1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ứng dụng enzyme protease trong chế biến bột protein thủy phân từ phụ phẩm cá tra sử dụng làm môi trường nuôi cấy vi sinh vật

224 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 3,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3.3.2 Nội dung 1: Nghiên cứu thủy phân phụ phẩm thịt dè cá tra (67)
    • 3.3.2.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát khả năng tách béo của dung dịch NaHCO 3 (67)
    • 3.3.2.2 Thí nghiệm 2: Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân thịt dè cá bằng 3 enzyme ngoại bào (68)
    • 3.3.2.3 Thí nghiệm 3: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân thịt dè cá bằng 3 enzyme ngoại bào (71)
  • 3.3.3 Nội dung 2: Nghiên cứu thủy phân phụ phẩm máu cá tra (74)
    • 3.3.3.1 Thí nghiệm 4: Xác định hiệu suất thu hồi máu cá bằng nhiệt độ, pH và thời gian (74)
    • 3.3.3.2 Thí nghiệm 5: Khảo sát khả năng tách béo của dung dịch NaHCO 3 (75)
    • 3.3.3.3 Thí nghiệm 6: Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân máu cá tra bằng 3 enzyme ngoại bào (76)
    • 3.3.2.3 Thí nghiệm 7: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân máu cá bằng 3 enzyme ngoại bào (78)
  • 3.3.3 Nội dung 3: Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân ứng dụng nuôi cấy vi (82)
    • 3.3.3.1 Thí nghiệm 8: Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân thịt dè cá tra ứng dụng nuôi cấy vi sinh vật (82)
    • 3.3.3.2 Thí nghiệm 9: Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân máu cá tra ứng dụng nuôi cấy vi sinh vật (85)
  • Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (89)
    • 4.1 Xác định thành phần hóa lý phụ phẩm cá tra (89)
    • 4.2 Nội dung 1: Nghiên cứu thủy phân phụ phẩm thịt dè cá tra (90)
      • 4.2.1 Khảo sát khả năng tách béo của dung dịch NaHCO 3 (90)
      • 4.2.2 Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân thịt dè cá bằng 3 (91)
      • 4.2.3 Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân thịt dè cá bằng 3 enzyme protease (95)
        • 4.2.3.1 Hiệu suất thủy phân theo hàm lượng tyrosin sinh ra (95)
        • 4.2.3.2 Hiệu suất thủy phân đạm amine bằng phương pháp OPA (102)
        • 4.2.3.3 Hàm lượng acid amin trong quá trình thủy phân thịt dè cá bằng 3 (105)
    • 4.3 Nội dung 2: Nghiên cứu thủy phân phụ phẩm máu cá tra (112)
      • 4.3.1 Kết quả nghiên cứu thu hồi protein từ nước rửa máu cá tra (112)
      • 4.3.2 Khảo sát khả năng tách béo của dung dịch NaHCO 3 (113)
      • 4.3.3 Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân máu cá tra bằng 3 (113)
      • 4.3.4 Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân máu cá bằng 3 enzyme ngoại bào (116)
        • 4.3.4.1 Hiệu suất thủy phân theo hàm lượng tyrosin sinh ra (116)
    • 4.4 Sấy phun dịch thủy phân (124)
    • 4.4 Nội dung 3: Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân ứng dụng nuôi cấy vi (127)
      • 4.4.1 Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân thịt dè cá tra ứng dụng nuôi cấy (127)
        • 4.4.1.1 Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân thịt dè cá tra nuôi cấy vi khuẩn (127)
        • 4.4.1.2 Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân thịt dè cá tra nuôi cấy nấm mốc (132)
      • 4.4.2 Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân máu cá tra ứng dụng nuôi cấy vi (135)
        • 4.4.2.1 Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân máu cá tra nuôi cấy vi khuẩn (135)
        • 4.4.2.2 Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân máu cá tra nuôi cấy nấm mốc (138)
  • Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (142)
    • 5.1 Kết luận (142)
    • 5.2 Kiến nghị (144)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (145)
  • PHỤ LỤC (132)
    • 1. Thủy phân thịt dè cá bằng enzyme ngoại bào (165)
    • B.1 Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch NaHCO 3 đến hàm lượng lipid và (175)
    • B.4 Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch NaHCO 3 đến hàm lượng lipid và (178)
      • 3. Thủy phân máu cá bằng enzyme papain (196)
      • 4. Thủy phân máu cá bằng enzyme bromelain (200)

Nội dung

Nội dung 1: Nghiên cứu thủy phân phụ phẩm thịt dè cá tra

Thí nghiệm 1: Khảo sát khả năng tách béo của dung dịch NaHCO 3

Mục đích của nghiên cứu này là xác định nồng độ NaHCO3 tối ưu để tách béo, nhằm chuẩn bị nguyên liệu cho quá trình thủy phân enzyme trong các thí nghiệm tiếp theo.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Cố định tỷ lệ thịt phụ phẩm thịt dè cá tra xay và dung dịch nước rửa là 1:4 và giữ nhiệt độ của hỗn hợp dung dịch thịt dè ở 10 0 C.

- Nhân tố A: Nồng độ dung dịch NaHCO3, (%).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 4 x 3 = 12.

Tiến hành thí nghiệm, nguyên liệu được rửa sạch và xử lý nhiệt sơ bộ ở 60°C Sau đó, phụ phẩm thịt cá tra được xay nhuyễn và tách béo bằng dung dịch NaHCO3 với các nồng độ 0, 0,1, 0,2 và 0,3%, tỷ lệ nguyên liệu so với dung dịch nước là 1:4 Mẫu thịt cá sau khi tách béo được ly tâm lạnh trong 10 phút ở 8°C.

Quá trình thu hồi protein được thực hiện bằng cách ly tâm ở tốc độ 10.000 vòng/phút, sau đó rửa phần lắng bằng nước cất với tỷ lệ 1:4 và tiếp tục ly tâm trong 5 phút ở 8 độ C Sau đó, tiến hành phân tích hàm lượng lipid và protein.

Xác định hàm lượng lipid và protein sau khi xử lý tách béo ở các nồng độ khác nhau của dung dịch NaHCO3.

Thí nghiệm 2: Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân thịt dè cá bằng 3 enzyme ngoại bào

a) Thí nghiệm: Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân thịt dè cá bằng enzyme bromelain

Mục đích của nghiên cứu này là xác định các thông số động học vmax và km của enzyme bromelain khi thủy phân cơ chất phụ phẩm cá tra đã được tách béo bằng dung dịch NaHCO3 ở nồng độ tối ưu Thí nghiệm này nhằm tối ưu hóa quá trình thủy phân cơ chất để nâng cao hiệu quả sử dụng enzyme bromelain.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Cố định pH=6,5 và nhiệt độ 55 o C tối ưu của enzyme.

- Cố định nồng độ enzyme bromelain (1,5 mg) và thời gian thủy phân 30 phút.

- Nhân tố B: Nồng độ cơ chất (g thịt phụ phẩm cá tra xay đã tách béo bằng dung dịch NaHCO3).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 11 x 3 = 33.

Cơ chất thủy phân được cân và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 6,5, cùng với enzyme bromelain ở nồng độ đã chỉ định Sau 30 phút ủ ở 55 o C, 0,5 mL (1,5 mg) dung dịch enzyme được thêm vào bình dung dịch cơ chất để tiến hành thủy phân trong 30 phút Quá trình phản ứng được kết thúc bằng cách bất hoạt enzyme bằng TCA 5%, sau đó ổn định dung dịch trong 30 phút và lọc Cuối cùng, dịch lọc được thu thập để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

Xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân bằng phương pháp Anson cải tiến, đồng thời xác định các thông số động học như vmax và km thông qua phần mềm SAS 9.1.3 Portable Thí nghiệm này tập trung vào việc xác định các thông số động học v max và k m trong quá trình thủy phân thịt dè cá bằng enzyme papain.

Mục đích của nghiên cứu là xác định các thông số động học vmax và km của enzyme papain trong quá trình thủy phân cơ chất phụ phẩm cá tra đã được tách béo bằng dung dịch NaHCO3, với nồng độ tối ưu được xác định trong thí nghiệm tách béo.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Cố định pH 7,5 và nhiệt độ 55 o C.

- Cố định nồng độ enzyme papain (1 mg) và thời gian thủy phân 30 phút.

- Nhân tố C: Nồng độ cơ chất (g thịt phụ phẩm cá tra xay đã tách béo bằng dung dịch NaHCO3).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 11 x 3 = 33.

Tiến hành thí nghiệm bằng cách cân cơ chất thủy phân và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 7,5, cùng với enzyme papain đã được pha với nồng độ đã chỉ định Enzyme và cơ chất được ủ ở 55 o C trong 30 phút trước khi thực hiện quá trình thủy phân Sau 30 phút, hút 0,5 mL (1 mg) dung dịch enzyme cho vào các bình dung dịch cơ chất và tiến hành thủy phân trong 30 phút Để kết thúc phản ứng, enzyme được bất hoạt bằng TCA 5%, ổn định dung dịch trong 30 phút và sau đó tiến hành lọc Cuối cùng, dịch lọc được lấy để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra bằng phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất thủy phân.

Chỉ tiêu theo dõi là xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân bằng phương pháp Anson cải tiến, đồng thời xác định các thông số động học vmax và km bằng phần mềm SAS 9.1.3 Portable Thí nghiệm được thực hiện nhằm xác định các thông số động học vmax và km trong quá trình thủy phân thịt dè cá bằng enzyme neutrase.

Xác định các thông số động học vmax và km của enzyme neutrase là bước quan trọng trong quá trình thủy phân cơ chất phụ phẩm cá tra đã được tách béo Thí nghiệm này được thực hiện bằng dung dịch NaHCO3 ở nồng độ tối ưu, nhằm tối đa hóa hiệu quả của quá trình tách béo Việc nghiên cứu các thông số này giúp hiểu rõ hơn về hoạt động của enzyme và cải thiện quy trình sản xuất.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Cố định pH 6,5 và nhiệt độ 50 o C.

- Cố định nồng độ enzyme neutrase (0,5 mg) và thời gian thủy phân 30 phút.

- Nhân tố D: Nồng độ cơ chất (g thịt phụ phẩm cá tra xay đã tách béo bằng dung dịch NaHCO3).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 11 x 3 = 33.

Cơ chất thịt dè cá được chuẩn bị với khối lượng từ 0,1 đến 4g, sau đó được hòa trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate có pH 6,5 Enzyme neutrase cũng được pha trộn với nồng độ tương đương với cơ chất Sau đó, enzyme và cơ chất được ủ trong bể điều nhiệt ở nhiệt độ 50 độ C trong 30 phút trước khi tiến hành quá trình thủy phân.

Trong 30 phút, hút 0,5 mL (0,5 mg) dung dịch enzyme cho vào các bình chứa dung dịch cơ chất và tiến hành thủy phân trong 30 phút Để kết thúc quá trình phản ứng, bất hoạt enzyme bằng TCA 5% và ổn định dung dịch trong 30 phút trước khi lọc Sau đó, lấy dịch lọc và xác định hàm lượng tyrosine sinh ra bằng phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

Xác định hàm lượng tyrosine sản sinh sau quá trình thủy phân bằng phương pháp Anson cải tiến, đồng thời xác định các thông số động học như vmax và km thông qua phần mềm SAS 9.1.3 Portable.

Thí nghiệm 3: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân thịt dè cá bằng 3 enzyme ngoại bào

cá bằng 3 enzyme ngoại bào a) Thí nghiệm: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân thịt dè cá bằng enzyme bromelain

* Mục đích: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân tối ưu của enzyme bromelain.

- Thí nghiệm hai nhân tố.

- Nhân tố E, Nhân tố cặp tỷ lệ khối lượng enzyme và cơ chất tăng dần tương ứng (E/S).

- Nhân tố F, thời gian thủy phân (phút):

- Cố định pH 6,5 và nhiệt độ 55 o C.

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 24 x 3 = 72.

Trong thí nghiệm, cơ chất thủy phân được cân theo tỷ lệ E/S tối ưu và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 6,5 Enzyme bromelain cũng được chuẩn bị với nồng độ tương tự Sau đó, enzyme và cơ chất được ủ ở 55°C trong 30 phút trước khi tiến hành thủy phân Sau thời gian ủ, dung dịch enzyme được chuyển vào bình chứa cơ chất để thực hiện quá trình thủy phân Để kết thúc phản ứng, enzyme được bất hoạt bằng TCA 5%, sau đó ổn định dung dịch trong 30 phút và lọc Cuối cùng, dịch lọc được sử dụng để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

- Xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân theo phương pháp Anson cải tiến.

- Xác định hiệu suất thủy phân theo lượng tyrosine sinh ra.

- Xác định hiệu suất thủy phân đạm amin sinh ra.

- Xác định hàm lượng acid amin. b) Thí nghiệm: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân thịt dè cá bằng enzyme papain

Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân tối ưu của enzyme papain * Bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm hai nhân tố.

- Nhân tố G, Nhân tố cặp tỷ lệ khối lượng enzyme papain và cơ chất tăng dần tương ứng (E/S).

- Nhân tố F, thời gian thủy phân (phút):

- Cố định pH 6,5 và nhiệt độ 55 o C.

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 24 x 3 = 72.

Cơ chất thủy phân được cân theo tỷ lệ E/S tối ưu và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 7,5 Enzyme papain cũng được chuẩn bị với nồng độ tương tự Sau đó, enzyme và cơ chất được ủ ở 55 o C trong 30 phút trước khi tiến hành thủy phân Sau 30 phút ủ, dung dịch enzyme được chuyển vào các bình chứa cơ chất để thực hiện quá trình thủy phân Để kết thúc phản ứng, enzyme papain được bất hoạt bằng TCA 5%, sau đó dung dịch được ổn định trong 30 phút và lọc Cuối cùng, dịch lọc được sử dụng để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

- Xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân theo phương pháp Anson cải tiến.

- Xác định hiệu suất thủy phân tyrosine sinh ra.

- Xác định hiệu suất thủy phân đạm amin sinh ra.

- Xác định hàm lượng acid amin tự do. c) Thí nghiệm: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân thịt dè cá bằng enzyme neutrase

* Mục đích: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân tối ưu của enzyme neutrase.

- Thí nghiệm hai nhân tố.

- Nhân tố I, Nhân tố cặp tỷ lệ khối lượng enzyme neutrase và cơ chất tăng dần tương ứng (E/S).

- Nhân tố F, thời gian thủy phân (phút):

- Cố định pH 6,5 và nhiệt độ 55 o C.

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 24 x 3 = 72.

Tiến hành thí nghiệm bằng cách cân cơ chất thủy phân theo tỷ lệ E/S tối ưu và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 6,5 Enzyme neutrase cũng được pha chế với nồng độ tương tự Sau đó, enzyme và cơ chất được ủ ở 50 o C trong 30 phút trước khi thủy phân Sau thời gian ủ, dung dịch enzyme được chuyển vào bình chứa cơ chất để tiến hành thủy phân Để kết thúc phản ứng, enzyme neutrase được bất hoạt bằng TCA 5%, sau đó ổn định dung dịch trong 30 phút và lọc Cuối cùng, dịch lọc được sử dụng để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

- Xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân theo phương pháp Anson cải tiến.

- Xác định hiệu suất thủy phân tyrosine sinh ra.

- Xác định hiệu suất thủy phân đạm amin sinh ra.

- Xác định hàm lượng acid amin tự do.

Nội dung 2: Nghiên cứu thủy phân phụ phẩm máu cá tra

Thí nghiệm 4: Xác định hiệu suất thu hồi máu cá bằng nhiệt độ, pH và thời gian

*Mục đích: Tìm ra thời gian gia nhiệt và pH tối ưu cho quá trình thu hồi dung dịch nước rửa máu cá tra.

- Thí nghiệm hai nhân tố.

- Nhân tố K, Nhân tố thời gian ở các mốc (phút):

- Nhân tố L, Nhân tố pH ở các mức:

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 15 x 3 = 45.

Tiến hành thí nghiệm với 5 bình tam giác 250ml, mỗi bình chứa 50ml dung dịch máu cá có pH được điều chỉnh từ 4 đến 6 bằng HCl Sau đó, các mẫu dung dịch máu cá được đặt vào bề ổn định nhiệt ở nhiệt độ cố định.

Ở nhiệt độ 70 độ C, mẫu dung dịch máu cá được giữ nhiệt trong các khoảng thời gian 40, 50 và 60 phút, không bao gồm thời gian tăng nhiệt Trong suốt quá trình này, dung dịch máu cá được khuấy đều để đảm bảo tính đồng nhất.

* Chỉ tiêu theo dõi: Xác định hàm protein thu hồi

Thí nghiệm 5: Khảo sát khả năng tách béo của dung dịch NaHCO 3

Chọn nồng độ NaHCO3 tách béo tối ưu để tiến hành xử lý nguyên liệu làm cơ chất cho phản ứng thủy phân enzyme ở các thí nghiệm sau.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Giữ nhiệt độ của hỗn hợp dung dịch máu cá ở 10 0 C.

- Nhân tố M: Nồng độ dung dịch NaHCO3, (%).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 4 x 3 = 12.

Trong thí nghiệm, máu cá được tách béo bằng dung dịch NaHCO3 với các nồng độ 0, 0,2 và 0,3% ở tỷ lệ nguyên liệu 1:4 Sau khi tách béo, mẫu được ly tâm lạnh trong 10 phút ở 8°C với tốc độ 10.000 vòng/phút Phần lắng sau ly tâm được rửa bằng nước cất theo tỷ lệ 1:4 và tiếp tục ly tâm trong 5 phút ở 8°C với cùng tốc độ để thu hồi protein Cuối cùng, tiến hành phân tích hàm lượng lipid và protein trong mẫu.

* Chỉ tiêu theo dõi: Xác định hàm lượng lipid và protein sau khi xử lý tách béo ở các nồng độ khác nhau của dung dịch NaHCO3.

Thí nghiệm 6: Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân máu cá tra bằng 3 enzyme ngoại bào

a)Thí nghiệm: Xác định các thông số động học v max và k m thủy phân máu cá bằng enzyme bromelain

Mục đích của nghiên cứu là xác định các thông số động học vmax và km của enzyme bromelain trong quá trình thủy phân cơ chất máu cá tra đã được tách béo Thí nghiệm được thực hiện bằng dung dịch NaHCO3 với nồng độ tối ưu để đảm bảo hiệu quả trong quá trình tách béo của cơ chất thủy phân.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Dung dịch đệm pH ở 6,5 và giữ nhiệt độ 55 o C.

- Nồng độ enzyme bromelain (1,5 mg/mL) và thời gian thủy phân 30 phút.

- Nhân tố M: Nồng độ cơ chất (g phụ phẩm máu cá tra đã tách béo bằng dung dịch NaHCO3).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 11 x 3 = 33.

Trong thí nghiệm, cơ chất thủy phân được cân và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 6,5, cùng với enzyme bromelain ở nồng độ đã xác định Enzyme và cơ chất được ủ ở 55 o C trong 30 phút trước khi tiến hành thủy phân Sau 30 phút ủ, 0,5 mL dung dịch enzyme (1,5 mg) được cho vào bình dung dịch cơ chất và thực hiện thủy phân trong 30 phút Để kết thúc phản ứng, enzyme được bất hoạt bằng TCA 5%, sau đó ổn định dung dịch trong 30 phút và tiến hành lọc Cuối cùng, dịch lọc được sử dụng để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ theo dõi các chỉ tiêu động học bao gồm vmax và km Thí nghiệm được thực hiện nhằm xác định các thông số động học vmax và km liên quan đến quá trình thủy phân máu cá bằng enzyme papain.

Mục đích của nghiên cứu này là xác định các thông số động học vmax và km của enzyme papain trong quá trình thủy phân cơ chất máu cá tra đã được tách béo bằng dung dịch NaHCO3 ở nồng độ tối ưu.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Dung dịch đệm ở pH 7,5 và giữ nhiệt độ 55 o C.

- Nồng độ enzyme papain (1 mg/mL) và thời gian thủy phân 30 phút.

- Nhân tố N: Nồng độ cơ chất (g máu cá tra đã tách béo bằng dung dịch NaHCO3).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 11 x 3 = 33.

Tiến hành thí nghiệm, cơ chất thủy phân được cân và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 7,5, cùng với enzyme papain ở nồng độ đã chỉ định Enzyme và cơ chất được ủ ở 55°C trong 30 phút trước khi bắt đầu quá trình thủy phân Sau 30 phút, hút 0,5 mL (1 mg) dung dịch enzyme vào các bình chứa cơ chất và tiếp tục thủy phân trong 30 phút Để kết thúc phản ứng, enzyme được bất hoạt bằng TCA 5%, sau đó ổn định dung dịch trong 30 phút và tiến hành lọc Cuối cùng, dịch lọc được sử dụng để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra bằng phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất thủy phân.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi theo dõi các thông số động học vmax và km để xác định các thông số động học của quá trình thủy phân máu cá tra bằng enzyme neutrase Thí nghiệm được thực hiện nhằm đo lường vmax và km, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu suất của enzyme trong việc phân hủy protein trong máu cá tra.

Mục đích của nghiên cứu là xác định các thông số động học vmax và km của enzyme neutrase, trong quá trình thủy phân cơ chất máu cá tra đã được tách béo bằng dung dịch NaHCO3 ở nồng độ tối ưu.

- Thí nghiệm một nhân tố.

- Dung dịch đệm ở pH 6,5 và giữ nhiệt độ 50 o C.

- Nồng độ enzyme neutrase (0,5 mg/mL) và thời gian thủy phân 30 phút.

- Nhân tố O: Nồng độ cơ chất (g phụ phẩm máu cá tra đã tách béo bằng dung dịch NaHCO3).

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 11 x 3 = 33.

Tiến hành thí nghiệm bằng cách cân cơ chất máu cá thủy phân và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 6,5, cùng với enzyme neutrase có nồng độ tương đương Sau đó, enzyme và cơ chất được ủ ở 50 °C trong 30 phút trước khi tiến hành thủy phân Sau 30 phút, hút 0,5 mL dung dịch enzyme cho vào bình dung dịch cơ chất và tiếp tục thủy phân trong 30 phút Để kết thúc phản ứng, enzyme được bất hoạt bằng TCA 5%, ổn định dung dịch trong 30 phút và sau đó lọc Cuối cùng, dịch lọc được sử dụng để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra bằng phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

* Chỉ tiêu theo dõi: Các thông số động học vmax và km.

