Hiện nay, Nhà Nước ta rất quan tâm đến công tác giáo dục, góp phần để thực hiện mục tiêu tổng quát trong Quyết Định số 841 ngày 28/4/2011 về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Sức khỏe và trí tuệ là hai thứ quý giá nhất của mỗi con người, làm việc gì cũng cần có sức khỏe, với phương châm khỏe để xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Muốn có được sức khỏe không chỉ cần có dinh dưỡng và vệ sinh tốt
mà cần phải kiên trì tập luyện TDTT Tập luyện TDTT góp phần phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức Hiện nay, Nhà Nước ta rất quan tâm đến công tác giáo dục, góp phần
để thực hiện mục tiêu tổng quát trong Quyết Định số 841 ngày 28/4/2011 về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai
đoạn 2011 – 2030 của Thủ Tướng Chính Phủ đã khẳng định: “Phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ khoẻ mạnh của người Việt Nam”, từng bước hoàn thiện về mục tiêu tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 trong Nghị Quyết
số 08 ngày 01/12/2011 của Ban Chấp Hành Trung Ương: “Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ TDTT; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm
2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm Châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới” Từ đó, GDTC ngày càng chiếm một vị trí quan
trọng góp phần không nhỏ cho việc hoàn thiện nhân cách, thể chất của sinh viên ở các Trường Cao Đẳng, Đại Học và Trung Cấp Chuyên Nghiệp Nhận
Trang 2thức được điều này nên việc GDTC cho sinh viên không chỉ thực hiện đầy đủ của Bộ GD - ĐT về nội dung chương trình GDTC mà còn vận dụng một cách sáng tạo trên cơ sở cải tiến, xây dựng các nội dung học tập mới cho phù hợp với yêu cầu công tác và điều kiện cơ sở vật chất của các trường học hiện nay Điền kinh là một trong những môn học cơ bản trong hệ thống GDTC và huấn luyện thể thao ở nước ta nói chung và cho sinh viên Trường Cao Đẳng Cần Thơ nói riêng Do tính đa dạng và phức tạp của kỹ thuật về điền kinh, nên việc hình thành các phương pháp giảng dạy thường dựa trên đặc điểm tự nhiên của con người, trong đó đặc biệt quan trọng là những bài tập để tăng cường thể lực cho sinh viên trong quá trình giảng dạy Nội dung môn chạy cũng có rất nhiều cự ly và những kỹ thuật kèm theo bài tập khác nhau Đặc biệt là ở cự ly chạy 1500m, để đạt được thành tích cao đòi hỏi sinh viên phải hội tụ tất cả các tố chất thể lực để kết hợp chúng lại một cách hài hòa Xuất phát từ những thực tiễn giảng dạy, với mong muốn góp phần cải thiện trong
việc phát triển môn điền kinh, nên tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu lựa chọn hệ thống bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy cự ly 1500m cho nam sinh viên Trường Cao Đẳng Cần Thơ”
• Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lựa chọn hệ thống bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao
thành tích chạy cự ly 1500m cho nam sinh viên Trường Cao Đẳng Cần Thơ,
góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC trong nhà trường
• Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC tại Trường Cao Đẳng
Cần Thơ
- Thực trạng về chương trình đào tạo ở Trường Cao Đẳng Cần Thơ
- Thực trạng về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất ở Trường Cao Đẳng
Trang 3- Thực trạng việc rèn luyện thể lực của sinh viên nam trong môn chạy
cự ly 1500m ở Trường Cao Đẳng Cần Thơ
Mục tiêu 2: Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao
thành tích chạy cự ly 1500m cho nam sinh viên Trường Cao Đẳng Cần Thơ
- Hệ thống hóa bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy
cự ly 1500m của tác giả trong và ngoài nước
- Xây dựng phiếu phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn chuyên gia
- Xây dựng chương trình thực nghiệm sư phạm
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả hệ thống bài tập phát triển
thể lực nhằm nâng cao thành tích chạy cự ly 1500m được lựa chọn ở nam sinh viên Trường Cao Đẳng Cần Thơ
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN
Điền kinh là môn thể thao có nguồn gốc lịch sử lâu đời, nó ra đời cùng với sự phát triển loài người Điền kinh được phát triển rộng trên tất cả các nước trên thế giới vì nó là môn thể thao đa dạng, phong phú, để tăng cường sức khoẻ cho con người…
Chính vì vậy các môn điền kinh không ngừng được nâng cao Ở nước
ta môn điền kinh được phát triển sâu rộng ở mọi miền Trong các trường học, môn điền kinh còn là chỉ tiêu rèn luyện thân thể Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà Nước có chính sách mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thể thao Phong trào tập luyện TDTT từng bước mở ra nhiều hình thức, được đồng bào, quần chúng ủng hộ, tham gia tập luyện TDTT thành tích cao ngày càng phát triển, các đoàn thể thao nước ta tham gia thi đấu quốc tế ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Các VĐV của nước ta giành được nhiều thành tích cao trên đấu trường quốc
tế, mang lại vinh quang cho Tổ Quốc
Trong dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII, sau khi đánh giá sự phát triển của TDTT, nghị quyết có đề ra phương hướng “Phát triển TDTT nhân dân trong cả nước, trước hết là thanh thiếu niên học sinh từng bước hình thành thể thao chuyên nghiệp đỉnh cao” Trước công cuộc đổi mới của nền kinh tế đất nước, thể thao là một bộ phận không thể tách rời công cuộc đổi mới đó, thể thao nước ta đã phát triển mạnh
mẽ và gặt hái được nhiều thắng lợi, được thế giới biết đến trong đó có điền kinh Trong hệ thống các môn Điền kinh thì chạy trung bình là nội dung quan trọng trong việc đánh giá năng lực vận động của các học sinh – sinh viên trong hệ thống các nhà trường nói chung và đặc biệt là các sinh viên trong các Trường Cao Đẳng và Đạị Học nói riêng Chạy trung bình là một hoạt động có
Trang 5chu kỳ nên việc chuẩn bị tốt về trình độ thể lực rất quan trọng, muốn đạt được thành thành tích cao trong tập luyện và thi đấu thì không thể thiếu hai yếu tố
1.1.2 Lịch sử môn điền kinh:
Điền kinh là môn có lịch sử lâu đời so với các môn thể thao khác Đi
bộ, chạy, nhảy, ném đẩy là những hoat động tự nhiên của con người Từ những hoạt động với mục đích di chuyển để tìm kiếm thức ăn, tự vệ đến phòng chống thiên tai, vượt chướng ngại vật, hoạt động này ngày càng hoàn thiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người và dần dần trở thành một phương tiện GDTC, một môn thể thao có vị trí xứng đáng thu hút mọi người tham gia tập luyện
Các bài tập điền kinh đã được loài người sử dụng từ thời cổ Hy Lạp, song lịch
sử phát triển của nó được ghi nhận trong cuộc thi đấu chinh thức vào năm 776 trước Công Nguyên
Năm 1837 tại thành phố Legbi (Anh) cuộc thi đấu chạy 2km lần đầu tiên được tổ chức Từ năm 1851 các môn chạy tốc độ, chạy vượt chướng ngại vật, nhảy xa, nhảy cao, ném vật nặng bắt đầu được đưa vào chương trình thi đấu ở các trường Đại học ở Nước Anh
Năm 1880 Liên đoàn điền kinh nghiệp dư Nước Anh ra đời Đây là Liên Đoàn Điền Kinh nghiệp dư đầu tiên trên thế giới Từ năm 1880 đến
1890, môn điền kinh phát triển mạnh ở nhiều nước như Pháp, Mỹ, Đức, Na
Trang 6Uy, Thụy Điển và các Liên Đoàn Điền Kinh quốc gia lần lượt được thành lập
ở hầu hết các Châu Lục
Từ 1896 việc khôi phục các cuộc thi đấu truyền thống của đại hội thể thao Olympic đã đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong việc phát triển môn điền kinh Từ đại hội thể thao Olympic Athen (Hy Lạp 1896), điền kinh đã trở thành nội dung chủ yếu trong chương trình thi đấu tại các đại hội thể thao Olympic (4 năm tổ chức một lần)
