Người chăn nuôi, người kỹ thuật phải khai thác tối đa tiềm năng cho sữa của vật nuôi, đơn vị chăn nuôi phải đáp ứng những khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao trong chọn
Trang 1ĐỀ CƯƠNG KHẢO SÁT BỆNH VIÊM VÚ , VIÊM TỬ CUNG VÀ HIỆU
QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI TRẠI TRÌNH DIỄN
VÀ THỰC NGHIỆM CHĂN NUÔI CÔNG NGHỆ
CAO ISRAEL TPHCM
Gíao viên hướng dẫn : TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Sinh viên thực tập : BÙI MINH THƯ
Trang 2TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát một số bệnh sinh sản trên bò sữa
và hiệu quả điều trị tại Trại Trình diễn và Thực nghiệm Chăn nuôi
bò sữa Công nghệ cao mô hình Israel” được thực hiện tại Trại Trình diễn và Thực nghiệm Chăn nuôi bò sữa Công nghệ cao mô hình Israel thuộc xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 15/01/2021 đến tháng 7/ 2021
Thí nghiệm đã tiến hành theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu
tố với 3 nhóm lứa đẻ trên 91 con bò đang cho sữa Thí nghiệm tiến hành 3 tháng trên các nhóm bò sữa đang cho sữa tại trại
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ viêm vú trung bình hằng tháng trên đàn bò 3,25% Tháng có tỷ lệ thấp nhất là tháng 2 (1,09%), tiếp đến là tháng 4 (4,26%) và tháng có tỷ lệ cao nhất là tháng 3 (4,40%)
(P > 0,05) Tỷ lệ bò khỏi bệnh thấp nhất là ở thời gian điều trị > 5
ngày (22,22%), tiếp đến là 2 - 3 ngày với tỷ lệ khỏi bệnh là 33,33%
và tỷ lệ điều trị khỏi cao nhất là thời gian điều trị 4 - 5 ngày chiếm
44,44% (P > 0,05) Việc điều trị viêm vú lâm sàng có tỷ lệ khỏi
Trang 3ca điều trị từ 4 – 5 ngày và > 5 ngày (17,29%), cao nhất là 2 - 3
ngày với tỷ lệ khỏi bệnh là 57,14% (P > 0,05) Kết quả điều trị bệnh
viêm tử cung chiếm tỷ lệ 85,71%
Trang 4MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đã có hơn nửa thế kỷ Với rấtnhiều khó khăn và thách thức nhưng chăn nuôi bò sữa vẫn phát triển theo hướng tích cực Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về sữa của người tiêu dùng ngày càng cao vì thế lĩnh vực sữa tươi ngày càng sinh động Nhu cầu sữa bình quân trên đầu người ở nước ta trên phương án
cơ sở năm 2019 là 20,8 lít và năm 2020 là 27,3 lít; sản lượng trong nước đạt 1 triệu lít và đáp ứng 38% nhu cầu tiêu thụ trong nước Thực
tế thì thời điểm năm 2017 sản lượng sữa tươi trong nước đạt 456,39 nghìn tấn, đáp ứng khoảng 28% tổng lượng sữa tiêu dùng hằng năm; đến năm 2017 đạt 881 nghìn tấn, đáp ứng 35% tổng lượng sữa tiêu dùng hằng năm (Bùi Hải Nguyên, 2019) Vì vậy, tiềm năng phát triển thị trường Việt Nam là rất lớn, Việt Nam cần phát triển nhanh hơn về đàn bò sữa và sản lượng sữa Người chăn nuôi, người kỹ thuật phải khai thác tối đa tiềm năng cho sữa của vật nuôi, đơn vị chăn nuôi phải đáp ứng những khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao trong chọn lọc giống, quản lý đàn, trong chế độ thức ăn, chống dịch bệnh, nâng cao khả năng sinh sản đàn bò và tăng năng suất vật nuôi.Bên cạnh đó các biện pháp phòng bệnh chưa được quan tâm
