1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ của hệ THỐNG tín HIỆU TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢNG dạy THỂ dục và HUẤN LUYỆN THỂ THAO

10 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 148,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TDTT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  SINH LÝ HỌC TDTT ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÍN HIỆU TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THỂ DỤC VÀ HUẤN LUYỆN THỂ THAO GVHD: Nguyễn Hoàn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TDTT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



SINH LÝ HỌC TDTT

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÍN HIỆU TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY THỂ DỤC VÀ HUẤN LUYỆN

THỂ THAO

GVHD: Nguyễn Hoàng Minh SVHD: Phạm Minh Thành Khóa: 13 Lớp: G

Mã sinh viên: 1870151 Gmail: phamthanh012777@gmail.com

Trang 2

I Khái quát về hệ thống tín hiệu:

Một vật kích thích nào đó đại diện cho một vật kích thích khác để gây ra một phản ứng nào đó của cơ thể thì được gọi là tín hiệu của vật kích thích ấy

Hệ thống tín hiệu được chia thành 2 loại: loại thứ nhất và loại thứ hai

1 Hệ thống tín hiệu thứ nhất (bằng thị phạm):

Khái niệm:

Hệ thống tín hiệu thứ nhất: hệ thống tín hiệu thứ nhất là hệ thống tín hiệu phản ánh hiện thực khách quan về một sự vật hay một hiện tượng cụ thể mà ta có thể trực tiếp nhìn, nghe, sờ, nếm, ngửi được Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở sinh lí của hoạt động nhận thức cảm tính, trực quan, tư duy cụ thể và các xúc cảm cơ thể của người và động vật

Đặc điểm:

- Là tín hiệu của sự vật và hiện tượng.

- Phản ánh trực tiếp sự vật hiện tượng cụ thể, đơn lẻ.

Vai trò:

Là cơ sở cho sự hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai, giúp cho con người có thể tiếp nhận sự vật hiện tượng khách quan để hình thành khái niệm

2 Hệ thống tín hiệu thứ hai (bằng lời giảng):

Khái niệm:

Hệ thống tín hiệu thứ hai: Là hệ thống ngôn ngữ ( tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, ) dùng để chỉ một cách chung nhất về sự vật và hiện tượng khách quan

Hệ thống tín hiệu thứ hai hơn hẳn hệ thống tín hiệu thứ nhất, là hệ thống tín hiệu có tư duy Ngôn ngữ ( chữ viết và lời nói) là hành trang cụ thể của tư duy.Hệ thống tín hiệu thứ hai cũng là một loại tác nhân kích thích có điều kiện

Hệ thống tín hiệu thứ hai là loại tác nhân kích thích đặc biệt đặc trưng ở người

Bản chất:

- Hệ thống tín hiệu thứ hai cũng là một loại tác nhân kích thích có điều kiện.

- Hệ thống tín hiệu thứ hai là loại tác nhân kích thích đặc biệt đặc trưng ở

người

Đặc điểm:

Trang 3

- Hệ thống tín hiệu thứ hai có khả năng khát quát sự vật.

- Hệ thống tín hiệu thứ hai tác động mạnh hơn hệ thống tín hiệu thứ nhất.

Quan hệ giữa hai hệ thống tín hiệu:

- Hệ thống tín hiệu thứ hai được hình thành dựa trên cơ sở hệ thống tín hiệu

thứ nhất

- Hệ thống tín hiệu thứ hai có thể ảnh hưởng lên hệ thống tín hiệu thứ nhất.

Vai trò:

- Hệ thống tín hiệu thứ hai làm tăng tác nhân kích thích có điều kiện.

- Hệ thống tín hiệu thứ hai là công cụ giao tiếp.

- Trong quá trình tập luyện, các hệ thống tín hiệu kích thích đại não phải đủ

mạnh và phải kết hợp hệ thống tín hiệu thứ nhất( bằng thị phạm) với hệ thống tín hiệu thứ hai( bằng lời giảng) Người ta xác định được phương pháp giảng dạy có hiệu quả nhất là kết hợp giữa làm động tác mẫu và giảng giải

-  Sự hình thành của tín hiệu thứ hai:

Sự hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai thực chất là sự hình thành các phản xạ

có điều kiện với kích thích là lời nói và chữ viết, kết hợp với các tín hiệu của sự vật

và hiện tượng khách quan, trong đó vai trò của tai và mắt có ý nghĩa quyết định nhất

II Sử dụng hệ thống tín hiệu trong hoạt động thể dục thể thao:

Thể dục thể thao là một trong những mặt cơ bản của giáo dục Việc tìm chọn phương pháp dạy học rất đa dạng và biến đổi không ngừng theo sự phát triển của thực tiễn và tư duy dạy học Do đó, dạy học bằng cách khuyến khích, gợi ý, dẫn dắt là một trong những đặc điểm yêu cầu quan trọng coi trọng bồi dưỡng và phát triển năng lực toàn diện; phát huy tính tích cực, tính chủ động, tự giác và hứng thú học tập của học sinh

Dạy học thể dục thể thao không chỉ dùng các phương pháp truyền thụ kiến thức mà nhiều hơn là các phương pháp dạy học các kỹ năng, kỹ xảo vận động, rèn luyện thân thể, phát triển các tố chất thể lực, nhân cách Các phương pháp truyền thụ các kiến thức lý luận là giảng giải, đàm thoại, trao đổi, diễn thị, hướng dẫn đọc sách, tham quan, thực nghiệm, thảo luận, thực tậpPhương pháp dạy học thể dục thể thao là cách thức để hoàn thành nhiệm

vụ dạy học đã định trong lĩnh vực Do đó, việc tìm chọn phương pháp dạy

Trang 4

học trên rất đa dạng và biến đổi không ngừng theo sự phát triển của thực tiễn

và tư duy dạy học

Giáo học pháp hiện đại rất coi trọng bồi dưỡng và phát triển năng lực toàn diện; phát huy tính tích cực, tính chủ động, tự giác và hứng thú học tập của học sinh; nhấn mạnh kết hợp chặt chẽ giữa dạy và học, tác dụng chủ đạo của giáo viên với học sinh, tác dụng chủ thể của học sinh Do đó, dạy học bằng cách khuyến khích, gợi ý, dẫn dắt là một trong những đặc điểm yêu cầu quan trọng Tất cả các phương pháp dạy học thể dục thể thao ngày nay đều phải quán triệt yêu cầu

Phương pháp dạy học thể dục thể thao tuy nhiều nhưng đều phải vận dụng linh hoạt, sát vào từng tình huống nhằm giải quyết nhiều nhiệm vụ về giáo dưỡng, giáo dục (theo nghĩa hẹp) và thể lực nên cũng có hạn chế Do đó, trong quá trình hoạt động có nhiều đặc điểm, mục tiêu, tầng bậc này, việc chọn phương pháp phải có tính đối tượng rõ; không những cần sát hợp với nhiệm vụ

Nội dung dạy học mà còn có tác dụng gợi mở, sao cho dễ tiếp thu Muốn làm được thế, giáo viên phải có trình độ chuyên môn tương đối toàn diện, nắm chắc được thực tế dạy học, không ngừng tích lũy kinh nghiệm và nâng cao năng lực sư phạm Trong quá trình tập luyện, các hệ thống tín hiệu kích thích đại não phải đủ mạnh và phải kết hợp hệ thống tín hiệu thứ nhất( bằng thị phạm) với hệ thống tín hiệu thứ hai( bằng lời giảng) Người ta xác định được phương pháp giảng dạy có hiệu quả nhất là kết hợp giữa làm động tác mẫu và giảng giải Thông qua phương pháp trực quan, khi học sinh xem động tác mẫu, những kích thích cụ thể đối với thị giác sẽ giúp quá trình tiếp thu, xây dựng hình ảnh và tiếp thu động tác nhanh hơn, tạo điều kiện cũng cố vững chắc hơn đường liên lạc thần kinh tạm thời Lời giảng dạy của các giáo viên tạo điều kiện cho người tập phân biệt được những chi tiết, phương thức thực hiện động tác rất cần cho việc hoàn thiện kĩ thuật động tác thể thao

III Xây dựng hệ thống tín hiệu đặc thù trong hoạt động TDTT:

Sự phân đoạn quá trình dạy học mỗi động tác riêng lẻ cần phải dựa trên các giai đoạn tương ứng của quá trình hình thành các kỹ năng và kỹ xảo vận động Muốn học thành kỹ xảo tương đối hoàn thiện thì phải trải qua 3 giai đoạn tiêu biểu khác nhau cả về nhiệm vụ sư phạm lẫn phương pháp giảng dạy Giai đoạn thứ nhất là dạy học ban đầu về động tác Giai đoạn thứ 2 thể hiện tiêu biểu ở sự dạy học sâu và chi tiết hóa Kết quả là kỹ năng vận động được chính xác hóa và một phần được