Năm 1992 Liên đoàn điền kinh nghiệp dư quốc tế ra đời, với tên gọi tắt
là IAAF( International Amateur Athletic Federation) Đây là tổ chức cao nhất lãnh đạo phong trào điền kinh toàn thế giới Hiện nay tên gọi của Liên Đoàn Điền Kinh nghiệp dư quốc tế đã được chuyển thành Hiệp Hội Quốc Tế Các Liên Đoàn Điền Kinh (International Association of Athletic Federation) với tên viết tắt là IAAF IAAF có 210 thành viên là các Liên Đoàn Điền Kinh Quốc Gia và các vùng lãnh thổ ở các châu lục, trong đó có liên đoàn điền kinh Việt Nam Hiện nay trụ sở của IAAF đặt tại Monaco
1.1.3 Vài nét về điền kinh Việt Nam
Nguồn gốc môn điền kinh nước ta đã được các nhà nghiên cứu xác định
Trang 7“Tương lai Bắc Kỳ” (bằng tiếng Pháp), tại cuộc thi đấu điền kinh ở Hà Nội vào tháng 4/1925 bao gồm 9 môn: chạy 100m, 110m rào, 400m, nhảy cao, nhảy sào, đẩy tạ, ném đĩa, ném lao, thành tích còn rất thấp như: chạy 100m nam: 11”3; chạy 1500m nam: 4’56”4; đẩy tạ nam: 10m45
Sau cách mạng tháng tám thắng lợi và nhất là từ ngày hòa bình lặp lại (1954) môn điền kinh được khôi phục và phát triển hơn trước, song không đồng đều giữa hai miền Nam – Bắc
Từ tháng 5 năm 1975 đến nay, trong điều kiện Tổ Quốc hòa bình, độc lập, môn điền kinh tiếp tục được phát triển mạnh hơn so với giai đoạn trước đây
Nhiều người tự rèn luyện thân thể bằng đi bộ, tập chạy chậm Chương trình giáo dục TDTT nói chung và môn điền kinh nói riêng đã được cải tiến trong các trường học Sau đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, thực hiện chính sách “mở cửa” muốn làm bạn với tất cả các nước vì hòa bình và sự tiến bộ của nhân loại Trong công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thắng lợi to lớn về kinh tế -
xã hội, ngoại giao từ đó môn điền kinh có thêm điều kiện phát triển Điền kinh Việt Nam đã mở rộng giao lưu, thi đấu với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Châu Á và thế giới đạt nhiều thành tích đáng khích lệ [7,tr 4]
1.2 Cơ sở lý luận của việc huấn luyện sức bền chuyên môn cho nam sinh viên chạy CLTB
1.2.1 Khái niệm về sức bền
Sức bền là năng lực thực hiện (hoặc duy trì) một hoạt động với cường
độ cho trước trong thời gian dài nhất mà cơ thể chịu đựng được
Do sự phong phú và đa dạng của các hoạt động thể lực ở con người mà người ta phân chia ra 2 loại sức bền chính là sức bền chung và sức bền chuyên môn Sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường
Trang 8độ thấp và có sự tham gia của phần lớn hệ cơ còn sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định Như vậy sức bền chung là loại sức bền cần cho mọi người với ý nghĩa là một con người bình thường Còn sức bền chuyên môn là sức bền để con người có thể hoàn thành tốt công việc mình đang đảm nhiệm hoặc rộng hơn là nghề nghiệp mình đã chọn Trong thể thao, sức bền chuyên môn giúp cho vận động viên đạt thành tích cao ở môn thể thao chuyên sâu của mình Trong thể thao còn có một nghĩa khác: Sức bền chuyên môn đó là khả năng thực hiện có hiệu quả một công mang đặc thù chuyên môn đáp ứng những yêu cầu của môn thể thao lựa chọn trong thời gian dài Tuỳ theo đặc thù của từng môn thể thao mà sức bền chuyên môn ở đó là sức bền tốc độ, sức mạnh bền… Riêng với các môn thể thao hoạt động theo chu kỳ người ta lại chia ra 3 loại:
Sức bền của hệ cơ
Đóng vai trò rất quan trọng khi vận động ở vùng cực đại, hệ cơ phải làm việc với sức mạnh động lực lớn nhất để có được vận tốc vận động cao Trong trường hợp này mặc dù hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp có tăng, thậm chí tăng nhanh nhưng không đáp ứng kịp nhu cầu về oxy cho hệ cơ hoạt động Do vậy, thành tích vận động ở các cự ly ngắn phụ thuộc chủ yếu vào khả năng làm việc với cường độ cao nhất của cơ bắp trong suốt quá trình vượt qua cự ly trong điều kiện thiếu oxy Ở đây, khi sự tiêu hao năng lượng, lượng oxy hấp thụ và lưu lượng phút của tim còn đang ở mức rất thấp thì vận động viên đã về tới đích
Sức bền của hệ tuần hoàn
Đóng vai trò rất quan trọng trong các vận động với cường độ dưới cực (chạy ở CLTB) Điều đặc biệt ở đây là hệ tim mạch phải làm việc với cường
độ cao nhất trong suốt thời gian vận động Thành tích vận động phụ thuộc chủ
Trang 9Tuy nhiên lượng nợ oxy vẫn đạt tới 100% với tỷ lệ này cơ thể không thể chịu đựng được lâu, ngoài việc dừng tốc độ, vận động viên phải có nỗ lực ý chí để vượt qua cự ly Như vậy vận động viên vẫn cần khả năng chịu nợ oxy cao, vẫn cần có sức bền của hệ cơ nêu trên
Ngoài ra việc có kỹ thuật động tác tối ưu, tiết kiệm được năng lượng tiêu hao cũng là một yếu tố góp phần nâng cao thành tích
Sức bền năng lƣợng
Đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các hoạt động với cường độ trung bình với tổng năng lượng tiêu hao rất lớn do phải hoạt động liên tục trong thời gian dài hàng giờ trở lên hoạt động của hệ tuần hoàn, hệ hô hấp và hoạt động trao đổi chất trong cơ thể cũng phải làm việc trong suốt thời gian
đó Nhưng do cường độ hoạt động giảm nhiều so với các trường hợp trên nên
cơ thể được hoạt động trong điều kiện được cung cấp đủ oxy (không có nợ oxy) Chính do vậy, để có được thành tích cao trong chạy cự ly dài vận động viên cần có:
Nguồn năng lượng dự trữ lớn và khả năng huy động các nguồn năng lượng dự trữ đó trong quá trình vận động
Hiệu suất cao của các quá trình trao đổi chất (tiết kiệm được năng lượng tiêu hao)
Sự cân bằng của các hoạt động thần kinh và thể dịch Nói tới hoạt động thần kinh ở đây bao gồm cả ý chí, nghị lực chịu đựng mệt mỏi khá toàn diện
do hoạt động kéo dài gây nên và chủ yếu là khả năng của hệ thần kinh trung ương duy trì sự phối hợp động tác trong thời gian dài Đi và chạy là hoạt động vận động tự nhiên của con người, nhưng khi đã mệt mỏi, ngay cả vận động viên xuất sắc cũng khó giữ được kỹ thuật chạy cần thiết
Các yếu tố nêu trên đóng vai trò quan trọng với thành tích của vận động viên ở các môn thể thao hoạt động theo chu kỳ (đi, chạy, bơi…) Tuỳ theo
Trang 10thời gian kéo dài của cuộc thi mà vai trò của từng yếu tố có mức độ khác nhau
Thi đấu trong thời gian ngắn (từ 10 giây đến 120 giây) Sức bền trong thời gian ngắn chính là loại sức bền trong đó sức bền của hệ cơ bắp là chủ yếu, đòi hỏi một tỷ lệ (%) cao vai trò của các quá trình trao đổi chất thiếu oxy
Thi đấu trong thời gian trung bình (từ 120 giây đến 11 phút) Loại sức bền cần thiết ở đây là sức bền của hệ tuần hoàn, đòi hỏi sự hoạt động đầy đủ của cả khả năng ở điều kiện đủ oxy (aerôbic) và cả khả năng khi thiếu oxy Sức bền trong thời gian dài (từ 11 phút đến nhiều giờ) Người ta còn chia thành 3 mức:
Việc tập luyện nhằm nâng cao sức bền rất được các nhà khoa học, các vận động viên, các huấn luyện viên và cả những người tập luyện vì sức khoẻ của bản thân quan tâm (nghiên cứu, thực hiện) do ý nghĩa của nó đối với sức khoẻ, với hiệu quả lao động ở mỗi người; với khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình huấn luyện và nhất là với thành tích thi đấu của vận động viên Tuy nhiên, cũng phải biết rằng khả năng về sức bền của mỗi người có tính di truyền trong đó độ di truyền của sức bền aerobic là 70%, còn của sức bền anaerobic lên tới 85% Có nghĩa là ta chỉ có 15-30% còn lại để có thể dùng các giải pháp nhằm nâng cao sức bền
