1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu HOẠT ĐỘNG THU hút vốn đầu tư vào QUỸ HOÁN đổi DANH mục (ETF) tại mỹ và bài học CHO VIỆT NAM

80 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán được coi là một trong những kênh dẫn vốn của nền kinh tế. Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước tăng trưởng vượt bậc. Tính đến hết ngày 31122020, quy mô vốn hóa của thị trường chứng khoán đạt 5.293 tỷ đồng tương đương 228 tỷ USD, tăng trưởng 20% so với cuối năm 2019. Việc tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường chứng khoán trong năm 2020, bất chấp đại dịch COVID19 đã dẫn dắt chủ yếu bởi nhóm nhà đầu tư cá nhân mới, không có nhiều kiến thức chuyên sâu về đầu tư trong khi đó các nhà đầu tư nước ngoài lại bán ròng rất mạnh. Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư mới này được dự báo sẽ không đầu tư dài hạn và có thể gây mất ổn định cho thị trường chứng khoán. Nguyên nhân của việc này có thể do thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại vẫn chưa có nhiều lựa chọn cho các nhà đầu tư ngoài đầu tư vào các cổ phiếu niêm yết. Theo đó, việc nghiên cứu và phát triển những sản phẩm tài chính mới, đem lại lợi ích lâu dài cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thị trường chứng khoán thế giới là vô cùng cần thiết. Và một trong những sản phẩm tiềm năng nhất đó là quỹ hoán đổi danh mục (ETF). Mỹ là quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển nhất thế giới và cũng là nơi ra đời của quỹ hoán đổi danh mục. Tính đến cuối năm 2020, số lượng quỹ ETF trên toàn thế giới khoảng 7.600 quỹ, trong đó thị trường Mỹ có khoảng 2.204 quỹ ETF. Mặc dù chỉ chiếm khoảng 29% số lượng quỹ ETF trên toàn cầu nhưng lượng tài sản mà các quỹ ETF tại Mỹ quản lý lên tới 5,45 nghìn tỷ USD – chiếm tới hơn 70% lượng tài sản được quản lý bởi các quỹ ETF trên toàn cầu. Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động thu hút vốn đầu tư của các quỹ ETF tại Mỹ đang rất thành công. Mặc dù được tạo ra trên cơ sở pha trộn những sản phẩm đầu tư truyền thống sẵn có (cổ phiếu, quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở) nhưng quỹ ETF lại có những đặc điểm riêng, đem lại những ưu điểm nổi bật và sức hấp dẫn cao với nhà đầu tư. Để tìm hiểu sâu hơn về thị trường quỹ ETF tại Mỹ và cách Mỹ thu hút vốn đầu tư vào quỹ ETF với mong muốn góp phần tìm giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài :” Nghiên cứu hoạt động thu hút vốn đầu tư vào quỹ hoán đổi danh mục (ETF) tại Mỹ và bài học cho Việt Nam”. Tác giả mong rằng những kiến thức, phân tích và giải pháp đưa ra trong bài nghiên cứu này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và các quỹ ETF nói riêng. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước • Tình hình nghiên cứu trong nước Trong nước hiện nay có khá ít nghiên cứu về quỹ ETF do đây là một loại hình đầu tư còn mới và quy mô thị trường hiện tại khá nhỏ nên chưa được nhiều tác giả trong nước chú ý đến. Phạm Thúy Lan (2011) nghiên cứu về quỹ ETF và khả năng áp dụng ở Việt Nam với nghiên cứu thực tiễn xây dựng và phát triển thị trường ETF ở một số quốc gia và khu vực trên thế giới thông qua các số liệu và sự kiện cụ thể cho thấy thị trường ETF mỗi nước có đặc điểm và thành công riêng. Từ đó, tác giả kết luận việc áp dụng quỹ ETF tại Việt Nam là hoàn toàn khả thi và là một công cụ quan trọng để phát triển thị trường chứng khoán trong nước. Đỗ Phương Huyền (2019) nghiên vứu về các quỹ hoán đổi danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam với mẫu nghiên cứu là các quỹ ETF đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2016. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quỹ ETF là một công cụ tài chính thành công và các quỹ nội địa trên thị trường chứng khoán Việt Nam có mức chênh lệch so với chỉ số tham chiếu (Tracking error – TE) vượt trội hơn so với các quỹ ETF quốc tế do các quỹ nội địa chịu ít rủi ro hơn về tỷ giá, lệch giờ giao dịch so với các quỹ ETF. • Tình hình nghiên cứu nước ngoài David C. Brown, Scott Cederburg and Mitch Towner (2021) nghiên cứu về các sản phẩm quỹ ETF đầu tư cổ phiếu vượt trội trên thị chứng khoán Mỹ đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư đang đầu tư ngày một lớn lượng tiền vào các quỹ ETF có tương quan lớn với thị trường, chi phí quản lý thấp và có tính thanh khoản cao. Nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lợi ích mang lại của các quỹ ETF đang bị suy giảm do sự gia tăng về số lượng các quỹ ETF và sự đa dạng trong chiến lược dẫn đến sự phức tạp trong thị trường ETF. Vì vậy, nhóm tác giả kết luận rằng các nhà đầu tư muốn có lợi suất tốt và ổn định thì nên chỉ chú ý đến một nhóm nhỏ các quỹ ETF có chi phí thấp và tính thanh khoản cao. Itzhak BenDavid, Francesco A. Franzoni và Rabih Moussawi (2017) nghiên cứu về quỹ hoán đổi danh mục (ETF) đã chỉ ra rằng quỹ ETF là công cụ tài chính thay đổi hoàn toàn ngành quản lý tài sản trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Các quỹ ETF cung cấp các sự linh hoạt trong đầu tư mà các sản phẩm tài chính trước chưa có là chi phí giao dịch thấp, thanh khoản trong ngày và theo dõi chỉ số thụ động hàng ngày. Từ đó, tác giả kết luận rằng sự gia tăng các quỹ ETF đi đôi cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán. Jeffrey Meli, Shobhit Gupta and Zornitsa Todorova (2021) nghiên cứu quỹ ETF trái phiếu doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư tổ chức đang gia tăng đầu tư vào các quỹ này do nó thanh khoản cao hơn 20% so với thị trường trái phiếu. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra kết luận là các nhà đầu tư quan tâm đến tính thanh khoản của danh mục đầu tư có thể lựa chọn đầu tư vào các quỹ ETF của sản phẩm đó. • Khoảng trống nghiên cứu Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các quỹ ETF và đều chỉ ra rằng các quỹ ETF có những đặc tính vượt trội so với các sản phẩm đầu tư khác với các ưu điểm như chi phí thấp, tính thanh khoản cao. Nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đó đều chỉ nghiên cứu về cách thức vận hành của các quỹ ETF hiện có trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà chưa nói đến làm thế nào để thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam. Chính vì vậy, ở nghiên cứu này, tác giả sẽ nghiên cứu về hoạt động thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Mỹ để từ đó đưa ra các bài học để thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Việt Nam. 3. Mục đích nghiên cứu Để làm rõ vấn đề của bài nghiên cứu, đề tài này bao gồm những mục tiêu sau: Tìm hiểu về quỹ ETF, cách thức hoạt động của quỹ ETF, ưu nhược điểm so với các sản phẩm đầu tư khác và các rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF. Tìm hiểu bối cảnh thị trường chứng khoán, thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam và đưa ra các so sánh giữa hai thị trường. Ngoài ra, đưa ra được các giải pháp mà Mỹ đã áp dụng để thu hút vốn đầu tư vào quỹ ETF và khả năng áp dụng các giải pháp đó tại Việt Nam. Đưa ra được các khuyến nghị cho các nhà điều hành, cơ quan quản lý, các công ty quản lý quỹ và các nhà đầu tư trong việc thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Việt Nam với mục tiêu nâng cao hiệu quả thị trường chứng khoán. 4. Đối tượng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về hoạt động thu hút vốn đầu tư vào quỹ hoán đối danh mục (ETF) tại Mỹ và bài học cho Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Mỹ vì thị trường Mỹ là nơi thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tốt nhất trên thế giới, đóng góp 29% số lượng quỹ ETF nhưng lại chiếm đến 70% lượng tài sản quản lý bởi quỹ ETF trên toàn thế giới. 5. Phạm vi nghiên cứu  Về mặt thời gian: Thời gian nghiên cứu của bài khóa luận trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2020.  Về không gian: Bài khóa luận nghiên cứu về thị trường chứng khoán và thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam và so sánh hai thị trường, kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Mỹ và khả năng áp dụng các giải pháp đó tại Việt Nam. 6. Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên các phương pháp phổ biến như phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, tổng kết và khái quát hóa nhằm làm rõ các yếu tố đã giúp các quỹ ETF ở Mỹ thu hút vốn thành công và khả năng áp dụng các giải pháp đó tại Việt Nam. Từ đó, đưa ra các giải pháp để thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam. 7. Cấu trúc của đề tài Bài nghiên cứu gồm 69 trang, 11 bảng biểu, 9 biểu đồ và 2 sơ đồ. Không kể phần mục lục, danh mục bảng biểu, hình vẽ, tóm tắt, phần mở đầu phụ lục, tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu được kết cấu thành 3 chương như sau: Chương 1: Lý luận cơ bản về quỹ hoán đổi danh mục (ETF) Ở chương này, tác giả sẽ trình bày những thông tin cơ bản về quỹ ETF để giúp người đọc có cái nhìn căn bản, cách thức vận hành, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi suất của quỹ, ưu nhược điểm so với các loại hình đầu tư khác cũng như rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF. Chương 2: Bối cảnh thị trường Mỹ và Việt Nam Ở chương 2, tác giả sẽ nêu ra bối cảnh thị trường chứng khoán và thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam và đưa ra những so sánh ở hai thị trường này. Từ đó, tác giả sẽ đưa ra những giải pháp mà Mỹ đã thực hiện để thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF và khả năng áp dụng những giải pháp đó tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam Ở phần này, tác giả đưa ra những điều kiện để áp dụng các giải pháp của Mỹ tại Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF. Từ đó, tác giả đưa ra khuyến nghị cho các cơ quan quản lý, công ty quản lý quỹ và các nhà đầu tư để thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Việt Nam.  

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG THU HÚT VỐN ĐẦU

TƯ VÀO QUỸ HOÁN ĐỔI DANH MỤC (ETF) TẠI MỸ

VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : Ngô Đắc Thắng

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỀU ĐỐ iv

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUỸ HOÁN ĐỔI DANH MỤC (ETF) 7

1.1 Tổng quan về quỹ ETF 7

1.1.1 Các khái niệm và lịch sử ra đời và phát triển của quỹ ETF 7

1.1.2 Phân loại quỹ ETF 9

1.2 Cách thức hoạt động của quỹ ETF 10

1.2.1 Thị trường sơ cấp 10

1.2.2 Thị trường thứ cấp 12

1.3 Các yếu tố gây ra sự khác biệt giữa thị giá và giá trị tài sản ròng 14

1.3.1 Khác nhau về thời gian giao dịch 15

1.3.2 Giá không phản ánh đầy đủ thông tin 16

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi suất của quỹ ETF 16

1.4.1 Phí quản lý quỹ 17

1.4.2 Lựa chọn tài sản cơ sở đại diện cho chỉ số 17

1.4.3 Chứng chỉ lưu ký 18

1.4.4 Thay đổi trong chỉ số mô phỏng 18

1.4.5 Chính sách hạch toán 18

1.4.6 Các yêu cầu về mặt pháp lý và thuế 19

1.4.7 Cách thức hoạt động của quỹ 19

1.5 Ưu và nhược điểm của quỹ ETF 20

1.5.1 Ưu điểm 20

Trang 3

1.5.2 Nhược điểm 22

1.6 Các rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF 23

1.6.1 Rủi ro đối tác 23

1.6.2 Rủi ro đóng cửa 24

1.6.3 Rủi ro liên quan đến nhà đầu tư 25

CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ VIỆT NAM 26

2.1 Bối cảnh thị trường chứng khoán Mỹ và Việt Nam 26

2.1.1 Bối cảnh thị trường chứng khoán Mỹ 26

2.1.2 Bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam 33

2.1.3 So sánh thị trường chứng khoán Mỹ và thị trường chứng khoán Việt Nam 40

2.2 Bối cảnh thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam 41

2.2.1 Bối cảnh thị trường quỹ ETF tại Mỹ 41

2.2.2 Bối cảnh thị trường quỹ ETF tại Việt Nam 48

2.2.3 So sánh thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam 54

2.3 Giải pháp của Mỹ trong việc thu hút vốn đầu tư vào quỹ ETF 55

2.3.1 Giái pháp 55

2.3.2 Khả năng áp dụng tại Việt Nam 58

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC QUỸ ETF TẠI VIỆT NAM 61

3.1 Tổng quan công trình nghiên cứu 61

3.2 Hàm ý chính sách, khuyến nghị và một số đề xuất từ kết quả nghiên cứu 61

3.2.1 Điều kiện áp dụng 61

3.2.2 Giái pháp 62

3.3 Hạn chế của công trình nghiên cứu 68

Trang 4

3.4 Hướng nghiên cứu tương lai 68 KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỀU ĐỐ Danh mục sơ đồ

Sơ đồ 1.1: Quá trình phát hành chứng chỉ quỹ ETF 12

Sơ đồ 1.2: Quá trình bán lại chứng chỉ quỹ ETF 13

Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: Khối lượng giao dịch hàng ngày của các thị trường chứng khoán trên thế giới 27

