vận động cũng như các đặc tính ysinh, do đó để đánh giá TLCM cũng như huấn luyện tố chất TLCM cho VĐV
Trang 34
cầu lông trẻ, cần thiết phải tìm kiếm mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tốtrên đến thành tích của VĐV
- Tóm lại: Khi nghiên cứu tham khảo các nguồn tư liệu nghiên cứu khác nhaunêu trên, chúng tôi đã bước đầu xác định được các cách thức cần thiết phải tiếnhành khi thực hiện công việc huấn luyện tố chất TLCM cho VĐV cầu lông trẻlứa tuổi 15 - 17 Và cũng dựa trên các kết quả nghiên cứu của các nguồn tư liệu
đó, luận án đã xác định và lựa chọn được các phương tiện, biện pháp cụ thể để cóthể ứng dụng vào việc đánh giá trình độ TLCM của đối tượng nghiên cứu
- Có tinh thần chiến đấu không khoan nhượng “không đầu hàng trước khó khăn,không chán nản trong thất bại”, luôn biết hướng tới mục đích cao nhất
- Có cuộc sống tinh thần lành mạnh: biết giữ gìn sức khỏe- vệ sinh thân thể (sinhhoạt điều độ, không hút thuốc, không uống rượu, không dùng chất kích thích, )
- Có quan hệ tốt với tập thể - đồng đội: học hỏi và giúp đỡ đồng đội Có nếpsống khiêm tốn - vị tha, hiểu biết đúng vị trí của mình trong công việc
- Luôn ham học hỏi, mở mang tri thức khoa học Khao khát hiểu biết trong đờisống xã hội
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ sửdụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp tham khảo:
Trang 35
Đây là phương pháp thường được sử dụng rộng rãi trong các công trìnhnghiên cứu khoa học, phương pháp này được sử dụng nhằm để phục vụ chủ yếucho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài cũng như cho việc phân tích kết quảnghiên cứu Phương pháp này còn giúp cho đề tài hình thành cơ sở lí luận vềcách đánh giá trình độ thể lực của nam vận động viên cầu lông trẻ lứa tuổi 15-17thành phố Châu Đốc, Tỉnh An Giang Trong quá trình nghiên cứu, các tài liệu cóliên quan sẽ được chọn lọc, phân tích, để sử dụng và phục vụ cho quá trìnhnghiên cứu.
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm:
Sử dụng phương pháp quan sát sư phạm nhằm thu thập những thông tincần thiết về các đối tương tham gia thử nghiệm, về thực tế huấn luyện vận độngviên như các test đánh giá trình độ tập luyện thể lực và các tiêu chuẩn đánh giátrình độ tập luyện thể lực mà huấn luyện viên thường sử dụng trong quá trìnhhuấn luyện
2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm:
Là phương pháp nghiên cứu nhờ hệ thống các bài tập hoặc test được thựctiễn thừa nhận và được tiêu chuẩn hóa về nội dung, hình thức và điều kiện thực
Trang 36hiện nhằm đánh giá những năng lực khác nhau của nam vận động viên cầu lôngtrẻ lứa tuổi 15 – 17 thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang Hệ thống test được sửdụng trong đề tài nhằm mục đích xác định những chỉ tiêu thể lực của nam vậnđộng viên cầu lông trẻ đã được lựa chọn thông qua phiếu phỏng vấn, các testđược kiểm tra độ tin cậy với phương pháp Retest và có kết quả r> 0.8.
2.1.4.1 Chống đẩy tối đa trong vòng 30s:
- Mục đích: Kiểm tra sức mạnh của cơ chi trên
- Chuẩn bị: Sân cầu lông, còi, đồng hồ bấm giờ
- Cách thức tiến hành: Vận động viên nằm sấp xuống sàn nhà Chống haitay xuống đất, khảng cánh rộng bằng vai Hai chân chống lên bằng hai mũi bànchân trước Trọng tâm cơ thể dồn vào hai bàn tay và hai mũi bàn chân Khi cóhiệu lệnh “bắt đầu” VĐV sẽ chống đẩy cơ thể mình lên xuống với tốc độ nhanhnhất có thể trong vòng 30s Chú ý khi thực hiện động tác lưng phải thẳng, bụnghóp lại, ép người gần như song song với mặt đất Kết thúc 30s thì người kiểm tra
sẽ hô “thôi” và VĐV dừng lại
- Cách đánh giá: Một lần chống đẩy cơ thể lên xuống tính là 1
2.1.4.2 Nằm ngữa gập bụng trong 30s:
- Mục đích: Nhằm kiểm tra sức mạnh của cơ bụng