Trang 11Việc tập luyện nêu trên có cơ chế rất phức tạp và có các tác động dẫn tới những thay đổi cả về hình thái và chức năng ở cơ thể người tập Đó là cách thay đổi tốt trong cấu trúc của cơ, khớp, dây chằng, về tỷ lệ giữa các thành phần cấu tạo nên cơ thể (giảm tỷ lệ mỡ thừa tích luỹ trong cơ thể tập luyện aerobic đã là lối thoát cho nhiều người, nhất là phụ nữ để loại bỏ lượng mỡ thừa và có được vóc dáng cân đối, lý tưởng), rèn luyện cho các cơ quan nội tạng quen với sức bền Đặc biệt là cải thiện hoạt động của hệ thần kinh, cả chức năng thần kinh động vật và chức năng thần kinh thực vật Làm cho hệ thần kinh quen với các hoạt động có yêu cầu sức bền cao, duy trì được sự điều khiển phối hợp các hoạt động của mọi bộ phận trong cơ thể, nhất là rèn luyện
về mặt tâm lý tinh thần chịu đựng, vượt khó và chiến thắng mệt mỏi ở người tập…Ngoài ra việc tập luyện có hệ thống đó chính là quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện cải thiện sự điều hoà hoạt động của hệ cơ bắp và các chức năng thực vật (hô hấp, tuần hoàn) tiết kiệm được năng lượng tiêu hao cho vận động
Việc tập luyện một cách khoa học và có hệ thống có thể nâng cao trình
độ sức bền của người tập Nhưng có vấn đề đặt ra là có khả năng chuyển sức bền có được do tập loại bài tập này sang thành sức bền ở dạng bài tập khác hay không? Nói cách khác là một vận động viên có sức bền chuyên môn tốt ở môn thể thao này thì cũng có sức bền chuyên môn tốt ở môn thể thao khác hay không? Người ta thấy rằng sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt, phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc các mức độ hoàn thiện kỹ thuật Tuy nhiên, sự chuyển đó lại tuỳ thuộc vào cơ chế cung cấp năng lượng cho loại bài tập, đặc điểm các tố chất vận động của bài tập và tác dụng tương hỗ của kỹ năng, kỹ xảo của bài tập Chính vì vậy, khi tập chạy thường xuyên, nâng cao được khả năng cung cấp năng lượng trong điều kiện
đủ oxy, thì ta cũng có thể có được sức bền tốt trong khi thực hiện các bài tập
Trang 12khác cũng đòi hỏi khả năng hoạt động trong điều kiện đủ oxy như đi bộ, bơi thuyền…Dựa vào đặc điểm này mà người ta có thể làm cho nội dung và hình thức tập luyện nhằm phát triển sức bền được phong phú, hấp dẫn người tập hơn Thực tế cũng cho thấy rằng các học sinh ở xa trường, thường xuyên phải
đi bộ hoặc đi xe đạp đến trường, khi phải chạy thường có sức bền tốt hơn các bạn không phải đi học trong điều kiện đó
1.2.2 Phương pháp phát triển sức bền chung và sức bền tốc độ
Sức bền của mỗi người phụ thuộc vào yếu tố di truyền sự rèn luyện và
nhiều yếu tố khác Tập luyện nhằm phát triển sức bền chính là nhằm hoàn thiện và phát triển các yếu tố đó đồng thời là quá trình rèn luyện để cơ thể thích nghi dần dần với lượng và cường độ chạy ngày một lớn Tập luyện phát triển sức bền ở học sinh phổ thông là chủ yếu là phát triển sức bền chung với vai trò tích cực đối với sức khoẻ để học tập và lao động tốt, đồng thời là nền tảng cho việc phát triển sức bền tốc độ để đạt thành tích tốt trong kiểm tra chạy CLTB Các bài tập dùng để phát triển sức bền chủ yếu là các bài tập
chạy
Nhìn chung, các phương pháp phát triển sức bền ở các môn thể thao có chu kỳ là nghệ thuật phối hợp 5 yếu tố cơ bản dưới đây một cách khoa học, đó
là các yếu tố:
Tốc độ (cường độ) thực hiện bài tập
Thời gian để hoàn thành bài tập
Thời gian nghỉ giữa 2 lần thực hiện bài tập
Tính chất của sự nghỉ đó
Số lần lặp lại bài tập đó trong một buổi tập
Sau đây là phân tích rõ hơn từng yếu tố trên trong mối quan hệ với các cơ chế cung cấp năng lượng cho hoạt động cơ thể
Trang 13Tốc độ thực hiện bài tập
Người ta chia tốc độ thực hiện bài tập theo 3 mức:
Tốc độ dưới tới hạn: Đó là tốc độ đòi hỏi lượng oxy cung cấp chỉ ở dưới mức cơ thể có thể cung cấp Cơ thể được hoạt động trong điều kiện ổn định thật
Tốc độ tới hạn: Với tốc độ này nhu cầu oxy cho hoạt động bằng mức khả năng của cơ thể có thể cung cấp, nói cách khác là bằng với khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể
Tốc độ trên tới hạn: Là tốc độ, ở đó cơ thể có nhu cầu oxy cao hơn khả năng của mình Lúc này việc thực hiện bài tập phải tiến hành trong điều kiện thiếu oxy, phải dùng các nguồn năng lượng dự trữ mà không cần có oxy (ở tốc độ này nhu cầu oxy gần như tỷ lệ thuận với lập phương của tốc độ, nếu tốc độ tăng từ 6m/s lên 9m/s, tức là tăng 1,5 lần thì nhu cầu oxy tăng khoảng 3,3 – 3,4 lần)
Thời gian thực hiện bài tập
Thời gian thực hiện bài tập tương ứng với tốc độ quy định Nghiên cứu
về nguồn năng lượng sử dụng trong vận động, người ta xác định: Khi tập một bài kéo dài trên 6 phút với tốc độ di chuyển thuộc loại dưới tới hạn hoặc tới hạn, thì năng lượng cho vận động chủ yếu là nhờ các quá trình trao đổi chất
đủ oxy (còn gọi là quá trình hô hấp) Khi thời gian đó càng rút ngắn thì thay
vì sự giảm sút vai trò của quá trình hô hấp, vai trò của các quá trình không đủ oxy tăng lên, lúc đầu là sự phân huỷ glucoza (đường phân) sau đó là phân huỷ phôtphocrêatin Người ta cũng đã khẳng định rằng khi tập với cường độ cao trong thời gian 20 giây đến 2 phút ta sẽ hoàn thiện được cơ chế đường phân Nếu thời gian đó chỉ kéo dài 3- 8 giây thì lại có tác dụng hoàn thiện cơ chế phân huỷ phôtphocrêatin (CP)
Trang 14Như vậy để phát triển và hoàn thiện hệ thống cung cấp năng lượng ở điều kiện đủ oxy cần dùng các bài tập kéo dài với tốc độ dưới tới hạn hoặc tới hạn
Để phát triển và hoàn thiện cơ chế cung cấp năng lượng trong điều kiện thiếu oxy (nói cách khác là khả năng vận động trong điều kiện nợ oxy) phải dùng các bài tập với thời gian ngắn và tốc độ trên tới hạn
Thời gian nghỉ giữa quãng
Thời gian nghỉ giữa quãng không chỉ đơn thuần là nghỉ Hình thức nghỉ
phù hợp sẽ có tác dụng tốt nhưng không làm cho cơ thể chuyển từ trạng thái hoạt động căng thẳng sang trạng thái tĩnh đột ngột Duy trì trạng thái hoạt động ở mức cần thiết để cơ thể sẵn sàng vào lần tập tiếp theo và cũng có tác dụng kích thích quá trình hồi phục Vì vậy, nghỉ giữa quãng tuy có thể là thụ động (nghỉ hoàn toàn) nhưng nên là nghỉ tích cực tiếp tục vận động như đi hoặc chạy nhẹ nhàng
Số lần lặp lại
Yếu tố này có liên quan đến việc rèn luyện, củng cố tác dụng của các bài tập đối với cơ thể, đồng thời để hình thành các phản xạ có điều kiện… Các bài tập được lặp lại theo nhiều kiểu cấu trúc khác nhau tuỳ theo nhiệm vụ của buổi tập Tuy nhiên thường thì khi tập với tốc độ chậm nếu thời gian thực hiện một bài tập là ngắn thì số lần lặp lại nhiều Khi tập trong điều kiện nợ oxy thì việc tăng số lần lặp lại đó hạn chế Xác định số lần lặp lại không phù hợp (cự ly, tốc độ và trình độ VĐV) sẽ không có hiệu quả như ý Để phát hiện
sự sai lầm đó nên xem thời gian tập các lần lặp lại sau, nếu sự giảm sút là không đáng kể thì có thể tin rằng số lần lặp lại đã được xác định đúng Người tập cũng cần nhớ rằng nhiều khi hiệu quả của việc tập luyện tuỳ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện các lần lặp lại cuối đó
Trang 15Phương pháp phát triển sức bền chung
Để phát triển sức bền chung cần đáp ứng các yêu cầu sau:
Bài tập phải được thực hiện trong thời gian dài
Dùng các bài tập có chu kỳ, hoạt động trong điều kiện đủ oxy (không vượt mức hấp thụ oxy quá 60 – 70% khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể) Mạch không quá 150 lần/phút
Tập luyện có hệ thống (thường xuyên) và hạn chế nghỉ giữa quãng trong mỗi buổi tập
Các phương pháp được sử dụng là:
- Đồng đều liên tục
