1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay

83 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Hữu Hạnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Văn Nam
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 752,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn trình bày các nội dung về những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Thực trạng áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên nhìn từ một số vụ việc điển hình; Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS TRẦN VĂN NAM

………., 2021

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công ty TNHH nói chung đã được đề cập trong Luật Công ty năm

1990 tại Chương 3 từ Điều 25 đến Điều 29 nhưng loại hình Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì mãi đến Luật Doanh nghiệp năm 1999 mới được quy định chi tiết tại Mục 1 Chương 3 Công ty TNHH đặc biệt là loại hình Công

ty TNHH hai thành viên trở lên được xem là loại hình doanh nghiệp được các nhà đầu tư lựa chọn thành lập bởi chính loại hình doanh nghiệp này đã mang nhiều ưu thế hơn công ty cổ phần hay công ty hợp danh Công ty TNHH hai thành viên trở lên là sự kết hợp hoàn hảo những ưu điểm của công ty hợp danh và công ty cổ phần, phù hợp với các nhà đầu tư có quy mô nhỏ và vừa

Ở pháp luật các nước trên thế giới, loại hình Công ty TNHH trong đó Công ty TNHH hai thành viên trở lên đã được ghi nhận trong luật và được các nhà đầu

tư lựa chọn như một loại hình kinh doanh chủ yếu, rất đáng đầu tư Đáng chú

ý như pháp luật của Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Cộng hòa liên bang Đức Ở Việt Nam mặc dù hệ 1 thống pháp luật doanh nghiệp luôn không ngừng được hoàn thiện như Luật Doanh nghiệp năm 2020 hiện hành Những quy định pháp luật mới ban hành cho doanh nghiệp nói chung và cho Công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng giúp mang luồng sinh khí mới so với những quy định trước đây chưa làm được Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014

và các văn bản pháp luật có liên quan khác chưa giải quyết hết những chồng chéo, thiếu quy định hoặc quy định chưa rõ mà Luật Doanh nghiệp năm 2005

đã mắc phải trong quá trình vận dụng vào thực tiễn Đặc biệt, xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu cần có những quy định pháp lý rõ ràng, đơn giản, phù hợp với những cam kết của Việt Nam với tổ chức quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tạo nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp với khả năng, mục đích kinh doanh của mình Vì vậy, Luật

Trang 4

Doanh nghiệp năm 2020 ra đời là bước đột phá mới trong hệ thống văn bản pháp luật doanh nghiệp

Loại hình Công ty TNHH hai thành viên trở lên với những ưu điểm vượt trội, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Để từng bước hoàn thiện cũng như đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật doanh nghiệp nói chung, loại hình Công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về Công ty TNHH hai thành viên trở lên, hệ thống pháp luật hiện hành và từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quy định pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong thực tiễn hiện nay mang ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc Với

nhận thức như vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến pháp luật doanh nghiệp nói chung và Công ty TNHH nói riêng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Cụ thể như:

Bài viết “Công ty TNHH theo pháp luật của Hoa kỳ” của tác giả Trần

Quỳnh Anh, tạp chí luật học số 12/2010 Bài viết chủ yếu tập trung vào những quy định pháp luật về công ty TNHH của Hoa kỳ mà trọng tâm là đặc điểm, thành lập, giải thể công ty và đặc biệt là mô hình tổ chức quản lý công ty [2]

Luận văn “Pháp luật về quản trị nội bộ công ty TNHH hai thành viên

trở lên và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La” của tác giả Nguyễn Trung Kiên

bảo vệ thành công tại Đại học Luật Hà Nội năm 2016 Trong luận văn tác giả

đề cập đến những quy định của pháp luật về tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên và thực trạng thực hiện các quy định này ở tỉnh Sơn La [21]

Luận văn “Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH ở Việt Nam” của tác

giả Hoàng Thị Hà bảo vệ thành công tại Đại học Luật Hà Nội năm 2012

Trang 5

Luận văn chủ yếu phân tích những quy định pháp luật về công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên trong doanh nghiệp năm

2005, đồng thời chỉ ra những thành tựu, hạn chế tồn tại, từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện [20]

Các bài viết trên tạp chí Luật học như “Bàn về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường [13]; “Quan niệm về Luật Doanh nghiệp - Một số vấn đề phương pháp luận” của Thạc sỹ Đồng Ngọc Ba; Bài viết “Phát triển các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần” của Đinh Văn Ân trong tạp chí

cộng sản số 57 năm 2004…Tuy nhiên, đối với đề tài pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên trước đây mới được đề cập ở mức độ bài tiểu luận hay chuyên đề thực tập như của Nguyễn Thị Thu Thảo, năm 2012 về

“Địa vị pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp năm 2005- Thực trạng tổ chức và hoạt động của Công ty TNHH dịch

vụ - thương mại Tấn Phát Đạt” [42] Gần đây mới có chuyên đề chuyên sâu

về pháp luật Công ty TNHH hai thành viên trở lên như luận văn của Vũ

Quỳnh Lâm năm 2017 “Quy chế pháp lý về vốn của công ty TNHH hai thành

viên trở lên” [23] và năm 2018 có Luận văn “Pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên – thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh” của Thạc sỹ Ngô Thị

Dung [19]

Như vậy, trước đó một số chuyên đề, đề tài khoa học chỉ đề cập những nội dung chung về pháp luật doanh nghiệp, tổng thể pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên Hay một số đề tài nghiên cứu chuyên sâu về chỉ một nội dung cơ bản của Công ty TNHH hai thành viên trở lên như nội dung quy chế pháp lý về vốn… mà chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về quyền

và nghĩa vụ của các thành viên Các công trình nghiên cứu về các quy định pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và pháp luật về Công ty

Trang 6

TNHH hai thành viên trở lên nêu trên là nguồn tư liệu quý báu để tác giả tham khảo và kế thừa nhằm có được một bài viết chuyên sâu về một số nội dung cơ bản pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam Do đó,

việc tác giả chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm

đề tài nghiên cứu khoa học tốt nghiệp thạc sỹ của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền và nghĩa

vụ của các thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề chung mang tính lý luận về quyền và

nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên như lịch sử hình thành, khái niệm, đặc điểm, ưu điểm, nhược điểm của Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên ở dạng lý luận như khái niệm, nội dung của pháp luật

Thứ hai, nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ

của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Thứ ba, nêu các yêu cầu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định

pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Thực trạng các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá

một số nội dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, 2020

và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật khác có liên quan

Về thời gian: Trong khuôn khổ luận văn tập trung phân tích, đánh giá

một số nội dung cơ bản về Công ty TNHH hai thành viên trở lên từ năm 2016 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp nói chung và pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam hiện nay một cách toàn diện trong mối tương quan với thế giới và thực tiễn tại

Việt Nam Được triển khai thực hiện ở chương 3 của luận văn

Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ chi tiết, cụ thể hơn Sau khi phân tích thì tổng hợp lại

và khái quát để đưa tới sự nhận thức tổng hợp về pháp luật Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam hiện nay và giải pháp hoàn thiện Được triển khai thực hiện ở cả ba chương của luận văn

Trang 8

Phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch: Đề tài đi từ những vấn đề chung đến những vấn đề chi tiết, cụ thể hơn Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát để đưa tới sự nhận thức tổng thể về pháp luật Công ty