Biểu đổ 2.2: Vốn hóa của các thị trường chứng khoán trên thế giới 28

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu thị trường trái phiếu Mỹ theo loại 29

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu quỹ đầu tư theo đối tượng 30

Biểu đồ 2.5: Quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam 34

Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ vốn hóa thị trường trên GDP 34

Biểu đồ 2.7: Quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam so với các nước trong khu vực 36

Biểu đồ 2.8: So sánh P/E một số quốc gia trong khu vực 38

Biểu đồ 2.9: Lượng tài sản quản lý bởi quỹ ETF tại Mỹ trong giai đoạn 2011 – 2020 41

Danh mục bảng Bảng 2.1: So sánh thị trường chứng khoán Mỹ và thị trường chứng khoán Việt Nam 38

Bảng 2.2: Phân bổ danh mục quỹ SPDR S&P 500 ETF Trust theo ngành 43

Bảng 2.3: Phân bổ danh mục quỹ iShare Core S&P 500 ETF theo ngành 44

Bảng 2.4: Phân bổ danh mục quỹ Vanguard Total Stock Market ETF theo ngành 44

Bảng 2.5: Phân bổ danh mục quỹ Vanguard S&P 500 ETF theo ngành 45

Bảng 2.6: Phân bổ danh mục quỹ Invesco QQQ Trust theo ngành 46

Trang 6

Bảng 2.7: Số lượng doanh nghiệp niêm yết, đăng ký giao dịch tại Việt Nam 48

Bảng 2.8: Phân bổ danh mục quỹ ETF VFMVN Diamond theo cổ phiếu 50

Bảng 2.9: Phân bổ danh mục quỹ ETF VFMVN30 theo cổ phiếu 51

Bảng 2.10: Phân bổ danh mục quỹ ETF SSIAM VNFin Lead theo cổ phiếu 52

Bảng 2.11: So sánh thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam 54

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

NSCC National Security Clearing

Corporation

Tổng Công ty Thanh toán Bù trừ Chứng khoán Quốc gia VSD Vietnam Securities Depository Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt

Nam HoSE HoChiMinh Stock Exchange Sở Giao dịch Chứng khoán Thành

phố Hồ Chí Minh

NYSE NewYork Stock Exchange Sở Giao dịch Chứng khoán NewYork NASDAQ

National Association of Securities Dealers Automated Quotation System

Hệ thống báo giá tự động của Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

quốc gia

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội ESG Environmental, Social, and

Governance Môi trường, Xã hội và Quản trị

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trang 8

Thị trường chứng khoán được coi là một trong những kênh dẫn vốn của nền kinh tế Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước tăng trưởng vượt bậc Tính đến hết ngày 31/12/2020, quy mô vốn hóa của thị trường chứng khoán đạt 5.293 tỷ đồng tương đương 228 tỷ USD, tăng trưởng 20% so với cuối năm 2019 Việc tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường chứng khoán trong năm 2020, bất chấp đại dịch COVID-19 đã dẫn dắt chủ yếu bởi nhóm nhà đầu tư cá nhân mới, không

có nhiều kiến thức chuyên sâu về đầu tư trong khi đó các nhà đầu tư nước ngoài lại bán ròng rất mạnh Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư mới này được dự báo sẽ không đầu tư dài hạn

và có thể gây mất ổn định cho thị trường chứng khoán Nguyên nhân của việc này có thể

do thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại vẫn chưa có nhiều lựa chọn cho các nhà đầu

tư ngoài đầu tư vào các cổ phiếu niêm yết Theo đó, việc nghiên cứu và phát triển những sản phẩm tài chính mới, đem lại lợi ích lâu dài cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thị trường chứng khoán thế giới là vô cùng cần thiết Và một trong những sản phẩm tiềm năng nhất đó là quỹ hoán đổi danh mục (ETF)

Mỹ là quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển nhất thế giới và cũng là nơi ra đời của quỹ hoán đổi danh mục Tính đến cuối năm 2020, số lượng quỹ ETF trên toàn thế giới khoảng 7.600 quỹ, trong đó thị trường Mỹ có khoảng 2.204 quỹ ETF Mặc dù chỉ chiếm khoảng 29% số lượng quỹ ETF trên toàn cầu nhưng lượng tài sản mà các quỹ ETF tại Mỹ quản lý lên tới 5,45 nghìn tỷ USD – chiếm tới hơn 70% lượng tài sản được quản lý bởi các quỹ ETF trên toàn cầu Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động thu hút vốn đầu tư của các quỹ ETF tại Mỹ đang rất thành công

Mặc dù được tạo ra trên cơ sở pha trộn những sản phẩm đầu tư truyền thống sẵn có (cổ phiếu, quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở) nhưng quỹ ETF lại có những đặc điểm riêng, đem lại những ưu điểm nổi bật và sức hấp dẫn cao với nhà đầu tư Để tìm hiểu sâu hơn về thị trường quỹ ETF tại Mỹ và cách Mỹ thu hút vốn đầu tư vào quỹ ETF với mong muốn góp phần tìm giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam,

tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài :” Nghiên cứu hoạt động thu hút vốn đầu tư vào

quỹ hoán đổi danh mục (ETF) tại Mỹ và bài học cho Việt Nam” Tác giả mong rằng

Trang 9

những kiến thức, phân tích và giải pháp đưa ra trong bài nghiên cứu này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và các quỹ ETF nói riêng

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong nước hiện nay có khá ít nghiên cứu về quỹ ETF do đây là một loại hình đầu tư còn mới và quy mô thị trường hiện tại khá nhỏ nên chưa được nhiều tác giả trong nước chú ý đến

Phạm Thúy Lan (2011) nghiên cứu về quỹ ETF và khả năng áp dụng ở Việt Nam với nghiên cứu thực tiễn xây dựng và phát triển thị trường ETF ở một số quốc gia và khu vực trên thế giới thông qua các số liệu và sự kiện cụ thể cho thấy thị trường ETF mỗi nước có đặc điểm và thành công riêng Từ đó, tác giả kết luận việc áp dụng quỹ ETF tại Việt Nam

là hoàn toàn khả thi và là một công cụ quan trọng để phát triển thị trường chứng khoán trong nước

Đỗ Phương Huyền (2019) nghiên vứu về các quỹ hoán đổi danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam với mẫu nghiên cứu là các quỹ ETF đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2016 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quỹ ETF là một công cụ tài chính thành công và các quỹ nội địa trên thị trường chứng khoán Việt Nam có mức chênh lệch so với chỉ số tham chiếu (Tracking error – TE) vượt trội hơn so với các quỹ ETF quốc tế do các quỹ nội địa chịu ít rủi ro hơn về tỷ giá, lệch giờ giao dịch so với các quỹ ETF

 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

David C Brown, Scott Cederburg and Mitch Towner (2021) nghiên cứu về các sản phẩm quỹ ETF đầu tư cổ phiếu vượt trội trên thị chứng khoán Mỹ đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư đang đầu tư ngày một lớn lượng tiền vào các quỹ ETF có tương quan lớn với thị trường, chi phí quản lý thấp và có tính thanh khoản cao Nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lợi ích mang lại của các quỹ ETF đang bị suy giảm do sự gia tăng về số lượng các quỹ ETF và sự đa dạng trong chiến lược dẫn đến sự phức tạp trong thị trường ETF Vì

Trang 10

vậy, nhóm tác giả kết luận rằng các nhà đầu tư muốn có lợi suất tốt và ổn định thì nên chỉ chú ý đến một nhóm nhỏ các quỹ ETF có chi phí thấp và tính thanh khoản cao

Itzhak Ben-David, Francesco A Franzoni và Rabih Moussawi (2017) nghiên cứu về quỹ hoán đổi danh mục (ETF) đã chỉ ra rằng quỹ ETF là công cụ tài chính thay đổi hoàn toàn ngành quản lý tài sản trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 Các quỹ ETF cung cấp các sự linh hoạt trong đầu tư mà các sản phẩm tài chính trước chưa có là chi phí giao dịch thấp, thanh khoản trong ngày và theo dõi chỉ số thụ động hàng ngày Từ đó, tác giả kết luận rằng sự gia tăng các quỹ ETF đi đôi cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán

Jeffrey Meli, Shobhit Gupta and Zornitsa Todorova (2021) nghiên cứu quỹ ETF trái phiếu doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ đã chỉ ra rằng các nhà đầu

tư tổ chức đang gia tăng đầu tư vào các quỹ này do nó thanh khoản cao hơn 20% so với thị trường trái phiếu Từ đó, nhóm tác giả đưa ra kết luận là các nhà đầu tư quan tâm đến tính thanh khoản của danh mục đầu tư có thể lựa chọn đầu tư vào các quỹ ETF của sản phẩm đó

 Khoảng trống nghiên cứu

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các quỹ ETF và đều chỉ ra rằng các quỹ ETF

có những đặc tính vượt trội so với các sản phẩm đầu tư khác với các ưu điểm như chi phí thấp, tính thanh khoản cao Nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đó đều chỉ nghiên cứu về cách thức vận hành của các quỹ ETF hiện có trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà chưa nói đến làm thế nào để thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam Chính vì vậy, ở nghiên cứu này, tác giả sẽ nghiên cứu về hoạt động thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Mỹ để từ đó đưa ra các bài học để thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Để làm rõ vấn đề của bài nghiên cứu, đề tài này bao gồm những mục tiêu sau:

Trang 11

- Tìm hiểu về quỹ ETF, cách thức hoạt động của quỹ ETF, ưu nhược điểm so với các sản phẩm đầu tư khác và các rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF

- Tìm hiểu bối cảnh thị trường chứng khoán, thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam và đưa ra các so sánh giữa hai thị trường Ngoài ra, đưa ra được các giải pháp mà Mỹ đã áp dụng để thu hút vốn đầu tư vào quỹ ETF và khả năng áp dụng các giải pháp đó tại Việt Nam

- Đưa ra được các khuyến nghị cho các nhà điều hành, cơ quan quản lý, các công ty quản

lý quỹ và các nhà đầu tư trong việc thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Việt Nam với mục tiêu nâng cao hiệu quả thị trường chứng khoán

4 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về hoạt động thu hút vốn đầu tư vào quỹ hoán đối danh mục (ETF) tại Mỹ và bài học cho Việt Nam Đối tượng nghiên cứu là hoạt động thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Mỹ vì thị trường Mỹ là nơi thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tốt nhất trên thế giới, đóng góp 29% số lượng quỹ ETF nhưng lại chiếm đến 70% lượng tài sản quản lý bởi quỹ ETF trên toàn thế giới

các quỹ ETF tại Mỹ và khả năng áp dụng các giải pháp đó tại Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên các phương pháp phổ biến như phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, tổng kết và khái quát hóa nhằm làm rõ các yếu tố

đã giúp các quỹ ETF ở Mỹ thu hút vốn thành công và khả năng áp dụng các giải pháp đó tại Việt Nam Từ đó, đưa ra các giải pháp để thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam

Trang 12

7 Cấu trúc của đề tài

Bài nghiên cứu gồm 69 trang, 11 bảng biểu, 9 biểu đồ và 2 sơ đồ Không kể phần mục lục, danh mục bảng biểu, hình vẽ, tóm tắt, phần mở đầu phụ lục, tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Lý luận cơ bản về quỹ hoán đổi danh mục (ETF)

Ở chương này, tác giả sẽ trình bày những thông tin cơ bản về quỹ ETF để giúp người đọc có cái nhìn căn bản, cách thức vận hành, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi suất của quỹ,

ưu nhược điểm so với các loại hình đầu tư khác cũng như rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF

Chương 2: Bối cảnh thị trường Mỹ và Việt Nam

Ở chương 2, tác giả sẽ nêu ra bối cảnh thị trường chứng khoán và thị trường quỹ ETF tại Mỹ và Việt Nam và đưa ra những so sánh ở hai thị trường này Từ đó, tác giả sẽ đưa ra những giải pháp mà Mỹ đã thực hiện để thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF và khả năng

áp dụng những giải pháp đó tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF tại Việt Nam

Ở phần này, tác giả đưa ra những điều kiện để áp dụng các giải pháp của Mỹ tại Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư vào các quỹ ETF Từ đó, tác giả đưa ra khuyến nghị cho các cơ quan quản lý, công ty quản lý quỹ và các nhà đầu tư để thu hút vốn vào các quỹ ETF tại Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUỸ HOÁN ĐỔI DANH MỤC (ETF) 1.1 Tổng quan về quỹ ETF

1.1.1 Các khái niệm và lịch sử ra đời và phát triển của quỹ ETF

Quỹ đầu tư là gì?