- Biến đổi
- Lặp lại (còn gọi là giãn cách)
Cũng có chuyên gia cho rằng để phát triển sức bền chung thì không dùng phương pháp lặp lại và các bài tập gây nợ oxy cao
Mới bắt đầu tập nên dùng phương pháp đồng đều liên tục: Bài tập phải thực hiện liên tục, không có nghỉ giữa quãng, với tốc độ gần tới hạn và thời gian tập tương đối dài (chạy việt dã trong thời gian vài chục phút đến 1 giờ và hơn, khi trình độ cao lên thì nâng tốc độ chạy nhưng với thời gian chạy không quá 30 phút) Khi đã có trình độ nhất định thì dùng phương pháp biến đổi và giãn cách Đó là các phương pháp dùng bài tập với tốc độ trên tới hạn với thời gian của một lần thực hiện bài tập ngắn và thời gian nghỉ giữa quãng được tính toán kỹ nhằm phát huy tối đa khả năng hoạt động trong điều kiện
đủ oxy của cơ thể Chính các sản phẩm phân hoá thiếu oxy sản sinh do bài tập với cường độ cao trong thời gian ngắn sẽ kích thích phát triển các quá trình hô hấp ở thời gian nghỉ giữa quãng và cả trong lần tập tiếp theo
Khi dùng phương pháp lặp lại và biến đổi để nâng cao sức bền aerobic, các thành phần của lượng vận động nên như sau:
Trang 16- Tốc độ chạy cần đạt 75 – 80% mức độ tối đa của người tập, sao cho ở cuối mỗi lần chạy mạch xấp xỉ 180 lần/phút
- Độ dài cự ly chạy: Cần chọn cự ly sao cho thời gian để vượt cự ly đó
là 1 – 1,5 phút (khi chạy dùng năng lượng anaerobic và đạt mức hấp thụ oxy tối đa ở lúc nghĩ giữa quãng)
- Thời gian nghĩ giữa quảng: Căn cứ trình độ thể lực mà thời gian đó là
45 – 120 giây sao cho khi chạy tiếp mạch ở mức 120 – 140 lần/phút Không bao giờ nghỉ tới 3 – 4 phút vì như vậy hoạt động hô hấp đã giảm nhiều
- Tính chất nghỉ: Nên nghỉ tích cực (đi hoặc chạy nhẹ nhàng)
- Số lần lặp lại: Số lần đó không nhiều tới mức phá vỡ trạng thái ổn định trong sự phối hợp hoạt động của các hệ thống trong cơ thể Cần theo dõi mạch để phát hiện điều đó, dù tốc độ chạy không giảm nhưng mạch lại tăng cao so với những lần chạy trước đó tức là đã có sự rối loạn, cần ngừng tập
Khi tập phát triển sức bền chung phải luôn nhớ hoàn thiện kỹ thuật chạy, phối hợp động tác tay chân với nhịp thở và rèn luyện về mặt ý chí
đủ oxy cũng là nền để phát triển sức bền tốc độ
Phát triển sức bền trong điều kiện không được cung cấp đủ oxi cần theo cả
2 loại dùng năng lượng từ phân huỷ CP và dùng năng lượng từ phân huỷ glucoza
Trang 17Để hoàn thiện cơ chế giải phóng năng lượng từ CP phải dùng các bài tập có đặc điểm:
- Tốc độ dùng trong bài tập phải là trên mức tới hạn
- Thời gian thực hiện bài tập chỉ từ 3-8 giây (chạy 30-60m) vì lượng CP lưu trữ của cơ thể rất ít chỉ đủ dùng trong khoảng thời gian đó (kể từ khi bắt đầu vận động)
- Thời gian nghỉ giữa quãng: từ 2-3 phút là thời gian đủ để tái tạo lượng
CP dự trữ vừa tiêu hao Sau 3-4 lần lặp lại thì hoạt động phân huỷ glucoza tăng trong khi hoạt động phân huỷ CP giảm
- Hình thức nghỉ: Cần dùng hình thức nghỉ tích cực
- Số lần lặp lại: Tuỳ thuộc trình độ thể lực của người tập, cần chú ý để không bị giảm tốc độ nhiều ở các lần lặp lại sau Việc chia tổng số lần chạy lặp lại thành nhiều tổ (ví dụ phải chạy 10 x 100m thì tách thành (4 x 100m) + (3 x 100m) + (3 x 100m) Bằng cách đó dễ nâng cao được khối lượng vận động
Để hoàn thiện cơ chế phân giải glucôza, các bài tập cần có:
Tốc độ: Tốc độ di chuyển phải đạt mức 90 – 95% tốc độ tối đa mà người tập có thể đạt ở cự ly đó (sau vài lần lặp lại, tốc độ có giảm nhưng phải
là ở mức gần tối đa với khả năng ở lúc đó)
Thời gian 1 lần thực hiện bài tập có thể từ 20 giây đến 2 phút (chạy 200 – 600m)
Thời gian nghỉ giữa quãng: Cần rút ngắn dần sau mỗi lần lặp lại
Ví dụ: Sau 1 lần nghỉ 5 – 8 phút, sau lần 2 nghỉ 3 – 4 phút, sau lần 3 nghỉ 2 – 3 phút Vì bằng cách đó tác động của bài tập mới được phát huy do
cơ thể phải hoạt động khi lượng axit lactic trong máu và lượng nợ oxy cao (cũng vì thế mà phải rất thận trọng khi dùng phương pháp này)
Trang 18Hình thức nghỉ giữa quãng: Tuy ở đây không cần nghỉ tích cực nhưng không nên nghỉ thụ động hoàn toàn
Số lần lặp lại: Do thời gian nghỉ giữa quãng giảm dần nên số lần lặp lại trong mỗi tổ bài tập chỉ từ 3 – 4 lần với thời gian nghỉ giữa 2 tổ dài 15 – 20 phút để thanh toán nợ oxy, nếu không cơ chế cấp năng lượng sẽ chuyển sang trạng thái được cung cấp đủ oxy
Trình tự trong rèn luyện sức bền: Đầu tiên là phát triển khả năng hệ hô hấp sau đó là khả năng dùng năng lượng từ phân huỷ glucoza cuối cùng là nâng cao khả năng sử dụng năng lượng từ phân huỷ CP (nhưng trong một buổi tập lại phải đảo ngược trình tự đó)
So với khi phát triển sức bền chung, khi phát triển sức bền tốc độ yêu cầu về ý chí, nghị lực của người tập còn cao hơn do những căng thẳng, mệt mỏi trong tập luyện lớn hơn
Để huấn luyện phát triển sức bền cho VĐV nhất thiết cần có các huấn luyện viên chuyên nghiệp Với các học sinh phổ thông (với mục đích rèn luyện sức khoẻ, đạt yêu cầu khi dự kiểm tra ở môn học thể dục hoặc tiêu chuẩn rèn luyện thể thao) chỉ cần tập chạy thường xuyên theo phương pháp nhằm phát triển sức bền chung là đủ
Trong huấn luyện sức bền cho lứa tuổi học sinh phổ thông cần nắm quy luật sau:
Lứa tuổi để huấn luyện sức bền aerôbic là 10 – 12 và 17 – 18 tuổi Lứa tuổi huấn luyện sức bền tốc độ ở chạy cự ly ngắn: 14 – 16 tuổi Lứa tuổi huấn luyện sức bền tốc độ ở chạy CLTB và cự ly dài 15 – 19 tuổi [5, tr 67]
Trang 191.2.3 Đặc điểm môn chạy CLTB:
CLTB gồm 800m, 1500m
Đặc tính chung kỹ thuật mang tính động lực học, động tác mang tính chu kỳ, cường độ hoạt động gần tối đa, phát triển chủ yếu sức bền tốc độ So với môn chạy cự ly ngắn thì cự ly hoạt động dài hơn, tốc độ chậm hơn nhưng thời gian dài hơn Trong lúc chạy cần phân phối sức lực hợp lý và nắm vững
kỹ thuật chuẩn xác, có năng lực gia tăng tốc độ, động tác chạy cần nhịp điệu
và thả lỏng, có tiết tấu động tác hợp lý
Ngoài vai trò là một môn thi đấu, trong GDTC, CLTB còn là phương tiện rèn luyện sức bền hiệu quả, có tác dụng giáo dục phẩm chất ý chí cho người tập
CLTB thuộc vùng công suất dưới cực đại, trong đó mức nợ oxy tăng đến khi kết thúc cự ly thi đấu, lượng axit lactic trong máu tăng đáng kể (270-
200 mg%) Vì vậy nên ở cuối cự ly chạy người tập cần phải chịu đựng sự căng thẳng của thần kinh, mệt mõi và rời rã cơ bắp Để vươn tới các tầm cao
kỷ lục, ngoài các yêu cầu thể lực, VĐV tham gia chạy CLTB cần phải có ý chí tốt, ham mê chạy, không sợ gian khổ, kiên trì khắc phục khó khăn Qua tổng kết tư liệu của các VĐV chạy CLTB ưu tú, có thể thấy VĐV chạy CLTB
có thân hình từ 175-180cm, trọng lượng vừa phải từ 60-70kg, tỷ lệ mỡ trong
cơ bắp thấp, có tốc độ tốt, sức bền tốt, sau khi vận động hệ tim mạch hồi phục nhanh Những VĐV nam xuất sắc trên CLTB tiêu biểu như W.Kipketơ (Kenia) với thành tích 1’41”11 ở cự ly 800m; Heguevui (Ma Rốc) với thành tích 3’26”00 ở cự ly 1500m
Các VĐV nữ tiêu biểu là Cratoxvilôva (Tiệp khắc) với thành tích 1’53”28 ở cự ly 800m; Q.Giunnia (trung Quốc) với thành tích 3’50”46 ở cự ly 1500m
Trang 20VĐV chạy CLTB cần có khả năng khắc phục khó khăn và chịu đựng trong nửa sau của cự ly chạy do việc tích tụ với nồng độ cao các sản phẩm của quá trình trao đổi năng lượng dưới dạng axit lactic và sự chuyển biến độ
pH
1.2.4 Nguyên lý kỹ thuật chạy:
Chạy là phương pháp di chuyển tự nhiên của con người, là dạng phổ biến nhất trong các bài tập thể lực và được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các môn thể thao
Cũng như đi bộ, Chạy là một hoạt động có chu kỳ, mỗi chu kỳ gồm hai bước Nhưng chạy khác với đi bộ ở chỗ, trong một chu kỳ chạy có hai thời kỳ bay và trong chạy: tốc độ, biên độ hoạt động lớn hơn đi bộ (hình 1.1)
(Hình 1.1)
Trang 21theo ô riêng hoặc chung) có 2 khẩu lệnh “vào ch ” và “chạ ”
- Khi có lệnh vào chỗ: tiến lên đặt chân thuận sát vạch xuất phát, chân kia chống sau, thân trên ngã về trước gối khu u Tiếp đó là tăng độ ngả người và hạ thấp trọng tâm nhưng không làm mất thăng bằng dẫn tới phạm quy Tay để so le mắt nhìn trước đầu hơi cuối
+ Tăng tốc sau uất phát
- Khi có lệnh chạy: lập tức xuất phát và tăng tốc độ ngay Độ ngả người phụ thuộc vào tốc độ chạy khi chạy đạt được tốc độ cần thiết thì ngừng tăng tốc và chuyển sang chạy giữa quãng
- Xuất phát nhanh trong chạy CLTB không quan trọng lắm nhưng để chiếm vị trí thuận lợi khi chạy là điều cần thiết, khi chạy đường vòng cần chạy sát phía trong đường vòng
+ Chạy giữa qu ng (được mô tả qua hình 1.2)
- Độ dài và tần số bước chạy từ 3,5 – 4,5 bước s
- Tư thế thân người: thân trên ngả về trước khoảng 4-50, hai vai lắc không nhiều Đầu và thân người giữ thẳng, các cơ cổ và mặt thả lỏng
- Động tác chân: là lực chủ yếu để đẩy cơ thể về trước Để tiết kiệm sức
2 chân cần đạp sau đúng hướng, phối hợp đạp sau với góc độ ngả thân trên
và động tác của 2 tay Phải chú ý sau khi chân rời đất cần gập cẳng chân theo quán tính để tiết kiệm sức, đưa chân về trước được nhanh hơn, hạn chế phản lực do chống trước, điểm đặt chân trước cần gần điểm dọi của trọng tâm cơ thể và chú ý hoãn xung
Trang 22- Động tác của tay: so le với chân giúp giữ thăng bằng và cùng nhịp thở
để điều chỉnh tần số bước chạy
- Trong chạy giữa quãng thường có hiện tượng “cực điểm” là lúc tức
thở, chân, tay cứng đờ tưởng như không chạy được nữa Lúc này có thể giảm tốc độ, thở sâu, có nghị lực chịu đựng và trạng thái đó sẽ qua, cảm giác
dễ chịu sẽ tới - cơ thể bước vào trạng thái “h hấp lần hai”
- Thở trong chạy CLTB rất quan trọng vì năng lượng cung cấp chính là đường phân ưa khí Do vậy, phải chủ động thở ngay từ đầu, nếu thở nông và không theo nhịp điệu ổn định sẽ dẫn tới mệt mỏi sớm, thành tích chạy kém Trong chạy CLTB hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng Muốn tăng tốc độ cần tăng nhịn thở
(Hình 1.2) + Về đích
- Khi gần tới đích, người chạy phải đem hết sức lực còn lại để rút về đích để có thể thay đổi thứ hạng do những bước cuối này Người chạy tăng tần số, độ ngả thân trên và tăng sức mạnh đánh tay
- Khi đã qua đích, không được dừng lại đột ngột mà cần chạy tiếp với
tốc độ giảm dần – đi bộ - dừng lại và hồi tĩnh kỹ [13, tr 140]
Trang 231.2.4.2 Ý nghĩa và tác dụng của chạy CLTB
Đặc điểm của chạy CLTB là chạy với tốc độ dưới cực đại Người chạy thực hiện tốc độ tương đối cao trong thời gian tương đối dài (2 - 5 phút) Quá trình chạy xảy ra hiện tượng nợ oxy, kết thúc cự ly chạy có thể nợ oxy từ 20 đến 25 lít; lượng axit lactic trong máu tăng lên đáng kể 200 – 270mg, cuối cự
ly chạy nhu cầu oxy đạt cực đại
Chính vì vậy mà người chạy ở đoạn cuối cự ly thường chịu sự căng thẳng của thần kinh, sự mệt mỏi rã rời của cơ bắp… Nếu không có ý chí rất
dễ chuyển sang đi bộ hoặc chạy quá chậm ảnh hưởng đến thành tích chạy thậm chí bỏ cuộc
Để đạt thành tích cao trong chạy CLTB ngoài việc có kỹ thuật chạy hợp lý, có mối quan hệ giữa độ dài và tần số bước chạy phù hợp theo nguyên
lý kỹ thuật người chạy cần có trình độ thể lực nhất định để duy trì được kỹ thuật chạy cần thiết và duy trì tần số và độ dài bước thích hợp đã nêu trên trong suốt quá trình chạy trên cự ly, thậm chí khi gần về đích, khi cơ thể đã rất mệt mỏi lại còn phải tăng tốc độ Chính vì vậy, đối với người chạy CLTB cần có sức bền chung và sức bền chuyên môn tốt Sức bền chung giúp cho người tập hoàn thành được nhiệm vụ từng buổi tập trong quá trình luyện tập,
nó cũng là cơ sở để phát triển sức bền tốc độ (với chạy CLTB sức bền tốc độ đồng nghĩa với sức bền chuyên môn) Sức bền tốc độ tốt cho phép người chạy
có tốc độ trung bình trên toàn cự ly cao Nếu các nam VĐV cấp 3 chạy 1500m chỉ có tốc độ trung bình 4,8m/s trên toàn cự ly, thì con số đó ở các VĐV kiện tướng là 6 m/s Ở chạy CLTB, yếu tố chủ yếu gây mệt mỏi, làm giảm thành tích chạy là những biến đổi của môi trường bên trong cơ thể như tăng lượng axit lactic và đioxit cacbon trong máu… Quá trình tập luyện chính
là quá trình rèn luyện, phát triển nhiều mặt cho người tập, trong đó có việc giúp cho cơ thể quen dần và chịu đựng được mệt mỏi, dễ dàng vượt qua trạng
Trang 24thái “cực điểm” duy trì được tốc độ trung bình cao hoặc thực hiện được các phương án chiến thuật trong thi đấu…
Do phải chạy trong thời gian dài, năng lượng cho cơ thể hoạt động chỉ tiêu hao mà không được bù đắp đầy đủ, kịp thời, cho nên yếu tố tiết kiệm năng lượng trong khi chạy cũng giúp cho VĐV có thành tích chạy tốt Nói cụ thể hơn nếu kỹ thuật chạy hợp lý được củng cố thành định hình, tự động hoá
sẽ giúp cho VĐV chạy vẫn đạt tốc độ cần thiết nhưng sự tiêu hao năng lượng của cơ thể lại ít, do vậy VĐV đủ sức chạy hết cự ly với tốc độ cao, thậm chí còn có thể tăng tốc khi rút về đích Trong đó yếu tố thở sâu, thở tích cực để cung cấp đủ oxy, đặc biệt là luân phiên dùng sức và thả lỏng cơ bắp (nhất là các cơ tham gia động tác đạp sau và chống trước) cũng là cách để duy trì khả năng chạy với tốc độ cao trên cự ly tốt hơn
Ngoài ra, tập chạy CLTB còn rèn luyện cho người tập cảm giác tốc độ
Có cảm giác tốc độ tốt có nghĩa là tuy không dùng đồng hồ để theo dõi hoặc không có người theo dõi giúp và thông báo kịp thời nhưng người chạy vẫn biết được khá chính xác rằng mình (hoặc đối thủ của mình) đang chạy với tốc
độ nào để chủ động chạy theo tốc độ cũ hoặc tăng hoặc giảm tốc độ đảm bảo thực hiện đúng phương án, chiến thuật đã vạch ra Việc không chủ động được tốc độ chạy sẽ dẫn tới việc không đủ sức để về đích hoặc về tới đích với thành tích thấp trong khi cơ thể vẫn dồi dào sức lực [13, tr 137]
1.2.4.3 Phương pháp huấn luyện chạy CLTB
Giai đoạn 1 (từ 9-11 tuổi) - Huấn luyện ban đầu
Việc huấn luyện được thực hiện trên cơ sở huấn luyện thể lực chung phối hợp với các bài tập tăng cường hiệu suất ưa khí của cơ thể Trong giai đoạn này người ta sử dụng các phương pháp huấn luyện chạy với nhịp điệu đều và trò chơi Khối lượng chạy từ 1000-1500 km năm Nhiệm vụ chủ yếu:
Trang 25phát triển các tố chất thể lực và huấn luyện thể lực toàn diện thông qua tập luyện các môn thể thao (các môn bóng, thể dục, điền kinh)
Giai đoạn 2 (từ 12-15 tuổi) - Chuyên môn hóa ban đầu
Trong giai đoạn này cần tiếp tục hoàn thiện huấn luyện thể lực toàn diện và nâng cao khả năng giữ tốc độ chạy gần đến giới hạn Ở giai đoạn này người ta sử dụng biện pháp tập chạy kéo dài với nhịp điệu đều và tổ hợp các phương pháp huấn luyện - biến đổi, lặp lại, vòng tròn Khối lượng chạy 1600m - 3000km năm
Nhiệm vụ chủ yếu: phát triển sức bền và sức nhanh trên nền huấn luyện nhiều môn điền kinh Đạt tiêu chuẩn vận động viên cấp 3, cấp 2 trong chạy CLTB
Giai đoạn 3 (từ 16-18 tuổi) - Chuyên môn hóa sâu
Ở lứa tuổi này sự phát triển cơ thể của thiếu niên gần với của người lớn, đồng thời với việc hoàn thiện các khả năng hoạt động ưa khí của cơ thể cần sử dụng các phương tiện thúc đẩy khả năng hoạt động yếm khí Khối lượng chạy 3000 – 5000 km năm
Nhiệm vụ chủ yếu: phát triển sức bền chung, chuyên môn và đạt thành tích vận động viên cấp một trong chạy CLTB