TNHH hai thành viên trở lên hiện nay và giải pháp hoàn thiện Được triển khai thực hiện ở cả ba chương của luận văn

Phương pháp so sánh: Đề tài đặt thực tiễn về vấn đề cần nghiên cứu trong mối liên hệ và so sánh với các quy định trong Luật Doanh nghiệp năm

2005, qua đó tìm ra những những ưu, nhược điểm của vấn đề và đề xuất

phương hướng hoàn thiện để giải quyết nội dung vấn đề cần nghiên cứu Được triển khai thực hiện ở cả ba chương của luận văn

Phương pháp nghiên cứu tình huống thực tế: Đề tài nghiên cứu các vụ án thực tế nhằm đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam,

từ đó rút ra những bài học thực tiễn trong thực hiện pháp luật về Công ty TNHH

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công

ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam Thông qua việc đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay trong thực tiễn, luận văn đã đánh giá những mặt tích cực, ưu điểm Đồng thời, cũng chỉ rõ những tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH

có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay Luận văn cũng

đã đề xuất các yêu cầu hoàn thiện pháp luật, một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên theo pháp luật Việt Nam hiện nay nhằm

Trang 9

giải quyết những bất cập của pháp luật về Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên nhìn từ một số vụ việc điển hình

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA

VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HƯU HẠN

CÓ TỪ HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

1.1 Khái quát về Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.1.2.1 Khái niệm Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Trước khi đưa ra khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì trước hết phải hiểu về khái niệm về công ty nói chung Ở góc độ kinh tế, công

ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh thương nghiệp dịch vụ, nhằm phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị kinh tế chuyên hoạt động sản xuất [23]

Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa công ty khác nhau Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật của các nước nói chung có một số điểm cơ bản chung thống nhất Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty [19]

Khái niệm về công ty của các nước như Pháp, Đức, Thái Lan và một số nước khác nhau đều chứa đựng yếu tố liên kết, mà muốn liên kết thì phải có nhiều người công ty sẽ không thỏa mãn yếu tố liên kết nếu chỉ có một chủ thể góp vốn để thành lập Chủ thể ở đây có thể hiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau Như nhà luật học Kubler Cộng hòa Liên bang Đức quan niệm rằng: “Khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lí nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được mục tiêu

Trang 11

chung nào đó” Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt đông chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó” [19]

Từ khái niệm về công ty qua quy định pháp luật doanh nghiệp nói chung có thể nhận thấy rằng loại hình Công ty TNHH hai thành viên đã được ghi nhận trong Luật Công ty năm 1990 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại công ty trung gian giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, nó vừa có những tính chất của công

ty đối nhân, là các thành viên quen biết nhau Hoặc có thể nói Công ty TNHH

là doanh nghiệp trong đó có số lượng thành viên hạn chế, các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào và công ty không được quyền phát hành cổ phần

Pháp luật doanh nghiệp qua các thời kỳ và hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014 không đưa ra khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên mà đưa ra các dấu hiệu nhận biết về loại hình doanh nghiệp này Theo khoản 1 Điều 26 Luật Doanh nghiệp năm 1999, Công ty TNHH hai thành

viên trở lên được nhận biết qua các dấu hiệu cơ bản: “…Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 32 của Luật Doanh nghiệp năm 1999; Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi…” [26] Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định

về các loại hình công ty: Công ty TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1, Điều 38): “…Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi;Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và

Trang 12

nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp và doanh nghiệp…” [28] Dựa theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì các yếu

tố cơ bản tạo nên khái niệm và cũng là những đặc điểm quan trọng nhất, đó là

về “loại hình”, “chủ sở hữu”, “chế độ trách nhiệm” [32]

Như vậy, có thể khái quát khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp do tổ chức hoặc cá nhân thành lập, không quá năm mươi thành viên và các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

1.1.2.2 Đặc điểm công ty TNHH hai thành viên trở lên

Từ khái niệm về Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể thấy loại hình công ty này có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, là một loại doanh nghiệp mà số lượng thành viên tối thiểu là

02 và tối đa không vượt quá 50 thành viên

Thành viên của công ty có thể là cá nhân hay tổ chức, nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài Chính sự giới hạn số lượng thành viên tối đa không vượt quá 50 mà loại hình công ty này mang tính chất gia đình và các thành viên thường có mối quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau Đặc điểm này của Công ty TNHH hai thành viên rất gần với bản chất của công ty đối nhân Mặt khác, vấn đề tổ chức quản lý của Công ty TNHH hai thành viên cũng dễ dàng hơn rất nhiều so với công ty cổ phần vì số lượng thành viên không quá đông

vì họ thường có mối quan hệ thân thiết nên dễ dàng tìm được tiếng nói chung khi xảy ra tranh chấp trong quá trình điều hành hoạt động của công ty [19]

Thứ hai, Công ty TNHH hai thành viên chỉ chịu trách nhiệm đối với

các nghĩa vụ tài chính và khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty Các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty trừ trường hợp các thành

Trang 13

viên chưa góp vốn hoặc góp không đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với số vốn đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty cho đến khi công ty đăng ký điều chỉnh đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên đó Như vậy, trong Công ty TNHH hai thành viên trở lên

có sự phân tách giữa tài sản công ty và tài sản riêng của thành viên công ty Mặc dù các thành viên cùng nhau góp vốn vào thành lập công ty nhưng số vốn góp này sẽ trở thành tài sản riêng của công ty, tài sản của công ty sẽ được tách bạch với tài sản của các thành viên công ty

Thứ ba, Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một pháp nhân vì nó

thỏa mãn tất cả các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về pháp nhân: Là

tổ chức có tên riêng, trụ sở giao dịch, có tài sản riêng từ vốn góp của các thành viên công ty và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản chính mình như được phân tích ở phần trên [33]

Thứ tư, Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được quyền phát

hành cổ phần Chỉ có công ty cổ phần mới được phép pháp hành cổ phần nhằm huy động vốn với số lượng lớn từ các nhà đầu tư khác nhau trên thị trường mà không bị ràng buộc về điều kiện mua cổ phần Quy định này hoàn toàn phù với bản chất của Công ty TNHH hai thành viên trở lên vì nó sẽ hạn chế sự gia nhập của thành viên khác vào công ty Tuy nhiên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền phát hành trái phiếu để huy động vốn khi thỏa mãn tất cả các quy định của pháp luật

Thứ năm, vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên

trong Công ty TNHH hai thành viên trở lên phải tuân thủ trình tự thủ tục chặt chẽ và bị hạn chế rất nhiều so với cổ đông của công ty cổ phần Các thành viên của công ty có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho chủ thể khác nhưng trước tiên họ phải bán phần vốn góp của mình cho công ty Nếu công ty không mua thì phải chào bán đến những

Trang 14

thành viên của công ty tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp Nếu thành viên khác không mua hoặc không mua hết thì mới có quyền chào bán cho các chủ thể không là thành viên của công ty Vấn đề tặng cho hay dùng phần vốn góp

để trả nợ cũng hạn chế và bị ràng buộc bởi những điều kiện chặt chẽ Quy định này nhằm hạn chế sự gia nhập trở thành thành viên công ty vì các thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên là những người có quan hệ thân thiết gắn bó tin tưởng lẫn nhau để cùng nhau góp vốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.1.3.1 Ưu điểm của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, pháp luật vẫn không có định nghĩa cụ thể về Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mà luật chỉ nêu ra các đặc điểm của loại hình công ty này Có người cho rằng:

đến 50 thành viên góp vốn và chịu TNHH về khoản vốn góp” [42], hay “đây là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình” Theo Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Công ty TNHH hai thành viên trở lên

có những đặc điểm cơ bản: số lượng thành viên bị khống chế không được vượt quá 50 thành viên (thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức); công ty là một pháp nhân; thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đóng góp; công ty chỉ có thể phát hành trái phiếu [32] Từ những đặc điểm này, Công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện rõ các ưu điểm như:

Thứ nhất, hạn chế rủi ro về mặt tài chính cho các thành viên

Trang 15

Tính chịu TNHH xuất hiện từ lâu đời trong lệ của người buôn bán và lệ dần được ghi nhận thành luật TNHH thường được hiểu đó là nghĩa vụ của cổ đông hay của thành viên sẽ phải trả các khoản nợ của công ty, được giới hạn chỉ trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty TNHH còn được hiểu

là: “tính có giới hạn về khả năng trả nợ của các doanh nghiệp” Giới kinh doanh khá ưa thích về chế độ TNHH, bởi đây là bảo đảm an toàn các rủi ro tài chính cho họ Tên gọi của công ty này thể hiện rất rõ điều đó khi cụm từ

“TNHH” vốn là đặc trưng rất cơ bản của loại hình công ty đối vốn

Thứ hai, về sự đồng thuận của các thành viên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên còn mang các đặc trưng của hình

thức công ty đối nhân Điều đó biểu hiện qua số lượng thành viên của công ty này khá ít Hay việc chuyển nhượng phần vốn của thành viên bị hạn chế và giữa các thành viên thường có mối quan hệ thân thiết… Thông thường, giữa các thành viên của công ty đã có mối quan hệ gần gũi, tin cậy

Thứ ba, việc quản lý điều hành công ty khá đơn giản, hiệu quả

Do số lượng thành viên khá ít nên Công ty TNHH hai thành viên trở lên có cơ cấu tổ chức, quản lý điều hành khá đơn giản Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban Kiểm soát (chỉ trong một số trường hợp)

Do cơ cấu tổ chức tương đối gọn nhẹ nên việc quản lý điều hành của Công ty TNHH hai thành viên trở lên khá đơn giản, nhanh chóng, hiệu quả “Công ty

TNHH hai thành viên được nhiều người ưa thích vì nó có nhiều quy định rất hay, khác với công ty vô danh (công ty cổ phần), Công ty TNHH hai thành viên có bộ máy điều hành nhẹ nhàng hơn” [23]

Thứ tư, là loại hình công ty lý tưởng để kinh doanh trong phạm vi nhỏ

hoặc vừa

Trang 16

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại công ty trung gian và tiếp thu những ưu điểm của cả hai hình thức công ty đối vốn và công ty đối nhân Công ty TNHH hai thành viên trở lên có nhiều ưu điểm khi đã khắc phục được sự phức tạp khi thành lập và việc quản lý phân tán của công ty cổ phần cũng như nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty hợp danh Nếu

so với công ty cổ phần thì Công ty TNHH hai thành viên trở lên có bộ máy quản lý điều hành đơn giản, gọn nhẹ Còn so với công ty hợp danh thì thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên không phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của công ty Có thể thấy rằng, Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình công ty có quy mô tổ chức tương đối nhỏ hoặc vừa và lại có sự bảo đảm an toàn cao về mặt tài sản cho các thành viên Mô hình Công ty TNHH hai thành viên trở lên khá thích hợp với các thương nhân có tư tưởng kinh doanh chỉ với quy mô nhỏ hoặc vừa và thường đòi hỏi sự tin tưởng, quen biết giữa các thành viên [23]

1.1.3.2 Nhược điểm của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Bên cạnh những ưu điểm trên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên còn tồn tại khá nhiều hạn chế

Thứ nhất, tính an toàn về mặt pháp lý khá thấp do các thành viên được

hưởng cơ chế chịu TNHH về mặt tài sản

Khi đó, tính chịu TNHH đã trở thành bức tường che chắn cho các thành

các công ty này chỉ là tấm bình phong để một số thương nhân sử dụng để hạn chế rủi ro Vì thế, các chủ ngân hàng và cả người dân, khi thỏa thuận cho Công ty TNHH vay mượn thường đòi hỏi sự bảo lãnh của thành viên chính của công ty” [23] Chính vì Công ty TNHH hai thành viên trở lên không có được sự đảm bảo pháp lý cao nên công ty khó có thể tìm được các nguồn vốn

Trang 17

lớn vay từ các ngân hàng Hạn chế này khiến Công ty TNHH hai thành viên trở lên luôn chứa đựng nhiều rủi ro cho khách hàng

Thứ hai, quy mô thành viên của công ty luôn bị giới hạn

Ở nhiều quốc gia, đối với Công ty TNHH, pháp luật thường giới hạn số lượng thành viên: “số thành viên tối đa của Công ty TNHH ở Cộng hòa Liên bang Nga là không quá 50 người; ở Cộng hòa Nam Phi là không quá 30 người; ở Mỹ quy định tùy theo tiểu bang” Tại Việt Nam, Công ty TNHH một thành viên chỉ có duy nhất 01 thành viên; Công ty TNHH hai thành viên trở lên có ít nhất 02 thành viên và tối đa không được vượt quá 50 thành viên [11]

Có nhận xét cho rằng “đặt ra một số tuyệt đối (trong trường hợp này là 50) để giới hạn mức tối đa số thành viên của công ty không có sức thuyết phục về mặt lý thuyết” Bởi lẽ, “cùng với quá trình phát triển, quy mô kinh doanh của công ty được mở rộng và đa dạng thêm, do đó nhu cầu về vốn cũng tăng theo

Vì thế, mô hình Công ty TNHH có thể trở nên không còn phù hợp cho sự phát triển tiếp theo của công ty” Bởi vậy, Công ty TNHH hai thành viên trở lên khó có khả năng phát triển với quy mô lớn

Thứ ba, việc chuyển nhượng phần vốn góp và cơ chế thay đổi thành

Thứ tư, khó khăn trong việc huy động vốn

Trang 18

Pháp luật quy định Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu khi đáp ứng các điều kiện của luật định Tuy nhiên, ngay cả khi công ty được phép huy động vốn bằng phương pháp phát hành trái phiếu thì cũng phải thỏa mãn các quy định không mấy dễ dàng của pháp luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn phát hành chứng khoán Mặt khác, do số lượng thành viên của công ty bị giới hạn, nên khả năng huy động vốn của công ty luôn gặp nhiều khó khăn trên thực tế

1.1.3 Mô hình tổ chức, quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Công ty TNHH hai thành viên là loại hình công ty sớm được pháp luật Việt Nam ghi nhận ngay khi Luật Công ty năm 1990 ra đời Kể từ khi xuất hiện cho đến nay loại hình công ty này luôn là loại hình công ty phổ biến và được nhiều nhà đầu tư kinh doanh lựa chọn khi đăng ký thành lập doanh nghiệp Theo đó, năm 2015 có tổng số 94.754 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn điều lệ là 601.519 tỷ đồng Trong đó có 25.060 doanh nghiệp

