Giáo dục đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới được xác định là một lĩnh vực quan trọng, là chìa khóa đưa đến thành công của đất nước. Đối với nước ta, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, là một trong những lĩnh vực quan trọng thúc đẩy CNH – HĐH đất nước, là điều kiện nâng dần mức sống của người dân và phát huy được nguồn lực con người. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Trong thực tiễn giáo dục hiện nay nổi lên nhiều vấn đề quan trọng, cấp bách, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Để giải quyết được những vấn đề đó, một trong những giải pháp quan trọng mang tính đột phá là đổi mới công tác quản lý. Tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới , phát triển đất nước sự nghiệp giáo dục đã và đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém cần nhanh chóng khắc phục. Đội ngũ giáo viên còn nhiều yếu kém, bất cập cả về tổ chức, cơ cấu, số lượng, đang làm dần mất cân đối giữa các cấp học, các vùng, miền nhất là chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên có nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Trước tình hình đó, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên là cần thiết và quan trọng đối với ngành giáo dục nói chung và các trường Mầm non nói riêng. Giáo dục Mầm non là một bộ phận quan trọng của trong hệ thống giáo dục quốc dân, là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục với mục tiêu: hình thành cho thế hệ trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam như : Khỏe mạnh, nhanh nhẹn để có thể phát triển hài hòa, cân đối, giàu lòng yêu thương đối với bản thân và những người xung quanh,thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quạnh mình, thông minh, ham hiểu biết và có một số kỹ năng sơ đẳng cần thiết để chuẩn bị cho trẻ bước vào tiểu học. Đây được coi cái nôi đầu tiên để xây dựng nền móng cho trẻ và là nơi mà đội ngũ giáo viên luôn phải có những thay đổi về cách thức giảng dạy để phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ. Vì vậy muốn có chất lượng tốt thì đòi hỏi phải có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng. Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên là một hoạt động thường xuyên, liên tục trong các nhà trường để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Cùng với việc đổi mới giáo dục là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, thì trước hết phải bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn. Có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, vững vàng về nghiệp vụ thì mới có chất lượng giáo dục tốt. Trên thực tế hiện nay, đội ngũ giáo viên của các trường mầm non nhất là các trường mầm non ở các vùng nông thôn thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ này còn nhiều yếu kém, bất cập. Nguyên nhân của những yếu kém đó là do phần lớn đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non này được tuyển thẳng hoặc tạo nguồn, đời sống của đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý nói riêng còn nhiều khó khăn do chế độ phụ cấp lương còn thấp chưa đảm bảo được đời sống cho họ. Vì vậy việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ ở các trường mầm non là một việc làm hết sức cần thiết. Đứng trước nhu cầu phát triển giáo dục của đất nước nói chung và của huyện Chương Mỹ nói riêng, đặc biệt là đang thực hiện đổi mới giáo dục mầm non đồng thời hướng tới xây dựng trường mầm non Xã Đông Phương Yên đạt chuẩn quốc gia. Vì vậy giáo dục mầm non phải phấn đấu hơn nữa và cần quan tâm tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định sự lớn mạnh của nhà trường. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước thì trường Mầm non còn phải khắc phục những tồn tại sau: Trình độ giáo viên chưa đồng đều, số giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi chưa nhiều, một số giáo viên chưa ý thức được việc tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn. Đội ngũ giáo viên đứng lớp vừa thừa lại vừa thiếu. Số giáo viên nhà trẻ đa số có trình độ sơ cấp, lớn tuổi nên rất khó khăn trong việc sắp xếp công tác trong thời kỳ đổi mới. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Mầm non Đông Phương Yên Chương Mỹ Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Qua đó đề xuất một số biện pháp hướng tới việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên trường mầm non Xã Đông Phương Yên ngày một tốt hơn.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể
các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho em hệ thống tri thức quýbáu về khoa học quản lý giáo dục, những phương pháp nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn ban giám đốc Học viện Quản lý giáo dục, Khoa Quản
lý giáo dục - Học viện Quản lý giáo dục, UBND huyện Chương Mỹ Hà Nội, tậpthể giáo viên trường Mầm non Đông Phương Yên, cùng bạn bè, người thân đã ủng
hộ, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian học tập vànghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Đỗ Minh Hùng , Giảng
viên Khoa Quản lý, Học viện Quản lý giáo dục đã có những ý kiến chỉ dẫn sángsuốt và tận tình dạy bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu vàhoàn thành khóa luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng trong khóa luận này cũng khó tránh khỏinhững thiếu sót, khiếm khuyết Kính mong sự góp ý, chỉ bảo của các quý thầy cô,cùng bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 31 Lý do chọn đề tài 6
5.3 Phương pháp thống kê toán học ứng dụng phần mềm SPSS for
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƯỜNG MẦM NON ĐÔNG PHƯƠNG YÊN
12
1 Một số cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên Mầm non
12
1.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên và chất lượng đội ngũ GV 13
1.2.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên và giáo viên Mầm non 141.2.3 Những yếu tố tạo nên chất lượng giáo viên Mầm non 151.2.4 Một số yếu khác tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ giáo viên
Mầm non
17
1.5 Một số vấn đề về công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên Mầm non Một số khái niệm cơ bản về
29
Trang 4công tác đào tạo bồi dưỡng
1.5.1 Một số khái niệm cơ bản về công tác đào tạo, bồi dưỡng 291.5.2 Vị trí, chức năng của công tác đào tạo, bồi dưỡng 301.5.3 Nội dung công tác bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo
viên
32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN TRƯỜNG MẦM NON ĐÔNG PHƯƠNG YÊN – CHƯƠNG
2.1.2 Tổng quan về trường Mầm non Đông Phương Yên 352.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên trường MN Đông Phương Yên 372.2.1 Thực trạng vê số lượng đội giáo viên nhà trường 38
2.2.3 Thực trạng về trình độ nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên trong
việc tổ chức các hoạt động mang tính nghệ thuật cho trẻ
43
2.2.4 Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên nhà trường
44
2.3 Những tồn tại, hạn chế của đội ngũ giáo viên nhà trường 47CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG MẦM NON ĐÔNG PHƯƠNG
YÊN – CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI
49
3.2 Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên trường MN Đông Phương Yên
49
3.2.1 Khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên tự học, tự
bồi dưỡng thường xuyên
49
3.2.2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên thông qua các chuyên
đề
51
3.2.4 Bồi dưỡng các kỹ năng chuyên sâu cho GV 54
Trang 53.2.5 Thường xuyên đánh giá kết quảc công tác học tập và tự bồi
dưỡng của đội ngũ giáo viên
57
3.2.6 Tham mưu với cấp lãnh đạo xây dựng chế độ đãi ngộ thích
đáng cho đội ngũ giáo viên
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.2 Đối với UBND và Phòng GD-ĐT huyện Chương Mỹ 63
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới được xác định là một lĩnhvực quan trọng, là chìa khóa đưa đến thành công của đất nước Đối với nước ta,giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, là một trong những lĩnh vực quan trọngthúc đẩy CNH – HĐH đất nước, là điều kiện nâng dần mức sống của người dân vàphát huy được nguồn lực con người Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự pháttriển Trong thực tiễn giáo dục hiện nay nổi lên nhiều vấn đề quan trọng, cấp bách,ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục Để giải quyết được những vấn đề đó,một trong những giải pháp quan trọng mang tính đột phá là đổi mới công tác quảnlý
Tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới , phát triển đất nước sự nghiệp giáo dục đã
và đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém cần nhanh chóng khắc phục Đội ngũ giáoviên còn nhiều yếu kém, bất cập cả về tổ chức, cơ cấu, số lượng, đang làm dần mấtcân đối giữa các cấp học, các vùng, miền nhất là chất lượng chuyên môn nghiệp vụcủa đội ngũ giáo viên có nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục
Trước tình hình đó, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáoviên là cần thiết và quan trọng đối với ngành giáo dục nói chung và các trườngMầm non nói riêng Giáo dục Mầm non là một bộ phận quan trọng của trong hệthống giáo dục quốc dân, là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục với mục tiêu:hình thành cho thế hệ trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới
Trang 7XHCN Việt Nam như : Khỏe mạnh, nhanh nhẹn để có thể phát triển hài hòa, cânđối, giàu lòng yêu thương đối với bản thân và những người xung quanh,thật thà, lễphép, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốntạo ra cái đẹp ở xung quạnh mình, thông minh, ham hiểu biết và có một số kỹ năng
sơ đẳng cần thiết để chuẩn bị cho trẻ bước vào tiểu học Đây được coi cái nôi đầutiên để xây dựng nền móng cho trẻ và là nơi mà đội ngũ giáo viên luôn phải cónhững thay đổi về cách thức giảng dạy để phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ Vì vậymuốn có chất lượng tốt thì đòi hỏi phải có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ vững vàng
Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáoviên là một hoạt động thường xuyên, liên tục trong các nhà trường để không ngừngnâng cao chất lượng giáo dục Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã khẳngđịnh: Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp CNH – HĐH là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơbản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Cùng với việc đổi mới giáo dục là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáodục, thì trước hết phải bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn Có đội ngũgiáo viên giỏi về chuyên môn, vững vàng về nghiệp vụ thì mới có chất lượng giáodục tốt
Trên thực tế hiện nay, đội ngũ giáo viên của các trường mầm non nhất là cáctrường mầm non ở các vùng nông thôn thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ của độingũ này còn nhiều yếu kém, bất cập Nguyên nhân của những yếu kém đó là dophần lớn đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non này được tuyển thẳng hoặc tạonguồn, đời sống của đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý nóiriêng còn nhiều khó khăn do chế độ phụ cấp lương còn thấp chưa đảm bảo được
Trang 8đời sống cho họ Vì vậy việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ ở các trườngmầm non là một việc làm hết sức cần thiết.
Đứng trước nhu cầu phát triển giáo dục của đất nước nói chung và của huyệnChương Mỹ nói riêng, đặc biệt là đang thực hiện đổi mới giáo dục mầm non đồngthời hướng tới xây dựng trường mầm non Xã Đông Phương Yên đạt chuẩn quốcgia Vì vậy giáo dục mầm non phải phấn đấu hơn nữa và cần quan tâm tới việcnâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầuquyết định sự lớn mạnh của nhà trường
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục trong sự nghiệpCNH – HĐH đất nước thì trường Mầm non còn phải khắc phục những tồn tại sau:
Trình độ giáo viên chưa đồng đều, số giáo viên có trình độ chuyên môn giỏichưa nhiều, một số giáo viên chưa ý thức được việc tự bồi dưỡng để nâng cao trình
độ chuyên môn Đội ngũ giáo viên đứng lớp vừa thừa lại vừa thiếu Số giáo viênnhà trẻ đa số có trình độ sơ cấp, lớn tuổi nên rất khó khăn trong việc sắp xếp côngtác trong thời kỳ đổi mới
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Biện pháp quản lý nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Mầm non Đông Phương Yên - Chương
Mỹ - Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Qua đó đề xuất một số biện pháp
hướng tới việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viêntrường mầm non Xã Đông Phương Yên ngày một tốt hơn
Trang 9Đội ngũ giáo viên trường mầm non xã Đông Phương Yên, huyện ChươngMỹ-TP Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trườngMầm non xã Đông Phương Yên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Trình bày một số cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng giáo viên mầmnon
4.2 Phân tích và đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ giáo viên tại
trường mầm non xã Đông Phương Yên
4.3 Đề xuất một số biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng độingũ giáo viên trường mầm non xã Đông Phương Yên
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Hệ thống hóa và phân tích các văn bản, tài liệu lý luận có liên quan đếnquản lý đội ngũ giáo viên, quản lý việc nâng cao chất lượng cho đội cho đội ngũgiáo viên trường mầm non
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
- Phương pháp hỏi chuyên gia
- Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Trang 106 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian nghiên cứu và trong khuôn khổ của một đề tài khóaluận tốt nghiệp, nên khóa luận chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạngchất lượng đội ngũ giaó viên trường mầm non xã Đông Phương Yên và các số liệuchỉ lấy trong vòng 2 năm học gần đây (từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2011– 2012)
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; nộidung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng lý đội ngũ giáo viênmầm non
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên trường mầm non xãĐông Phương Yên
Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên trường mầm non xã Đông Phương Yên
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN MẦM NON 1.1 Vị trí của giáo dục mầm non
Giáo dục Mầm non là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân ViệtNam được thành lập ngay sau Cách mạng tháng 8 thành công Giáo dục Mầm nonđóng vai trò to lớn trong công cuộc vì sự tiến bộ và giải phóng phụ nữ, điều nàyđược Nguyễn Ái Quốc xác định từ năm 1924 khi Người viết trong báo Người cùng
khổ: “Thiết lập một hệ thống trường mẫu giáo và vỡ lòng, nhà giữ trẻ, vườn trẻ, nhà nuôi trẻ…nhằm mục đích cải thiện việc giáo dục xã hội, giải phóng phụ nữ”.
Giáo dục Mầm non làm giảm nhẹ công việc của phụ nữ trong gia đình, tạo điềukiện cho các bà mẹ dành nhiều thời gian cho các hoạt động xã hội, học tập, laođộng, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định vị trí, vai trò của giáo dục Mầm non và
chính sách để phát triển bậc học: “Nhà nước bảo vệ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, các vườn trẻ”
Nhiều văn kiện, chỉ thị, nghị quyết sau này của Đảng và Nhà nước đã chỉ rõvai trò của giáo dục Mầm non trong sự nghiệp trồng người của dân tộc, xác địnhđúng đắn vai trò của giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân, trongchiến lược phát triển giáo dục và chỉ ra các bước thích hợp với thực tế của đấtnước
Trang 12Nghị quyết Hội nghị lần 2 BCH TW Đảng khóa VIII về định hướng chiến
lược đề ra mục tiêu đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình ” [4]
Một ý nghĩa to lớn đối với giáo dục Mầm non là từng bước khẳng định được
vị trí của mình trong xã hội, đã cùng các bậc học khác tham gia vào việc phát triểnnguồn nhân lực cho đất nước
Giáo dục Mầm non đặt nền tảng cho sự phát triển nhân cách, tạo tiền đề pháttriển giáo dục toàn diện: nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phát triển trí tuệ, tìnhcảm, thái độ, rèn các thói quen hành vi tốt
Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg về phê duyệt đề án phát triển giáo dụcMầm non giai đoạn 2006 – 2015 đã xác định những nhiệm vụ cơ bản của ngành cầnphải tập trung thực hiện đến 2015
1.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên và chất lượng đội ngũ giáo viên
1.2.1 Khái niệm về giáo viên
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nghề giáo và giáo viên:
- Năm 1971 khi về thăm Đại học Sư phạm Hà Nội, Thủ tướng Phạm Văn
Đồng nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo Vì nó sáng tạo ra những con người, sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội”.[12, tr14]
Như vậy theo đồng chí Phạm Văn Đồng, giáo viên là những con người caoquý, được xã hội tôn vinh vì họ đào tạo ra của cải vật chất cho xã hội
Khái niệm giáo viên đã được đưa ra tại Điều 70 - Luật giáo dục [6, Chương IV
- mục I]
Trang 131 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sởgiáo dục khác.
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
1.2.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên và giáo viên mầm non
a Khái niệm về đội ngũ
Từ điển Tiếng Việt có ghi: Đội ngũ là khối đông người cùng chức năng nghềnghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng
Khái niệm đội ngũ dành cho các tổ chức xã hội như đội ngũ tri thức, đội ngũcông nhân viên chức…
Trang 14Khái niệm đội ngũ tuy có khác nhau nhưng thực chất đó là một nhóm ngườiđược tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng
có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng có lý tưởng, cómục đích chung hoạt động trong một tổ chức
b Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những giáo viên, được tổ chức thành mộtlực lượng, cùng chung nhiệm vụ và thực hiện các mục tiêu giáo dục đã được đặt racho tổ chức đó Ví dụ: Đội ngũ giáo viên trong một nhà trường, một cơ sở giáo dục
c Đội ngũ giáo viên Mầm non
Được cụ thể hóa từ khái niệm trên, là một tập thể giáo viên cùng thực hiệnnhiệm vụ chăm sóc, nuôi dạy, giáo dục các cháu từ 03 tháng đến 6 tuổi để đạt đượcmục tiêu hình thành cho thế hệ trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con ngườimới XHCN Việt Nam: khỏe mạnh, nhanh nhẹn để có thể phát triển hài hòa cân đối,giàu lòng yêu thương đối với bản thân và những người xung quanh, thật thà, lễphép, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và tạo ra cái đẹpxung quanh mình… Giúp trẻ ham hiểu biết và rèn cho trẻ một số kỹ năng sơ đẳng,cần thiết để chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông là rất cần thiết và quan trọng
1.2.3 Những yếu tố tạo nên chất lượng giáo viên mầm non
a Khái niệm về chất lượng
Theo quan điểm Triết học: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị nhữngthuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật.Chất lượng được biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là liên kết các thuộctính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sựvật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn là bản thân nó thì không thểmất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi sự vật về cănbản Chất lượng của sự vật đó bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng
Trang 15của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sựthống nhất giữa số lượng và chất lượng” [6,tr137]
Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với quy định về số lượng của nó
và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mọi sự vật bao giờ cũng là sự thốngnhất của chất lượng và số lượng Có thể coi đây là “chất lượng” nói chung Trongcuốn “Quản lý chất lượng theo I.SO 9000” thì “Chất lượng là đặc trưng của thựcthể mà nó đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng”
Số lượng và chất lượng liên quan chặt chẽ với nhau Tuy nhiên với “Chấtlượng” song số lượng luôn được hiểu là số lượng của một chất lượng nào đó
- Chất lượng giáo dục khác với chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩmđược tiến hành kiểm tra bằng công cụ xem nó có đáp ứng nhu cầu của khách hàng
về sản phẩm đó không Chất lượng giáo dục chính là đặc tính mà nhà trường và xãhội đánh giá là có giá trị và phải đạt tới
- Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo dụcđáp ứng được ngày càng cao nhu cầu của người học và của sự phát triển toàn diệncủa xã hội
Chất lượng giáo dục là vấn đề nhận thức, mức độ, khối lượng và ý nghĩa giátrị khoa học mà sự chuyển tải những tri thức kỹ năng so với những gì mà nhà sưphạm đã thực hiện
b Những yếu tố tạo nên chất lượng giáo viên Mầm non
Tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ đổi mới đã được nêu trong Nghị quyết 3khóa VIII của Đảng như sau:
- Một là, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên địnhmục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 16- Hai là, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng và kiênquyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơhội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
- Ba là, có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủnăng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụđược giao
Các tiêu chuẩn của nhà giáo và các tiêu chuẩn của cán bộ trong thời kỳ đổimới đều bao gồm hai thành cơ bản là phẩm chất và năng lực, hai thành tố này tạonên chất lượng của cán bộ nói chung và giáo viên nói chung
Chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên Mầm non nóiriêng có thể được tạo nên bởi các yêu tố sau:
- Số lượng đội ngũ giáo viên
- Chất lượng đội ngũ giáo viên
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên
1.2.4 Một số yếu khác tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non
a Phẩm chất chính trị của đội ngũ GVMN
Người giáo viên đặc biệt là giáo viên Mầm non được xã hội, nhân dân giaocho nhiệm vụ vô cùng quan trọng là chăm sóc, giáo dục và dạy dỗ các em nênngười, đào tạo các em trở thành những người có ích cho xã hội Đối với giáo dụcMầm non thì nhiệm vụ được giao được ghi rõ trong chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo giai đoạn 2010-2015 là: “Phát triển giáo dục mầm non nhằm tạo bướcchuyển biến cơ bản, vững chắc và toàn diện, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chămsóc giáo dục trẻ; củng cố, mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, đặc biệtchú trọng đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
Trang 17khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; đa dạng hoá cácphương thức chăm sóc, giáo dục; bảo đảm chế độ, chính sách cho giáo viên mầmnon theo quy định Phấn đấu đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáodục bằng những hình thức thích hợp, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng”.
Với mục tiêu trên, nó đòi hỏi đội ngũ giáo viên Mầm non ngoài lòng yêunghề, yêu trẻ thì phải kiên trì phấn đấu cho lý tưởng của Đảng, cho sự phồn vinhcủa đất nước Người giáo viên Mầm non, trước hết phải là người sống có lý tưởng,
có đạo đức, có đủ tri thức và kỹ năng để đảm đương việc chăm sóc, giáo dục trẻ.Ngoài ra còn tham gia vào công tác tư vấn nuôi dạy trẻ cho cha mẹ học sinh trongcác gia đình Vì vậy, đòi hỏi người giáo viên phải “vừa hồng vừa chuyên” Lâu naycông tác phát triển Đảng trong các cơ sở giáo dục đặc biệt là giáo dục Mầm non thìchưa được quan tâm đúng mức Số trường có chi bộ riêng rất ít, số Đảng viên làgiáo viên lại càng ít hơn Như vậy phần nào chưa bồi dưỡng và phát huy hết tiềmnăng của đội ngũ giáo viên Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
b Chế độ đãi ngộ đối với giáo viên Mầm non
GVMN là những người lao động dùng đến cả chân tay và trí óc, là một côngviệc với nhiều vất vả Ngoài việc chăm sóc cho các cháu về bữa ăn, giấc ngủ, đảmbảo cho trẻ an toàn về tính mạng, sức khỏe thì người giáo viên mầm non còn phải
là những người mẹ dịu hiền dạy dỗ các cháu từ những việc nhỏ nhất từ nề nếp ănngủ, nói năng đến học tập, rèn luyện thể lực, giúp đỡ và tạo điều kiện để trẻ pháttriển hài hòa về tâm sinh lý Giờ làm việc của GVMN lại quá nhiều, sáng từ 6h45đến chiều sớm nhất là 17h, đột xuất còn phải làm thêm giờ khi nhà trường yêu cầuhoặc có những hôm nhiều cháu gia đình đên đón muộn
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay chế độ đãi ngộ cho đội ngũ này qua hệ thốnglương thật đã tăng so nhiều so với trước song vẫn chưa xứng đáng Những giáoviên Mầm non mới ra trường mà vào làm hợp đồng thì chỉ được hưởng khoảng
Trang 18830.000đ ( lương hợp đồng dài hạn), có khi một vài năm sau mới được biên chế,lúc đó lương cũng tăng lên nhưng không đáng kể Đây là một trong những vấn đềbất cập trong hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục Mầm non nói riêng đã tồntại nhiều năm nay mà vẫn chưa giải quyết được Đó là mâu thuẫn giữa cống hiến vàhưởng thụ Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm giảm đi lòng yêunghề, yêu trẻ của đội ngũ GVMN, làm nảy sinh các phép so sánh với mức lươngcủa các ngành nghề khác nhau và dễ dẫn đến những biểu hiện tiêu cực không đáng
có và không nên có trong giáo dục, đặc biệt là trong GDMN Đó là sự thờ ơ, vôtrách nhiệm trong chăm sóc dạy dỗ trẻ, là thái độ buông xuôi không tích cực họctập tu dưỡng vì có học cũng thế mà thôi, Sự bất hợp lý đó đã kéo dài nhiều năm vì
nó làm nản lòng các nhà cán bộ quản lý, dẫn đến tâm lý tự ti nghề nghiệp tronggiáo viên vì họ thấy rằng đồng lương được trả không xứng đáng với chức danhcũng như trách nhiệm mà họ đang đảm nhiệm
1.3 Khái niệm quản lý giáo dục
1.3.1 Khái niệm quản lý
Theo quan niệm chung thì: “Quản lý là quá trình tác động có ý thức, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”.[11, tr14].