Giai đoạn 4 (từ 19 tuổi trở lên) - Hoàn thiện thể thao
Nhiệm vụ của giai đoạn này là đạt được tài nghệ thể thao cao trên cự ly thi đấu lựa chọn Đặc biệt chú ý đến việc đối đãi cá biệt trong huấn luyện và đạt được chỉ số cá nhân cao về trình độ huấn luyện thể lực và kỹ thuật để đảm bảo đạt được thành tích thể thao dự kiến Khối lượng chạy 3500 – 4500
km năm
Đối với VĐV chạy CLTB, sức bền chung và sức bền chuyên môn đóng một vai trò rất quan trọng Sức bền chuyên môn giúp cho VĐV không chỉ giữ được tốc độ cao trung bình trên toàn cự ly mà còn thực hiện được việc tăng tốc phù hợp với kế hoạch chiến thuật Mức độ phát triển sức bền chung cao là
Trang 26cơ sở để hoàn thiện sức bền chuyên môn và giúp VĐV thi đấu có kết quả cả ở
cự ly dài hơn.Tốc độ cực đại của VĐV cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được thành tích cao Những VĐV chạy CLTB tốt nhất có thể chạy 100m với thành tích 10”50-11”00 và điều này giúp họ đạt được tốc độ thi đấu
ở CLTB cao Ngoài ra những VĐV có tốc độ cao có ưu thế khi tăng tốc độ chạy và trong lúc lao về đích Song, không chỉ tốc độ và sức bền mang lại thành tích Để có bước chạy tương đối dài, hiệu quả và tiết kiệm, cần phát triển mạnh cơ chân và có độ mềm dẻo, linh hoạt trong các khớp Ngoài ra, VĐV cần phải có kỹ thuật chạy hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm Do đó, việc huấn luyện VĐV hiện đại cần phải là tổ hợp phản ánh những đặc điểm cá nhân của VĐV
Phương hướng và nội dung của quá trình huấn luyện trong mỗi thời kỳ
và giai đoạn huấn luyện phù hợp với các quy luật phát triển trạng thái sung sức thể thao Trạng thái sung sức thể thao được hình thành trong thời kỳ chuẩn bị, giữ và hoàn thiện trong thời kỳ thi đấu, giảm tạm thời trong thời kỳ chuyển tiếp
Lượng vận động tập luyện không thể nâng cao liên tục từ buổi tập này đến buổi tập khác Trong chu kỳ tuần cần luân phiên lượng vận động lớn, trung bình, nhỏ Lượng vận động chu kỳ tuần thường tăng từ 3 đến 4 tuần, sau
đó hơi giảm đi
Trong thời kỳ chuẩn bị cần luân phiên chạy việt dã trong thời gian dài với nhịp điệu đều hay chạy trên các đoạn cự ly
Trong thời kỳ thi đấu - chạy với tốc độ thi đấu hay cao hơn Việc huấn luyện chiến thuật của VĐV cũng có ý nghĩa quan trọng Với mục đích đạt được thành tích cao nhất của bản thân hay là giành được chiến thắng trong đợt chạy, VĐV cần có chiến thuật cá nhân phù hợp với chuẩn bị nó kỹ càng trước
Trang 27khi thi đấu Để hoàn thiện chiến thuật của VĐV chạy, cần áp dụng các biện pháp sau:
Tham gia thi đấu và chạy theo kế hoạch chiến thuật đã được đặt ra hay
là tự lựa chọn hành động trong các tình huống khác nhau
- Tập luyện với các VĐV chạy có kinh nghiệm hơn
- Chạy qua các đoạn cự ly có thực hiện tăng tốc về đích
- Chạy dẫn đầu
- Vượt đối thủ trong các tình hướng khác nhau [7, tr 48]
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý và giải phẫu sinh lý lứa tuổi từ 18 – 22
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi từ 18 – 22
Trong hoạt động TDTT, cơ chế sinh lý của các tố chất thể lực rất đa dạng
và phức tạp, hiệu quả phụ thuộc vào công suất hoạt động, cơ cấu động tác, thời gian dùng sức, sự hiểu biết… Khả năng hoạt động thể lực có thể biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, các mặt khác nhau của khả năng hoạt động thể lực đó được gọi là tố chất vận động Các nhà lý luận và phương pháp TDTT cho rằng: có 5 loại tố chất thể lực cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp động tác và độ dẻo Các nhà sinh lý TDTT quan điểm rằng: “Tố chất thể lực cơ bản của con người gồm 4 loại: sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khéo léo”
*Tố chất sức nhanh: Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực cơ
thể vận động với tốc độ nhanh, là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định đặc tính tốc độ động tác, tần số động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau, đặc biệt là thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau
Trang 28Tố chất sức nhanh phát triển tương đối sớm từ 9 tuổi đến 13 tuổi, nếu không được tập luyện đầy đủ thì đến giai đoạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi sẽ khó phát triển nâng cao Cho nên trong công tác huấn luyện, giảng dạy để phát triển sức nhanh phải hết sức chú ý đến đặc điểm của lứa tuổi, như vậy thì kết quả huấn luyện mới đạt yêu cầu
* Tố chất sức mạnh: Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng
bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp Trong bất kỳ một hoạt động nào của con người đều có sự tham gia của hoạt động cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ (chế
độ nhượng bộ) Trong các chế độ hoạt động như vậy của cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học có trị số khác nhau, cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ
là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh
Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận có ý nghĩa trong việc phân loại sức mạnh Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát ra, trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ Khả năng sinh lực trong các động nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối
đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan nhau
Trên cơ sở đó, sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh - tốc độ còn được chia nhỏ tùy theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung
Trong hoạt động nói chung và hoạt động TDTT nói riêng sức mạnh luôn
Trang 29đó sức mạnh được phân ra thành ba hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh (sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền Sức mạnh cũng là điều kiện rất quan trọng để nâng cao thành tích thể thao, lứa tuổì sinh viên từ 18 đến 25 là tuổi rất thuận lợi cho cơ bắp phát triển sức mạnh Vì vậy trong quá trình tập luyện, rèn luyện tố chất sức mạnh cần được chú ý sao cho phù hợp nhất để phát triển sức mạnh một cách tốt nhất
*Tố chất sức bền: Sức bền là khả năng khắc phục sự mệt mỏi nhằm hoạt
động trong thời gian dài với cường độ nhất định và có hiệu quả Sức bền đảm bảo cho người tập luyện đạt được một cường độ tốt nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu ) trong thời gian vận động kéo dài Sức bền còn đảm chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong tập luyện
Sức bền là nhân tố tất yếu của thành phần thể lực nên có mối quan hệ chặt chỗ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh Tuổi sinh viên từ 18 đến 25 khi tập luyện sức bền đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn không những bằng cơ bắp mà còn bằng ý chí khắc phục khó khăn để vượt qua gian khổ Ở tuổi này
có thuận lợi trong nhận thức và ý thức tự giác tập luyện cao, hiểu rõ tác dụng, lợi ích của việc tập luyện TDTT Cho nên chúng ta cần lưu ý việc giáo dục nhận thức cho sinh viên hiểu rõ được chức năng, tác dụng của mỗi bài tập khi tập luyện Sức bền rất cần thiết cho con người trong cuộc sống lao động và học tập hàng ngày
* Tố chất mềm dẻo: Mềm dẻo là năng thực hiện động tác với biên độ lớn
Biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo Thông thường, độ linh hoạt của các khớp càng lớn thì khả năng mềm dẻo của cơ thể càng lớn
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Mềm dẻo được phát triển rất sớm ở lứa tuổi thiếu niên, nhi