- Chuẩn bị: Sân cầu lông, còi, đồng hồ bấm giờ
- Cách thức tiến hành: VĐV nằm ngữa xuống sàn nhà Hai tay đan lại vàđặt sau rái Hai chân duỗi thẳng và có người giữ chắc cổ chân Khi có hiệu lệnh
“bắt đầu” vđv sẽ gập thân lên Thực hiện với tốc độ nhanh nhất có thể trong vòng30s Chú ý khi thực hiện động tác không co gối, thân trên gập gần chạm đùi, gối.Kết thúc 30s người kiểm tra sẽ hô “thôi” và VĐV dừng lại, nằm thả lỏng
- Cách đánh giá: Một lần gập thân lên và hạ xuống tính là 1
Trang 37
2.1.4.3 Di chuyển ngang sân đơn trong vòng 60s:
- Mục đích: Kiểm tra sức nhanh
- Chuẩn bị: Sân cầu lông, cầu, còi, đồng hồ bấm giờ
- Cách thức tiến hành: Đặt hai quả cầu sát hai đường biên dọc của sân đơncầu lông VĐV đứng ở tư thế trung bình giữa trung tâm của sân cấu lông ( tư thếchuẩn bị trung bình hai chân đứng rộng bằng hai vai, chân cùng phía với tay cầmvợt bước lên trước một nữa bàn chân, hai gối khuỵu tự nhiên, bụng hơi hóp lại,mắt nhìn về trước hai tay co lên tự nhiên) Khi có hiệu lệnh “bắt đầu” vđv dichuyển qua bên phải nhặt cầu, sau đó trở về vị trí trung tâm tiếp tục di chuyểnqua bên trái nhặt và đồng thời đổi cầu, lại quay về vị trí trung tâm và di chuyển
về phí bên phải đặt cầu xuống Kết thúc động tác lại tiếp tục thực hiện chu kỳ lầnhai bắt đầu bằng việc di chuyển qua bên trái Chú ý phải di chuyển theo bộ dichuyển trong môn cầu lông không được chạy (Bộ di chuyển đa bước là khi dichuyền về phía phải thì chân trái bước qua trước tiếp theo đến chân phải, còn dichuyển bên trái thì chân trái thì chân trái bước đệm một bước rồi bước chân phảiqua) Khi di chuyển thì thân người hạ thấp trọng tâm, lưng cong, bụng hóp lạimột cách tự nhiên Thực hiện động tác với tốc độ nhanh nhất có thể Kết thúc60s thì người kiểm tra sẽ hô “thôi” và VĐV dừng lại, di bộ thả lỏng
- Cách đánh giá: Một lần di chuyển nhặt cầu và đặt cầu về vị trí cũ tính là1
2.1.4.4 Di chuyển tiến - lùi trong 60s:
- Mục đích: Kiểm tra sức nhanh
- Chuẩn bị: Sân cầu lông, cầu, còi, đồng hồ bấm giờ
- Cách thức tiến hành: VĐV tự khởi động, người cầm vợt ở tư thế chuẩn bịtrung bình đứng vị trí giữa sân Sau khi nghe tính hiệu VĐV di chuyển lùi về
Trang 38cuối sân thực hiện động tác đập cầu Tiếp tục di chuyển lên vị trí trung tâm giữasân, từ đó di chuyển lên lưới thực hiện kỹ thuật bỏ nhỏ, rồi di chuyển lùi về vị trígiữa sân Thực hiện động tác với tốc độ nhanh nhất có thể Kết thúc 60s thìngười kiểm tra sẽ hô “thôi” và VĐV dừng lại, di bộ thả lỏng.
- Cách đánh giá: Một lần di chuyển lùi về cuối sân thực hiện kỹ thuật đậpsầu rồi di chuyển lên lưới bỏ nhỏ tiếp theo lùi về giữa sân sẽ tính là 1
2.1.4.5 Chạy 60m xuất phát cao:
- Mục đích: Kiểm tra sức nhanh, sức nhanh tốc độ
- Chuẩn bị: Sân bãi bằng phẳng, đồng hồ bấm giây, thước đo chiều dài,còi
- Cách thức tiến hành: VĐV sau khi khởi động, người ở tư thế xuất phátcao, sau khi nghe lệnh “xuất phát” thì nhanh chóng rời khỏi vạch xuất phát vàchạy nhanh về đích
- Cách đánh giá: Kết quả đo dược tính bắng 1 % giây Mỗi vận động viênchạy ba lần và lấy kết quả ở lần chạy tốt nhất Người thực hiện được nghỉ 3 phútgiữa hai lần chạy
Trang 39
phẳng không gian thẳng góc vạch đích chỉ chạy một lần, sau mỗi lần chạy phảitrả đồng hồ về số không
- Cách đánh giá: Kết quả đo dược tính bằng phút
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê:
- Giá trị trung bình:
n
i i
- Xi: Xi thành tích đạt được của vận động viên
- n: số lượng đối tượng quan trắc
n
i i
- Hệ số biến thiên:
(%) 100
x X
S
C V
- Sai số tương đối:
Trang 40
n X
S t
n d
100
2 1
1 2
V V
V V
- Xi thành tích đạt được của vận động viên
- X : giá trị trung bình của X
- SX: độ lệch chuẩn
- Hệ số tương quan: