1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN LUYEN TU VA CAU LOP 5 NAM 2013

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 28,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả Năm học 2012-2013 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5A 3 có 22 em học sinh .Tôi lần lượt sử dụng các giải pháp trên bằng cách lựa chọn và phân bố hợp lí theo từng nội dung của bài[r]

Trang 1

TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HS LỚP 5A 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC MỸ PHƯỚC

A PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG NGHĨA - TỪ NHIỀU NGHĨA - TỪ ĐỒNG ÂM

PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG I-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1-Cơ sở lí luận :

Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thứccủa cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Bởi thế dạy Tiếng Việt cóvai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và trong đời sống của mỗi conngười Mục tiêu của chương trình Tiếng việt tiểu học mới ngoài việc cung cấp kiếnthức Tiếng Việt và thái độ, tình yêu Tiếng Việt còn phải giúp học sinh giao tiếp tốttrong môi trường hoạt động lứa tuổi Vì thế việc sử dụng từ ngữ đúng, nắm rõ nghĩacủa từ có ý nghĩa quan trong trong giao tiếp, giúp học sinh tự tin tham gia vào hoạtđộng giao tiếp qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn

sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt

Muốn làm được điều này học sinh phải có kiến thức vững chắc về Tiếng Việt

Đó không chỉ là kiến thức về ngữ pháp, về vốn từ mà còn phải nắm vững kiến thức

về nghĩa cuả từ Trong chương trình Tiếng Việt 5 học sinh được học kiến thức vềnghĩa của từ: các hiện tượng trái nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa và nhiều nghĩa Trongcác hiện tượng đó thì kiến thức về từ nhiều nghĩa là phức tạp nhất Là một giáo viênlớp 5, qua nhieàu năm kinh nghiệm giảng dạy tôi nhận thấy học sinh còn rất nhiềulúng túng, khó khăn, khi học nội dung kiến thức này dẫn tới các tiết học nặng nề,không hứng thú, không lôi cuốn được các em Nguyên nhân nào dẫn tới những khókhăn đó? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa? Đó là lý

do tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A3 trường tiểu học MỹPhước A phân biệt từ đồng âm – từ đồng nghĩa - từ nhiều nghĩa”

Trang 2

2-Cơ sở thực tiễn

Thực tế ở đây đã cho thấy có nhiều GV không ngừng say sưa tìm tòi sáng tạotrong giảng dạy, đưa chất lượng ngày càng đi lên về mọi mặt, đáp ứng được với nhucầu đòi hỏi của xã hội trong thời kì đổi mới; nhưng cũng thật đáng buồn vì còn cómột số ít GV còn coi nhẹ vấn đề này Mặt khác chương trình các môn học ở trườngtiểu học hiện nay đã được sắp xếp một cách khoa học hệ thống song đối với học sinhtiểu học là bậc học nền tảng Đến trường là là một bước ngoặt lớn của các em, trong

đó họat động học là họat động chủ đạo, kiến thức các môn học về tự nhiên và xã hộichưa được bao nhiêu, vốn từ sử dụng vào trong cuộc sống để diễn đạt trình bày tưtưởng, tỉnh cảm của mình còn quá ít Các em thường lẫn lộn giữa từ nhiều nghĩa - từđồng nghĩa - từ đồng âm Hơn thế nữa các em chưa ý thức được vai trò xã hội củangôn ngữ, chưa nắm được các phương tiện kết cấu và quy luật cũng như họat độngchức năng của nó Mặt khác HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không chỉ cho riêngmình mà cho người khác ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng đúng đắn và dễ hiểu, tránhlàm cho người khác hiểu sai nội dung câu, từ, ý nghĩa diễn đạt

Qua thực tế giảng dạy dự giờ đồng nghiệp ở trường, tôi nhận thấy việc dạy vàhọc về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm còn có một số tồn tại sau :

+ GV truyền kiến thức về khái niệm từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng

âm còn máy móc, rập khuôn và sơ sài, lấy ví dụ mà chưa hiểu được bản chất của

nó Chỉ bó hẹp trong phạm vi SGK Khi thoát khỏi phạm vi này thì HS hầu hết đềuluống cuống và nhầm lẫn

+ Khi thể hiện tiết dạy hầu như GV chỉ chú ý đến đối tượng học sinh khá,giỏi , còn lại đa số HS khác thụ động ngồi nghe rồi một số em khác có muốn nêucách hiểu của mình về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm cũng sợ sai lệch,

từ đó tạo nên không khí một lớp học trầm lắng, HS làm việc tẻ nhạt , thiếu hứng thúkhông tạo được hiệu quả trong giờ học

Trang 3

+Trong những bài dạy về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm hầunhư GV ít đọc tài liệu tham khảo, ít học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp

Phải chăng những tồn tại đó còn tiềm ẩn trong mỗi tiết dạy để rồi GV tự dấu đinhững kiến thức tài năng sẵn có và những gì đã được học tập, lĩnh hội ở nhà trường

sư phạm rồi dần dần đánh mất Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh nghiệmqua nhiều năm dạy-học lớp 5, năm nay tôi có : “Một số kinh nghiệm giúp HS lớp5A3 phân bịêt từ nhiều nghĩa- từ đồng nghĩa, từ đồng âm” Nhằm giúp học sinh tháo

gỡ những lầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm tạo nền tảng

để các em học tốt môn Tiếng Vịêt Tuy là bước đầu nhưng tôi mạnh dạn nêu lên vàmong được sự ủng hộ quan tâm, đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tôi được hòanthiện hơn về kinh nghiệm này

II-MỤC ĐÍCH , ĐỐI TƯỢNG VÀ PHUONG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1 Mục đích nghiên cứu:

Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích :

- Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa - từ đồngnghĩa - từ đồng âm Góp phần làm giàu thêm vốn từ cho HS

- Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và tác được ý nghĩa từvựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ

- Giúp HS có năng lực sử dụng từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âmtrong sinh sản văn bản bằng hình thức nói họăc viết, để từ đó các em sử dụng đượcTiếng Việt văn hóa làm công cụ giao tiếp tư duy

2-Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này, vấn đề tôi nghiên cứu ở đậy: Một số kinh nghiệm giúp HSphân bịêt về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm” và chỉ nghiên cứu trênnhững học sinh lớp 5A3 trường tiểu học Mỹ Phước A mà tôi đã chủ nhiệm có những

Trang 4

khĩ khăn phân biệt từ Nhằm tìm ra những phương pháp hạn chế tối đa tình trạngnhằm lẩn các từ nêu trên.

3 Phương pháp nghiên cứu:

3 1 Phương pháp quan sát và đàm thoại : Từ những giờ dạy cụ thể trên lớp

tơi đã quan sát, ghi nhận những biểu hiện về kĩ năng đọc của các em Bên cạnh đĩ tơicịn trực tiếp phỏng vấn, nĩi chuyện với một các em học sinh trong những giờ sinhhoạt lớp hay sinh hoạt ngồi giờ lên lớp Qua đĩ nắm bắt thêm những biểu hiện – kĩnăng của các em

3.2 Phương pháp điều tra : Tơi dùng một số câu hỏi để hỏi trực tiếp, các em

trả lời miệng những câu hỏi tơi đã nêu Từ đĩ tơi thu thập, ghi nhận những gì đã tìmhiểu được

3.3 Phương pháp thu thập tài liệu, phân tích tổng hợp:

- Cho các em phân biệt nghĩa một số từ ngữ ( 3 loại từ) để theo dõi nhận xét,đánh giá và kết luận

3.4 Phương pháp thống kê: Thống kê là phương pháp giúp chúng ta nắm được

khả năng phân biệt nghĩa của từ, trong chương trình thơng quan các bài tập học Từđó có kế hoạch bồi dưỡng và có phương pháp hướng dẫn thích hợp cho từng đốitượng học sinh

3 5 Phương pháp đọc sách và tài liệu

- Đọc sách để tìm cơ sở lí luận cho cách làm của mình, để nắm được yếu tốtâm lý, xu hướng của học sinh

- Đọc sách và tài liệu nhằm giúp bản thân trau dồi thêm kiến thức và kinhnghiệm cho bản thân

- Đối với học sinh các em thường xuyên đọc và tham khảo để các em cĩ khảnăng đọc nhuần nhuyễn và xác định được phù hợp hơn về nghĩa của các loại từ

Trang 5

3.6 Phương pháp trò chuyện: Phương pháp trị chuyện đem lại nhiều thơng tin

bổ ích như tìm hiểu hồn cảnh gia đình của học sinh, trao đổi việc học tập của các

em qua tiếp xúc với phụ huynh học sinh Trị chuyện với các em để biết những khĩ

khăn của học sinh đối với tiết Tập đọc Từ đĩ tơi sẽ rút kinh nghiệm và tìm ra nhữngphương pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng mơn luyện từ và câu cho học sinhlớp tơi

III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI :

Phạm vi tơi nghiên cứu và áp dung sáng kiến này ở lớp 5A3 trường tiểu học

Mỹ Phước A trong năm học 2012 – 2013

Mơn: Luyện từ và câu

Phần: Giúp học sinh phân biệt các từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồngâm

IV CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU:

Nếu học sinh lớp 5A3 trang bị tốt kĩ năng phân biệt được nghĩa của từ Đĩ cũng

là một tiền đề cho các em học tốt các mơn học cịn lại Bởi vì khơng chỉ cĩ mơnluyện từ và câu học sinh mới cần nắm được nghĩa của từ mà hầu như tất cả cácmơn Thơng qua việc phân biệt nghĩa của các loại từ giúp cho các em hiểu đượcvận dụng rất nhiều trong thực tế

Nếu các lớp áp dụng đồng bộ các kinh nghiệm mà đề tài đã nêu ra thì kĩ năngphân biệt của học sinh sẽ đạt được kết cao trong các Luyện từ và câu tới

V KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:

Tháng 9/201: Đăng kí sáng kiến, sưu tầm tài liệu

Tháng 10/2012: Điều tra thực trạng, thu thập và xử lí các số liệu

Tháng 11 / 2012: Lập đề cương

Tháng 12/ 2012 – 01/2013: Viết sáng kiến và báo cáo sơ bộ

Tháng 2 - 3/ 2013: Chỉnh sửa sáng kiến kinh nghiệm

Tháng 04/ 2013: Hồn thiện đề tài và nộp về trường

Trang 6

PHẦN II- NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I-THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

Qua những năm tôi được ban giám hiệu phân công giảng dạy trực tiếp lớp 5.Với môn Luyện từ và câu qua phần “từ nhiều nghĩa – từ đồng nghĩa – từ đồng âm”.Tôi nhận thấy học sinh của mình còn vướng mắc một số thực trạng sau :

Sau khi học sinh học về từ đồng nghĩa học sinh nắm được “ Từ đồng nghĩa lànhững từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa Rất nhiều học sinh nêu đượcđịnh nghĩa này, thậm chí là thuộc lòng và đã biết vận dụng vào việc xác định được từđồng âm, mặc dù chưa được chính xác, vẫn có những học sinh lúng túng Nhưng sautiết củng cố, luyện tập, học sinh dần dần nắm được và vận dụng được từ đồng âm.Đến khi xuất hiện từ nhiều nghĩa thì học sinh thực sự lúng túng Lúng túng phân vângiữa việc xác định, phân biệt từ đồng âm từ nhiều nghĩa Rất nhiều học sinh thậm chíchỉ biết đoán mò kết quả Phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyển của từ, giảinghĩa từ học sinh còn làm sai nhiều Đặt câu có sử dụng từ từ nhiều nghĩa – từ đồngnghĩa – từ đồng âm: chưa hay, chưa đúng với nét nghĩa yêu cầu

Một phần học sinh chưa có ý thức học tập còn ỉ lại dựa dẫm vào giáo viên Bêncạnh đó đại đa số phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con emmình mà phán trắng cho giáo viên

Kết quả khảo sát đầu năm:

SL Tỷ lệ % SL Tỷ Lệ % SL Tỷ Lệ % SL Tỷ lệ %

II CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Khắc phuc tình trạng này quả là khó vì từ đồng âm - nhiều nghĩa – từ đồngnghĩa là hai nội dung khá khó, khó phân biệt và không phải là không được Quantrọng là phải tìm hiểu về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa nhung không phải trên lý thuyết

Trang 7

mà phải bắt đầu từ các ví dụ Học sinh phải biết làm quen với nhiều với việc phântích ví dụ để hiểu rõ hơn về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa để từ đó học sinh hiểu rõ hơnđược bản chất của vấn đề nhằm nhận biết, phân biệt và vận dụng chúng một cáchlinh hoạt Để có được điều đó thì chỉ có vận dụng trong các giờ luyện tập, đặc biệtviệc củng cố kiến thức không chỉ ngày một, ngày hai mà phải cả quá trình, mọi lúc,mọi nơi có thể Song sau tiết học về đồng am - nhiều nghĩa – từ đồng nghĩa thì cầnthiết phải có tiết củng cố kiến thức này, củng cố một cách tổng hợp về từ đồng âm -

từ nhiều nghĩat - từ đồng nghĩa Nói là củng cố kiền thức chung nhưng cũng phải bắtđầu từ các ví dụ cụ thể Qua đó để thấy được chỗ “hổng” của học sinh để kịp thờicủng cố, khắc sâu

Xuất phát từ việc nghiên cứu bản chất của từ đồng am - nhiều nghĩa – từ đồng

nghĩa, xuất phát từ những khó khăn mà học sinh còn gặp phải khi học các tiết học về

từ đồng am - nhiều nghĩa – từ đồng nghĩa và nguyên nhân của những khó khăn đó,

để nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa trong chương trình Tiếng Việtlớp 5, qua nghiên cứu và thử nghiệm tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:

1 Từ đồng nghĩa :

Định nghĩa : *Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm nhưng giống

nhau về mặt ý nghĩa, chúng cùng biểu thị các sắc thái khác nhau của cùng một kháiniệm.( Tài liệu của Trường đại học Vinh )

Ví dụ: Cùng nói đến khái niệm ăn có xơi, nhậu nhẹt

*Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau

Ví dụ: siêng năng , chăm chỉ,cần cù,

*Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn , có thế thay thế cho nhau trong lời nói Ví

dụ : hổ, cọp, hùm,

*Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn Khi dùng những từ này ,ta phảicân nhắc để lựa chọn cho đúng Ví dụ :

Trang 8

+ăn, xơi, chén, (biểu thị thái độ, tình cảm khác nhau đối với người đối thoạihoặc điều được nói đến).

+mang, khiêng, vác, ( biểu thị những cách thức hành động khác nhau )

(Sách Tiếng Việt 5 tập 1)

2 Từ nhiều nghĩa :

Định nghĩa :*Là từ dùng một hình thức âm thanh biểu thị nhiều ý nghĩa (biểu

thị nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau ), các ý nghĩa có quan hệ với nhau, chúng lậpthành một trật tự,một cơ cấu nghĩa nhất định

Ví dụ : đầu : (1)bộ phận trên hết của người, bộ phận trước hết của người của

vật

(2)trí tuệ thông minh : anh ấy là người có cái đầu.

(3)Vị trí danh dự : anh ấy luôn đứng đầu lớp về mọi mặt.

(4)Vị trí tận cùng của sự vật : Anh ở đầu sông em cuối sông

(Tài liệu của trường đại học Vinh –Chu Thị Thủy An)

*Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Cácnghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau

Ví dụ: - Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên

mặt)

- Quả na mở mắt ( quả na bắt đầu chín , có những vết nứt rộng ra

giống hình con mắt) ( Sách Tiếng Việt 5 Tập 1)

3.Từ đồng âm

a) Định nghĩa: *Là những từ giống nhau về ngữ âm nhưng khác nhau về ý

nghĩa

Ví dụ: Cổ: bộ phận cơ thể con người và cổ :xưa, lạc hậu

bác: anh, chị của bố mẹ và bác là chưng cất, bác là phủ định, bác là

bố( Bác mẹ em nghèo) ( Tài liệu của trường Đại học Vinh –Chu Thị Thủy An)

Trang 9

b) Ngôn ngữ có tính tiết kiệm co nên tất yếu dẫn đến hiện tượng đồng

âm Tuy nhiên đồng âm trong Tiếng Việt có đặc điểm riêng :

- Thường xẩy ra ở những từ có cấu trúc đơn giản ( các từ đơn tiết)

- Các từ đồng âm trong Tiếng Việt chỉ xẩy ra trong ngữ cảnh vì Tiếng Việt làngôn ngữ không biến hình

*Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa

Ví dụ : a) Ông ngồi câu cá (Câu là họat động bắt cá, tôm bằng móc sắt

nhỏ (thường có mồi) buộc ở đầu một sợi dây )

b) Đoạn văn này có 5 câu( câu là đơn vị của lời nói diễn đạt một ý trọn

vẹn , trên văn bản được mở đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một dấungắt câu ) (Sách Tiếng Việt 5 tập 1)

4-Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm

4.1- Từ đồng nghĩa

* Bản chất của từ đồng nghĩa: Thực tế học sinh thường nhầm lẫn giữa từ

đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm Không nắm được nghĩa của chúng bởi vìđịnh nghĩa về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chưa chính xác dẫn đến sựkhó khăn cho HS trong vịêc nhận diện Phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từđồng âm chỉ dựa vào định nghĩa là chưa đủ Đứng trước thực tế đó nên tôi đã mởrộng thêm cho HS một số kiến thức sau:

- Từ đồng nghĩa: Bản chất của từ đồng nghĩa ( tính ở mức độ của từ đồng

nghĩa )

Khả năng họat động tác động đến sự di chuyển của các sự vật có các từ: ném,

lao, phóng, quăng, vứt, xán xô, đẩy liệng, tống đạp, đá, nhấn, dìm, kéo, dật, rút, gieo, rắc, vãi, trút, xoay, quay, gồng,, gánh

Căn cứ vào chiều di chuyển để chia ra các nhóm đồng nghĩa

- Di chuyển ra xa chủ thể: ném, phóng, lao

- Di chuyển gần lại : lôi, kéo, co, giật, rút

Trang 10

- Di chuyển quay xung quanh chủ thể: gánh,xoay, quay

- Di chuyển cùng chủ thể : Gồng, gánh, bưng, đội, cõng

Các từ trong từng nhóm có mức độ đồng nghĩa cao hơn so với các từ trong cácnhóm khác

a) Bản chất của từ đồng nghĩa là những từ đồng nhất với nhau về nghĩa nhưng

có tính mức độ.Tính mức độ này là do các từ ngoài sự đồng nhất thì có sự khác biệtnhất định về sắc thái nghĩa

Ví dụ : Về trạng thái chấm dứt sự sống: chết, hi sinh, tử, mất

Về hiện tượng hấp thụ thức ăn: Tống, hốc, tọng, ăn

Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác, đó là chỉ ra sự giống nhau và khác nhau Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái.

Ví dụ 2 : Giữ gìn, bảo vệ có nghĩa chung là giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một cái

gì đó (Giữ quần áo; bảo vệ quần áo)

Tuy nhiên hai từ này điểm khác nhau :

+ Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn trừu tượng ; Giữ gìn phù hợp với đối tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đòan kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, Bảo vệ

đất nước )

+ Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động của

bên ngoài; giữ gìn có tính chất thụ động giữ cái đã có, không có sắc thái chống lại

thế lực bên ngoài (Bảo vệ luận văn khác Giữ gìn luận văn).

Trang 11

Ví dụ 3: Không phận, vùng trời có nét nghĩa chung là chỉ biên giới phía trên của một quốc gia ( Địch xâm phạm vùng trời Việt Nam; Địch xâm phạm không phận

Việt Nam ) Sự khác nhau là: Vùng trời có khả năng chỉ một khoảng không cụ thể

Còn Không phận thì không có khả năng này ( Vùng trời quê tôi thật yên là ả )

Ví dụ 4: Chọn,lựa, tuyển, kén có nghĩa chung là tìm ra cái gì đó cùng loại với

nó Khác nhau ở điểm: Chọn thiên về cái tốt, số lượng đối tượng nhiều, từ cái mình

có mà ra; lựa thiên về loại bỏ cái xấu, số lượng đối tượng ít, xuất phát từ đối tượng

mà tìm; Tuyển là số lượng đã biết trước; Kén dùng cho người có tính chất khắt khe cá

nhân

Ví dụ 5: Nhanh, mau, chóng ( Hiệp thợ này nhanh vì họ làm mau nên chóng

xong) Nhanh chỉ tính chất chung, mau chỉ thao tác, chóng chỉ thời gian.

b) Các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu cảm

Ví dụ 1: Cho, biếu, tặng: Cho có sắc thái trung hòa, Biếu có sắc thái kính trọng , tặng có sắc thái thân mật

c) Do có sự khác nhau về sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách dùngcác từ đồng nghĩa khác nhau Hay nói cách khác, các từ đồng nghĩa không phải baogiờ cũng thay thế cho nhau được, chúng đồng nghĩa với nhau vì chúng vừa giốngnhau vừa khác nhau

Ví dụ: Hoài sơn/ củ mài; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong khoa

học, các từ thuần Việt dùng trong đời sống

d) Hiện tượng đồng nghĩa không tách rời hiện tượng đa nghĩa, đó là nguyênnhân của tính mức độ Các từ đồng nghĩa với nhau không phải đồng nghĩa về tòan bộdung lượng nghiã của nó mà chỉ đồng nghĩa ở một một nghĩa nào đó mà thôi

Ví dụ : Trông có ba nghĩa : - Hướng mắt quan sát

- Giữ, chăm sóc

- Nương vào, nhờ vào

Dựa có ba nghĩa : - Theo , căn cứ theo

Ngày đăng: 07/07/2021, 07:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w