Trang 30đồng, dặc biệt là lứa tuổi 11 đến 14, trước khi hệ vận động phát triển chưa hoàn chỉnh Có thể tập mềm dẻo khi tập thể dục sáng, trong giờ khởi động Các động tác làm tăng độ linh hoạt của các khớp có tác dụng tích cực để chuẩn bị bước vào phần trọng động, đồng thời còn ngăn ngừa được chấn thương trong tập luyện Tuổi trường thành tập luyện mềm dẻo rất khó khăn vì xương, cơ, khớp, dây chằng và hệ thần kinh đã phát triển hoàn chỉnh Vì vậy, khi tiến hành giáo dục tố chất mềm dẻo cần chú ý đến biên độ động tác, chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp để phòng ngừa chấn thương cho người tập
*Tố chất khéo léo (năng lực phối hợp vận động): Khéo léo là khả năng
thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khả năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động Về bản chất, khéo léo là khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc thực hiện những động tác vận động phức tạp Vì vậy, nó có liên quan với việc hình thành kỹ năng vận động
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của VĐV (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước tiên là ở khả năng điều khiển động tác (xử
lý thông tin) và được hình thành phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sức mạnh, sức nhanh và sức bền
Năng lực phối hợp vận động còn thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng
có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện, củng cố và vận dụng các kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo thể thao có điểm khác nhau cơ bản Kỹ xảo thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, còn năng lực phối hợp vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau
Trang 31Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức
độ phát triển của các tố chất khác như: sức mạnh, sức nhanh, sức bền Mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Tập luyện phát triển sự khéo lép lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quá trình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn
Trình độ thể lực là một tổ hợp yếu tố nhiều thành phần, được đánh giá thông qua sự biến đổi tương ứng về các mặt hình thái, chức năng cơ thể trong quá trình GDTC và huấn luyện thể thao Việc nghiên cứu, đánh giá trình độ thể lực cũng bao gồm đầy đủ các yếu tố hình thái, chức năng tâm sinh lý, chức năng vận động của đối tượng nghiên cứu
Cùng với việc đo và đánh giá sự phát triển bên ngoài, để nhận định đúng trình độ thể lực và khả năng hoạt động thể lực, cần kiểm tra chức năng các hệ
cơ quan trong cơ thể Thông thường trạng thái, chức năng của các hệ cơ quan tương ứng với hình thể bên ngoài của cơ thể Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tầm vóc có thể phát triển tốt nhưng tình trạng chức năng của hệ thần kinh trung ương, hệ hô hấp và hệ tuần hoàn phát triển không tốt
1.3.2 Đặc điểm giải phẩu sinh lý lứa tuổi từ 18 – 22
1.3.2.1 Hệ thần kinh
Kích thước não và hành tuỷ đạt tới mức người trưởng thành Hành động phân tích và tổng hợp của vỏ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình hành tốt, điều khiển thần kinh chiếm vai trò chủ đạo, khả năng định hướng trong không gian đạt tới mức trưởng thành, khả năng điều chỉnh về lực của tác động đến mức hoàn chỉnh
1.3.2.2 Hệ cơ ƣơng
Ở lứa tuổi này, cơ thân mình phát triển nhất Sau khi kết thúc thời kỳ tăng trưởng cơ thể, chiều cao cơ thể phát triển chậm lại, độ dày của cơ bắp bắt đầu phát triển nhanh, sợi cơ dày lên rõ rệt, trọng lượng cơ thể tăng lên, sức mạnh
Trang 32cơ bắp phát triển đáng kể, sức mạnh tối đa của các nhóm cơ khác tăng từ 9 –
14 lần
Trao đổi chất và năng lượng: Chu kỳ hô hấp và độ sâu hô hấp tăng lên, sức bền ưa khí tăng mạnh, sức bền được đánh giá qua khả năng hấp thụ oxi tối đa tăng 3,5 lần/phút ở lứa tuổi 18 – 22 tuổi
Dung tích sống: Lượng khí thở ra tối đa sau khi hít vào hết sức và đo bằng phế dung kế khô hoặc phế dung kế nước Dung tích sống là chỉ số chức năng đặc trưng cho khả năng cung cấp không khí của bộ máy hô hấp ngoài Chỉ số dung tích sống xác định khả năng tối đa của độ sâu hô hấp Vì vậy, nó là chỉ
số quan trọng về khả năng hoạt động của hệ hô hấp Dung tích sống của phổi bao gồm: thể tích hô hấp, thể tích hít vào bổ sung và thể tích dự trữ thở ra Ở mỗi cá thể, dung tích sống phụ thuộc vào kích thước của cơ thể (trọng lượng, chiều cao, hoặc bề mặt cơ thể), giới tính, lứa tuổi, dung tích của phổi, sức mạnh của các cơ hô hấp, lực cản của lồng ngực và phổi khi co giãn
Ở Việt Nam, dung tích sống trung bình của lứa tuổi 18 – 25 từ 3,400 – 3,500 ml ở nam và 2,500 – 3,000 nữ Chỉ số dung tích sống có hệ số di truyền dao động từ 0,48 – 0,93 Vì vậy, chỉ số này được phát triển rõ dưới tác động của tập luyện TDTT Đó là chỉ số quan trọng để đánh giá trình độ tập luyện, nên đo dung tích sống là cần thiết khi đánh giá thể lực sinh viên
Trang 33Chỉ số công năng tim: Thể hiện sự phản ứng của hệ tim mạch và đặc biệt
là tim đối với lượng vận động nhất định Lượng vận động này được thực hiện theo một quy trình như nhau đối với mọi người Thử nghiệm này đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi các phương tiện kỹ thuật hiện đại và phương pháp đánh giá rất cụ thể, cho ta lượng thông tin chính xác, đáng tin cậy, rất phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay, đặc biệt là trong các Trường Cao Đẳng, Đại Học
1.4 Cơ sở lý luận về bài tập thể chất (bài tập TDTT)
1.4.1 Khái niệm:
Bài tập TDTT là một hoạt động đặc biệt, hay là một hoạt động vận
động chuyên biệt do con người sáng tạo một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với quy luật và giải quyết nhiệm vụ giáo dục TDTT (GDTC) [8, tr 52]
1.4.2 Phân loại bài tập thể chất (bài tập TDTT)
Bài tập TDTT là một hoạt động đặc biệt, là một hoạt động vận động do con người sáng tạo một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với quy luật GDTC và giải quyết nhiệm vụ GDTC Trong đó GDTC là một quá trình giáo dục đặc biệt được điều khiển bằng khoa học sư phạm nhằm từng bước hoàn thiện hình thái – chức năng – thể lực cùng các tri thức có liên quan nhằm giúp cho con người mới phát triển toàn diện về “Đạo đức, trí dục, mỹ dục”
Trong GDTC các phương tiện được sử dụng để tác động đến người tập nhằm đạt được mục đích trong GDTC là các bài tập TDTT (bài tập thể chất) Người ta đã vận dụng một cách sáng tạo, khoa học các phương tiện này cùng với các yếu tố thiên nhiên, điều kiện môi trường vệ sinh, trang thiết bị dụng cụ… Trong đó các bài tập thể chất được xem là phương tiện chuyên môn cơ bản của quá trình GDTC
Phân loại là sự phân chia và ghép các bài tập thành các nhóm theo những dấu hiệu nhất định, sao cho ở mỗi nhóm có những tính chất chung nhất
Trang 34giống nhau Trong quá trình hình thành và phát triển các bài tập thể dục thể thao đã trải qua nhiều cách phân loại khác nhau Một trong những cách phân loại chung nhất (được phổ biến rộng rãi) là dựa vào những cơ sở hoàn thiện
về phương tiện, phương pháp giáo TDTT và chia thành bốn loại thể dục, trò chơi thể thao và du lịch Các loại trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và mỗi loại gồm nhiều môn thành phần ghép lại Cách chia trên không theo cấu trúc của động tác Ngoài ra, còn có các cách phân loại khác:
- Tính theo dân tộc của các thời đại:
* Năm môn phối hợp thời cổ Hy Lạp
* Vận động trong thiên nhiên theo hệ thống Gút-mút
* Các động tác cơ bản của Pétxtaloxi
* Các bài tập chiến đấu của hệ thống Xôkôl…