nhiều, bệnh tật xảy ra là điều không tránh khỏi Đặc biệt là một số
Trang 5bệnh sinh sản trên bò sữa như chậm lên giống, phối giống không đậu, viêm vú, viêm tử cung, bệnh sốt sữa, bại liệt trước và sau khi đẻ, khó
đẻ, sa tử cung Đây là một trong những vấn đề gây khó khăn nhất hiện nay đối với ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam Không những gây ảnh hưởng đến chất lượng sữa của bò mà còn giảm đi sự gia tăng số lượng đàn bò sữa
Từ thực tế trên được sự đồng ý của khoa bộ môn thú y trường Đại Học Công Nghệ TP HCM , dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Phát , chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát một số bệnh sinh sản trên
bò sữa tại Trại Trình diễn và Thực nghiệm Chăn nuôi bò sữa Công nghệ cao mô hình Israel”
Mục tiêu
Đánh giá một số bệnh sinh sản trên bò sữa, để phát hiện bệnh trên
bò cái sinh sản càng sớm càng tốt và có biện pháp can thiệp, điều trị thích hợp nhằm đảm bảo sức khỏe sinh sản cho đàn bò, giảm thiểu tổn thất kinh tế đến mức thấp nhất cho ngành chăn nuôi bò sữa
Yêu cầu
Theo dõi và ghi nhận một số bệnh sinh sản, góp phần cải thiện tình trạng bệnh sinh sản trên đàn bò sữa tại trung tâm giống với sự phối hợp của cán bộ thú y tại trung tâm giống
Trang 6Một số bệnh sinh sản trên bò bò sữa
Bệnh viêm vú ở bò sữa (Mastitis)
Nguyên nhân
Bò
Nguyên nhân xuất phát do chính bản thân bò sữa tùy thuộc vào cá thể của bò như bò có bầu vu quá to và dài dễ gây xay xát, lỗ thông đầu
vú dễ rò rỉ, bò cao sản là những điều kiện để bộc phát bệnh
Vi sinh vật gây nhiễm
Vi sinh vật có ảnh hưởng rất lớn trên sức khỏe con người và động vật qua khả năng lây nhiễm chúng có nhiều loại (type) gây bệnh
Trang 7đất, phân, nước tiểu Chúng có thể xâm nhập vào cơ thể động vật qua thở, vết thương, ăn uống, lỗ núm vú.
Liên cầu khuẩn (Streptococcus): Trong các loại vi khuẩn gây bệnh
viêm vú, liên cầu khuẩn (Streptococcus) chiếm 86%, chủ yếu là S dysagalactiae, S agalactiae và S uberis S agalactiae là vi khuẩn
gram dương và chỉ phát triển được trên mô tuyến vú nhưng dễ bị
khống chế và tiêu diệt Trong khi đó, S dysagalactiae và S uberis có
thể phát triển bên ngoài mô tuyến vú và khó loại trừ Ba loại này chủ yếu phát triển trong sữa và tấn công lớp tế bào mặt của các ống dẫn sữa
Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus) chiếm 5,4% trường hợp Trong
đó, S aureus (vi khuẩn gram dương) là vi khuẩn gây bệnh mạnh và