- “Quản lý là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống của chúng ta Loài người không thể phát triển nếu không giảm bớt độ bất định, không nâng cao tính tổ chức, không dùng chiếc đòn bẩy quản lý”[11,tr17]
Quản lý có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mọi hoạt động xã hội, vấn đềđiều khiển mọi hoạt động của xã hội hợp quy luật để đạt được hiệu quả cao là mộtvấn đề cấp bách và nó đã trở thành xu hướng chiến lược của nhiều nước trên thếgiới cũng như trong khu vực Đối với nước ta, trong thời kỳ chuyển đổi cơ cấu
Trang 19quản lý từ chế độ bao cấp sang chế độ kinh tế thị trường thì việc chỉnh đốn hệthống quản lý Nhà nước là cần thiết.
1.3.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Có thể đưa ra khái niệm quản lý giáo dục theo 2 cấp độ: cấp độ hệ thống vàcấp độ trường học
Ở cấp hệ thống có thể hiểu: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng và chất lượng”.[12,tr1]
Quản lý trường học là “hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục, đưa nhà trường tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục sự nghiệp CNH- HĐH đất nước”.[12,tr1]
Như vậy, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh,cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện
có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáo dục
1.3.3 Quản lý giáo dục Mầm non
“Quản lý giáo dục Mầm non là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của các cấp quản lý đến các cơ sở giáo dục Mầm non nhằm tạo ra những điều kiện tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo” [10, tr23].
Trang 20Quản lý giáo dục Mầm non là một công tác quản lý trong hệ thống quản lýgiáo dục Đối tượng của nó là các cơ sở giáo dục Mầm non, nơi làm nhiệm vụ giáodục đào tạo cho học sinh có độ tuổi từ 3-72 tháng tuổi.
Trường Mầm non có các nhiệm vụ sau: [2, Điều 3]
- Tiếp nhận và quản lý trẻ trong độ tuổi;
- Tổ chức nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình chăm sóc,giáo dục Mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;
- Quản lý giáo viên, nhân viên và trẻ em;
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quyđịnh của pháp luật;
- Chủ động kết hợp với các bậc cha mẹ học sinh trong việc nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục trẻ em; kết hợp với các ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hộinhằm tuyên truyền, phổ biến kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ em cho gia đình vàcộng đồng;
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và trẻ em của nhà trường tham gia cáchoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng;
- Giúp đỡ các cơ sở giáo dục Mầm non khác trong địa bàn
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.4 Chức năng của quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là thực hiện các chức năng của quá trình qúa trình quản lýgiáo dục, các chức năng của quản lý đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
và đánh giá
“Chức năng quản lý giáo dục là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua đó chủ thể quản lý giáo dục tác động vào đối tượng quản lý của mình nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý giáo dục” [12,tr5]
a Chức năng kế hoạch
Trang 21- Chức năng kế hoạch trong quản lý giáo dục là quá trình xác định các mụctiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện cácmục tiêu đó.
- Vị trí, vai trò của chức năng kế hoạch trong quá trình quản lý giáo dục+ Vị trí: Là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý
+ Vai trò của chức năng kế hoạch: Có vai trò khởi đầu cho một quá trìnhquản lý; Định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý; Là cơ sở huyđộng tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu trong từng loại kế hoạch
đã soạn thảo; Là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu,nhiệm vụ của từng tổ chức, đơn vị và cá nhân
- Nội dung của chức năng kế hoạch:
+ Xác định và phân tích mục tiêu quản lý giáo dục
Từ những căn cứ để thực hiện chức năng kế hoạch, các nhà quản lý có đủđiều kiện để xác định hệ thống mục tiêu cần thiết của từng cấp hoặc từng cơ sở giáodục
Việc phân tích mục tiêu sẽ giúp cho việc thực hiện lựa chọn đúng đắn cácmục tiêu ( mục tiêu có tính khả thi) và từ đó xác định đúng chiến lược hành độngtheo từng mục tiêu cụ thể
+ Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu
Xây dựng kế hoạch (hay lập kế hoạch) là thiết kế trước các bước đi, biệnpháp thực hiện cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu đã xác địnhqua việc sử dụng hợp lý những nguồn lực đã có và sẽ được khai thác
Có nhiều loại kế hoạch khác nhau: Dựa vào thời gian có kế hoạch chiến lược,
kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn; Dựa vào quy mô quản lý thì có kế hoạchtổng hợp, kế hoạch bộ phận ; Dựa vào hoạt động cụ thể có kế hoạch xây dựngCSVC, kế hoạch xây dựng đội ngũ
Trang 22Lập kế hoạch có thể được tiến hành ở các cấp độ quản lý khác nhau: cấpquốc gia (trung ương) tương ứng với kế hoạch cấp vĩ mô( chiến lược), nó thường
đề cập đến việc thực hiện các mục tiêu lớn và mục tiêu dài hạn; kế hoạch cấp tỉnh,cấp huyện; kế hoạch cấp vi mô (kế hoạch tác nghiệp, kế hoạch hành động trongthời gian ngắn)
Đối với việc lập kế hoạch chiến lược trong quản lý giáo dục phải xác địnhđược rõ tầm nhìn, sứ mạng và các giá trị của hệ thống, tổ chức Từ đó lựa chọn cácmục tiêu chiến lược và hệ thống giải pháp hợp lý
+ Triển khai thực hiện các kế hoạch
Việc triển khai thực hiện các kế hoạch liên quan tới việc tổ chức thực hiệncác kế hoạch, bao gồm:
Tổ chức cho các lực lượng trong và ngoài đơn vị giáo dục quán triệt được kếhoạch cần được triển khai về các vấn đề: mục tiêu cần đạt; bước đi, biện pháp cầnthực hiện
Xây dựng lực lượng cốt cán trong việc triển khai từng hoạt động hoặc từngnhiệm vụ, trong đó làm rõ mối quan hệ từng bộ phận, cá nhân và cơ chế hoạt động
Triển khai, hướng dẫn và đôn đốc thực hiện các hoạt động cụ thể
Giám sát việc thực hiện các hoạt động và thường xuyên động viên khenthưởng hoặc có thể điều chỉnh kế hoạch hoặc các điều kiện, biện pháp hay bước đi
+ Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Việc kiểm tra đánh giá cần được tiến hành đồng thời với việc lựa chọn các
mục tiêu và xây dựng các loại kế hoạch Theo đó việc kiểm tra đánh giá phải xácđịnh trước chuẩn mực được sử dụng để đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch cần được sơ kết hoặc tổng kết cụthể Kết quả này được báo cáo trước tập thể và cơ quan quản lý cấp trên Khi cần
Trang 23thiết có thể điều chỉnh lại ở các khâu để đảm bảo việc đạt được những mục tiêu cơbản đã xác định.
b Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục.