Thí nghiệm 7: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân máu cá bằng 3 enzyme ngoại bào

cá bằng 3 enzyme ngoại bào a) Thí nghiệm: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân máu cá tra bằng enzyme bromelain

* Mục đích: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân tối ưu của enzyme bromelain.

- Thí nghiệm hai nhân tố.

- Nhân tố P, Nhân tố cặp tỷ lệ khối lượng enzyme và cơ chất tăng dần tương ứng (E/S).

- Nhân tố Q, thời gian thủy phân (phút):

- Dung dịch đệm ở pH 6,5 và nhiệt độ 55 o C.

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 24 x 3 = 72.

Trong thí nghiệm, cơ chất thủy phân được cân theo tỷ lệ E/S tối ưu và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 6,5 Enzyme bromelain cũng được chuẩn bị với nồng độ tương tự Sau đó, enzyme và cơ chất được ủ ở 55 o C trong 30 phút trước khi tiến hành thủy phân Sau 30 phút ủ, dung dịch enzyme được chuyển vào các bình chứa cơ chất để thực hiện quá trình thủy phân theo các khoảng thời gian quy định Để kết thúc phản ứng, enzyme được bất hoạt bằng TCA 5%, ổn định trong 30 phút rồi lọc Cuối cùng, dịch lọc được thu thập để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

- Xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân theo phương pháp Anson cải tiến.

- Xác định hiệu suất thủy phân theo lượng tyrosine sinh ra.

- Xác định hiệu suất thủy phân theo đạm amin sinh ra. b) Thí nghiệm: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân máu cá bằng enzyme papain

* Mục đích: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân tối ưu của enzyme papain.

- Thí nghiệm hai nhân tố.

- Nhân tố R, Nhân tố cặp tỷ lệ khối lượng enzyme papain và cơ chất tăng dần tương ứng (E/S).

- Nhân tố S, thời gian thủy phân (phút):

- Cố định pH 7,5 và nhiệt độ 55 o C.

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 24 x 3 = 72.

Tiến hành thí nghiệm bằng cách cân cơ chất thủy phân theo tỷ lệ E/S tối ưu và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 7,5 Enzyme papain cũng được pha với nồng độ tương tự Sau đó, enzyme và cơ chất được ủ ở 55 o C trong 30 phút trước khi bắt đầu quá trình thủy phân Sau khi ủ, dung dịch enzyme được chuyển vào các bình chứa cơ chất và tiến hành thủy phân theo các khoảng thời gian đã định Để kết thúc phản ứng, enzyme papain được bất hoạt bằng TCA 5%, sau đó ổn định dung dịch trong 30 phút và lọc Cuối cùng, dịch lọc được thu thập để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

- Xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân theo phương pháp Anson cải tiến.

- Xác định hiệu suất thủy phân theo lượng tyrosine sinh ra.

- Xác định hiệu suất thủy phân theo đạm amin sinh ra. c) Thí nghiệm: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân máu cá bằng enzyme neutrase

* Mục đích: Xác định cặp tỷ lệ E/S và thời gian thủy phân tối ưu của enzyme neutrase.

- Thí nghiệm hai nhân tố.

- Nhân tố T, Nhân tố cặp tỷ lệ khối lượng enzyme neutrase và cơ chất tăng dần tương ứng (E/S).

- Nhân tố U, thời gian thủy phân (phút):

- Cố định pH 6,5 và nhiệt độ 50 o C.

- Số lần lập lại: 3 lần.

- Tổng số đơn vị thí nghiệm: 24 x 3 = 72.

Trong thí nghiệm này, cơ chất thủy phân được cân theo tỷ lệ E/S tối ưu và pha trộn với 10 mL dung dịch đệm phosphate pH 6,5 Enzyme neutrase cũng được chuẩn bị với nồng độ tương tự Sau khi ủ hỗn hợp enzyme và cơ chất ở 50 o C trong 30 phút, dung dịch enzyme được chuyển vào bình chứa cơ chất để tiến hành thủy phân Quá trình phản ứng được kết thúc bằng cách bất hoạt enzyme neutrase bằng TCA 5%, sau đó ổn định dung dịch trong 30 phút và lọc Cuối cùng, dịch lọc được sử dụng để xác định hàm lượng tyrosine sinh ra theo phương pháp Anson cải tiến.

Mẫu đối chứng cũng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch TCA 5% được thêm vào ngay trước khi bổ sung enzyme vào cơ chất.

- Xác định hàm lượng tyrosine sinh ra sau khi thủy phân theo phương pháp Anson cải tiến.

- Xác định hiệu suất thủy phân theo lượng tyrosine sinh ra.

- Xác định hiệu suất thủy phân theo đạm amin sinh ra.