Trang 5

chuyển thành kỹ xảo Giai đoạn thứ 3 bảo đảm củng cố và tiếp tục hoàn thiện động tác mà kết quả là hình thành kỹ xảo vững chắc Ở giai đoạn này đã có những tố chất cho phép sử dụng hợp lý kỹ xảo trong các điều kiện vận động

Kỹ năng động tác trong hoạt động thể dục thể thao là khả năng thực hiện các động tác một cách thuần thục, nhanh chóng và chính xác, được hình thành trong cuộc sống cá thể do tập luyện Về bản chất, đó chính là các phản xạ vận động có điều kiện phức tạp, nghĩa là chúng được hình thành theo cơ chế của đường liên hệ thần kinh tạm thời trên đại não Đây là những phản xạ phức tạp vì tác nhân kích thích và phản ứng trả lời đều mới lạ: để đáp ứng lại kích thích vận động, cơ thể phải sử dụng một động tác mới hoặc phải xây dựng một tổ hợp mới các động tác mà trước

đó chưa có Trong kỹ năng động tác có sự phối hợp của hai loại đường liên hệ thần kinh tạm thời, chúng được hình thành không chỉ đối với phần hướng tâm tức là phần thu nhận những tín hiệu ( cảm giác) mà cả với phần vận động ( ly tâm) của bộ máy vận động

hưư vậy kỹ năng động tác là phản ứng trả lời đối với các kích thích bằng một tổ hợp nhiều động tác theo một trình tự nhất định để tạo nên một hoạt động thống nhất, trong đó có đường liên hệ thần kinh tạm thời từ vùng cảm giác của vỏ não đến một phần của vùng vận động và có nhiều đường liên hệ giữa các phần của vùng vận động để tạo nên nhiều động tác liên tục khác nhau Trong quá trình thực hiện kỹ năng động tác ngoài vai trò của đại não (chịu trách nhiệm thần kinh phản

xạ động tác) còn có vai trò của tiểu não (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ giữ thăng bằng), hành tủy và tủy sống (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ chức năng thực vật) Sự hình thành kỹ năng động tác bao giờ cũng làm xuất hiện các đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa vùng vận động với các cơ quan dinh dưỡng, bởi sự biến đổi của các cơ quan dinh dưỡng phù hợp trong vận động sẽ đảm bảo cho bộ máy vận động hoạt động tốt và có hiệu quả

Quá trình tập luyện và hình thành kỹ năng động tác gồm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn lan tỏa hưng phấn: là giai đoạn mà quá trình hưng phấn chiếm

ưu thế, hưng phấn dễ khuếch tán sang các vùng thần kinh khác lôi cuốn nhiều nhóm cơ thừa vào hoạt động và vì chưa phân biệt được kích thích tốt hay xấu, mạnh hay yếu nên gây ra phản xạ không phù hợp, tiêu hao nhiều năng lượng Ví dụ: khi mới tập kỹ thuật đập bóng trong bóng chuyền do chưa thực hiện đúng các giai đoạn kỹ thuật cho nên người tập nhảy lên đập bóng sớm hoặc muộn dẫn tới bóng có thể bị rúc lưới hay lực tác động vào bóng yếu hoặc không trúng bóng Việc học kỹ thuật động tác ở giai đoạn này thường phải dùng phương pháp phân

Trang 6

chia để nắm từng chi tiết kỹ thuật đơn lẻ rồi lựa chọn và phối hợp các kỹ thuật đơn

lẻ thành một động tác hoàn chỉnh và thống nhất

- Giai đoạn tập trung hưng phấn: giai đoạn này có sự tập trung hưng phấn vào những vùng nhất định trên vỏ não làm hạn chế các động tác thừa đồng thời có

sự tham gia của các dạng ức chế như ức chế phân biệt, ức chế trì hoãn nên các kỹ thuật động tác bắt đầu được hoàn thiện, tiêu hao ít năng lượng Nói chung các phản

xạ đều hợp lý và hiệu quả nhưng cũng chưa hoàn toàn ổn định nên dễ bị rối loạn khi mệt mỏi, khi điều kiện kích thích thay đổi hoặc không thuận lợi