- Chức năng tổ chức là quá trình tiếp nhận và sắp xếp nguồn lực theo nhữngcách thức nhất định nhằm thực hiện hóa các mục tiêu đã đề ra theo kế hoạch
- Vị trí, vai trò của chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục
+ Vị trí: Đây là chức năng thứ hai trong một quá trình quản lý
+ Vai trò của chức năng tổ chức: Hiện thực hóa các mục tiêu các mục tiêutheo kế hoạch đã được định sẵn; Tạo ra sức mạnh mới mới của một tổ chức, cơquan, đơn vị hoặc thậm chí của cả một hệ thống nếu việc tiếp nhận, phân phối vàsắp xếp các nguồn lực được tiến hành khoa học, hợp lý và tối ưu
- Nội dung của chức năng tổ chức trong quản lý giáo duc
+ Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý của đơn vị hoặc của hệ thống tương ứngvới các khách thể quản lý
Thực hiện nội dung này nghĩa là phải chỉ ra cơ cấu tổ chức của chủ thể quản
lý cũng như cơ cấu của cả đối tượng quản lý đồng thời cũng phải xác định rõ kiểucấu trúc, tổ chức đươc áp dụng trong hoạt động của bộ máy quản lý Như vậy, một
tổ chức bộ máy quản lý giáo dục có hiệu lực, hiệu quả phải được xem xét hoànchỉnh về hai phương diện: Xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và lựa chọn cấu trúc tổchức bộ máy
Lựa chọn kiểu cấu trúc tổ chức là việc chỉ rõ những mối quan hệ bên tronggiữa các bộ phận của toàn bộ hệ thống nhằm quản lý có hiệu lực và hiệu quả trongquá trình của bộ máy quản lý
+ Xây dựng và phát triển đội ngũ
Đây là quá trình tổ chức, tập hợp đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trongnhà trường hoặc trong hệ thống và triển khai các hoạt động của các bộ phận hay
Trang 24của tổ chức đó Thực hiện nội dụng này liên quan tới hai khâu cơ bản là quản lýnguồn nhân lực và điều hành, điều chỉnh các hoạt động của mọi thành viên (quản lýnhân sự) trong điều kiện, diễn biến của các hoạt động cụ thể.
Quản lý nguồn nhân lực liên quan chặt chẽ tới các khâu: Quy hoạch đội ngũ;tuyển chọn nhân viên mới; bồi dưỡng giáo viên, nhân viên; thuyên chuyển, đề bạt,bãi nhiệm đối với giáo viên, nhân viên Như vậy, khâu quản lý nguồn nhân lực liênquan tới công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ và các kế hoạch triển khai cụ thể.Chất lượng giáo dục nói chung và trong quản lý nói riêng, yếu tố quyết định tớichất lượng giáo dục chính là chất lượng của nguồn nhân lực
Việc quản lý nhân sự liên quan chặt chẽ tới các khâu chủ yếu sau:
• Bố trí đúng người, đúng việc;
• Giúp đỡ giáo viên, nhân viên làm quen với công việc;
• Phối hợp hoạt động và phát triển các mối quan hệ trong công việc;
• Phát hiện khả năng tiềm tàng của các cán bộ, giáo viên, nhân viên;
• Thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, nhân viên;
• Kiểm tra đánh giá xếp loại cán bộ đối với giáo viên, nhân viên;
• Thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên, nhân viên
+ Xác định cơ chế quản lý
Trong quản lý giáo dục nói chung và trong quản lý nhà trường nói riêng, cơchế QLGD tập trung vào việc hình thành và giải quyết tốt các mối quan hệ trongquản lý các hoạt động giáo dục nhằm khai thác, huy động sử dụng và quản lý cóhiệu quả các nguồn lực phục vụ cho việc đảm bảo chất lượng các hoạt động giáodục
Cơ chế quản lý giáo dục bao gồm các thiết chế tổ chức và các chế độ quyphạm cho việc thực hiện quá trình quản lý các họt động giáo dục nhằm đạt tới các
Trang 25mục tiêu Như vậy, cơ chế quản lý giáo dục là cách thức theo đó một quá trình quản
lý được thực hiện hiệu quả
Trong quá trình đổi mới chung của nhà nước, của ngành giáo dục và của nhàtrường, việc hình thành và khẳng định một cơ chế quản lý phù hợp nhất là nhân tốquan trọng đảm bảo chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Như vậy, về thực chất cơ chế quản lý đó là sự xác lập các mối quan hệ trong
tổ chức, đơn vị hoặc toàn hệ thống
+ Tổ chức lao động một cách khoa học
Để góp phần hiện thực hóa các mục tiêu, người quản lý giáo dục còn phải tổchức lao động một cách khoa học của chính mình cũng như của cả đơn vị trên cơ
sở thực hiện một cách sáng tạo, linh hoạt các chức năng quản lý
Việc tổ chức lao động một cách khoa học theo một khía cạnh khác còn làviệc sử dụng thời gian và công sức dành cho các hoạt động một cách khoa học vàhợp lý để đạt tới các mục tiêu một cách có hiệu quả trong hoàn cảnh của mỗi đơn vịnhà trường
c Chức năng chỉ đạo trong quản lý giáo dục
- Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của cán bộ, nhân viên,người dạy, người học nhằm đạt tới các mục tiêu của hệ thống, cơ sở giáo dục vớichất lượng cao
- Vị trí, vai trò
+ Vị trí: Là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý
+ Vai trò: Cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hóa mục tiêu Chức năngchỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạtđược mục tiêu có chất lượng và hiệu quả