thường ở dạng cấp tính Vi khuẩn này xâm nhập và tấn công vào các tếbào nang và có tính kháng penicilline (có những chủng vi khuẩn có khả năng hình thành penicillinaza phân hủy penicilline), vì vậy nó rất khó xử lý Bên cạnh đó, nó còn sinh sản ra các độc tố (coagulaza, hemolysine) gây co thắt mạch máu và hoại tử mô tế bào
Trực khuẩn bao gồm trực trùng sinh mủ 2,7%, E coli 1,2%, các
loại vi trùng khác 3,75% Các vi khuẩn này sống chủ yếu trong môi trường (phân, chất độn chuồng, nguồn nước bị ô nhiễm)
Môi trường
Trang 8Thời tiết khí hậu: Các tác nhân của bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi
bò sữa như nhiệt độ, ẩm độ đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên tỷ lệ mắc bệnh viêm vú ở bò sữa Mặt khác, nhiệt độ cao, ẩm độ cao cũng là điều kiện cho các vi sinh vật gây bệnh, các côn trùng mangtác nhân gây bệnh phát triển và từ đó gián tiếp gây bệnh Tại một số nước có khí hậu theo 4 mùa, thường có một dạng viêm vú gọi là “viêm
vú mùa hè” gây ra bởi các côn trùng chích cắn truyền vi khuẩn
Corynebacterium pyogenes và một số vi khuẩn kị khí khác Bệnh này
thường xuất hiện ở vùng khí hậu có độ ẩm cao (thường ở các vùng thấp, các thung lũng) Các loại stress tác động lên bò sữa (tiếng ồn, thái độ chăm sóc bò, mật độ nuôi quá cao) ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của bò sữa (làm suy yếu) từ đó cũng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh viêm vú Đặc biệt, nhiệt độ, ẩm độ cao gây stress nhiệt trên bò sữa là cần được quan tâm nhiều nhất
Chuồng trại: Bò nếu được nuôi dưỡng trong chuồng thì cũng dễ bịmắc bệnh viêm vú Tại Úc, người ta nhận thấy bò sữa nếu được chăn thả ngoài đồng cỏ thường xuyên, chỉ ở trong chuồng ở thời điểm vắt sữa thì tỷ lệ mắc bệnh viêm vú do môi trường giảm Tuy nhiên, khi chăn thả ngoài đồng cỏ, không kiểm soát được hoàn toàn thì cần chú ý đến các tổn thương trên bầu vú từ đó cũng dễ mắc bệnh Người ta cũngnhận thấy tỷ lệ bệnh viêm vú ở bò nuôi nhốt ở kiểu chuồng cầm cột
Trang 9thường cao hơn kiểu chuồng tự do không cầm cột Tóm lại, chuồng trại vệ sinh kém, không thông thoáng và ánh sáng thiếu, mật độ nuôi cao là nguyên nhân gây tỷ lệ bệnh viêm vú tăng cao, chăm sóc, quản lýkhông đúng kỹ thuật, dinh dưỡng không phù hợp Ô bò nằm được xemnhư vị trí quan trọng liên quan đến bệnh viêm vú chỉ sau nơi vắt sữa Khi bò nằm nghỉ, bầu vú sẽ tiếp xúc với nên và chất lót nên nguy cơ vikhuẩn xâm nhập vào bầu vú là rất cao Các vật liệu lót ô bò nằm có ảnh hưởng đến sự phát triển của các vi sinh vật và từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Bãi chăn thả không vệ sinh, sát trùng và không kiểmsoát được nhiều bò từ nơi khác đến, đem theo mầm bệnh Nền đất, sân vận động cũng là những nơi mà vi sinh vật phát triển.