Quỹ đầu tư là một định chế tài chính thực hiện việc huy động vốn của những nguồn tiền nhãn rỗi khác nhau thông qua việc bán các chứng chỉ quỹ Quỹ sẽ sử dụng những khoản vốn góp này tập hợp lại, để đem đi đầu tư vào các loại tài sản trên thị trường như trái phiếu, cổ phiếu, tiền tệ… Lợi nhuận khi kiếm được sẽ chia cho những cổ đông góp vốn thông qua việc chi trả cổ tức Thực chất, đây là hình thức đầu tư tập thể bằng cách góp vốn chung giữa những nhà đầu tư cá nhân, tổ chức nhằm tăng tính chuyên nghiệp của việc đầu tư, tạo cơ hội giảm thiểu các rủi ro và chi phí liên quan tới quá trình đầu tư

Theo khoản 37 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định cụ thể: “Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu

tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ.”

 Quỹ ETF là gì?

Quỹ hoán đổi danh mục – ETF (Exchange-Traded Fund) là quỹ đầu tư với mục đích

mô phỏng tỷ suất sinh lợi của chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa hoặc một loại tài sản nào đó ETF là quỹ được thiết kế cho một số lượng nhà đầu tư cùng góp vốn Giấy chứng nhận sở hữu một phần quỹ ETF của nhà đầu tư được gọi là chứng chỉ ETF

Quỹ hoán đổi danh mục là loại hình quỹ mở (là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư), được hình thành

từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy chứng chỉ quỹ

Theo thông tư 229/2012/TT-BTC định nghĩa:” Quỹ hoán đổi danh mục, gọi tắt là quỹ ETF, là loại hình quỹ mở, hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán

cơ cấu lấy chứng chỉ quỹ Chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán”

Trang 14

 Lịch sử ra đời và phát triển của quỹ ETF

Ý tưởng đầu tư theo chỉ số đã có từ rất lâu, các quỹ ủy thác hay quỹ đầu tư dạng đóng đôi khi được tạo ra nhằm đem lại cơ hội đầu tư vào một tài sản nhất định Mặc dù vậy, các quỹ này không có sự tương đồng với quỹ ETF ngày nay

Nỗ lực đầu tiên nhằm xây dựng quỹ ETF là sự ra đời của quỹ Index Participation Shares nhằm mô phỏng chỉ số S&P 500 của Mỹ vào năm 1989 Thật không may, mặc dù nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư, sàn giao dịch Chicago đã đưa đơn kiện nhằm ngăn chặn sự phát triển của chúng Do đó, sự ra đời của các quỹ ETF thực thụ bị hoãn lại một thời gian

Quỹ ETF đầu tiên bắt đầu hoạt động vào tháng 1 năm 1993 S&P 500 Depository Receipt là quỹ đầu tiên thuộc loại hình này và vẫn là một trong những quỹ ETF có các giao dịch tích cực nhất hiện nay Mặc dù các quỹ ETF đầu tiên ra mắt vào năm 1993 nhưng phải đến 15 năm để có quỹ ETF quản lý chủ động đầu tiên trên thị trường

Các dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của quỹ ETF:

 Trong giai đoạn 1996 – 2001, khi giới đầu tư quan tâm hơn đến thị trường này thì cuộc đua chính thức bắt đầu Barclays tham gia vào lĩnh vực này vào năm 1996, State Street vào năm 1998 và Vanguard bắt đầu mở quỹ ETF vào năm 2001 Tính hết năm

2001, thị trường ETF đã tăng lên hơn 100 quỹ, cho thấy mức độ cạnh tranh đăng dần tăng lên trong thị trường này

 Năm 2002, quỹ ETF trái phiếu đầu tiên được ra đời, mô phỏng lại thị trường trái phiếu – đánh dấu sự mở đầu cho các quỹ ETF mô phỏng chỉ số ngoài chỉ số cổ phiếu Quy mô của thị trường quỹ ETF trong năm 2002 tăng gấp đôi so với cùng kỳ lên 246 quỹ trên toàn thế giới

 Năm 2007, đó là một năm đánh dấu sự phát triển vượt bậc của quỹ ETF, riêng ở Mỹ

đã có 269 quỹ ETF mô phỏng các chỉ số khác nhau đã được giới thiệu ra công chúng

 Đến năm 2009 – 2010, đã có trên 1000 quỹ ETF hoạt động trên toàn nước Mỹ với tổng tài sản dưới quyền quản lý của các quỹ ETF đạt mức 1.000 tỷ USD

Trang 15

 Bước sang năm 2012, sau khi trải qua các cuộc khủng hoàng thì đã có 81 quỹ ETF được thanh lý và đóng cửa

 Năm 2014, đánh dấu sự bùng nổ của thị trường ETF khi có hơn 1500 quỹ được thành lập với tổng tài sản dưới quyền quản lý lên tới 2.000 tỷ USD

 Năm 2016 là một năm có số lượng quỹ ETF đóng cửa đạt kỷ lục với 128 quỹ

 Năm 2018, số tài sản của quỹ ETF đã hơn 5.000 tỷ USD Tuy nhiên con số này chỉ bằng 1/3 so với các quỹ đầu tư chủ động

 Đầu năm 2021, đi cùng với sự bùng nổ của thị trường tiền điện tử là sự ra đời của quỹ ETF Bitcoin đầu tiên trên thế giới có tên Purpose Bitcoin ETF (mã giao dịch: BTCC), cho phép các nhà đầu tư rót tiền trực tiếp vào Bitcoin với số vốn nhỏ hơn mà không cần thông qua ví điện tử

1.1.2 Phân loại quỹ ETF

1.1.2.1 Theo loại tài sản cơ sở mà quỹ nắm giữ

 Quỹ ETF cổ phiếu (Equity ETF)

Là loại hình ETF xuất hiện đầu tiên trên thị trường chứng khoán dùng để mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là cổ phiếu

 Quỹ ETF trái phiếu (Bond ETF)

Là loại hình ETF xuất hiện thứ hai dùng mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là trái phiếu như trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, hay trái phiếu chính quyền địa phương,…

 Quỹ ETF hàng hóa (Commodity ETF)

Là loại hình ETF dùng để mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là hàng hóa như vàng, bạc, nông sản,…

 Quỹ ETF tiền tệ (Currency ETF)

Là loại hình ETF dùng để mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ sở là tiền tệ của các nước phát triển như USD, JPY, CAD,…

 Quỹ ETF tiền điện tử (Cryptocurrency ETF)

Là loại hình ETF mới ra đời trong năm 2021 dùng để mô phỏng các chỉ số có tài sản cơ

sở là tiền điện tử như Bitcoin, Dogecoin,…

Trang 16

1.1.2.2 Theo phương thức quản lý

 Quản lý quỹ ETF theo phương thức bị động

Là loại hình quản lý quỹ ETF theo phương thức mô phỏng lại hoàn toàn lợi suất của một chỉ số nhất định

 Quản lý quỹ ETF theo phương thức chủ động

Trong khi ETF thường biết đến là hình thức đầu tư bị động mô phỏng lại lợi suất của một chỉ số nhưng loại hình quỹ ETF quản lý theo phương thức chủ động đã bắt đầu được giới thiệu vào năm 2008 Điển hình của chiến lược quỹ ETF chủ động là phương pháp đầu tư Smart Beta – đây là sự kết hợp của 2 phương pháp chủ động và bị động để thu được Alpha (mức lợi suất vượt trên mức lợi suất của đầu tư bị động), đặc biệt được sử dụng cho các quỹ ETF trái phiếu

1.1.2.3 Theo phương pháp mô phỏng chỉ số

 Quỹ ETF mô phỏng chỉ số theo phương pháp trực tiếp (physical replication)

Phương pháp mô phỏng chỉ số này sẽ mô phỏng lại lợi suất của một chỉ số bằng cách nắm giữ tất cả hoặc một phần các tài sản cơ sở của chỉ số này ở trong danh mục của quỹ với tỷ trọng gần giống với tỷ trọng ở trong chỉ số đó

 Quỹ ETF mô phỏng chỉ số theo phương pháp gián tiếp (synthetic replication)

Ngược lại với phương pháp mô phỏng trực tiếp, quỹ ETF có thể mô phỏng gián tiếp một chỉ số thông qua nắm giữ các hợp đồng phái sinh Phương pháp mô phỏng này thường phổ biến ở các quốc gia Châu Âu hơn ở Mỹ

1.2 Cách thức hoạt động của quỹ ETF

1.2.1 Thị trường sơ cấp

Tại thị trường sơ cấp, các Thành Viên Lập Quỹ (Authorized Participants – APs) là những nhà đầu tư duy nhất có thể phát hành (creation) hay thu hồi (redemption) các chứng chỉ quỹ ETF Những Thành Viên Lập Quỹ này thường là những tổ chức tài chính lớn như ngân hàng, công ty chứng khoán, Tại Việt Nam, các Thành Viên Lập Quỹ thường là các công ty chứng khoán Hàng ngày, các công ty quản lý quỹ ETF sẽ công bố

Trang 17

một danh mục tài sản cơ sở trong đó bao gồm tên cụ thể các tài sản cơ sở và số lượng của từng tài sản cơ sở được gọi là danh mục phát hành (creation basket) Danh mục này cũng được dùng để quyết định giá trị nội tại của chứng chỉ quỹ dựa trên giá giao dịch hàng ngày của các tài sản cơ sở đó

Để tạo ra chứng chỉ quỹ ETF mới, những Thành Viên Lập Quỹ sẽ không mua chứng chỉ quỹ ETF bằng tiền mà sẽ mua các tài sản cơ sở để tạo thành một danh mục giống với danh mục phát hành (creation basket) Việc mua các tài sản cơ sở này sẽ được diễn ra trên thị trường thứ cấp hoặc sử dụng các chứng khoán mà những Thành Viên Lập Quỹ này đang nắm giữ Sau khi tạo lập xong danh mục thì các nhà đầu tư sẽ chuyển danh mục này cho các công ty quản lý quỹ và nhận lại một lượng chứng chỉ quỹ tương đương với giá trị danh mục Quá trình này thường diễn ra sau khi thị trường thứ cấp đã đóng cửa thông qua giao dịch thỏa thuận giữa hai bên Ngược lại, nếu Thành Viên Lập Quỹ không muốn tiếp tục đầu tư chứng chỉ quỹ, họ có thể trao đổi chứng chỉ quỹ này với công ty quản lý quỹ để nhận lại danh mục phát hành tại ngày trao đổi và sau đó các nhà đầu tư này có thể bán chúng thông qua thị trường thứ cấp