Bản chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủthể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức
Trang 26( của hệ thống, đơn vị giáo dục ) thành nhu cầu của mọi thành viên trong tổ chức
để mọi người tích cực, tự giác mang hết khả năng ra làm việc nên chức năng chỉđạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý vàgóp phần tạo nên chất lượng, hiệu quả cao cho các hoạt động
- Nội dung:
+ Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ
Ở đây người quản lý với quyền hạn, trách nhiệm của mình phải giao nhiệm
vụ cụ thể cho từng cá nhân, tập thể trong đơn vị theo kế hoạch, đúng vị trí công táccủa họ thông qua những quyết định quản lý Các quyết định này có thể bẳng vănbản, có thể bằng miệng
Khi giao nhiệm vụ cho người dưới quyền cần chú ý đến các việc kết hợpgiữa mệnh lệnh và tình cảm
+ Thường xuyên đôn đốc, động viên, kích thích
Thường xuyên đôn đốc thuộc cấp thực hiện nhiệm vụ đảm bảo tiến độ vàchất lượng Động viên kích thích kịp thời nhằm phát huy mọi khả năng của conngười vào quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức Việc động viên kịp thời, gầngũi với cấp dưới, hiểu được hoàn cảnh của các thành viên sẽ làm họ hăng say, tíchcực làm việc nhiều hơn
+ Giám sát và điều chỉnh
Thực hiện hoạt động giám sát nhằm thu thập thông tin về thực trạng thựchiện kế hoạch đã được xác định (tiến độ, chất lượng, khó khăn ), kịp thời pháthiện những điển hình tốt để phổ biến, những khó khăn để giúp đỡ, những thiếu sót
để kịp thời uốn nắn Giám sát thể hiện rõ vai trò hỗ trợ và theo dõi để tạo điều kiệnthuận lợi cho cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ
Trang 27Giám sát là một thành tố quan trọng của chỉ đạo, thể hiện sự thân thiện, gầngũi giữa người quản lý với cấp dưới, nó tạo môi trường thuận lợi cho mọi thànhviên hoàn thành nhiệm vụ.
+ Thúc đẩy các hoạt đông phát triển
Xây dựng và duy trì những hoàn cảnh, môi trường thúc đẩy mọi người hamthích, muốn hoàn tất nhiệm vụ một cách xuất sắc và muốn duy trì năng suất laođộng cao
d Chức năng kiểm tra trong quản lý giáo dục
- Kiểm tra trong quản lý giáo dục là đánh giá, điều chỉnh nhằm đảm bảo chocác hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao
- Bản chất của quá trình kiểm tra là “mối liên hệ ngược” trong quản lý
Kiểm tra là một hệ thống phản hồi trong quản lý Phản hồi về kết quả cáchoạt động và phản hồi dự báo
- Vị trí, vai trò của chức năng kiểm tra
+ Vị trí: Đây là chức năng cuối cùng trong một quá trình quản lý
+ Vai trò: Phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh; tìm ranhững căn cứ, bằng chứng cụ thể, rõ ràng phục vụ cho việc hoàn thành các quyếtđịnh quản lý; đôn đốc việc thực hiện kế hoạch; Đánh giá, khen thưởng chính xác;Thực thi quyền lực quản lý; đối phó kịp thời với những thay đổi của môi trường;tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới quản lý là một dòng chảy, kiểm tra
là chức năng khép lại một quá trình quản lý cũ nhưng đồng thời lại tạo tiền đề chomột quá trình quản lý tiếp theo
- Nội dung của quá trình kiểm tra:
Bước 1: Xác định các mục tiêu chuẩn đánh giá
Bước 2: Đánh giá kết quả thực tế: thu thập thông tin về đối tượng được kiểmtra
Trang 28Bước 3: So sánh kết quả thực tế với chuẩn để phát hiện mức độ thực hiệntốt, vừa, xấu của các đối tượng quản lý.
Bước 4: Điều chỉnh: tư vấn (uốn nắn, sửa chữa); thúc đẩy hoặc xử lý
Kiểm tra trong quản lý là quá trình xem xét thực tiễn để thực hiện các nhiệm
vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích các nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch
và đưa ra các quyết định điều chỉnh nhằm giúp các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ,góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới một trình độ cao hơn
Sơ đồ : Quá trình kiểm tra trong quản lý 1.5 Một số vấn đề về công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Mầm non
1.5.1 Một số khái niệm cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng
* Đào tạo và đào tạo lại:
Theo từ điển Bách khoa: “Đào tạo là quá trình tác động đến một cá nhân nhằm giúp cho cá nhân đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào sự phát triển
Xác định
chuẩn
So sánh thành tích cóphù hợp với chuẩn
Đo lườngkết quả
Phát huy thành tíchUốn nắn lệch lạc
Xử lý
Trang 29xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục đạo đức và nhân cách”.
[13,tr35]
Theo giáo sư Nguyễn Minh Đường thì: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…để hình thành nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho
họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả” [9,tr23].