Nguồn thức ăn, nước uống: Người ta nhận thấy cũng có mối liên
hệ giữa phần ăn và bệnh viêm vú Trong đó, chú ý đến mức cân bằng dưỡng chất trong khẩu phần và việc thay đổi khẩu phần ăn quá nhanh Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy khẩu phần ăn quá dư thừa nito phi protein là một trong những yếu tố gây ra bệnh viêm vú Việc sử dụng quá nhiều nito phi protein trong khẩu phần sẽ tác động đến hệ miễn dịch của cơ thể bò sữa Tại Đức, nghiên cứu cho thấy nếu sử dụng ure
bổ sung vào khẩu phần ăn của bò sữa quá cao thì tỷ lệ viêm vú tăng 16% Nếu cho lượng ure trong khẩu phần ăn vượt quá 180 g/con/ngày
sẽ làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bò một cách rõ rệt Tỷ lệ thức
Trang 10ăn tinh trong khẩu phần ăn quá cao cũng là nguyên nhân gây bệnh Cũng một thí nghiệm tại Đức, so sánh giữa bò sữa lứa thứ nhất khẩu phần 25% và 40% thức ăn tinh tăng tỷ lệ bệnh viêm vú nhóm bò cho thức ăn tinh 40% là 36% so với 7% ở nhóm bò cho khẩu phần 25% Khẩu phần có năng lượng cao cũng ảnh hưởng đến bệnh viêm vú Việc
bổ sung quá nhiều thức ăn xanh họ đậu, đặc biệt là cỏ Alfalfa có chứa nhiều chất estrogen cũng làm ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Đối với bò
tơ, khi cho ăn khẩu phần chứa nhiều cỏ họ đậu, các chất estrogen
ngoại lai này (không phải do cơ thể bò sản xuất) sẽ làm cho bầu vú bò
tơ trưởng thành sớm từ đó làm nguy cơ nhiễm các vi khuẩn cơ hội từ môi trường, bò dễ mắc bệnh viêm vú Hàm lượng vitamin E và
Selenium cao trong khẩu phần thức ăn sẽ giúp cải thiện hệ thống miễn dịch của cơ thể bò sữa, từ đó cũng giảm tỷ lệ bệnh viêm vú Đặc biệt trong trường hợp bệnh viêm vú tiềm ẩn, việc bổ sung Selenium đã làmgiảm rõ rệt tỷ lệ mắc bệnh viêm vú Việc bổ sung Selenium cũng giúp
cho bò kháng với các bệnh viêm vú gây ra do nhóm coliform (như E coli) Tuy nhiên, cũng luôn ghi nhớ là không bổ sung Selenium riêng
lẻ mà phải bổ sung chung với vitamin E Thức ăn nhiều vi trùng, nấm mốc sẽ theo hệ thống tiêu hóa gây bệnh nhất là thú bệnh đường tiêu hóa gây tiêu chảy, từ đó vi khuẩn và độc tố xâm nhập vào máu đến bầu
Trang 11vú Vi khuẩn, nấm mốc cũng tiết ra các độc tố làm ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch
ở cửa chuồng vì người vắt sữa có thể từ chuồng này sang chuồng khác hoặc nhà này sang nhà khác
Phân loại bệnh viêm vú
Phân loại theo sự biểu hiện của triệu chứng
Thể lâm sàng (có biểu hiện ra bên ngoài): Bệnh viêm vú thể lâm sàng là bệnh có biểu hiện ra bằng những triệu chứng cụ thể (sưng, nóng, đỏ, đau) Mức độ nghiêm trọng của bệnh cũng như hậu quả của bệnh biểu hiện rõ rệt nên người ta dễ dàng xử lý điều trị và đánh giá mức độ nguy hiểm cũng như thiệt hại do bệnh gây ra là không lớn so với bệnh tiềm ẩn