Nội dung 3: Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân ứng dụng nuôi cấy vi

Thí nghiệm 8: Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân thịt dè cá tra ứng dụng nuôi cấy vi sinh vật

Nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy vi sinh vật tập trung vào việc sử dụng protein thủy phân từ thịt dè cá tra để nuôi cấy vi khuẩn Bacillus subtilis Thí nghiệm khảo sát đường cong sinh trưởng của Bacillus subtilis cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của vi khuẩn này trong môi trường nuôi cấy, mở ra tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực công nghiệp thực phẩm và sinh học.

Theo dõi sự phát triển của Bacillus subtilis theo thời gian từ đó xác định đường cong sinh trưởng của chúng.

So sánh tốc độ sinh trưởng của vi khuẩn trong môi trường dinh dưỡng sản xuất với dinh dưỡng thương mại

Chủng Bacillus subtilis được nuôi cấy trong điều kiện tối ưu với pH 7,0 và nhiệt độ phòng Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên, bao gồm 1 nhân tố và 3 lần lặp lại.

Nhân tố V: Các loại môi trường dùng để nuôi cấy (5 loại)

V0= Protein thịt dè cá (mẫu đối chứng)

V2 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme bromelin

V3 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme papain

V4 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme neutrate

Tổng số nghiệm thức là 5

Tổng số mẫu thí nghiệm: 5×3 (lần lặp lại) = 15 mẫu

Chủng vi khuẩn B.subtilis được pha loãng và cấy vào môi trường dinh dưỡng với mật độ ban đầu 7,15 lg CFU/ml Nghiên cứu sự tăng trưởng của B.subtilis được thực hiện từ 0 giờ đến 72 giờ, với mẫu được thu thập sau mỗi 4 giờ để khảo sát mật độ vi khuẩn thông qua phương pháp đếm khuẩn lạc.

Chỉ tiêu theo dõi là tốc độ sinh trưởng của nấm mốc Bacillus subtilis trong các môi trường pepton khác nhau, nhằm xác định môi trường tối ưu để nấm mốc này phát triển nhanh nhất Thí nghiệm cũng sẽ khảo sát khả năng sinh protease của Bacillus subtilis.

Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh tổng hợp enzyme protease của vi khuẩn Bacillus subtilis Đồng thời, nghiên cứu cũng khảo sát các điều kiện môi trường tối ưu để trích ly enzyme protease có hoạt tính cao từ sinh khối Bacillus subtilis.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với nhân tố và 3 lần lặp lại

Nhân tố W: Các loại môi trường dùng để nuôi cấy (5 loại)

W 0= Protein thịt dè cá (mẫu đối chứng)

W 2 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme bromelin

W 3 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme papain

W 4 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme neutrate

Tổng số nghiệm thức là: 5

Tổng số mẫu của thí nghiệm là: 5 x 3 = 15 mẫu.

Trong thí nghiệm này, mỗi bình tam giác chứa 20 mL môi trường nuôi cấy lỏng đã được khử trùng ở 121 oC trong 15 phút và để nguội đến khoảng 40 – 50 oC Sau đó, 5% dịch vi khuẩn đã được nuôi cấy trong 24 giờ được cấy vào năm loại môi trường nuôi cấy khác nhau Mẫu được nuôi trên máy lắc và tiến hành lấy mẫu enzyme thô để đo hoạt độ protease sau các khoảng thời gian 0 giờ, 4 giờ, 8 giờ, 12 giờ, 16 giờ, 20 giờ và 24 giờ.

Trong nghiên cứu này, chỉ tiêu theo dõi là xác định protease sinh ra từ quá trình thủy phân protein thịt dè cá tra Thí nghiệm được thực hiện bằng cách nuôi cấy nấm mốc Aspergillus oryzae và khảo sát đường cong sinh trưởng của loài nấm này.

Mục đích của nghiên cứu này là so sánh tốc độ sinh trưởng của nấm mốc Aspergillus oryzae trong hai loại môi trường nuôi cấy khác nhau: một là môi trường chứa chế phẩm protein thủy phân tự chế, và hai là môi trường chứa chế phẩm protein thủy phân thương mại Việc này nhằm đánh giá hiệu quả của các chế phẩm protein trong việc thúc đẩy sự phát triển của nấm mốc, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho các ứng dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm và sinh học.