Khi giá trị của danh mục tài sản cơ sở này khác so với giá trị tương đương của chứng chỉ quỹ thì có khả năng tồn tại cơ hội kiếm lời từ chênh lệch giá cho các Thành Viên Lập Quỹ Nếu giá hiện tại của danh mục tài sản cơ sở lớn hơn thị giá của chứng chỉ quỹ, các nhà đầu tư này có thể ngay lập tức mua các chứng chỉ quỹ trên thị trường thứ cấp và quy đổi thành danh mục tài sản cơ sở và bán lại trên thị trường thứ cấp để kiếm lợi nhuận Trong trường hợp này thì chứng chỉ quỹ đang được định giá thấp hay nói cách khác là đang giao dịch ở một mức chiết khấu (discount) Ngược lại, nếu thị giá của chứng chỉ quỹ cao hơn so với giá tri tương đương của danh mục tài sản cơ sở thì các Thành Viên Lập Quỹ có thể mua danh mục tài sản cơ sở trên thị trường thứ cấp và ngay lập tức quy đổi ra chứng chỉ quỹ ETF rồi bán trên thị trường thứ cấp Lúc này chứng chỉ quỹ ETF đang được định giá cao hay nói cách khác là đang được giao dịch ở một mức cao hơn so với giá trị ròng (premium)

Quá trình kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá của các Thành Viên Lập Quỹ trên thực tế không diễn ra một cách dễ dàng bởi vì họ phải chịu các chi phí liên quan đến quá trình

Trang 18

mua bán trên thị trường thứ cấp và các loại phí mà công ty quản lý quỹ quy định Ngoài

ra, các nhả đầu tư lớn còn phải chịu rủi ro liên quan đến quá trình giao dịch các tài sản cơ

sở khi các tài sản này khó có thể tiếp cận ngay lập tức khi họ nhận thấy có thể kiếm lời từ việc chênh lệch giá Ví dụ, khi một quỹ ETF niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ đầu tư vào cổ phiếu tại Nhật Bản, các Thành Viên Lập Quỹ khi đó sẽ chỉ hoàn thành được một nửa giao dịch (giả sử là bán lại chứng chỉ quỹ ETF tại Mỹ và nhận lại danh mục tài sản cở sở) nhưng phải đợi đến khi thị trường chứng khoán Nhật Bản mở cửa mới có thể bán danh mục tài sản cơ sở Sự khác nhau về mặt thời gian này tạo ra sự không chắc chắn cho các Thành Viên Lập Quỹ khiến cho quá trình kiếm lời từ chênh lệch giá trở lên khó khăn hơn Tương tự với khi danh mục tài sản cở sở có tính thanh khoản thấp, các nhà đầu

tư tổ chức lớn có thể cần thêm thời gian để mua hoặc bán các tài sản cơ sở này

1.2.2 Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ ETF giữa các nhà đầu tư bao gồm cả các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư tổ chức Chứng chỉ quỹ ETF được giao dịch thông qua thị trường thứ cấp với các quy định và quá trình giống như các

cổ phiếu niêm yết khác

Tại Mỹ, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ sẽ được thực hiện vào các ngày làm việc và cuối ngày sẽ được gửi đến Tổng Công ty Thanh toán Bù trừ Chứng khoán Quốc gia (National Security Clearing Corporation – NSCC) Khi có một nhà đầu tư bán cổ phiếu cho một nhà đầu tư khác thì NSCC sẽ đứng ra làm người đảm bảo cho quá trình giao dịch giữa hai bên và chắc chắn rằng tất cả các bên sẽ hạn chế nhất việc phải chịu các vấn đề liên quan đến vận hành hệ thống Và sau đó, người mua sẽ được đảm bảo lợi ích của việc sở hữu một cổ phiếu (hay chứng chỉ quỹ ETF) như trả cổ tức, quyền được tham

dự Đại hội đồng cổ đông thường niên,… Tổng Công ty thanh toán bù trừ chứng khoán quốc gia sẽ có 2 ngày để hoàn thành quá trình giao dịch chứng chỉ quỹ ETF Nhưng với Thành Viên Lập Quỹ thì NSCC sẽ có các chính sách đối xử đặc biệt Bởi vì vai trò của những nhà đầu tư này là để giúp thị trường hoạt động một cách liên tục bằng cách mua bán chứng khoán khi cung và cầu của nó không cân xứng và cần có thời gian để khởi tạp

Trang 19

hoặc mượn chứng chỉ quỹ ETF nên họ thường được cho 6 ngày để hoàn thiện quá trình giao dịch chứng chỉ quỹ ETF

Tại châu Âu, phần lớn các chứng chỉ quỹ ETF đều được sở hữu bởi nhà đầu tư tổ chức Thêm nữa, thị trường châu Âu thường bị phân mảnh trên nhiều sàn giao dịch, các khu vực pháp lý và các cơ quan thanh toán bù trừ Thị trường phân mảnh như vậy đến từ việc sử dụng nhiều chiến lược giao dịch khác nhau bởi các nhà đầu tư ở cả hai thị trường

sơ cấp và thứ cấp cho các chứng chỉ quỹ ETF Phần lớn giao dịch được thực hiện bằng cách giao dịch thỏa thuận trên thị trường sơ cấp giữa các nhà đầu tư tổ chức lớn và mặc

dù các giao dịch này được báo cáo nhưng nó thường không xuất hiện giá mua bán công khai trên thị trường trước khi được thực hiện Hầu hết các chứng chỉ quỹ ETF ở châu Âu được niêm yết trên nhiều sàn giao dịch và có thể có nhiều loại tài sản khác nhau tồn tại trong danh mục với mục đích phòng ngừa rủi ro tỷ giá Ngoài ra, quá trình thanh toán cũng phân mảnh Khi tại Mỹ, các giao dịch được thực hiện và thanh toán tập trung thì ở châu Âu có tới tận 29 trung tâm lưu ký chứng khoán trung ương Trên thực tế, điều này không có tác động trực tiếp đến các nhà đầu tư và sự phức tạp của một hệ thống như vậy

có thể dẫn đến việc chênh lệch giá rộng hơn và chi phí giao dịch cao hơn

Tại Việt Nam, các chứng chỉ quỹ ETF thường được niêm yết trên thị trường thứ cấp tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) và được giao dịch giống như các cổ phiếu niêm yết khác Nhà đầu tư sẽ mua chứng chỉ quỹ ETF trên thị trường thứ cấp thông qua việc mở tài khoản tại các công ty chứng khoán và sau đó 3 ngày chứng chỉ quỹ ETF sẽ về tài khoản của nhà đầu tư, khi đó nhà đầu tư mới có thể tiếp tục giao dịch bán chứng chỉ quỹ ETF này Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) sẽ là

tổ chức cung cấp dịch vụ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán trên Sở Giao dịch Chứng khoán VSD sẽ đảm bảo các quyền lợi của nhà đầu tư như thanh toán cổ tức, quyền sở hữu chứng khoán của nhà đầu tư để tham dự đại hội đồng cổ đông thường niên, Nếu nhà đầu tư bán chứng chỉ quỹ này đi thì sau 2 ngày tiền sẽ được trả về tài khoản của nhà đầu tư; khi đó, nhà đầu tư mới có thể tiếp tục mua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp

Trang 20

Sơ đồ 1.1: Quá trình phát hành chứng chỉ quỹ ETF

Trang 21

Vào cuối mỗi ngày giao dịch, mỗi chứng chỉ quỹ sẽ có một giá trị tài sản ròng (NAV) cuối ngày mà ở đó việc phát hành hay mua lại được diễn ra và có thể được so sánh với thị giá của chứng chỉ quỹ ETF trên thị trường thứ cấp Hầu hết các nhà đầu tư tính toán lợi nhuận dựa trên giá trị tài sản ròng cuối ngày này NAV được dùng để đánh giá chính xác giá trị hợp lý của quỹ ETF Đây là trường hợp khi chứng khoán cơ sở giao dịch trên cùng một sàn giao dịch mà chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết (hoặc giao dịch), bời vì những chứng khoán này giao dịch trong cùng một cấu trúc thị trường và có cùng thời điểm giá đóng cửa như chứng chỉ quỹ ETF Trên thực tế, có nhiều trường hợp thị giá và giá trị tài sản ròng của chứng chỉ quỹ ETF có những sự khác nhau tạo ra những cơ hội kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá đến từ hai nguyên ngân chính là khác nhau về thời gian giao dịch

và giá không phản ánh đầy đủ thông tin

1.3.1 Khác nhau về thời gian giao dịch

Giá trị tài sản ròng thường được xem như là một chỉ báo không tốt cho chứng chỉ quỹ ETF mà nắm giữ các chứng khoán quốc tế bởi vì sự khác nhau trong thời gian giao dịch giữa tài sản cơ sở và sở giao dịch nơi chứng chỉ quỹ ETF giao dịch Ví dụ, trường hợp chứng khoán quốc tế được nắm giữ trong danh mục của quỹ ETF đang được giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ, giá trị tài sản ròng của quỹ có thể được tính dựa trên giá đóng cửa thị trường ở Châu Á hoặc Châu Âu xảy ra vài giờ trước khi chứng chỉ quỹ ETF ngừng giao dịch trên sàn chứng khoán Mỹ

Đối với trái phiếu không được giao dịch trên sở giao dịch, nó thường không có giá đóng cửa vào cuối mỗi ngày giao dịch để sử dụng cho việc định giá trái phiếu trong danh mục Thay vào đó, các công ty quản lý quỹ sử dụng giá đặt mua từ các nhà đầu tư khác hoặc tổ chức thẩm định giá để xác định mức giá đại diện được dùng để định giá Trong trường hợp trái phiếu có thanh khoản thấp, các nhà cung cấp chỉ số sẽ sử dụng công ty thẩm định giá để định giá trái phiếu Các công ty thẩm định giá này thường sử dụng các trái phiếu có thanh khoản cao hơn với các tính năng tương tự để ước tính mức giá cho các trái phiếu thanh khoản thấp Thỉnh thoảng, đầu vào của mô hình định giá trái phiếu phản ánh giá mà tại đó các nhà đầu tư lớn mong muốn mua chúng và rủi ro cùng với chi phí để một nhà đầu tư lớn giữ trái phiếu trong danh mục đầu tư Trong trường hợp này, giá đóng

Trang 22

cửa của chứng chỉ quỹ ETF thường cao hơn giá đặt mua của trái phiếu cơ sở được nắm giữ để tính giá trị tài sản ròng, như vậy khiến thị giá chứng chỉ quỹ ETF được giao dịch ở mức cao hơn giá trị tài sản ròng Trong suốt thời gian thị trường khủng hoảng, gần như không có trái phiếu nào được giao dịch, dẫn đến các công ty thẩm định giá giá không dữ liệu đầu vào để cập nhật cho các mô hình của họ Cũng giống như các chứng chỉ quỹ ETF đầu tư vào chứng khoán quốc tế, điều này gây ra giá trị tài sản ròng trở không phản ánh được đầy đủ thông tin và trong trường hợp này giá trị định giá có thể đang quả cao so với điều kiện thị trường xấu Vì thế, những chứng chỉ quỹ ETF trái phiếu với khối lượng giao dịch cao có thể bị giao dịch tại một mức chiết khấu so với giá trị tài sản ròng Điều này phản ảnh sự đánh giá hiện tại nhất của thị trường về giá trị, chứng chỉ quỹ ETF có thanh khoản trở thành công cụ để dự báo giá của tài sản cơ sở

Chứng chỉ quỹ ETF cũng cung cấp dự báo giá cho thị trường sau giờ giao dịch Ví dụ, trong trường hợp chứng chỉ quỹ ETF giao dịch tại Mỹ đầu tư vào cổ phiếu ở châu Âu được giao dịch đến 4 giờ chiều, vài giờ sau khi thị trường châu Âu đóng cửa Trong trường hợp này, bất cứ sự khác nhau nào trong thị giá và giá trị tài sản ròng của chứng chỉ quỹ ETF do thị trường cơ sở đóng cửa không được coi là định giá sai; thay vào đó, nó được coi là một sự ước tính cho các giao dịch của tài sản cơ sở trong ngày hôm sau khi thị trường mở cửa

1.3.2 Giá không phản ánh đầy đủ thông tin

Chứng chỉ quỹ ETF không được giao dịch thường xuyên cũng có thể có sự khác biệt lớn so với giá trị tài sản ròng Chứng chỉ quỹ ETF không được giao dịch trong nhiều giờ trước khi thị trường đóng cửa trong khi giá trị tài sản ròng có thể đã tăng hoặc giảm mạnh trong suốt thời gian giao dịch bời vì có thông tin mới xuất hiện trên thị trường