- Giai đoạn tự động hóa (giai đoạn ổn định hưng phấn): ở giai đoạn này có

sự ổn định hưng phấn do đó không làm xuất hiện các động tác thừa Lúc này các động tác đã được cũng cố vững chắc, thuần thục và trở nên tự động hóa VĐV không cần quan tâm đến các động tác riêng lẻ, mà chỉ tập trung vào việc thực hiện chiến thuật và kết hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Các giai đoạn nêu trên của quá trình hình thành kỹ năng động tác chỉ có tính tương đối Trong nhiều trường hợp, một hoặc hai giai đoạn không thể hiện rõ rệt (thường gặp ở các VĐV

đã có trình độ tập luyện nhất định hoặc kỹ năng động tác mới gần giống kỹ năng động tác đã biết)

Thời gian hình thành kỹ năng động tác và thời gian của từng giai đoạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như sau:

- Yếu tố thần kinh

- Yếu tố thể lực chung và chuyên môn

- Yếu tố trình độ tập luyện

- Yếu tố phương pháp huấn luyện và phương pháp tập luyện

- Độ khó của kỹ thuật động tác

- Yếu tố sức khỏe, lứa tuổi, giới tính

- Ngoài các yếu tố trên thì trang thiết bị, dụng cụ, sân bãi, khí hậu, trạng thái tâm sinh lý của người tập cũng ảnh hưởng đến việc tiếp thu và hình thành kỹ năng động tác

IV Luyện tập và kết nối hệ thống tín hiệu trong thi đấu TDTT:

Trang 7

Tập luyện kỹ năng động tác là hình thành một hệ thống phản xạ có điều kiện còn gọi là định hình động lực, cần có các điều kiện sau:

- Trong quá trình tập luyện, các hệ thống tín hiệu kích thích đại não phải đủ mạnh và phải kết hợp hệ thống tín hiệu thứ nhất (bằng thị phạm) với hệ thống tín hiệu thứ hai (bằng lời giảng) Người ta đã xác định được phương pháp giảng dạy

có hiệu quả nhất là kết hợp giữa làm động tác mẫu và giảng giải Ví dụ: khi học sinh xem làm động tác mẫu, những kích thích cụ thể đối với thị giác sẽ giúp quá trình tiếp thu, xây dựng hình ảnh về động tác nhanh hơn, tạo điều kiện cũng cố vững chắc hơn đường liên lạc thần kinh tạm thời Lời giảng giải của giáo viên tạo điều kiện cho người tập phân biệt được những chi tiết, phương thức thực hiện động tác – rất cần cho việc hoàn thiện kỹ thuật động tác thể thao

- Phải chú ý đến sự tập trung hưng phấn thì mới xây dựng được các đường liên lạc thần kinh tạm thời trong việc hình thành kỹ năng động tác Do đó người có

hệ thần kinh yếu, kém tập trung thì khó khăn trong tập luyện kỹ năng động tác

- Phải tập luyện thường xuyên, liên tục, có hệ thống, không có những

khoảng nghỉ dài Mỗi động tác cần phải lặp đi lặp lại nhiều lần để củng cố đường thần kinh tạm thời trên vỏ não

- Kỹ năng động tác bao giờ cũng được hình thành trên cơ sở những động tác

đã tiếp thu từ trước, do đó nên tập luyện các động tác đơn giản rồi mới xây dựng dần những động tác phức tạp Ví dụ: khi giảng dạy để học sinh hoàn thiện được kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng thì bước đầu phải cho học sinh học kỹ thuật nhảy cao kiểu bước qua và nằm nghiêng, sau đó cho học các động tác bổ trợ và giảng dạy từng giai đoạn của kỹ thuật nhảy cao úp bụng để học sinh nắm được

- Phải đảm bảo tính chính xác của động tác, nghĩa là tập luyện đúng kỹ thuật, vì một động tác sai đã được củng cố vững chắc thì sẽ rất khó sửa và tốn nhiều thời gian, tức là cản trở sự hình thành động tác mới - Mức độ kích thích, thời gian kích thích phải hợp lý, tránh gây ức chế và mệt mỏi quá mức cho hệ thần kinh ( “kích thích” ở đây phải hiểu là quá trình tập luyện)