đăng ký thành lập Công ty TNHH hai thành viên đứng thứ 2 về số lượng doanh nghiệp sau công ty TNHH một thành viên, chiếm 26.4 % trong tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập Trong đó, có 27.685 doanh nghiệp đăng ký thành lập Công ty TNHH hai thành viên, đứng thứ 2 về số lượng doanh nghiệp sau công ty TNHH một thành viên, chiếm 25,1 % trong tổng số doanh

nghiệp đăng ký thành lập, tăng 10,4 % so với năm 2015 Ngoài ra, chỉ trong 7 tháng đầu năm 2017, cả nước có thêm 72.953 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 690.738 tỷ đồng, tăng 13,8% về số doanh nghiệp và tăng 39,0%

về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016 Trong đó, 17323 doanh nghiệp đăng ký thành lập Công ty TNHH hai thành viên, tiếp tục đứng thứ 2 về số lượng doanh nghiệp sau công ty TNHH một thành viên, chiếm 23.7% trong tổng

số doanh nghiệp đăng ký thành lập, tăng 5,7 % so với cùng kỳ năm ngoái [21]

Trang 19

Khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty TNHH hai thành viên trước tiên chúng ta phải tìm hiểu các quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức của công ty để thấy được khung bộ máy vận hành công ty Theo

đó, cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm: HĐTV, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc, BKS Công ty TNHH có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập BKS; trường hợp có ít hơn 11 thafnh viên, có thể thành lập BKS phù hợp với yêu cầu quản trị công ty Như vậy, theo quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì mô hình tổ chức quản lý Công ty TNHH hai thành viên trở lên có hai loại [21]:

Thứ nhất, mô hình tổ chức quản lý có BKS

Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở mô hình này bao gồm: HĐTV, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc, BKS Sự tồn tại của BKS trong cơ cấu tổ chức công ty là quy định bắt buộc xuất phát từ ý chí nhà làm luật nếu công ty có từ 11 thành viên trở lên Xuất phát từ việc các thành viên công ty đông thì tổ chức quản lý sẽ phức tạp hơn, để đảm bảo lợi ích của các thành viên công ty nói riêng cũng như công ty nói chung thì sự tồn tại của BKS sẽ tạo ra cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty Nếu công ty

có dưới 11 thành viên thì công ty cũng hoàn toàn có quyền thành lập BKS Tuy nhiên, sự tồn tại của BKS trong cơ cấu tổ chức bộ máy công ty trong trường hợp này xuất phát từ ý chí của chủ sở hữu đó chính là các thành viên của công ty Các Công ty TNHH hai thành viên trở lên có quy mô nhỏ dưới

11 thành viên nhưng một hoặc một số thành viên nào đó chiếm phần vốn góp rất lớn vào công ty các thành viên còn lại sẽ là thành viên thiểu số thì tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty đặc biệt là vị trí quản lý lãnh đạo sẽ bị các chi phối bởi các thành viên có phần vốn góp lớn Sự tồn tại của BKS trong trường hợp này rất có ý nghĩa góp phần bảo vệ được quyền lợi của các thành viên thiểu số thông qua việc kiểm tra hoạt động điều hành sản xuất kinh

Trang 20

doanh của các bộ phận, chức danh quản lý trong công ty Sự tồn tại của BKS trong công ty cũng góp phần bảo vệ lợi ích của tất cả các thành viên trong công ty đặc biệt là trường hợp công ty thuê Giám đốc [23]

Thứ hai, mô hình tổ chức quản lý không có BKS

Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở mô hình này chỉ baogồm: HĐTV, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc Mô hình hình này chỉ được áp dụng đối với những Công ty TNHH hai thành viên có quy mô nhỏ dưới 11 thành viên và bản thân các thành viên công ty không muốn sự tồn tại của BKS trong cơ cấu tổ chức bộ máy công ty Điều này đồng nghĩa với việc không có một cơ quan chuyên trách để giám sát điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của Giám đốc Mô hình này thường áp dụng với những Công ty TNHH hai thành viên trở lên có quy mô nhỏ, các thành viên công ty thường có mối quan hệ họ hàng quen biết lẫn nhau - công ty gia đình, sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên là rất lớn

Như vậy, cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH hai thành viên theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 được kế thừa hoàn toàn từ các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 Pháp luật Việt Nam quy định khá rõ ràng về mô hình tổ chức quản lý Công ty TNHH hai thành viên trở lên, dù ở mô hình tổ chức quản lý có BKS hay không có BKS thì cơ chế vận hành của bộ máy công ty đều dựa trên sự kết hợp giữa thành viên quản lý thông qua hoạt động của HĐHTV và việc quản lý hàng ngày của Giám đốc Hầu hết các vấn đề đều được thông qua và biểu quyết tại HĐTV, còn vai trò của người quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty là Giám đốc chưa được

đề cao Mô hình tổ chức quản lý Công ty TNHH hai thành viên ở nước ta khá tương đồng so với pháp luật của Đức và Nhật Bản Cụ thể, ở Đức có hai mô hình tổ chức quản lý công ty là mô hình hai cấp quản lý và mô hình ba cấp quản lý

Trang 21

Khác với pháp luật Việt Nam thì mô hình tổ chức quản lý Công ty TNHH hai thành viên ở Hoa Kỳ rất linh hoạt bao gồm hai mô hình: Mô hình thành viên quản lý và mô hình quản lý bởi một hay nhiều Giám đốc (Ban giám đốc) Ở cả hai mô hình đều không có sự tồn tại của BKS trong cơ cấu tổ chức công ty Pháp luật cho phép công ty có quyền lựa chọn một trong hai mô hình, nếu các thành viên công ty có đủ năng lực quản lý công ty thì lựa chọn

mô hình thành viên quản lý, lúc này tất cả các thành viên đều tham gia quá trình quản lý công ty Còn nếu các thành viên công ty không có khả năng quản lý thì họ sẽ lựa mô hình quản lý bởi một hay nhiều Giám đốc, lúc này các thành viên công ty sẽ không tham gia vào quản lý công ty mà trao quyền quản lý công ty cho Giám đốc hoặc Ban giám đốc và họ chỉ thực hiện chức năng giám sát [2]

Với mô hình tổ chức quản lý và cơ chế vận hành bộ máy Công ty TNHH hai thành viên ở nước ta hiện nay thì trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật gặp không ít khó khăn vướng mắc Trên thực tế nhiều thành viên công ty chỉ góp vốn và không có khả năng quản lý trong khi đó các vấn

đề được đưa ra HĐTV với bản chất là lấy ý kiến đa số, do hạn chế về trình độ nhận thức nên việc thống nhất ý kiến là không đơn giản, quá trình lãnh đạo điều hành công ty sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó, không phải công ty nào cũng hoạt động hiệu quả với mô hình như hiện nay đề cao vai trò của các thành viên công ty

1.2 Khái quát về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.2.1.1 Khái niệm

Trang 22

Dấu hiệu đặc trưng thứ nhất của quyền là phải có sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; thứ hai là

hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định Theo đó, quyền của cá nhân được phát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Đối với cá nhân, các quyền cơ bản phát sinh khi cá nhân sinh ra và

có những quyền cụ thể khác phát sinh và ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định Quyền phải gắn với phạm vi quyền, nghĩa vụ và năng lực của

cá nhân và phải chịu tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật hay vùng lãnh thổ nhất định Quyền của cá nhân chỉ bị tước bỏ bởi pháp luật, chấm dứt

khi người đó chết

Nghĩa vụ là việc phải làm theo bổn phận của mình, Bộ luật dân sự 2015

có quy định nghĩa vụ là việc mà một hoặc nhiều chủ thể phải tiến hành như:

công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác [32]