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi suất của quỹ ETF

Các quỹ ETF được tạo ra để mô phỏng lợi suất của một chỉ số nào đó Nhưng lợi suất của quỹ ETF và lợi suất của chỉ số được mô phỏng vẫn có chút sự sai khác Một vài yếu

tố gây ra sự khác nhau này bao gồm phí quản lý quỹ, phương thức xây dựng danh mục,

Trang 23

chứng chỉ lưu ký, thay đổi chỉ số mô phỏng, chính sách kế toán của quỹ, thuế và pháp lý, cách thức hoạt động của quỹ

1.4.1 Phí quản lý quỹ

Phí quản lý quỹ là một trong những yếu tố các nhà đầu tư nên quan tâm đến đầu tiên

và nó cũng thường là nguyên nhân chính khiến cho lợi suất của các quỹ ETF thấp hơn so với chỉ số được mô phỏng Chi phí này thường nhỏ hơn nhiều so với các quỹ đầu tư tương

hỗ bởi vì các quỹ ETF thường không phải theo dõi từng tài khoản cá nhân của các nhà đầu tư nên các công ty quản lý quỹ không phải chịu chi phí trao đổi trực tiếp với từng nhà đầu tư Hơn nửa, các nhà quản lý quỹ ETF thường không phải làm các báo cáo về tài sản đảm bảo hay các nghiên cứu vĩ mô giống như các nhà quản lý quỹ chủ động nên sẽ tiết kiệm được khá nhiều chi phí nghiên cứu

Chi phí quản lý quỹ ETF trên thực tế rất đa dạng, phụ thuộc vào độ phức tạp trong việc xây dựng danh mục đầu tư (cần có bao nhiêu tài sản cơ sở trong danh mục của quỹ, tần suất cơ cấu danh mục hay sự khó khăn trong việc duy trì danh mục đó), khối lượng tài sản quỹ đang quản lý hay bối cảnh cạnh tranh trên thị trường Các công ty quản lý quỹ thường xuyên cạnh tranh nhau bằng phí quản lý quỹ, điều này dẫn đến phí quản lý quỹ trong dài hạn sẽ giảm xuống

1.4.2 Lựa chọn tài sản cơ sở đại diện cho chỉ số

Với các chỉ số ở thị trường nhỏ hoặc thanh khoản thấp, việc mua tất cả các tài sản cơ

sở trong chỉ số đó có thể rất khó khăn và tốn kém Vì vậy, các nhà quản lý quỹ có thể lựa chọn tối ưu hóa danh mục của quỹ bằng việc nắm giữ một phần các tài sản cơ sở có trong chỉ số đó Ví dụ cho việc này là vào ngày 7/12/2018, SPDR S&P Emerging Asia Pacific ETF (GMF) chỉ nắm giữ 763 trong số 2342 chứng khoán trong chỉ số S&P Asia Pacific Emerging BMI Index

Trang 24

Việc tối ưu hóa danh mục này có thể gây ảnh hưởng đến lợi suất của quý ETF trong dài hạn theo hai cách Thứ nhất, nó làm cho việc dự báo giá trị lợi nhuận trung bình trong tương lai trở lên khó khăn, đặc biệt là khi điều kiện thị trường thay đổi Thứ hai, nó cũng gây ra sự biến động mạnh hơn trong lợi suất đầu tư của quỹ so với lợi suất của chỉ số mô phỏng Vì vậy, việc tối ưu hóa này sẽ khiến lợi suất của quỹ ETF sẽ có thể cao hoặc thấp hơn lợi suất của chỉ số mô phỏng Nhưng việc tối ưu hóa này thường mang lại lợi suất cao hơn so với chỉ số mô phỏng vì các nhà quản lý quỹ sẽ thường chọn những tài sản cơ sở tốt nhất trong chỉ số để đưa vào danh mục của quỹ

1.4.3 Chứng chỉ lưu ký

Chứng chỉ lưu ký (Depositary Receipts) là loại chứng khoán được giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán trong nước, bằng đồng nội tệ và đại diện cho cổ phiếu của các công ty nước ngoài Khi thị trường có thanh khoản thấp hay bị giới hạn trong việc tiếp cận tài sản cơ sở trong chỉ số mô phỏng (giới hạn về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài), các nhà quản lý quỹ ETF thường lựa chọn nắm giữ chứng chỉ lưu ký thay vì nắm trực tiếp tài sản cơ sở Mặc dù lợi ích kinh tế có thể tương đương nhưng giờ giao dịch thường khác nhau giữa tài sản cơ sở và chứng chỉ lưu ký Sự khác nhau trong giờ giao dịch và giá của hai tài sản tạo ra sự khác biệt về lợi suất của quỹ so với chỉ số mô phỏng Đôi khi, các nhà quản lý quỹ lại lựa chọn nắm giữ

1.4.4 Thay đổi trong chỉ số mô phỏng

Các nhà tạo lập chỉ số sẽ cung cấp định kỳ các thay đổi trong thành phần hoặc tỷ trọng của các tài sản cơ sở để tuân thủ với phương pháp tạo lập chỉ số Trên thực tế, các nhà quản lý quỹ có thể thay đổi danh mục của mình trước hoặc sau ngày thay đổi chỉ số chính thực được diễn ra Nếu thị trường càng biến động mạnh, chênh lệch giữa giá mua

và giá bán càng lớn Các nhà quản lý quỹ ETF có thể sử dụng quá trình phát hành hoặc thu hồi để cơ cấu lại danh mục bằng cách liên kết với các Thành Viên Lập Quỹ để đảm bảo rằng việc cơ cấu dựa trên giá đóng cửa vào ngày cơ cấu danh mục, điều này giúp tối thiểu sự khác biệt giữa lợi suất của quỹ và lợi suất của chỉ số mô phỏng

1.4.5 Chính sách hạch toán

Trang 25

Sự khác nhau trong chính sách kế toán giữa quỹ ETF và chỉ số mô phỏng có thể tạo ra

sự khác biệt về lợi suất Một vài công ty quản lý quỹ ETF tuân theo quy ước của chỉ số ngành trong việc thiết lập định giá tiền tệ bằng cách sử dụng tỷ giá WM/Reuters (là tỷ giá ngoại hối giao ngay hoặc kỳ hạn mà được sử dụng làm tỷ giá chuẩn trong việc định giá và tính lợi suất), thường được tính toán vào lúc 4 giờ chiều theo giờ chuẩn Greenwich (GMT), trong khi đó những công ty quản lý quỹ còn lại tuân theo các thông lệ của ngành quỹ tương hỗ trong việc định giá tiền tệ khi kết thúc giao dịch chứng chỉ quỹ ETF Tại

Mỹ, thị trường chứng khoán đóng cửa vào lúc 4 giờ chiều (tức là 8 giờ tối theo giờ GMT) Các quỹ ETF trái phiều thường định giá các vị thế tại thời điểm thị trường chứng khoán đóng cửa, phù hợp với các thông lệ của ngành ETF Tuy nhiên, các chỉ số trái phiếu thường tuân theo thông lệ của thị trường trái phiếu là định giá trái phiếu vào một thời điểm sớm hơn

Những sự khác nhau trong việc định giá này tạo ra sự khác biệt giữa giá trị tài sản ròng của quỹ ETF và giá trị của chỉ số mô phỏng, đặc biệt ở các trái phiếu có biến động lớn như trái phiếu có thời gian đáo hạn dài Định giá khác nhau cũng có thể xảy ra với các chứng chỉ quỹ nắm giữ hợp đồng tương lai, chứng khoán quốc tế hay kim loại

1.4.6 Các yêu cầu về mặt pháp lý và thuế

Các yêu vầu về mặt pháp lý và thuế có thể gây ra sự khác nhau về lợi suất giữa quỹ ETF và chỉ số mô phỏng Những nhà đầu tư nước ngoài sở hữu chứng khoán trong nước

sẽ chịu một mức thuế trên mỗi đồng cổ tức nhận được khác so với những nhà đầu tư trong nước sở hữu cùng chứng khoán đó Tỷ lệ khấu trừ thuế được tính theo hiệp ước và nơi cư trú của nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy, các nhà tạo lập chỉ số có thể sử dụng thuế suất khác so với thuế suất mà các quỹ ETF phải chịu, điều này tạo ra sự khác biệt về lợi suất giữa quỹ ETF và chỉ số của nó

1.4.7 Cách thức hoạt động của quỹ

Các công ty quản lý quỹ ETF có thể tham gia cho vay chứng khoán để tăng thêm thu nhập từ đó bù đắp lại phần chí phí của quỹ Nhiều công ty quản lý quỹ ETF (hoặc các quỹ tương hỗ) cho vay một phần tài sản cơ sở trong danh mục nắm giữ của họ cho những

Trang 26

người muốn bán khống Thay vào đó, công ty quản lý quỹ sẽ nhận được phí và lợi nhuận

từ tài sản đảm bảo được ký quỹ bởi người đi vay (thường là các trái phiếu có kỳ hạn ngắn) Vì vậy, việc cho vay chứng khoán cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự khác biệt lợi suát giữa quỹ ETF và chỉ số mô phỏng

1.5 Ưu và nhược điểm của quỹ ETF

1.5.1 Ưu điểm

1.5.1.1 Công bằng và hiệu quả về thuế

Đối với các quỹ tương hỗ truyền thống, khi một nhà đầu tư rút vốn, quỹ sẽ phải bán tài sản cơ sở đang nắm giữ để lấy tiền mặt trả cho nhà đầu tư Bất cứ tài sản cơ sở nào bán

đi có lãi sẽ phải nộp một khoản thuế trên phần lợi nhuận thu được, khoản thuế này sẽ được phân bổ cho các nhà đầu tư còn lại Nói cách khác, đối với quỹ tương hỗ truyền thống, các cổ đông sẽ phải trả thuế do các cổ đông khác rút vốn khỏi quỹ Trái lại, một nhà đầu tư muốn bán chứng chỉ quỹ ETF cho nhà đầu tư khác trên thị trường thứ cấp Các nhà quản lý quỹ ETF thường sẽ không biết rằng giao dịch này dược diễn ra và không cần phải cơ cấu lại danh mục để phù hợp với những giao dịch này Vì vậy, việc giao dịch của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường thứ cấp không yêu cầu quỹ phải bán tài sản cơ sở

có trong danh mục của mình Nếu một Thành Viên Lập Quỹ muốn bán lại chứng chỉ quỹ, các công ty quản lý quỹ sẽ trả lại danh mục tài sản cơ sở tương đương với số lượng chứng chỉ quỹ mà nhà đầu tư định bán lại nên sẽ không có lợi nhuận thu được từ giao dịch này

và sẽ không phải nộp thuế Như vậy, nói quỹ ETF có tính công bằng về thuế vì các hành động bán chứng chỉ quỹ của một nhà đầu tư không phát sinh thuế cho các nhà đầu tư còn lại

Quá trình bán lại chứng chỉ quỹ ETF cũng cho phép các nhà quản lý quỹ có thể điều chỉnh các nghĩa vụ thuế của quỹ Khi một Thành Viên Lập Quỹ muốn bán chứng chỉ quỹ, các nhà quản lý quỹ ETF có thể lựa chọn những lô tài sản cơ sở để trao đổi với các nhà đầu tư này Bằng việc lựa chọn những lô tài sản cơ sở với mức lợi nhuận chưa thực hiện lớn nhất nghĩa là chúng được mua với mức giá vốn thấp nhất nên các nhà quản lý quỹ ETF có thể giảm thiểu lợi nhuận tiềm năng của quỹ trong tương lai Như vậy, quỹ ETF cho phép các nhà quản lý quỹ có thể giới hạn mức lợi nhuận chưa thực hiện trong danh