Trang 12Thể tiềm ẩn: Bệnh viêm vú thể tiềm ẩn rất phổ biến và gây ra những thiệt hại kinh tế rất lớn vì nó làm giảm sản lượng sữa và chất lượng sữa Bệnh này nguy hiểm ở chỗ là nó duy trì mầm bệnh, lây lan cho những bò khác mà người chăn nuôi vẫn không biết Bò ít có triệu chứng bên ngoài, nhưng thường thì kém ăn, thỉnh thoảng sữa bò bị tủa
và không có biểu hiện triệu chứng ở bầu vú Biện pháp chẩn đoán bệnhviêm vú tiềm ẩn là dựa vào dấu hiệu của sữa và xét nghiệm sữa để phân lập vi trùng gây bệnh (123doc, 2016)
Phân loại theo tính chất gây bệnh
Viêm vú do lây nhiễm: Bệnh gây ra do các vi sinh vật gây bệnh
như Streptococcus agalactiae, Streptococcus dysagalactiae và
Staphylococcus aureus và nguồn lây nhiễm chủ yếu từ vú các bò bị
viêm vú
Viêm vú do tác nhân môi trường: Bệnh gây bởi các vi sinh vật cơ hội nằm trong môi trường chung quanh bò (chuồng trại, thiết bị, chất độn chuồng, phân, nguồn nước) Các nhóm vi sinh vật chủ yếu là
nhóm Coliform (Escherichia coli, Klebsiella pneumonia, Klebsiella oxytoca, Enterobacter aerogenes), nhóm Streptococcus (S uberis, S bovis, Enterococcus faecium, Enterococcus faecalis)
Các thể bệnh viêm vú cấp tính
Viêm vú thể tương mạc
Trang 13Triệu chứng: Khi vi trùng theo máu vào sâu bên trong tuyến vú thìtoàn bộ tuyến vú sưng to, sờ nhẹ không đau Lúc đầu sữa biến đổi không rõ, về sau khi bệnh lan rộng trong tuyến sữa và bộ phận tiết sữa thì sữa sẽ loãng và lợn cợn Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao (39,5 - 40°C), kém ăn, ủ rũ Vú bò sưng ở một thùy hay toàn bộ bầu vú(hiếm khi viêm toàn bộ bầu vú) Khi ấn tay mạnh vào bầu vú, bò bị đau, bò bị giảm lượng sữa rõ rệt, sữa loãng và có hạt lổn nhổn.
Nguyên nhân: Do Staphylococcus, Streptococcus, E coli đi vào tổ
chức liên kết của bầu vú khi bầu bị xây xát Bệnh có thể kế phát do viêm tử cung hoặc viêm nội mạc tử cung, vi trùng vào máu và đi đến tuyến vú
Chẩn đoán: Chẩn đoán phân biệt với bệnh bầu vú thủy thũng Ở bệnh này bầu vú sưng, nóng, đỏ, đau, hạch lâm ba vú cũng sưng to Xét nghiệm sữa phát hiện vi trùng gây bệnh
Tiên lượng: Bệnh nhẹ thì sau 7 – 19 ngày, hiện tượng viêm giảm nhưng bệnh có thể là mãn tính Khi tổ chức tuyến vú tổn thương nặng thì bầu vú có thể bị xơ cứng
Bệnh thường xảy ra vài ngày sau khi sinh, biểu hiện:
- Con vật có hiện tượng sốt toàn thân (39,5 – 40oC), ít hoạt động, kém ăn và lượng sữa giảm
- Bầu vú bị xung huyết, sưng ở một thùy hay toàn bộ bầu vú Con vật có phản ứng đau khi ấn mạnh vào bầu vú
- Lượng sữa sẽ giảm rõ rệt ở thùy vú sưng
Trang 14- Lúc đầu, sự biến đổi trên sữa không rõ rệt nhưng khi bệnh lan rộng sẽ thấy sữa loãng, có những hạt lợn cợn.