Theo đó, nghĩa vụ có thể được phát sinh từ các căn cứ sau đây: Hợp đồng; Hành vi pháp lý đơn phương; Thực hiện công việc không có ủy quyền; Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật Bên cạnh đó, đối tượng của nghĩa

vụ có thể là: Tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện

Thành viên công ty là người góp vốn vào công ty hoặc có quyền sở hữu đối với một phần vốn góp vào công ty thông qua các sự kiện pháp lý khác như nhận chuyển nhượng, đươc thừa kế, tặng cho, Như vậy thành viên công ty chính là chủ sở hữu của công ty Khái niệm về thành viên công ty được pháp luật quy định cụ thể tại Khoản 29 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020:

Trang 23

“Thành viên công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty TNHH hoặc công ty hợp danh.” [30]

Tư cách thành viên có thể được hình thành dựa trên các sự kiện pháp lý khác nhau Theo pháp luật hiện hành, các sự kiện pháp lý xác lập nên tư cách thành viên của công ty bao gồm:

- Góp vốn: Góp vốn là sự kiện pháp lý phổ biến nhất để hình thành nên

tư cách thành viên công ty Khoản 18, Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều

lệ của doanh nghiệp đã được thành lập” [30] Tài sản góp vốn có thể tiền là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty

- Nhận chuyển nhượng phần vốn góp: Khi thành viên công ty có nhu cầu chuyển nhượng vốn góp, tổ chức , cá nhân có nhu cầu có thể dùng tài sản của mình để mua lại một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của thành viên đó Điều kiện chuyển nhượng phần vốn góp của mỗi công ty là khác nhau

- Thừa kế, tặng, cho phần vốn góp: Thành viên công ty có quyền tặng, cho hoặc để lại phần vốn góp của mình cho người khác Tuy nhiên, người hưởng thừa kế hoặc nhận tặng cho phần vốn góp có thể trở thành thành viên công ty hay không còn tùy thuộc vào quan hệ huyết thống và điều lệ công ty quy định

1.2.1.2 Đặc điểm

Quyền và nghĩa vụ của thành viên chấm dứt khi tư cách thành viên chấm dứt Tư cách thành viên công ty sẽ mất đi theo một trong các sự kiện pháp lý sau: Thành viên chết, bị tuyên bố là đã chết; Thành viên chuyển

Trang 24

nhượng toàn bộ hoặc tặng cho toàn bộ phần vốn góp; Thành viên bị khai trừ; Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định

Trường hợp chấm dứt tư cách thành viên của thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì phần vốn góp của thành viên đó được hoàn trả công bằng và thỏa đáng Bên cạnh đó, pháp luật doanh nghiệo cũng quy định, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh theo trường hợp thành viên tự nguyện rút vốn khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên Sau khi chấm dứt tư cách thành viên, nếu tên của thành viên bị chấm dứt đã được sử dụng làm thành một phần hoặc toàn bộ tên công ty thì người đó hoặc người thừa kế, người đại diện theo pháp luật của họ có quyền yêu cầu công ty chấm dứt việc sử dụng tên đó

1.2.2 Nội dung quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Mỗi thành viên trong Công ty TNHH (2 thành viên trở lên) phải xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mình Dưới đây là phần liệt kê những quyền và nghĩa vụ của thành viên trong Công ty TNHH được quy định tại Điều 49 và Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2020

Quyền của thành viên

Thành viên trong một Công ty TNHH được hưởng những quyền sau: Tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn

đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên; Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 47 của Luật Doanh nghiệp năm 2020; Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; Được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương

Trang 25

ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản; Được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ; Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; Tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và cán bộ quản

lý khác theo quy định tại Điều 72 của Luật Doanh nghiệp năm 2020; Trừ trường hợp quy định tại khoản 9 Điều này, thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định còn có thêm các quyền sau đây: Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền; Kiểm tra, xem xét, tra cứu sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm; Kiểm tra, xem xét, tra cứu và sao chụp sổ đăng ký thành viên, biên bản họp và nghị quyết của Hội đồng thành viên và các hồ sơ khác của công ty; Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty; Trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ và Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại khoản 8 Điều này thì nhóm thành viên còn lại đương nhiên có quyền theo quy định tại khoản 8 Điều này; Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty [30]

Nghĩa vụ của thành viên

Nghĩa vụ của mỗi thành viên trong một Công ty TNHH bao gồm: Góp

đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, trừ

Trang 26

trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 47 của Luật này; Không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các Điều 51, 52, 53 và 67 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 [30]; Tuân thủ Điều lệ công ty; Chấp hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên; Chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để thực hiện các hành vi sau đây: Vi phạm pháp luật; Tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác; Thanh toán khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty; Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này

1.3 Quy định liên quan quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành

1.3.1 Về tổ chức của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Cơ cấu tổ chức Công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổng hợp các

bộ phận, các đơn vị và cá nhân khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp khá phổ biến hiện nay Để điều hành công ty

có hiệu quả phải nắm rõ về cơ cấu tổ chức quản lý công ty

Cơ cấu, tổ chức Công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm: Hội đồng thành viên; Chủ tịch Hội đồng thành viên; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Công ty TNHH có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát

Trường hợp có ít hơn 11 thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị của công ty

Hội đồng thành viên là cơ quan cao nhất, bao gồm tất cả các thành viên của công ty Là cơ quan không hoạt động thường xuyên và chỉ tồn tại trong thời gian họp Mỗi năm ít nhất họp một lần, số lần họp định kỳ do Điều lệ công ty quy định

Trang 27

1.3.2 Về quyền và trách nhiệm của thành viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.3.2.1 Quy định chung

Mỗi loại công có bản chất pháp lý khác nhau nên quyền và nghĩa vụ cua thành viên cũng khác nhau Song về nguyên tắc chung, thành viên của công ty đều có những quyền và nghĩa vụ sau:

Quyền của thành viên công ty:

Nhóm quyền về tài sản: Quyền sở hữu đối với công ty phụ thuộc vào mức độ góp vốn; Quyền được chia lợi nhuận Việc chia lợi nhuận phải tuân theo pháp luật và điều lệ công ty; Quyền được chia giá trị tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản

Nhóm quyền về quản lý: Tham gia quản lý công ty thông qua các hoạt

động: sự họp, hội thảo, kiến nghị và biểu quyết các vấn đề kinh doanh của công ty trừ thành viên góp vốn trong công ty hợp danh

Nhóm quyền định đoạt phần vốn góp: Quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp, tặng cho hoặc để lại thừa kế phần vốn góp Quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp

Nghĩa vụ của thành viên công ty:

Tùy thuộc loại thành viên công ty mà trách nhiệm này là vô hạn hay hữu

hạn; Chỉ được rút vốn theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty; Tuân thủ điều lệ công ty; Chấp hành quyết định của công ty; Chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để thực hiện hành vi tổn hại đến lợi ích của công ty

1.3.2.2 Hội đồng thành viên, chủ tịch và thành viên của hội đồng

a) Hội đồng thành viên

Trong cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì HĐTV là cơ quan cao nhất của công ty, quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng của công ty Theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 Luật Doanh nghiệp