Trang 27

mục của mình Việc giới hạn này sẽ có lợi khi quỹ ETF thực hiện cơ cấu danh mục của mình Giả sử khi chỉ số mô phỏng thay thế một tài sản cơ sở hiện tại, khi đó quỹ ETF sẽ phải bán tài sản cơ sở đó đi để cơ cấu lại danh mục Nếu giá bán lớn hơn giá mua thì tức

là quỹ đã thu được lợi nhuận và phải có nghĩa vụ nộp thuế trên phần lợi nhuận nhận được Trong trường hợp, chỉ số mô phỏng chi thay đổi tỷ trọng của các tài sản cơ sở thì quỹ ETF cũng có thể tối ưu thuế phải nộp thông qua việc trao đổi tài sản cơ sở với các nhà đầu

tư tổ chức lớn mà không cần phải bán và thu lợi nhuận

Một số loại quỹ ETF có nhiều khả năng phải bán tài sản cơ sở để thu lợi nhuận Đáng chú ý nhất là quỹ ETF trái phiếu, họ có thể thu lợi nhuận từ việc bán trái phiếu đã mua ở một mức giá chiết khấu hoặc khi trái phiếu được bán để phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ (ví dụ như khi đến ngày mà trái phiếu chỉ còn 12 tháng nữa là đến ngày đáo hạn và do

đó, các nhà quản lý quỹ không được giữ chúng trong danh mục của một quỹ trái phiếu trung hạn) Ngoài ra, các nhà quản lý danh mục ETF trái phiếu đôi khi cũng đưa ra việc mua lại chứng chỉ quỹ ETF bằng tiền mặt cho các nhà đầu tư tổ chức lớn để thúc đẩy tính thanh khoản của quỹ

1.5.1.2 Thông tin minh bạch

Đối với các quỹ tương hỗ truyền thống, việc công bố báo cáo hoạt động sẽ được diễn

ra hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm Nhưng đối với quỹ ETF, các công ty quản lý quỹ

sẽ công bố kết quả hoạt động, danh mục và số lượng tài sản cơ sở mà quỹ đang đầu tư hay

sự sai lệch giữa lợi nhuận của quỹ và chỉ số mô phỏng theo ngày trên website của công ty quản lý quỹ Ngoài ra, Sở giao dịch chứng khoán cũng công bố chỉ số mô phỏng liên tục trên website trong phiên giao dịch

1.5.1.3 Đa dạng hóa danh mục đầu tư

Một trong những ưu điểm nổi bật của quỹ ETF đó là giúp đa dạng hóa danh mục đầu

tư Ngoại trừ các nhà đẩu tư tổ chức lớn, các nhà đầu tư cá nhân thường rất khó khăn và tốn kém khi xây dựng một danh mục đầu tư trái phiếu (thường bị giới hạn khối lượng mua trái phiếu tối thiểu) so với việc giao dịch cổ phiếu Nhưng bài toàn này sẽ được giải quyết nhờ quỹ ETF trái phiếu, các nhà đầu tư cá nhân có thể mua chứng chỉ quỹ ETF trái phiếu

Trang 28

trên thị trường thứ cấp với số vốn nhỏ hơn rất nhiều lần mua trái phiếu cơ sở Một ví dụ điển hình nữa là khi một nhà đầu tư chứng khoán ở Mỹ muốn đa dạng hóa danh mục và tăng lợi suất đầu tư bằng cách mua các chứng chỉ quỹ ETF đầu tư vào các thị trường mới nổi tại châu Á bởi vì mua trực tiếp chứng khoán ở các quốc gia khác thường khó khăn với các nhà đầu tư nước ngoài Điều này giúp cho nhà đầu tư giảm thiểu được rủi ro tập trung vào một thị trường

Các nhà tư vấn tài chính cũng có thể sử dụng chứng chỉ quỹ ETF để xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng và phù hợp với báo cáo chính sách đầu tư của khách hàng một cách dễ dàng và nhanh chóng mà không phải tốn nhiều thời gian để nghiên cứu từng tài sản cơ sở Thông thường, các công ty dịch vụ tái chình thường có một danh sách các quỹ ETF đã được phê duyệt trước trong danh sách sản phẩm để phù hợp với nhiều loại tài sản

và các yếu tổ rủi ro khác nhau

1.5.2 Nhược điểm

1.5.2.1 Khó thu được lợi nhuận vượt trội

Đa số chiến lược của các quỹ ETF là đầu tư thụ động – tức là mô phỏng lại lợi suất của một chỉ số Với các thị trường phát triển thì đầu tư thụ động có thể đem lại lợi suất tương đương với đầu tư chủ đông khi mà các thông tin phản ảnh khá đầy đủ vào thị trường chứng khoán Nhưng ở các thị trường chưa phát triển, các thông tin chưa phản ảnh kịp thời thì đầu tư vào chứng chỉ quỹ ETF không phải là một lựa chọn được ưu tiên với đa

số các nhà đầu tư Tại các thị trường này, các nhà đầu tư có thể kiếm được mức lợi nhuận vượt trội nhờ phân tích, nghiên cứu cổ phiếu, lựa chọn thời điểm mua vào và bán ra phù hợp Vì vậy, đầu tư vào quỹ ETF sẽ phù hợp với các nhà đầu tư dài hạn, không có kiến thức chuyên sâu về tài chính và mong muốn kiếm một mức lợi nhuận trung bình

1.5.2.2 Bất lợi cho các nhà đầu tư cá nhân

Các nhà đầu tư lớn có thể mua bán song song trên cả hai thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Khi nhận thấy thị giá và giá trị tài sản ròng của chứng chỉ quỹ ETF có sự khác nhau, các nhà đầu tư tổ chức này có thể có cơ hội kiểm lời từ việc chênh lệch giá mà gần như không phải chịu rủi ro Ngược lại, các nhà đầu tư cá nhân chỉ giao dịch được

Trang 29

chứng chỉ quỹ ETF trên thị trường thứ cấp Nếu chứng chỉ quỹ này có thanh khoản thấp – tức là giá không thay đổi nhiều qua các phiên giao dịch, trong khi đó tài sản cơ sở lại có

sự tăng hoặc giảm trong phiên giao dịch thì các nhà đầu tư cá nhân sẽ không thu được lợi nhuận trong khi các nhà đầu tư tổ chức lại có lợi từ tình trạng này

1.6 Các rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF

1.6.1 Rủi ro đối tác

Một số cấu trúc pháp lý của quỹ ETF bao gồm sự phụ thuộc vào một đối tác Sự thất bại của phía đối tác có thể khiến khoản tiền gốc của nhà đẩu tư bị phá sản hoặc ảnh hưởng đến một phần tài sản do rủi ro thanh toán Tương tự như vậy, hoạt động của phía đối tác

sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của quỹ Do đó, nhà đầu tư nên đánh giá cẩn thận rủi

ro từ phía các đối tác

Thương phiếu hoán đổi (ETN) là một sản phẩm được phát triển từ ETF thường được phát hành bởi các ngân hàng là một khoản nợ không tài sản đảm bảo mà kỳ vọng sẽ trả cho các nhà đầu tư lợi nhuận của một chỉ số trừ đi phí quản lý Các nhà phát hành thương phiếu thường có trách nhiệm thiết lập các biện pháp phòng ngừa tương đương mà họ tin rằng cần thiết để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ Thương phiếu hoán đổi danh mục có rủi ro đối tác lớn nhất trong tất cả sản phẩm hoán đổi danh mục bởi vì nó không có tài sản đảm bảo và vì vậy, nó có thể phả sản Về mặt lý thuyết, rủi ro đối tác của một ETN là 100% trong các trường hợp ngân hàng bảo lãnh vỡ nợ, và nếu ngân hàng phát hành tuyên bố phá sản thì bất kỳ ETN nào do ngân hàng phát hành sẽ trở nên vô giá trị

Tại Mỹ, một số quỹ ETF tiền gửi đầu tư vào tiền gửi không phải USD thông qua việc gửi tiền vào các ngân hàng ở nước ngoài Các khoản tiền này lại chịu rủi ro vỡ nợ tài ngân hàng giữ tiền

Một số quỹ ETF mà sử dụng các hợp đồng phái sinh trên thị trường sơ cấp như hoán đổi để tăng tính thị trường cho quỹ sẽ có rủi ro thanh toán; nghĩa là, lợi nhuận hàng ngày (chưa thực hiện) sẽ đối mặt với rủi ro vỡ nợ từ phía đối tác Những quỹ dạng này bao gồm quỹ ETF tổng hợp, quỹ ETF sử dụng đòn bẩy, một số quỹ ETF tiền tệ và một số quỹ ETF chủ động Để giảm thiểu rủi ro thanh toán, các hợp đồng phái sinh trên thị trường sơ cấp

Trang 30

được thanh toán thường xuyên – thường là hàng ngày hoặc hàng tuần Việc thanh toán thường xuyên này làm giảm rủi ro mà các đối tác hoán đổi phải đối mặt nếu một công ty phá sản, nhưng lại có rủi ro về mặt vỡ nợ của đối tác giữa những kỳ thanh toán Giao dịch hoán đổi còn được sử dụng bởi các quỹ tương hỗ để tăng tính thị trường Với các quỹ ETF, giao dịch hoán đồi có gì đó minh bạch hơn bởi vì việc nắm giữ này sẽ được công bố hàng ngày, mặc dù thông tin đầy đủ về các đối tác và điều khoản có thể không được tiết

lộ

Các quỹ ETF đôi khi cũng cho vay các tài sản cơ sở trong danh mục của mình cho các nhà đầu tư bán khống, lợi nhuận thu được sẽ để bù đắp các chi phí hoạt động của quỹ Thông thường khi cho vay chứng khoán, các nhà quản lý quỹ sẽ yêu cầu một mức ký quỹ nhất định từ phía người bán khống, tỷ lệ này lớn hơn 100% nên rủi ro đối tác trong trường hợp này khá thấp

1.6.2 Rủi ro đóng cửa

Cũng giống như các quỹ tương hỗ, các công ty quản lý quỹ cũng có thể đóng cửa quỹ ETF Trong trường hợp này, các quỹ thường sẽ bán hết danh mục tài sản cơ sở và trả lại tiền mặt cho các nhà đầu tư Hành động này đem lại cho các nhà đầu tư một lượng vốn và

họ phải tìm kiếm các khoản đầu tư thay thế Các lý do chính để đóng cửa quỹ bao gồm pháp lý, cạnh tranh và các hoạt động của công ty Đôi khi, các quỹ có thể đóng cửa tạm thời để thay đổi chiến lược đầu tư

 Pháp lý: các cơ quan pháp luật có thể thay đổi các quy định quản lý một số loại quỹ nhất định, dẫn đến việc buộc phải đóng cửa các quỹ đó Giả sử, hợp đồng tương lai hàng hóa đang được kiểm soát chặt chẽ và giời hạn các vị thế có thể khiến một số quỹ không thể thực hiện chiến lược của mình và buộc phải đóng cửa Ví dụ, một số quốc gia đã ban hành luật pháp để cấm thương phiếu hoán đổi nhằm giảm thiểu rủi ro cho thị trường tài chính, điều này khiến các sản phẩm ETN buộc phải đóng cửa và mở lại dưới dạng ETF truyền thống

 Cạnh tranh: Các nhà đầu tư sẽ hưởng lợi từ việc gia tăng số lượng các quỹ ETF và gia tăng cạnh tranh Khi nhiều quỹ ETF mở ra, một số quỹ không thu hút đủ lượng tài sản và

Trang 31

các nhà phát hành sẽ phải đóng cửa chúng Tài sản mà quỹ đang quản lý (so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác) và thanh khoản trung bình hàng ngày của chứng chỉ quỹ ETF là các chỉ báo quan trọng để đánh giá một quỹ ETF Nếu tài sản mà quỹ đang quản lý thấp

và khối lượng giao dịch thấp có thể cho thấy rủi ro đóng cửa của quỹ

 Mua bán sáp nhập: Việc mua bán sáp nhập giữa các quỹ ETF có thể dẫn đến việc đóng quỹ Khi các quỹ ETF mua bán hoặc sáp nhập với các quỹ ETF khác, công ty quản

lý quỹ mới có thể đóng cửa các quỹ ETF kém hiệu quả và đầu tư vào các cơ hội mới đem lại tăng trưởng cao hơn

 Thay đổi chiến lược đầu tư: Một số công ty quản lý quỹ ETF nhận thấy việc thay đổi mục đích của một quỹ ETF có lượng tài sản quản lý thấp trong danh sách hiện có của họ

dễ dàng hơn là đóng cửa một quỹ và mở một quỹ khác Các nhà phát hành thường thông báo thay đổi chỉ số mô phỏng của quỹ - một điều thường thấy trong ngành quản lý quỹ ETF Tuy nhiên, mặc dù hầu hết các thay đổi về chỉ số đều dẫn đến những điều chỉnh nhỏ đối với danh mục đầu tư và mức độ ảnh hưởng kinh tế của quỹ ETF, nhưng với đóng cửa tạm thời có thể dẫn đến một cuộc đại tu hoàn toàn, thay đổi tỷ lệ phân bổ tài sản giữa các quốc gia, ngành hoặc thậm chí là các loại tài sản