Cách chia này không thâu tóm được hết các loại và trong lịch sử có nhiều loại đến này không ghi chép được
- Theo giải phẫu chia thành các bài tập cho chân, tay, bụng…
- Theo mức độ dùng sức chia thành:
* Hoạt động mạnh + cường độ lớn (cự ly ngắn, cử tạ)
* Hoạt động vừa phải + thời gian dài (cự ly dài – chạy đường trường)
* Hoạt động có mức độ thiên về nghệ thuật (thể dục nghệ thuật, nhào lộn, trượt băng…)
* Hoạt động luôn luôn thay đổi cường độ có đối kháng (các môn bóng…)
Cách chia này có nhược điểm vì còn một số môn không dựa vào nhóm nào (ví dụ: nhảy cầu, nhảy dù…)
Trang 35Phân loại bài tập thể chất:
Là sự phân chia và ghép các bài tập thành các nhóm theo những dấu hiệu nhất định Trong quá trình hình thành và phát triển các bài tập thể chất đã
có nhiều cách phân loại khác nhau:
+ Theo giáo dục học: Người ta căn cứ vào hiệu quả của bài tập tác động lên cơ thể người tập mà phân chia thành các dạng bài tập thể chất thành các môn sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khả năng phối hợp vận động…
+ Theo sinh cơ học: Người ta phân chia bài tập có chu kỳ, bài tập không chu kỳ, bài tập tổng hợp…
+ Theo sinh lý học: Phân chia bài tập theo các vùng cường độ như vùng cường độ tối đa, vùng cường độ gần tối đa, vùng cường độ lớn, vùng cường
độ trung bình…
Dựa vào những cơ sở hoàn thiện về phương tiện, phương pháp GDTC
có thể phân loại như sau:
+ Thể dục: Thể dục cơ bản, thể dục thực dụng (thể dục bổ trợ), thể dục thi đấu như thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, thể dục thẩm mỹ, thể dục thể hình, thể dục nhào lộn, thể dục nhịp điệu…
+ Thể thao: Thể thao hiện đại, thể thao dân tộc, thể thao kỹ thuật, thể thao quần chúng…
+ Trò chơi: Trò chơi mô phỏng, trò chơi thể thao đơn giản, trò chơi thể thao
+ Du lịch: Đi dạo, tham quan, cắm trại, dã ngoại
Trong quá trình giảng dạy GDTC các phương tiện thể dục, thể thao, trò chơi, du lịch không có ranh giới rõ rệt và luôn hỗ trợ cho nhau, do đó cần phải lựa chọn phương tiện để giáo dục chung hay chuyên sâu cho từng đối tượng
cụ thể Mặt khác theo lý luận và phương pháp huấn luyện chung tất cả các bài tập thể chất được chia làm ba loại chính: Bài tập phát triển chung, bài tập
Trang 36chuyên môn và bài tập thi đấu Các bài tập này được phân biệt với nhau không chỉ dựa theo quan điểm môn thể thao chuyên sâu mà còn phải chú ý đến chức năng của nó trong giải quyết từng nhiệm vụ riêng lẻ
Bài tập phát triển chung
Nhằm giải quyết nhiệm vụ của GDTC và tạo tiền đề cho người tập đi sâu vào môn thể thao Bài tập phát triển chung là các bài tập dược rút ra từ các môn thể thao khác nhau, các bài tập thuộc loại hình thể dục cơ bản, nhằm nâng cao thể lực, các tố chất vận động nhanh, mạnh, bền, mềm dẻo, khéo léo cho người tập, tuỳ thuộc vào đối tượng, lứa tuổi…
Bài tập chuyên môn
Để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như thành tích của một môn thể thao cho người tập Các bài tập này được chia thành hai nhóm
Nhóm thứ nhất bao gồm các bài tập có quá trình chuyển động gần giống bài tập thi đấu như lượng vận động lại khác có khi cao hơn bài tập thi đấu hoặc chỉ chứa một vài yếu tố riêng lẻ hay các nhóm thuộc tổ hợp các bài tập thi đấu
Nhóm thứ hai bao gồm các bài tập chứa các chuyển động, bộ phận của quá trình chuyển động riêng biệt các động tác kỹ thuật, trong đó yêu cầu một hoặc nhiều nhóm cơ có phương thức hoạt động giống hoặc gần giống khi thực hiện động tác thi đấu
Bài tập thi đấu
Là loại hình động tác có quá trình chuyển động và các đặc điểm riêng biệt về lượng vận động phù hợp với yêu cầu thi đấu (các bài tập trong điều kiện gần giống như lúc thi đấu) chuyên môn của môn thể thao, nhằm giúp cho người tập phát triển các tố chất, tạo điều kiện nâng cao thành tích đồng thời giúp họ rèn luyện cả về đạo đức, ý chí…
Trang 37Để đánh giá quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao đòi hỏi phải sắp xếp một cách hợp lý, chặt chẽ giữa các bài tập phát triển chung và các bài tập huấn luyện chuyên môn và thi đấu
Về mặt tâm lý học: Những bài tập tập thể chất là những hành động có ý thức, khi thực hiện bài tập bao giờ cũng muốn đạt được hiệu quả nên người tập phải cố gắng hết sức mình bằng mọi cách để đạt được mục tiêu đó Vì vậy
mà người tập phải tư duy tích cực, phải nổ lực không ngừng, nêu cao ý chí để đạt thành tích cao nhất
Về mặt sinh lý học: Nội dung của các bài tập thể chất là những biến đổi trong hoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài tập như lượng thông khí phổi, khả năng hấp thụ oxy, lưu lượng trong tuần hoàn….[8, tr 61]
Trang 38CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những mục tiêu nêu trên đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này thực hiện bằng phiếu để phỏng vấn các giảng viên – những người đã và đang trực tiếp tham gia giảng dạy chuyên ngành GDTC trong các Trường Đại Học, Cao Đẳng Làm cơ sở để lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá, các bài tập thể lực cho sinh viên nam trong môn chạy ở cự ly 1500m Trường Cao Đẳng Cần Thơ
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Thông qua các test sư phạm nhằm đánh giá trình độ thể lực cho sinh viên nam
Các test đánh giá dự kiến như:
2.1.3.1 Chạy 100m XPT (giây)
- Mục đích: Để đánh giá sức bền tốc độ và thành tích chạy 100m
- Dụng cụ, sân bãi: Đường chạy có chiều dài ít nhất 120m, bằng phẳng, chiều rộng ít nhất 4m, gỗ phát lệnh, đồng hồ bấm giờ điện tử có độ chính xác 1/100s, cờ, còi báo hiệu phạm quy, vôi kẻ đường chạy, bàn đạp xuất phát, viết, biên bản ghi thành tích
- Cách tiến hành: Sinh viên kiểm tra chạy phải mang giầy hoặc chân không Mỗi đợt chạy gồm 2 sinh viên theo đường chạy riêng, trong tư thế XPT có bàn đạp, khi có hiệu lệnh chạy thì người chạy nhanh chóng đạp chân mạnh vào bàn đạp rời khỏi vạch xuất phát chạy nhanh về đích Thành tích và
Trang 39xuất phát chạy đến khi chạm vạch đích (100m), kết quả tính bằng (s) và số lẽ từng 1/100s, mỗi sinh viên chỉ chạy một lần
Hình 2.1: Chạy 100m XPT (giây) 2.1.3.2 Chạy con thoi 4 x 10m (giây)
- Mục đích: Đánh giá sức nhanh nhẹ khéo léo trong chạy có chuyển hướng
Hình 2.2: Chạy con thoi 4 x 10m (giây)
- Cách tiến hành: Mỗi đợt chạy 2 sinh viên, người chạy đứng ở tư thế xuất phát cao sát ngay sau vạch xuất phát, khi nghe lệnh “chạy” thì nhanh chóng rời khỏi vạch xuất phát và chạy nhanh đến chạm lên vạch vôi được kẻ
Trang 40ở phía bên kia sau đó quay lại chạy nhanh về chạm lên vạch xuất phát cũ và lập lại như vậy một lần nữa để về đích Mỗi sinh viên chỉ chạy một lần
- Đánh giá kết quả: thành tích được tính từ vạch vôi xuất phát đến qua mặt phẳng đích (40m) gồm 4 lần (mỗi lần 10m) kết quả đo được tính bằng giây
2.1.3.3 Bật 3 bước tại chỗ (cm)
- Mục đích: Kiểm tra đánh giá sức mạnh bền
- Dụng cụ sân bãi: Thước, phấn, viết, giấy ghi chép, sân nhảy xa
- Cách tiến hành: Sinh viên thực hiện đứng hai chân rộng bằng vai, đứng sau vạch theo qui định kiểm tra Khi bật, co gối hai tay vung lên, bật nhảy càng xa càng tốt, luân phiên nhảy từng chân (bật đổi chân) cho đến bước thứ hai thì bật mạnh rồi rơi vào hố cát bằng hai chân, khi rơi vào hố cát tư thế người ngã về trước để đạt thành tích tốt nhất
- Đánh giá kết quả: Thành tích đo được tính từ vạch qui định đến điểm rơi gần nhất của cơ thể (cm) Mỗi sinh viên thực hiện hai lần, lấy thành tích của lần bật cao nhất
Hình 2.3: Bật 3 bước tại chỗ (cm)
Bước 1 Bước 2 Bước 3
TTCB Điểm chạm cuối cùng