Trang 28

năm 2020 thì nhiệm vụ quyền hạn của HĐTV được thể hiện ở những phương diện sau:

Thứ nhất, quyền quyết định cơ cấu tổ chức công ty, vị trí chức danh

quản lý trong công ty

Như phân tích ở trên trong trường hợp số lượng thành viên công ty dưới 11 thành viên thì nhà làm luật cho phép công ty có quyền định đoạt có BKS hay không trong cơ cấu tổ chức bộ máy của mình Quyết định việc thành lập công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty HĐTV sẽ quyết

định cơ cấu tổ chức công ty thông qua ý chí các thành viên công ty Ngoài ra, HĐTV có thẩm quyền quyết định các chức danh quản lý trong công ty như:

Như vậy, các chức danh quản lý quan trọng trong ảnh hưởng lớn đến tổ chức hoạt động của công ty thì bắt buộc phải do HĐTV quyết định Ngoài các

chức danh quản lý nêu trên thì những người quản lý khác trong công ty sẽ thuộc thẩm quyền quyết định của HĐTV nếu điều lệ công quy định Trong trường hợp điều lệ không quy định thì sẽ thuộc thẩm quyền của Giám đốc

Thứ hai, quyền hoạch định chiếm lược phát triển và kế hoạch kinh

doanh hàng năm của công ty

HĐTV đưa ra quyết định quản lý ở tầm vĩ mô đó là hoạch định chiến lược phát triển kinh tế của công ty, nhằm tạo ra định hướng phát triển cho cho công Để làm được điều đó thì HĐTV phải quyết định kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty nhằm phù hợp với chiến lược phát triển của công ty

Thứ ba, quyền đưa ra quyết định tài chính quan trọng của công ty

HĐTV đưa ra quyết định tài chính ở tầm vĩ mô đó là thông qua báo cáo tài chính hằng năm, phương án sử dụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương

án xử lý lỗ của công ty trên cơ sở để xuất của Giám đốc Ngoài ra, HĐTV còn quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác đối với Chủ tịch HĐTV, Giám đốc, Kế toán trưởng công ty Ngoài các chức danh quản lý nêu trên thì những

Trang 29

mức lương, thưởng của những người quản lý khác trong công ty sẽ thuộc thẩm quyền quyết định của HĐTV nếu điều lệ công quy định Trong trường hợp điều lệ không quy định thì sẽ thuộc thẩm quyền của Giám đốc

Thứ tư, quyền liên quan đến quyết định kinh doanh quan trọng của

HĐTV phải ra quyết định còn những hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản nhỏ hơn thì HĐTV có thẩm quyền quyết định khi điều lệ công ty quy định Trong trường hợp điều lệ không quy định thì sẽ thuộc thẩm quyền của Giám đốc

Thứ năm, quyền liên quan đến số phận pháp lý của công ty

Nếu như Công ty TNHH hai thành viên trở lên được hình thành do ý chí của chủ sở hữu là các thành viên công ty thì HĐTV có quyền quyết định giải thể công ty, chấm dứt sự tồn tại của công ty trên thị trường nếu thỏa mãn các quy định của pháp luật Trong trường hợp nhận thấy công ty đang rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán thì HĐTV là một trong những thực thể có quyền yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản Ngoài ra, chỉ có HĐTV mới có quyền quyết định việc tổ chức lại công ty Tổ chức lại doanh nghiệp là tái cấu trúc lại doanh nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi doanh nghiệp) sao cho phù hợp hơn với mục tiêu doanh nghiệp hướng tới Dẫn đến làm thay đổi quy mô kinh doanh, hoặc thay đổi hình thức pháp lý doanh nghiệp nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh và để phát huy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, phù hợp với xu

Trang 30

thế phát triển chung của xã hội Bên cạnh đó thì HĐTV còn có quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của DN 2014 và Điều lệ công ty

b) Chủ tịch Hội đồng thành viên

Như đã phân tích ở trên HĐTV bao gồm tất cả các thành viên công ty,

là cơ quan cao nhất, quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng mà trọng tâm

là tổ chức quản lý công ty Tuy nhiên, HĐTV là cơ quan hoạt động không thường xuyên, theo cơ chế tập thể và quyết định theo đa số Vì vậy, để có thể điều hành hoạt động thì các thành viên công ty đã trao quyền cho một trong số các thành viên công ty đứng ra đại diện cho tập thể đó là chủ tịch HĐTV

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Doanh nghiệp năm 2020 “Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty” [30] Như vậy, Chủ tịch HĐTV bắt buộc phải là thành viên công ty, pháp luật không quy định thành viên này phải nắm giữ tối thiểu tỷ lệ phần vốn góp là bao nhiêu Tuy nhiên, trên thực tế thường những thành viên có tỷ lệ phần vốn góp lớn sẽ giữ chức vụ Chủ tịch HĐTV bởi các chức danh quản lý bị chi phối rất nhiều bởi cơ cấu vốn của các thành viên trong công ty Khi góp vốn để trở thành thành viên công ty điều đó đồng nghĩa với việc họ đã tham gia vào quá trình quản lý công

ty thông qua hoạt động của HĐTV Tuy nhiên, sự tham gia này chỉ trong giới hạn nhất định và cuộc chạy đua để dành quyền kiểm soát công ty thông qua các chức danh quản lý đặc biệt là vị trí Chủ tịch HĐTV trở nên rất quyết liệt

Với tư cách là người đứng đầu HĐTV thì Chủ tịch HĐTV sẽ điều hành hoạt động của cơ quan này, thực hiện các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật và điều lệ công ty quy định bao gồm: Chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của HĐTV; Một trong những quyền năng quan trọng của Chủ tịch HĐTV đó

là có thẩm quyền triệu tập cuộc họp HĐTV bất thường khi thấy cần thiết Ngoài ra Chủ tịch HĐTV có nghĩa vụ triệu tập họp HĐTV theo yêu cầu của

Trang 31

thành viên hoặc nhóm thành viên có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

và điều lệ công ty Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp HĐTV hoặc

để lấy ý kiến các thành viên Triệu tập và chủ trì cuộc họp HĐTV hoặc tổ chức việc lấy ý kiến các thành viên Tất cả những vấn đề này đã được phân tích trong phần HĐTV; Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐTV; Thay mặt HĐTV ký các nghị quyết của HĐTV; Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

Pháp luật cho phép công ty quyết định Chủ tịch HĐTV được kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc Nhiệm kỳ của Chủ tịch HĐTV không quá 05 năm

Chủ tịch HĐTV có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế

Luật Doanh nghiệp năm 2020 đưa ra quy định trong trường hợp Chủ tịch HĐTV không đủ năng lực để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

có thể ủy quyền bằng văn bản cho một thành viên khác hoặc nếu không ủy

Chủ tịch HĐTV.Tuy nhiên, pháp luật không quy định cụ thể vắng mặt bao lâu mới cần ủy quyền cho người khác, cũng như không quy định thế nào được coi

là không đủ năng lực để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch HĐTV Vấn đề này hoàn toàn do điều lệ công ty quy định

c) Thành viên của Hội đồng thành viên

HĐTV trong Công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm tất cả các thành viên công ty Các thành viên này có thể là cá nhân hay tổ chức, nhà đầu

tư trong nước hay nước ngoài Nhiệm vụ quyền hạn của HĐTV được thực hiện thông qua các thành viên công ty Hay nói cách khác, các thành viên công ty thực hiện quyền tổ chức quản lý công ty qua việc họ được tham gia và

có tỷ lệ biểu quyết tương ứng với phần với góp của mình tại HĐTV Quyền năng của thành viên công ty trong HĐTV không phụ thuộc vào việc thành viên đó là cá nhân hay tổ chức mà chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ phần vốn góp Tuy