1.6.3 Rủi ro liên quan đến nhà đầu tư

Một số quỹ ETF có chiến lược đầu tư vào các loại tài sản rất phức tạp Đối với tất cả các quỹ ETF, có một điều quan trọng là các nhà đầu tư phải hiểu rõ mức độ rủi ro mà quỹ ETF cung cấp; nếu không, các quỹ ETF có thể gây rủi ro cho các nhà đầu tư mà không hiểu đầy đủ về chúng Đối với nhiều nhà đầu tư, quỹ ETF sử dụng đòn bẩy thường rơi vào trường hợp này do không đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư Phương pháp tạo ra chỉ số (ví dụ: tài sản cơ sở cấu thành, trọng số các tài sản cơ sở) và cách thức xây dựng danh mục đầu tư của quỹ là trọng tâm để hiểu các rủi ro của quỹ có thể gặp phải và kỳ vọng lợi suất tương ứng

Các quỹ ETF sử dụng đòn bẩy sẽ đầu tư gấp nhiều lần tài sản của quỹ vào một chỉ số thông qua việc sử dụng các công cụ phái sinh Ví dụ, một quỹ đầu tư 300% tài sản của quỹ vào chỉ số S&P 500 Index (chỉ số bao gồm 500 công ty có vốn hóa lớn nhất thị trường niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ) với giá trị tài sản ròng là 100 triệu

Trang 32

USD Quỹ này sẽ sử dụng hợp đồng hoán đổi với mức độ rủi ro danh nghĩa là 300 triệu USD Nếu trong một ngày chỉ số S&P 500 Index tăng 5%, thì 300 triệu USD sẽ trở thành

315 triệu USD và giá trị tài sản ròng của quỹ vào cuối ngày là 115 triệu USD (lợi suất 15% chỉ sau 1 ngày) Nhưng ngược lại, nếu chỉ số S&P 500 Index giảm 5%, thì 300 USD ban đầu sẽ giảm còn 285 USD và giá trị tài sàn ròng khi đó chỉ còn lại 85 USD (giảm 15% chỉ sau 1 ngày) Như vậy, quỹ ETF sử dụng đòn bẩy chỉ phù hợp với các nhà đầu cơ muốn kiếm lời một cách nhanh chóng nhưng rủi ro cao

CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ VIỆT NAM

2.1 Bối cảnh thị trường chứng khoán Mỹ và Việt Nam

2.1.1 Bối cảnh thị trường chứng khoán Mỹ

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Mỹ

Lịch sử giao dịch chứng khoán tại Mỹ đã xuất hiện cách đây hơn 230 năm về trước Khi đó, các chính phủ thực dân đã quyết định thời kì hoạt động tài chính bằng cách bán trái phiếu và hứa hẹn sẽ trả tiền lợi nhuận vào một thời gian sau Cũng tại thời điểm đó, các ngân hàng bắt đầu tăng lượng tiền bằng cách phát hành trái phiếu và cổ phiếu Lúc này xuất hiện một thị trường mới, thị trường để các nhà đầu tư sử dụng tiền để mang lại khả năng sinh lời

Chỉ ít lâu sau vào ngày 17/5/1792 tại phố Wall, 24 nhà môi giới và thương gia đã chính thức ký thỏa thuận Buttonwood thành lập thị trường chứng khoán New York (NYSE) Tại phiên họp các thương gia quyết định sẽ gặp nhau sẽ gặp nhau hàng ngày tại phố Wall để giao dịch cổ phiếu và trái phiếu

Đến năm 1800 đánh dấu sự ra đời của Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên – Sở Giao dịch Chứng khoán NewYork (NYSE) góp phần thúc đẩy kinh tế Mỹ có mức tăng trưởng nhanh chóng Các doanh nghiệp cần vốn nhằm đáp ứng được nhu cầu mới của thị trường

Họ nhận ra rằng các nhà đầu tư sẽ quan tâm đến việc mua cổ phiếu, một phần quyền sở hữu trong công ty Sở Giao dịch Chứng khoán NewYork khi đó đóng vai trò là một kênh dẫn vốn quan trọng giúp kết nối các nhà đầu tư và doanh nghiệp Ngoài ra, thị trường giao dịch chứng khoán này của Mỹ còn được gọi là thị trường phố Wall – nơi phôi thai những

Trang 33

giao dịch đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1864 và hiện là trung tâm giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới, quản lý tới hơn 80% các giao dịch chứng khoán của Mỹ và kể từ năm 1962

đã trở thành thị trường chứng khoán quốc gia

Từ đó, phố Wall được coi là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới gồm 8 phố tài chính, dài khoảng 1,1 km nằm trong khu Tài Chính thuộc vùng hạ Manhattan, New York

Đến năm 1971, thị trường phi tập trung (OTC) qua mạng máy tính NASDAQ được thành lập và là bộ phận lớn nhất của thị trường thứ cấp Mỹ xét về số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường với trên 15000 chứng khoán, lớn hơn rất nhiều so với số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường tập trung NYSE Chứng khoán giao dịch trên thị trường này chiếm đa số là của các công ty ngành công nghệ thông tin và công ty vừa và nhỏ Thị trường được vận hành bởi một hệ thống các nhà tạo lập thị trường và các nhà môi giới và mỗi nhà tạo lập thị trường sẽ đảm nhận một số tài sản Thị trường NASDAQ chịu sự quản lý hai cấp của Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) và Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia Mỹ (NASD) quản lý trực tiếp Hiện nay, thị trường NASDAQ đã được nối mạng toàn cấu với nhiều thị trường OTC khác trên thế giới

Trong quá trình phát triển, thị trường chứng khoán Mỹ cũng có lúc rơi vào đêm đen như sự sụp đổ tàn khốc của phố Wall vào những năm 1929 đến 1939, ngày thứ hai đen tối năm 1987, cuộc khủng hoàng tài chính năm 2008 và gần đây nhất là đại dịch COVID-19 năm 2020

2.1.1.2 Quy mô của thị trường chứng khoán Mỹ

Thị trường chứng khoán Mỹ có nhiều sàn giao dịch nổi tiếng như Sàn giao dịch Chứng khoán New York (NYSE), Sàn giao dịch Chứng khoán điện tử NASDAQ hay Sàn Giao dịch Chứng khoán Mỹ (AMEX) – các sàn này đều có các chứng khoán niêm yết đặc trưng riêng của từng sàn, có uy tín cao trong lĩnh vực giao dịch, chứng khoán và đặc biệt

là nơi niêm yết của những công ty tên tuổi, có vốn hóa lớn nhất thế giới như Apple, Amazon, Bank of America, AlphaBet, Facebook, Microsoft

 Sàn giao dịch Chứng khoán NewYork (NYSE) là sàn giao dịch chứng khoán có vốn hóa thị trường lớn nhất thế giới Ngày nay, NYSE cung cấp một mô hình lai,

Trang 34

với một phần giao dịch dựa trên sàn và một phần giao dịch điện tử Hơn một nửa trong số các giao dịch của NYSE được thực hiện điện tử, mặc dù các nhà đầu tư tổ chức lớn vẫn giao dịch qua sàn để đặt giá với khối lượng lớn Các công ty niêm yết trên NYSE thường là các công ty lớn

 Sàn giao dịch Chứng khoán NASDAQ là sàn giao dịch chứng khoán lớn thứ hai thế giới theo vốn hóa thị trường và là sàn giao dịch điện tử lớn nhất thế giới Tất cả các giao dịch đều được thực hiện bằng điện tử và NASDAQ có khối lượng giao dịch nhiều hơn bất kỳ sàn giao dịch chứng khoán điện từ nào khác trên thế giới Các cổ phiếu niêm yết trên Nasdaq thường là trong ngành công nghệ thông tin hoặc các công ty vừa và nhỏ

 Sàn chứng khoán Mỹ (AMEX) là sàn chứng khoán lớn thứ ba nếu tính theo khối lượng giao dịch AMEX là nơi niêm yết của hầu hết các công ty nhỏ và siêu nhỏ, các chứng chỉ quỹ ETF

Chính vì tính đa dạng, chuyên môn hóa nên Mỹ là nơi có khối lượng giao dịch hàng ngày lớn nhất trên thế giới với tổng giá trị lên tới gần 11 nghìn tỷ USD chiếm tới 31% khối lượng giao dịch chứng khoán trên toàn cầu

Biểu đồ 2.1: Khối lượng giao dịch hàng ngày của các thị trường chứng khoán trên

thế giới

Mỹ, 31.5%

Trung Quốc, 8.8%

Nhật Bản, 8.2%

Trang 35

(Nguồn: Bloomberg) Ngoài ra, thị trường chứng khoán Mỹ cũng là thị trường chứng khoán có vốn hóa lớn nhất thế giới đạt 91 nghìn tỷ USD – gấp gần 8 lần thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới là Nhật Bản Chính bởi lý do vốn hóa thị trường lớn này đã hấp dẫn các công ty cố gắng niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán của Mỹ để huy động vốn

Biểu đổ 2.2: Vốn hóa của các thị trường chứng khoán trên thế giới

(Nguồn: Bloomberg) Tính đến cuối năm 2020, có đến 55% dân số đầu tư vào thị trường chứng khoán Với dân số khoảng 330 triệu người vào cuối năm 2020 thì số lượng nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán vào khoảng 181,5 triệu người – một con số lớn so với các thị trường chứng khoán khác trên thế giới Nhưng, vốn hóa thị trường chứng khoán lại được các nhà đầu tư tổ chức nắm giữ đến gần 80% Trong 10 công ty lớn nhất tại Mỹ, các nhà đầu tư tổ chức đều nắm giữ trong khoảng 70% đến 85,5% lượng cổ phiếu đang lưu hành của công

ty Vì vậy, trên thị trường chứng khoán Mỹ, nhà đầu tư tổ chức, thường là các quỹ đầu tư, đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết thị trường

2.1.1.3 Các sản phẩm đầu tư trên thị trường chứng khoán Mỹ

Trang 36

Thị trường chứng khoán Mỹ là thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới nên có thể nói rằng đây là thị trường đa dạng các sản phẩm đầu tư nhất trên thế giới

 Cổ phiếu

Đầu tư cổ phiếu tại Mỹ là việc các nhà đầu tư mua cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao dịch như Sàn Giao dịch Chứng khoán New Yorrk, Sàn Giao dịch chứng khoán Nasdaq,… hoặc mua các chứng chỉ lưu ký Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, tại Mỹ, cổ phiếu không phải là sản phẩm có giá trị vốn hóa lớn nhất Tính đến hết năm 2020, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu là 45 nghìn tỷ USD, tăng 20,22% so với đầu năm 2020

 Trái phiếu

Thị trường trái phiếu của Mỹ là thị trường trái phiếu lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 39% lượng vốn trái phiếu trên toàn thế giới với 46 nghìn tỷ USD tính đến hết năm 2020 Trái phiếu có thể được chia làm nhiều loại bao gồm: trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp Thị trường trái phiếu tại Mỹ đóng góp tỷ trọng lớn nhất bởi vì các doanh nghiệp được phát hành nhiều trái phiếu nhưng chỉ được phát hành một cổ phiếu duy nhất Hầu hết các giao dịch trái phiếu hàng ngày tại Mỹ đều được thực hiện giữa nhà môi giới và các tổ chức lớn trên thị trường phi tập trung (OTC)

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu thị trường trái phiếu Mỹ theo loại

Chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp

Trái phiếu chính quyền địa phương

Trang 37

(Nguồn: SIFMA)

 Chứng khoán phái sinh

Mặc dù là thị trường chứng khoán lớn nhất trên thế giới, nhưng thị trường chứng khoán phái sinh của Mỹ lại chỉ xếp thứ 2 trên thế giới với khoảng 30% thị phần với 6,6 nghìn tỷ USD (đừng sau khu vực chấu Á – Thái Bình Dương với 40%) Chứng khoán phái sinh được chia làm 2 loại bao gồm tài chính phái sinh và hàng hóa phái sinh, trong