“Đào tạo lại là quá trình hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, thái độ… mới nhằm tạo ra cho mỗi người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới nhằm mục đích thay đổi công việc, đổi nghề”
[9,tr23]
*Bồi dưỡng
Theo UNESCO: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trìnhnày chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năngchuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp”
Theo giáo sư Nguyễn Minh Đường: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cậpnhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học vàthường được xác nhận bằng một chứng chỉ” [9,tr25]
Như vậy, ta có thể hiểu như sau:
- Chủ thể bồi dưỡng đã được đào tạo để có trình độ chuyên môn nhất định
- Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình
độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó qua hình thức đào tạo đó
- Mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn đểngười lao động có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹnăng, kỹ xảo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả đang làm
Trang 30Cũng từ khái niệm trên, ta có thể hiểu công tác bồi dưỡng giáo viên là quátrình tác động tới tập thể, cá nhân giáo viên, tạo cơ hội cho đội ngũ giáo viên thamgia vào các hoạt động dạy học, giáo dục, học tập trong và ngoài nhà trường để họ
có thể cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng tưtưởng tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực sư phạm, đápứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục đào tạo
1.5.2 Vị trí, chức năng của công tác đào tạo và bồi dưỡng
Giáo dục Mầm non giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống giáodục quốc dân Nó là bước khởi đầu để xây dựng nhân cách một con người, nhàGiáo dục lỗi lạc người Nga A.X Macarenco đã từng nói:
“Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ đã được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó đã chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục con người vẫn tiếp tục nh ưng lúc đó đã bắt đầu niếm quả, còn nụ hoa được vun trồng trong 5 năm đầu tiên”.[8,tr15]
Để hoàn thành được sứ mạng quan trọng đó, đội ngũ giáo viên Mầm non cầnđược đào tạo một cách hệ thống, chuẩn hóa và được bồi dưỡng thường xuyên
a Về công tác đào tạo
Để đáp ứng được trách nhiệm cao cả trong tình hình mới, đội ngũ giáo viênMầm non đòi hỏi phải có trình độ chuẩn từ trung cấp trở lên Đối với các trườngtrọng điểm của các Thành phố, tỉnh thì đội ngũ giáo viên Mầm non phải có trình độCao đẳng sư phạm trở lên Các vùng miền quá khó khăn hoặc các xã trắng mới xâydựng phong trào thì trình độ GVMN cũng phải đạt sơ cấp 9 tháng trở lên
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Mầm non cũng phải nâng chuẩn từ Caođẳng lên Đại học, có trình độ chuẩn như vậy thì đội ngũ CBQL và GVMN mới có
thể đáp ứng được mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển giáo dục đề ra: “ Đào tạo GVMN đáp ứng được nhu cầu giáo viên cho các cơ sở giáo dục Mầm non công
Trang 31lập, tiến tới chuẩn hóa đội ngũ giáo viên Mầm non Xây dựng chính sách đối với giáo viên Mầm non, đặc biệt là giáo viên ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa”[7, tr31].
b Về công tác bồi dưỡng thường xuyên
Ngày nay trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, sau thời gian ngắnkiến thức cũ đã trở nên lạc hậu Do đó, kiến thức được trang bị ở trường sư phạmcũng nhanh chóng trở nên lỗi thời Giáo viên, do phạm vi giao tiếp hẹp, công việctương đối ổn định trên một địa bàn, điều kiện tiếp nhận thông tin mới bị hạn chếnhất là giáo viên ở các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa Do đó, nếu không được bồidưỡng thường xuyên thì sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu
Thời kỳ CNH – HĐH đang đòi hỏi giáo dục, đào tạo phải đổi mới toàn diệnnhằm thực hiện mục tiêu đào tạo những nhân cách mới với những mục tiêu mangtính thời đại Nghị quyết TW 5 khóa VIII đã khẳng định:
Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết về trình độ chuyên môn, trình độthẩm mỹ và thể dục là một trong năm yêu cầu đối với con người Việt Nam tronggiai đoạn cách mạng mới
Chính vì vậy việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên không những nhằmhoàn thiện phẩm chất cho chính người giáo viên đó mà còn là cơ sở, là điều kiệncần thiết để xây dựng nhân cách cho cả thế hệ học sinh
1.5.3 Nội dung bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên Mầm non
a Các nội dung nhằm nâng cao nhận thức tư tưởng
Nội dung này giúp giáo viên nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, cácvăn bản quy phạm pháp luật, chính sách của Nhà nước, của ngành để nâng caonhận thức tư tưởng cho giáo viên nhằm củng cố và tăng cường kỷ cương, tìnhthương, trách nhiệm của giáo viên
b Các nội dung liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ của ngành học
Trang 32- Các phương pháp dạy học theo hướng đổi mới.
- Cập nhật hóa, hiện đại hóa kiến thức giúp giáo viên nâng cao tiềm lực, đónđầu những điều chỉnh về nội dung và phương pháp các môn học, các hoạt động sẽdiễn ra trong giai đoạn 2012 – 2015 và những năm tiếp theo
- Một số nội dung dựa trên cơ sở của địa bàn, địa phương đề xuất
- Các về đề xã hội: Ma túy, bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, phòng chốngHIV/ AIDS, văn hóa dân tộc, bảo tồn văn hóa địa phương…
c Các nội dung nhằm tăng cường các kỹ năng học tập cho người học
Giới thiệu chủ trương bồi dưỡng thường xuyên, các mục tiêu người học cầnđạt được ở từng giai đoạn, cách thức học tập với tài liệu, băng hình, các nghiêncứu, tiếp cận với các tài liệu học tập, cách thức liên hệ để tìm lời giải đáp
d Các nội dung giúp người học thực hành, thử nghiệm, tự đánh giá sau khi hoàn thành chương trình bồi dưỡng thường xuyên
- Các nội dung giúp người học biết cách thực hành những gì đã được học
- Đánh giá phương pháp giáo dục theo tinh thần đồi mới mà giáo viên đã biếtvận dụng
- Viết báo cáo kinh nghiệm trình bày trong nhóm và tự lập kế hoạch nhằmhoàn chỉnh kết quả bồi dưỡng
* Công tác bồi dưỡng thường xuyên đối với CBQLGDMN
Để Hiệu trưởng hỗ trợ được giáo viên trong học tập thì cần phải xây dựngmột học phần riêng về Hiệu trưởng với công tác chỉ đạo giáo viên học tập BDTX
Như vậy, đội ngũ CBQLGD cũng phải được bồi dưỡng thường xuyên đểnâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý, cập nhật thông tin
- Bồi dưỡng thường xuyên để nắm vững mục tiêu, nội dung, phương phápgiảng dạy trong từng giai đoạn của chiến lược phát triển giáo dục