Trang 32

nhiên, cách thức thực hiện quyền năng đó của thành viên cá nhân và tổ chức

là khác nhau, đặc biệt đối với thành viên là Nhà nước

- Đối với thành viên là cá nhân

Đối với thành viên công ty là cá nhân thì sẽ tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có quy định mới về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các thành viên công ty là cá nhân Tại khoản 3 Điều 54 quy định trường hợp

cá nhân là thành viên công ty TNHH bị tạm giam, bị kết án tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của Bộ luật hình sự, thành viên đó ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành viên công ty Đây là một điểm hoàn toàn mới so với những quy trước đó về quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty là cá nhân Nếu như trước đây khi một thành viên công ty thuộc vào trường hợp bị tạm giam, bị kết án tù hoặc bị tòa án tước quyền hành nghề theo quy định thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó bị bỏ trống và không có người thay thế Do đó, quyền lợi của họ sẽ không được bảo vệ vì không có người đại diện thay thế để thực hiện quyền quản lý công ty tại HĐTV Trong khi đó họ vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp, thậm chí là dẫn đến mất trắng tài sản khi công ty phá sản trong thời gian mà họ không thực hiện được các quyền của mình tại công ty

Điểm cần lưu ý là không phải cá nhân nào cũng có góp vốn thành lập Công ty TNHH hai thành viên hoặc mua phần vốn góp

Các cá nhân được liệt kê ở trên là các đối tượng không được quyền

Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì một số cá nhân kể trên không những bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp mà còn bị cấm không được quyền góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công

Trang 33

chức Theo khoản 3 Điều 14 Luật viên chức năm 2010 thì viên chức có quyền

“Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và

tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác” Tuy nhiên, tại Khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm

2020 thì: Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản

lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty [30]

Từ những phân tích trên thì cán bộ, công chức, viên chức có thể tham gia góp vốn ở từng loại hình doanh nghiệp Đối với Công ty TNHH hai thành viên thì cán bộ, công chức, viên chức không thể tham gia góp vốn ở loại hình doanh nghiệp này vì khi tham gia đồng nghĩa với việc có tư cách thành viên

mà có tư cách thành viên là có vai trò quản lý trong công ty

Ngoài ra, đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên kinh doanh trong những lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì thành viên công

ty còn phải thỏa mãn những điều kiện nhất định được quy định ở các luật chuyên ngành Theo quy định tại Khoản 3 Điều 34 Luật Luật sư năm 2006, công ty luật TNHHHTV trở lên phải do ít nhất hai luật sư thành lập Như vậy, đối với công ty Luật TNHH hai thành viên trở lên thì trong quá trình thành lập

và hoạt động phải có tối thiểu hai luật sư vì đây là ngành nghề kinh doanh cần phải có chứng chỉ hành nghề Ngoài ra, muốn thành lập công ty những luật sư này buộc phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm hoạt động nghề nghiệp

Đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên để có đủ điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán thì phải có ít nhất năm kiểm toán viên

Trang 34

hành nghề, trong đó tối thiểu phải có hai thành viên góp vốn (Điều 21 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011) Như vậy, trong Công ty TNHH hai thành viên trở lên mà muốn kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán thì phải có ít nhất hai thành viên công ty có chứng chỉ kiểm toán viên

Ngoài ra, Công ty TNHH hai thành viên trở lên muốn được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực thẩm định giá thì phải có

ít nhất 03 thẩm định viên về giá đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp, trong đó tối thiểu phải có 02 thành viên góp vốn (Điều 39 Luật Giá năm 2012)…

- Đối với thành viên là tổ chức

Khác với thành viên cá nhân thì thành viên là tổ chức không thể trực tiếp thực hiện quyền chủ sở hữu mà phải thực hiện thông qua người đại diện theo ủy quyền Theo quy định tại Điều 15 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì người đại diện theo ủy quyền phải là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh thành viên đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Trường hợp thành viên công ty không xác định phần vốn góp tương ứng cho mỗi người đại diện theo ủy quyền thì phần vốn góp sẽ được chia đều cho số lượng người đại diện theo ủy quyền Ngoài ra trong khi ủy quyền thì chủ

sở hữu cần phải chú ý điều kiện của người đại diện theo ủy quyền như: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp và số quy định mà điều lệ quy định

Người đại diện theo ủy quyền sẽ thay chủ sở hữu thực hiện quản lý công

ty thông qua hoạt động của HĐTV Họ có trách nhiệm tham dự đầy đủ cuộc họp của HĐTV Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ủy quyền một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất, bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu trong phạm vi được ủy quyền Người đại diện theo ủy quyền chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu quyền do vi phạm các nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền trong quá trình thực hiện việc ủy quyền Chủ sở hữu chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với

Trang 35

trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện theo ủy quyền

Đối với thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổ chức do nhà nước góp vốn thì mối quan hệ lại trở nên rất phức tạp hơn rất nhiều Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản góp vốn, tuy nhiên nh nước không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu mà thông qua Đại diện chủ sở hữu nhà nước Nhưng chủ thể này lại không thể tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước mà thường lại cử người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty để thực hiện (Luật Doanh nghiệp năm 2014 gọi là người đại diện theo ủy quyền)

1.3.2.3 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

HĐTV là cơ quan cao nhất bao gồm tất cả các thành viên công ty - chủ sở hữu công ty, được ví như cơ quan lập pháp ban hành các nghị quyết mang tính chiến lược, các quyết định quan trọng của công ty Tuy nhiên, cơ quan này là cơ quan hoạt động không thường xuyên Do đó, các thành viên công ty đã trao một phần quyền của mình cho một chủ thể khác là Giám đốc công ty để thay mình thực hiện hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của công ty nhằm thực thi các nghị quyết của HĐTV Chế định giám đốc là chế định quan trọng trong cơ cấu tổ chức của công ty thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty

- Về nhiệm vụ quyền hạn của Giám đốc

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2020 Giám đốc có các quyền và nghĩa vụ sau: Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng thành viên; Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty; Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty; Ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi

Trang 36

nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên; Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên; Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức công ty; Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Hội đồng thành viên; Kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc

xử lý lỗ trong kinh doanh; Tuyển dụng lao động; Quyền và nghĩa vụ khác được quy định tại Điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà Giám đốc hoặc Tổng giám đốc ký với công ty theo nghị quyết của Hội đồng thành viên

- Điều kiện tiêu chuẩn của Giám đốc

Với vai trò là người điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty Giám đốc có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của công

ty, các nghị quyết của HĐTV có thực hiện được hay không là phụ thuộc vào

sự năng động sáng tạo của người đứng đầu doanh nghiệp Do đó, pháp luật đưa ra một số tiêu chuẩn nhất định dành cho cá nhân giữ chức vụ Giám đốc Công ty TNHH hai thành viên trở lên được quy định trong Luật Doanh nghiệp

và trong một số luật chuyên ngành

Thứ nhất, cá nhân đó phải có đủ năng lực hành vi dân sự và không

thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật Doanh nghiệp năm 2020

Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định một số đối tượng không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp nói chung và Công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng Giống như các thành viên là

cá nhân của Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì Giám đốc là người giữ chức vụ quản lý trong công ty Do đó, cá nhân giữ chức vụ này phải không được rơi vào các trường hợp cấm tham gia quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, đặc biệt là Luật Cán bộ, công chức và