đó tài chính phái sinh chiếm khoảng 80% Sản phẩm này tại Mỹ chủ yếu được dùng bởi các định chế tài chính lớn như các ngân hàng, quỹ đầu tư,… và thường được giao dịch thông qua sàn giao dịch phi tập trung (OTC)

 Chứng chỉ quỹ

Các quỹ đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với thị trường chứng khoán Hoa Kỳ khi nắm giữ lượng tài sản lên tới gần 52 nghìn tỷ USD, chiếm hơn 50% vốn hóa thị trường chứng khoán Các quỹ đầu tư tại Mỹ có thể chia làm 5 loại theo đối tượng đầu tư bao gồm: quỹ cổ phiếu nội, quỹ trái phiếu, quỹ thị trường tiền tệ, quỹ cổ phiếu quốc tế và các loại quỹ khác

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu quỹ đầu tư theo đối tượng

Quỹ cổ phiếu quốc tế Các quỹ khác

Trang 38

2.1.1.4 Triển vọng của thị trường chứng khoán Mỹ

Đầu năm năm 2020, thị trường chứng khoán Mỹ cũng chịu tổn thất lớn từ ảnh hưởng cúa đại dịch COVID-19 Khi đó, thị trường đã có nhiều lần phải sử dụng công cụ ngắt mạch thị trường (khi thị trường giảm 7% thì sẽ ngừng giao dịch trong 15 phút) để ổn định tâm lý của các nhà đầu tư Nhưng đến nửa sau năm 2020, khi tâm lý người dân ổn định, cộng với chính sách nới lỏng tiền tệ từ phía FED đã giúp cho thị trường chứng khoán Mỹ thăng hoa trở lại và vượt đỉnh lịch sử

Bước sang năm 2021, các chuyên gia tài chính tại phố Wall nhận định vắc-xin và các gói giải cứu tạo tiền đề cho một thời kỳ tăng trưởng mới JPMorgan và Goldman Sách đều đồng tính rằng khi vắc xin COVID-19 được tiêm trên diện rộng giúp các hoạt động kinh

tế trở lên bình thường sẽ là chất xúc tác quan trọng nhất đối với thị trường chứng khoán

Mỹ

Tăng trưởng kinh tế cũng là một điểm quan trọng giúp thị trường chứng khoán Mỹ tăng trưởng trong tương lai Bank of America dự báo năm 2021 sẽ là năm “chuyển đổi”, các hoạt động kinh tế chuyển từ dịch vụ sang hàng hóa, từ gặp mặt trực tiếp sang môi trường ảo Các nhà phân tích dự báo rằng GDP Mỹ sẽ tăng trưởng 4,5% trong năm 2021 Khi kinh tế tăng trưởng, lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng được cải thiện Các chuyên gia ước tính rằng các doanh nghiệp thuộc S7P 500 sẽ tăng vọt 22,1% trong năm 2021 do mức nền thấp trong năm 2020, gấp đôi trung bình 10 năm là 10%

Một yếu tố khác giúp cho thị trường chứng khoán Mỹ tăng mạnh đó là xu hướng các doanh nghiệp lớn trên thế giới đều muốn niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ để tăng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh vì đây là thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới, gần đây nhất là VinFast của Việt Nam muốn niêm yết lần đầu trên thị trường chứng khoán Mỹ để huy động 4 tỷ USD Điều này tạo ra những cơ hội có một không hai cho các nhà đầu tư trên thế giới Nếu một nhà đầu tư muốn đầu tư bền vững vào những công ty hàng đầu của ngành công nghệ, họ thường sẽ chọn các cổ phiếu công nghệ hàng đầu trên Sàn Nasdaq

Trang 39

Với khối lượng giao dịch khổng lồ, thị trường chứng khoán Mỹ luôn đảm bảo được tính công bằng và minh bạch cao vượt trội so với những thị trường khác Vì thế, các nhà đầu tư tổ chức ít có khả năng thao túng được thị trường

Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng nên lưu ý rằng các chính sách nới lỏng tiền tệ của

Mỹ diễn ra rất mạnh trong giai đoạn nửa cuối năm 2020 có thể tạo ra áp lực lạm phát, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư rất lớn Ngoài ra, thị trường chứng khoán Mỹ đang có những dấu hiệu của bong bóng tài sản xuất hiện khi thị trường đang phản ảnh lạc quan quá mức

so với nền kinh tế thực Các chuyên gia tại Đại học Harvard nhận định rằng những đợt chứng khoán tăng kết thúc trong thảm họa có chung một số đặc điểm: các đợt phát hành

cổ phiếu tăng, biến động cao, một ngành hay chỉ số chứng khoán tăng gấp đôi và cao hơn thị trường chung gần gấp hai lần Tất cả các dấu hiệu này đều đang hiện hữu tại thị trường chứng khoán Mỹ trong nữa đầu năm 2021

2.1.2 Bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

Hơn 20 năm hình thành và phát triển có thể không phải là một khoảng thời gian dài so với lịch sử thị trường chứng khoán thế giới; tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã dần phát triển và định hình vai trò của mình với nền kinh tế nước nhà

Bắt đầu vào thời điểm ngày 28/11/1996, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ Và chỉ 2 năm sau đó, ngày 11/7/1998, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức được khai sinh theo Nghị định số 48/CP của Chính phủ Đồng thời, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, đặt cơ sở tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Ngày 28/7/2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động với 2 mã cổ phiếu giao dịch đầu tiên là REE và SAM

Ngày 8/3/2005, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội cũng chính thức ra mắt, trở thành trung tâm niêm yết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong giai đoạn 2000 – 2005, đây là giai đoạn chập chững những bước đầu tiên của thị trường chứng khoán Việt Nam, vốn hóa thị trường chỉ đạt mức trên dưới 1% GDP, gần

Trang 40

như không có thay đổi gì nhiều Tuy nhiên kể từ năm 2006 khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành và chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2007, thị trường chứng kiến rất nhiều sự thay đổi khi những bất cập, những xung đột với các văn bản pháp lý được giải quyết, chúng ta có khả năng hội nhập hơn với các thị trường vốn quốc tế và khu vực Năm

2006, quy mô thị trường có bước nhảy vọt mạnh mẽ, đạt 22,7% GDP và chạm đến con số trên 43% vào năm 2007

Đến năm 2008, mọi việc bắt đầu xấu đi do ảnh hưởng của thị trường tài chính và nền kinh tế trong nước và thế giới, thị trường chứng khoán đã chứng kiến một năm tiêu cực với mức vốn hóa thị trường giảm mạnh xuống còn 18% GDP

Khi khó khăn dần qua đi, năm 2009 chứng kiến sự phục hồi nhẹ với vốn hóa thị trường đạt 37,71% GDP và các công ty niêm yết trên thị trường tăng dần Trong giai đoạn

2009 – 2016, thị trường chứng khoán chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ Cũng trong năm 2017, sản phẩm chứng khoán phải sinh ra đời với hợp đồng tương lai chỉ số VN30 được đón nhận bởi đông đảo các nhà đầu tư Giai đoạn 2017 – tháng 4/2018, thị trường chứng khoán có bước tăng trưởng nhảy vọt khi dòng tiền cuồn cuộn đổ vào thị trường đẩy chỉ số VNIndex lên mức đỉnh 1,200 điểm

Năm 2019, chứng kiến sự ra đời của nhiều sản phầm tiềm năng mới Ngày 28/6, sản phẩm chứng quyền có đảm bảo (Cover Warrant – CW) ra đời và được phát hành bởi các công ty chứng khoán Chứng quyền có đảm bảo phù hợp với các nhà đầu tư có khẩu vị rủi

ro lớn Đến ngày 28/11/2019, Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh cho ra mắt bộ chỉ số mới Vietnam Diamond Index (VN Diamond) và Vietnam Financial Select Sector Index (VNFin Select) làm tiền đề cho sự ra đời của các quỹ ETF, qua đó giải quyết được bài toàn tại các doanh nghiệp đã hết room ngoại Trong năm 2020, mức vốn hóa thị trường chứng khoán đã tăng dần lên mức 82% GDP, nhưng một lần nữa thị trường lại có đợt điều chỉnh rất mạnh do tác động của đại dịch Covid-19 Tuy nhiên, sau khi đại dịch đã được kiểm soát, tâm lý các nhà đầu tư cá nhân đã ổn định, thị trường chứng khoán đã đón nhận sắc xanh trở lại

Ngày đăng: 07/07/2021, 08:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thúy Lan, 2011, Quỹ ETF và khả năng áp dụng ở Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo Chứng khoán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ ETF và khả năng áp dụng ở Việt Nam
2. Đỗ Phương Huyền, 2019, Nghiên cứu về các quỹ hoán đổi danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về các quỹ hoán đổi danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam
3. Đỗ Phương Huyền, 2014, ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Tài chính số 3 – 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ETF và những tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam
4. Nguyễn Lê Cường, 2015, Xây dựng, phát triển Quỹ hoán đổi danh mục ở Việt Nam – Cơ hội và thách thức, Tạp chí doanh nghiệp số 10 (147) – 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, phát triển Quỹ hoán đổi danh mục ở Việt Nam – Cơ hội và thách thức
5. Thông tƣ số 229/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính, 2012, Hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ hoán đổi danh mục, Thƣ viện pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ hoán đổi danh mục
6. Fiin Ratings, 2021, Báo cáo Triển vọng Thị trường Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam, Fiingroup.II. Tài liệu từ trang Web tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Triển vọng Thị trường Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam
2. Nguyễn Thế Minh, 2021, Các giải pháp mới phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, Báo Nhà Đầu Tƣ, https://nhadautu.vn/cac-giai-phap-moi-phat-trien-thi-truong-chung-khoan-viet-nam-d50188.html, truy cập vào ngày 16/06/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp mới phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
3. Huy Lê, 2020, CTBC Vietnam Equity Fund có quy mô hơn 3.500 tỷ đồng, bắt đầu giải ngân từ tháng 9, Báo Người đồng hành, https://ndh.vn/quy-dau-tu/ctbc-vietnam-equity-fund-co-quy-mo-hon-3-500-ty-dong-bat-dau-giai-ngan-tu-thang-9- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Equity Fund có quy mô hơn 3.500 tỷ đồng, bắt đầu giải ngân từ tháng 9
4. Thủy Tiên, 2021, Hành trình “soán ngôi” của các quỹ ETF nội trên thị trường chứng khoán Việt, Báo VnEconomy, https://vneconomy.vn/hanh-trinh-soan-ngoi-cua-cac-quy-etf-noi-tren-thi-truong-chung-khoan-viet.htm, truy cập vào ngày 16/06/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình “soán ngôi” của các quỹ ETF nội trên thị trường chứng khoán Việt
5. Thu Hường, 2021, Thị trường chứng khoán năm 2020 và triển vọng năm 2021, Báo Con số Sự kiện, http://consosukien.vn/thi-truong-chung-khoan-viet-nam-nam-2020-va-trien-vong-nam-2021.htm, truy cập vào ngày 16/06/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán năm 2020 và triển vọng năm 2021, Báo Con số Sự kiện
1. CFA Program Curriculum 2020, Level II, Volume 6, Alternative Investments and Portfolio Management, CFA Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alternative Investments and Portfolio Management
4. The International Investment Funds Association: https://iifa.ca/ Link
5. Securities Industry and Financial Market Association: https://www.sifma.org/ Link
6. iShare Core S&P 500 ETF: https://www.ishares.com/us/products/239726/ishares-core-sp-500-etf Link
7. Vanguard Total Stock Market ETF: https://investor.vanguard.com/etf/profile/VTI Link
8. Vanguard S&P 500 ETF: https://investor.vanguard.com/etf/profile/VOO Link
9. Invesco QQQ Trust: https://www.invesco.com/qqq-etf/en/home.html Link
10. ETF VFMVN Diamond: https://dcvfm.com.vn/quy-etf-vfmvn-diamond/thong-tin-ve-quy/ Link
11. ETF VFMVN30: https://dcvfm.com.vn/quy-hoan-doi-danh-muc-etf-vfmvn30/etf-thong-tin-ve-quy/ Link
12. ETF SSIAM VNFin Lead: https://www.ssi.com.vn/ssiam/thong-tin-chung-ssiam-vnfin-lead Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w