Bệnh viêm vú thể tương mạc do các loại vi khuẩn Staphylococci, Streptococci, E.coli xâm nhập qua các vết trầy, xây xát trên bầu vú đi vào tuyến vú gây bệnh Bệnh cũng có thể kế phát do viêm tử cung, viêm nội mạc tử cung, vi khuẩn theo đường máu đến tuyến vú gây bệnh Nếu bệnh nhẹ, sau 7 – 10 ngày hiện tượng viêm giảm nhưng có thể chuyển sang thể mãn tính Khi bầu vú bị tổn thương nặng có thể bị
xơ cứng, mất khả năng tiết sữa ở chu kỳ sau
Nguyên nhân: Do Staphylococcus, Streptococcus, E coli xâm
nhập vào, do cơ vòng đầu vú khép không kín sữa rò rỉ ra ngoài, vi trùng từ đó xâm nhập vào bễ sữa đến các tuyến vú gây viêm Cũng có thể do đầu vú bị viêm gây ra, nền chuồng, chất độn chuồng, tay người vắt hoặc khăn lau đầu vú bẩn
Chẩn đoán: Thông qua sờ nắn, đặc biệt là xem xét kích thước núm
vú Xét nghiệm sữa, kiểm tra vi khuẩn gây bệnh
Tiên lượng: Thường sau 7 – 10 ngày thì bệnh khỏi và không ảnh hưởng đến sản lượng sữa
Trang 15Đặc trưng của bệnh viêm vú thể cata là tế bào thượng bì biến dạng
bị bong tróc ra, ở chỗ viêm có dịch thẩm xuất Dịch này cùng với tế bào bạch cầu tạo ra một màng phủ trên niêm mạc đường tiết sữa Khi vắt sữa, màng này tróc ra lẫn vào sữa tạo thành cặn sữa và đôi khi cặn sữa này làm tắt nghẽn ống dẫn sữa Nếu tiếp tục vắt sữa, thời gian sau
có thể sữa trở lại bình thường nhưng lượng sữa sẽ giảm đi Kiểm tra bằng mắt thường thấy bầu vú gần như trở lại bình thường nhưng thành
vú dầy lên và mềm, kiểm tra bằng tay thấy bên trong đầu vú có những cục mềm
Bệnh viêm vú thể cata do vi khuẩn Staphylococci, Streptococci hay E coli xâm nhập khi cơ vòng đầu vú không khép kín Vi khuẩn đi vào bể sữa đến các tuyến vú gây viêm Ngoài ra, bệnh viêm vú thể catacòn do các nguyên nhân: nền chuồng không sạch, sử dụng chung khăn lau vú cho bò, hoặc do việc vệ sinh vắt sữa kém gây lây nhiễm từ bò bệnh sang bò khỏe mạnh Thông thường, bệnh này sau 7 – 10 ngày nếuđược chăm sóc tốt thì bò sẽ khỏi bệnh, ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa
và con vật không có biểu hiện triệu chứng toàn thân
Viêm vú có mủ
Biểu hiện đặc trưng là vú có mủ và dịch thẩm xuất Bò sốt cao, mệt mỏi, bỏ ăn Bầu vú bò sưng, đỏ, nóng, đau Đầu tiên sữa loãng có màu hồng do xuất huyết nhẹ và sau đó lẫn các cục sữa vón và dịch mủ màu vàng nhạt
Viêm cata có mủ: Đặc trưng thể này là các vi trùng gây mủ tạo ra những ổ viêm lan tràn trong bể sữa ống tiết sữa, tuyến vú làm cho mủ
và dịch thẩm xuất chảy xuống ống dẫn vào bể sữa Thể cấp tính: Thùy
vú bệnh sưng, nóng, đỏ, đau, lượng sữa giảm ngưng hẳn, sữa loãng
Trang 16màu hồng nhạt, xsung huyết, xuất huyết tuyến sữa; trong sữa có lợn cợn cục sữa vón do dịch mủ; con vật có triệu chứng toàn thân, sốt 40 - 41°C, mạch nhanh, ủ rũ Thể mãn tính: Thú bệnh qua thời kỳ cấp tính
4 ngày bệnh trở thành mãn tính, các triệu chứng giảm dần, bầu vú giảm sưng đỏ, giảm đau nhưng lượng sữa ít, loãng, màu vàng nhạt.Viêm vú có mủ: Thể thùy vú có nhiều bọc mủ to nhỏ khác nhau,