Trang 37

Luật Viên chức Điều kiện cụ thể như thế nào đã được phân tích phần thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Thứ hai, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của công ty, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác

Theo quy định của DN năm 2005 thì Giám đốc công ty có thể là thành viên công ty nếu là cá nhân sở hữu ít nhất 10% vốn điều lệ của công ty Quy định này đã tạo ra rào cản pháp lý hạn chế khả năng ứng cử và tham gia hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của thành viên sở hữu dưới 10 % vốn

điều lệ, mặc dù họ có năng lực, trình độ chuyên môn trong quản trị doanh nghiệp Thực tế hoạt động của Công ty TNHH hai thành viên trở lên có những thành viên đủ điều kiện năng lực để quản lý điều hành công ty nhưng công ty lại phải thu người khác do không thuộc đối tượng được quản lý công ty Với quy định mới này của Luật Doanh nghiệp năm 2014, Công ty TNHH hai thành viên trở lên sẽ có thể dễ dàng lựa chọn những người vừa là thành viên công ty vừa có đầy đủ kinh nghiệm và năng lực quản lý công ty thay vì phải thu người ngoài công ty Việc sử dụng thành viên của công ty không phụ thuộc vào sở hữu tối thiểu 10% vốn điều lệ như trước đây cũng góp phần nâng cao trách nhiệm của người quản lý công ty bởi các thành viên công ty sẽ

có động lực để đưa công ty phát triển hơn là thuê cá nhân bên ngoài

Như vậy, Giám đốc công ty có thể là thành viên công ty hoặc không phải thành viên công ty miễn là cá nhân đó phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã cởi bỏ rào cản pháp lý cho thành viên công ty là cá nhân sở hữu dưới 10% vốn điều

lệ công ty có cơ hội tham gia hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh nếu họ

có đủ trình độ năng lực

Thứ ba, tiêu chuẩn áp dụng riêng cho công ty con có phần vốn góp do

nh nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ

Trang 38

Sở dĩ pháp luật quy định như vậy xuất phát từ thực tiễn khi nhà nước góp vốn vào Công ty TNHH hai thành viên trở lên với tỷ lệ trên 50% vốn điều

lệ thì sẽ có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu tổ chức công ty trong đó có vị trí Giám đốc Người quản lý và người diện phần vốn góp nhà nước tại công ty mẹ mà

công ty con (Công ty TNHH hai thành viên trở lên có vốn nhà nước chi phối trên 50%) sẽ dẫn tình tình trạng cấu kết tạo lập lợi ích nhóm gây thiệt hại cho nhà nước và bản thân công ty

Thứ tư, các điều kiện tiêu chuẩn khác phụ thuộc vào ngành nghề lĩnh

vực kinh doanh của công ty được quy định trong văn bản pháp luật chuyên ngành

Bên cạnh những điều kiện tiêu chuẩn thông thường kể trên thì để có thể làm Giám đốc Công ty TNHH hai thành viên trở lên cần có những điều kiện tiêu chuẩn khác được quy định trong luật chuyên ngành tùy thuộc vào ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của công ty Trong lĩnh vực kinh doanh cho thuê lại lao động thì Giám đốc còn phải thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều 8 NĐ 55/2013 của Chính phủ hướng dẫn các quy định của Bộ luật lao động về quan hệ cho thuê lại lao động như: Có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động từ 03 năm trở lên; Trong 03 năm liền kề trước khi đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, không đứng đầu doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc không tái phạm hành vi giả mạo hồ sơ xin cấp, cấp lại Giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp, hồ sơ xin cấp, cấp lại hoặc gia hạn Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động Tuy nhiên, quy định Người đứng đầu doanh nghiệp phải có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động từ 03 năm trở lên là không hợp lý bởi quan hệ cho thuê lại lao động là quan hệ mới được pháp luật thừa nhận ở Bộ luật Lao động năm 2012 Do đó, rất khó tìm thấy cá nhân nào

Trang 39

thỏa mãn điều kiện trên, tạo ra sự lúng túng cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện

- Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên trở lên Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là quy định về người đại diện theo pháp luậtt của doanh nghiệp, quy định này được coi là mang tính cách mạng và ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức quản lý của doanh nghiệp, trong đó có Công ty TNHH hai thành viên trở lên Luật Doanh nghiệp năm 2005 không có điều khoản riêng quy định về người đại diện theo pháp luật mà nó nằm rải rác ở nhiều điều khoản khác nhau DN năm

2014 đã thể hiện bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp khi dành điều khoản riêng về người đại diện theo pháp luật tại Điều 13 và 14 Điều này đã giúp cho các doanh nghiệp áp dụng pháp luật thống nhất thay vì tìm hiểu nhiều quy định như trước đây Đồng thời giúp cho các nhà nghiên cứu, cơ quan nhà nước có căn cứ để áp dụng và giải quyết các vấn đề liên quan đến người đại diện theo pháp luật công ty một cách nhanh nhất Quy định về người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 được thể hiện ở nội dung sau:

Thứ nhất, về khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Lần đầu tiên khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, chỉ ra phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật sẽ nhân danh và vì

nghiệp hoặc với các chủ thể khác bên ngoài doanh nghiệp Trong số các quyền

và nghĩa vụ của doanh nghiệp thì chủ yếu phát sinh từ các giao dịch giữa doanh nghiệp và các cá nhân tổ chức khác Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên trở lên sẽ thay mặt công ty thực hiện các quyền và nghĩa

Trang 40

vụ đó Bên cạnh đó, người đại diện theo pháp luật sẽ đại diện cho công ty trong thủ tục tố tụng trọng tài hay tòa án

Thứ hai, số lượng người đại diện

Theo quy định tại Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì công ty TNHH, và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Mặt khác, tại Điểm g Khoản 1 Điều 25 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì

đại diện theo pháp luật của công ty Hơn nữa, riêng đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên pháp luật không có quy định ai sẽ là người đại diện theo pháp luật trong trường hợp điều lệ không quy định như Luật Doanh nghiệp năm 2014 Điều đó có nghĩa đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên điều lệ công ty bắt buộc phải có quy định về người đại diện theo pháp luật Công ty hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn bất kỳ cá nhân nào đủ điều theo quy định của pháp luật để trở thành người đại diện cho công ty Trong đó, phải quy định cụ thể số lượng người đại diện cũng chức danh mà người đó quản lý, ví dụ người đại diện theo pháp luật là Giám đốc hay Chủ tịch HĐTV Nếu như Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định Công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì Luật Doanh nghiệp

năm 2020 đã cho phép công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật Đây là quy định trọng tâm là linh hồn trong chế định người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên trở lên Cụ thể như sau:

Cụ thể, quan hệ này chỉ phát sinh khi có ủy quyền hoặc trong trường hợp bất khả kháng người được ủy quyền ko thể thực hiện được thì cũng không thể ủy quyền cho người khác nếu không được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Với quy định mới này của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì tất cả những người đại diện theo pháp luật được điều lệ công ty quy định

Ngày đăng: 07/07/2021, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w