Hoạt động vận động của con người rất đa dạng và luôn biến đổi phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện khác nhau Việc thu nhận và tổng hợp các thông tin để xây dựng chương trình thực hiện kỹ năng động tác rất khác nhau trong các hoạt động khác nhau Khi thực hiện các kỹ năng động tác tương đối chậm thì việc tổng hợp

và điều chỉnh có thể xảy ra ngay trong quá trình vận động Trong các động tác phức tạp và nhanh, sự tổng hợp và điều chỉnh hoạt động chỉ có thể xảy ra đối với

Trang 8

những lần thực hiện kỹ năng động tác sau, khi lặp lại bài tập Kỹ năng động tác đã được ổn định và tự động hóa cũng sẽ mất dần theo thời gian nếu không được thường xuyên tập luyện Song không phải tất cả các thành phần của kỹ năng động tác đều mất đi trong cùng một thời điểm Các thành phần phức tạp nhất của của kỹ năng có thể bị biến đổi sau vài ngày, còn nếu nghỉ tập hàng tuần, hàng tháng, hàng năm thì chúng có thể bị mất đi hoàn toàn Ví dụ: khi tập để nâng cao thành tích trong chạy ngắn (sức nhanh) nếu nghỉ tập vài tuần thì thành tích sẽ giảm xuống ngay Ngay sau khi thực hiện một hoạt động vận động nào đó, cơ thể lập tức thu nhận từ các cơ quan thực hiện vận động (như cơ, tim, phổi…) và từ môi trường bên ngoài những thông tin về đặc điểm của hoạt động (như chất lượng hoặc hiệu quả của động tác, đối phương, dụng cụ…) thông qua các đường liên hệ ngược Thông tin ngược chiều không chỉ là những thông tin mà cơ thể trực tiếp cảm nhận được, mà còn bao gồm những thông tin lấy được từ những ý kiến nhận xét của đồng đội, của huấn luyện viên, thông tin từ những phương tiện kiểm tra kỹ thuật như hình ảnh ghi lại qua băng hình, tín hiệu điện cơ, điện tim Các thông tin ngược chiều này giúp ý thức thêm về chất lượng động tác, về điều kiện hoạt động như dụng cụ, vị trí của đối phương và đồng đội

V Kết luận:

Hai hệ thống tín hiệu rất có ý nghĩa trong lí thuyết và thực hành thể dục thể thao Củng cố bằng lời nói tạo điều kiện hình thành được nhiều kĩ năng động tác Khi xem thị phạm, người học không nắm hết được những chi tiết kỹ thuật và đặc điểm của động tác Vì vậy, khi bắt đầu tập động tác, có thể mắc nhiều sai lầm cơ bản mà tự mình không cảm thấy Chỉ có những lời giảng và nhận xét của người dạy mới giúp được người học phân biệt được đúng sai Phương pháp giảng dạy có kết hợp giữa lời giảng và thị phạm mang lại kết quả tốt trong huẩn luyện và giảng dạy thể dục

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Đình Mai, sáng kiến kinh nghiệm phương pháp thể dục thể thao,

https://text.123doc.net/document/2441182-skkn-phuong-phap-giang-day-the-duc-the-

thao.htm?fbclid=IwAR14er_8-3rE8Ebih7OKY-TGY9ZYTB1qFOdJAaOtDEct2Q7wr9UHGfZ2FpA, truy cập ngày 7/10/2020

2 Sở GDĐT Hà Tĩnh, Phương pháp giảng dạy môn Thể Dục,

http://giaoanmau.com/giao-an/phuong-phap-giang-day-bo-mon-the-duc-2051/?

fbclid=IwAR1z5bUczpW5GBX2Y6NWYP-uktgc7rU7g10hiYs8jpgY7xTnw8Utb4VJhVg, truy cập ngày 8/10/2020

3 Hà Hiển, Tiểu luận Giáo dục thể chất,

https://issuu.com/hahin4/docs/ti _u_lu _n_gi o_d _c_th ch_?

fbclid=IwAR05pmL2ChJv76yp7SUqlLJhvI3E_-7uK4UWMj3KIGib1_qx1SzLkmha8xY, truy cập 9/10/2020

4 Nguyễn Hoàng Minh, Cơ sở sinh lý của quá trình hình thành kỹ năng động tác thể dục thể thao

5 https://baigiang.violet.vn/present/nghien-cuu-cac-he-thong-tin-hieu4141419.html? fbclid=IwAR0Dz407zoSTB5abylVW0iDbdTZBUg0J00xHMH

Q2DNxaBU7j3mcGbWCC4CM

Ngày đăng: 07/07/2021, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w