có bọc mủ nhỏ hợp thành bọc mủ lớn Nguyên nhân do tái phát viêm cata có mủ, bọc mủ bị tắt hình thành
Đặc trưng của dạng này là vi khuẩn gây mủ tạo ra các ổ viêm lan tràn trong tuyến vú làm cho mủ và dịch thẩm xuất chảy xuống ống dẫnvào bể sữa Thể viêm này thường kế phát từ thể viêm cata
Thể cấp tính: Con vật thể hiện triệu chứng toàn thân, sốt cao 40 –
41oC, mệt mỏi, bỏ ăn, thùy vú sưng, nóng, đỏ, đau Lượng sữa giảm hay ngưng hẳn, trong sữa có lẫn các cục sữa vón và dịch mủ màu vànghay vàng nhạt
Thể mãn tính: Con vật qua thời kỳ cấp tính 3 – 4 ngày bệnh sẽ chuyển sang thể mãn tính Bầu vú giảm hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau nhưng lượng sữa tiếp tục giảm và trong sữa loãng có các cặn mủ và nhớt màu vàng nhạt Nếu bệnh chuyển sang thể mãn tính, điều trị khôngkịp thời thì các tuyến sữa bị teo, các tổ chức liên kết tăng lên thì lượng sữa khó trở lại bình thường Có trường hợp bầu vú mắc bệnh đã điều trị khỏi nhưng ở chu kỳ sinh sản tiếp theo bệnh sẽ tái phát
VIÊM VÚ CÓ MÁU
Đặc trưng của bệnh này là các thùy vú có nhiều bọc mủ to nhỏ khác nhau, thường do tái phát thể viêm cata có mủ Khi đường tiết sữa
Trang 17bị tắc thì bọc mủ hình thành, các tổ chức của ống tiết sữa bị xuất huyết
và tụ huyết Bình thường ở thể cấp tính, con vật sốt cao 40 – 41oC kéo dài hàng tuần, thú mệt mỏi, kém ăn, có thể sưng một bên hay toàn bầu
vú Trên bầu vú có từng đám tụ huyết đỏ sẩm, con vật có biểu hiện đauđớn khi ta ấn tay vào bầu vú Lượng sữa giảm hẳn hay ngưng tiết sữa, sữa loãng có màu hồng hay đỏ như máu, có những mảnh sữa vón lại Bệnh tiến triển nhanh, biến chứng thường xảy ra nhiễm trùng huyết, con vật sẽ chết sau 7 - 9 ngày
VIÊM VÚ TIỀM ẨN
Bệnh viêm vú tiềm ẩn là bệnh không gây hiện tượng viêm trên các
tổ chức của tuyến vú mà sự có mặt của các vi khuẩn trong bầu vú chỉ làm thay đổi tính chất và giảm sản lượng sữa từ từ Chính vì không có các triệu chứng rõ rệt nên người chăn nuôi rất khó phát hiện, nguy cơ lây lan mầm bệnh trong toàn đàn cao, gây thiệt hại về kinh tế rất lớn.Nguyên nhân chủ yếu của bệnh viêm vú tiềm ẩn là do:
- Bệnh viêm vú trước đó không được điều trị khỏi hẳn, bệnh
chuyển sang thể mãn tính và tái phát khi có điều kiện thuận lợi;
- Sức đề kháng của cơ thể con vật kém trong quá trình chăm sóc dinh dưỡng và vệ sinh môi trường, chuồng trại kém, nhiệt độ thời tiết thay đổi bất thường sẽ làm bệnh bộc phát
Đối với trường hợp viêm vú tiềm ẩn hoặc viêm vú lâm sàng thể nhẹ rất khó phát hiện bằng mắt thường hoặc thông qua việc sờ khám bầu vú Hiện nay, các nông hộ chăn nuôi thường chẩn đoán nhanh bệnh viêm vú bằng các phương pháp sau:
- Phương pháp thử cồn 70 0 -75 0: dựa vào nguyên tắc chất đạm trong môi trường acid sẽ bị tủa bởi cồn Tỷ lệ cồn và sữa là 1:1
Cách tiến hành:
Trang 18Bước 1: cho 2ml sữa vào 2ml cồn chứa trong ống nghiệm.
Bước 2: lắc nhẹ, sau đó quan sát trên thành ống nghiệm
Bước 3: đọc kết quả:
- Dung dịch đồng nhất: bò không có bệnh
- Có mảng bám lợn cợn trên thành ống nghiệm: khả năng bò bị nhiễm bệnh
- Phương pháp thử CMT (California Mastitis Test): là phương
pháp nhằm phát hiện bệnh viêm vú qua số lượng tế bào bạch cầu trong1ml sữa Hiện nay, đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán viêm vú tiềm ẩn
Tỷ lệ sữa và dung dịch CMT là 1:1
Cách tiến hành:
Bước 1: lau sạch núm vú trước khi vắt sữa
Bước 2: vắt sữa của 4 núm vú vào 4 đĩa Pétri khác nhau, mỗi đĩa lấy 2ml sữa
Bước 3: cho 2ml dung dịch CMT vào từng đĩa
Bước 4: xoay tròn đĩa, đặt đĩa Pétri trên nền hơi tối để quan sát.Bước 5: đọc kết quả dựa trên sự đóng vón và thay đổi màu sắc củahỗn hợp
Kết quả:
- Bò khỏe mạnh: dưới 300.000 tế bào bạch cầu/ 1ml sữa
- Bò bị nhiễm bệnh: trên 800.000 tế bào/ 1ml sữa
Khi thấy kết quả khả nghi bệnh, nên cách ly bò bệnh để tránh sự lây lan cho bò khỏe, mời bác sĩ thú y đến để điều trị kịp thời
Ngoài ra có thể dùng Phương pháp thử Blue Methylen dựa vào
nguyên tắc sự mất màu của thuốc thử khi cho vào sữa, tùy theo thời gian đổi màu thuốc thử có thể ước tính mức độ nhiễm vi sinh của sữa.Cách tiến hành:
Bước 1: cho 10ml sữa và 1ml dung dịch Blue methylen vào trong ống nghiệm
Trang 19Bước 2: lắc nhẹ cho dung dịch trộn đều sau đó để vào tủ ấm 37C.Sau mỗi 1 giờ lắc nhẹ một lần.
Bước 3: đọc kết quả qua thời gian mất màu của dung dịch Blue methylen như sau:
+ Nếu mất màu trước 15 phút, sữa bị nhiễm vi sinh rất nặng
+ Nếu mất màu sau 15 phút – 1 giờ, sữa bị nhiễm vi sinh nặng.+ Nếu mất màu sau 1 giờ - 3 giờ, sữa bị nhiễm vi sinh nhẹ
+ Nếu mất màu sau hơn 3 giờ, sữa được xem là đạt tiêu chuẩn về mức độ nhiễm vi sinh
Tuy nhiên phương pháp này chỉ xác định mức độ nhiễm vi sinh trong sữa Để có thể xác định bò có bị bệnh viêm vú hay không, cần kết hợp với 2 phương pháp xét nghiệm trên
- Khi phát hiện trong đàn có bò bị bệnh viêm vú, nông hộ cần
phải:
* Đối với bò bị bệnh:
- Cách ly thú bệnh sang khu vực riêng biệt
- Không khai thác sữa bò bệnh để bán, mà vắt sữa bỏ vào hố được sát trùng kỹ lưỡng
- Mời bác sĩ thú y đến khám và điều trị bệnh (trước tiên nên thử kháng sinh đồ để dùng thuốc có hiệu quả hơn, giảm chi phí điều trị chobò)
* Đối với bò khỏe: ta nên áp dụng đúng quy trình kỹ thuật vắt
sữa, như sau:
- Vắt sữa trên bò khỏe trước
- Rửa sạch bầu vú trước và sau khi vắt sữa
- Mỗi 1 con dùng 1 khăn lau vú riêng
- Nhúng đầu vú vào dung dịch sát trùng (Iod) sau khi vắt sữa xong
- Định kỳ hàng tuần kiểm tra bệnh viêm vú cho bò đang vắt