Xác định môi trường thích hợp để nấm mốc Aspergillus oryzae có tốc độ sinh trưởng cao nhất.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 1 nhân tố và 3 lần lặp lại Nhân tố X: Các loại môi trường (5 loại)

X0= Protein thịt dè cá (mẫu đối chứng)

X2 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme bromelin

X3 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme papain

X4 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme neutrate Tổng số nghiệm thức là 5

Tổng số mẫu thí nghiệm: 5×3 (lần lặp lại) = 15 mẫu

Chủng nấm mốc Aspergillus oryzae được cấy vào các môi trường dinh dưỡng khác nhau với mật độ ban đầu 6,9 lgCFU/mL Nghiên cứu sự tăng trưởng của Aspergillus oryzae được thực hiện từ 0 giờ đến 72 giờ, với việc thu mẫu và khảo sát mật độ vi khuẩn sau mỗi 4 giờ bằng phương pháp đếm khuẩn lạc.

Chỉ tiêu theo dõi là tốc độ sinh trưởng của nấm mốc Aspergillus oryzae trong các môi trường pepton khác nhau, nhằm xác định môi trường tối ưu cho sự phát triển cao nhất của nấm mốc này Thí nghiệm sẽ khảo sát khả năng sinh protease của Aspergillus oryzae để đánh giá hiệu quả sinh học của nó.

Mục đích của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh tổng hợp enzyme protease của nấm mốc Aspergillus oryzae, đồng thời khảo sát môi trường tối ưu để trích ly enzyme protease từ sinh khối nấm mốc có hoạt tính cao.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 1 nhân tố và 3 lần lặp lại

Nhân tố Y: Các loại môi trường (5 loại)

Y0= Protein thịt dè cá (mẫu đối chứng)

Y2 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme bromelin

Y3 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme papain

Y4 = Protein thịt cá thủy phân bằng enzyme neutrate Tổng số nghiệm thức là 5

Tổng số mẫu thí nghiệm: 5×3 (lần lặp lại) = 15 mẫu

* Tiến hành thí nghiệm: Mỗi bình tam giác chứa 20 mL môi trường nuôi cấy lỏng, pH 6,5, được khử trùng ở 121 o C trong 15 phút và để nguội khoảng

Nghiên cứu được thực hiện với chủng nấm mốc Aspergillus oryzae, được cấy vào các môi trường dinh dưỡng khác nhau ở nhiệt độ 40 – 50 độ C, với mật độ ban đầu 6,9 lgCFU/mL Nấm mốc này được nuôi trên máy lắc và mẫu enzyme thô được thu thập sau các khoảng thời gian 0 giờ, 4 giờ, 8 giờ, 12 giờ, 16 giờ, 20 giờ và 24 giờ để đo hoạt độ protease.

* Chỉ tiêu theo dõi: Xác định protease sinh ra

Thí nghiệm 9: Nghiên cứu sử dụng protein thủy phân máu cá tra ứng dụng nuôi cấy vi sinh vật

Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng protein thủy phân từ máu cá tra để nuôi cấy vi khuẩn Bacillus subtilis Thí nghiệm được thực hiện nhằm khảo sát đường cong sinh trưởng của vi khuẩn Bacillus subtilis, từ đó đánh giá khả năng phát triển và ứng dụng của loại vi khuẩn này trong các lĩnh vực liên quan.

Theo dõi sự phát triển của vi khuẩn Bacillus subtilis theo thời gian từ đó xác định đường cong sinh trưởng của chúng.

So sánh tốc độ sinh trưởng của vi khuẩn trong môi trường dinh dưỡng sản xuất với dinh dưỡng thương mại

Chủng Bacillus subtilis được nuôi cấy trong điều kiện tối ưu với pH 7,0 và nhiệt độ phòng Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên, bao gồm 1 yếu tố và 3 lần lặp lại.

Nhân tố Z: Thành phần protein (5 loại)

Z0= Protein máu cá (mẫu đối chứng)

Z2 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme bromelin

Z3 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme papain

Z4 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme neutrate

Tổng số nghiệm thức là 5

Tổng số mẫu thí nghiệm: 5×3 (lần lặp lại) = 15 mẫu

Chủng vi khuẩn B.subtilis được pha loãng và cấy vào các môi trường dinh dưỡng khác nhau với mật độ ban đầu 7,15 lgCFU/ml Nghiên cứu sự tăng trưởng của B.subtilis diễn ra từ 0 đến 72 giờ, với việc thu mẫu và khảo sát mật độ vi khuẩn sau mỗi 4 giờ bằng phương pháp đếm khuẩn lạc.

Chỉ tiêu theo dõi là tốc độ sinh trưởng của nấm mốc Bacillus subtilis trong các môi trường pepton khác nhau Mục tiêu là xác định môi trường tối ưu để Bacillus subtilis phát triển với tốc độ cao nhất Thí nghiệm cũng sẽ khảo sát khả năng sinh protease của vi khuẩn Bacillus subtilis.

Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh tổng hợp enzyme protease của vi khuẩn Bacillus subtilis Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khảo sát môi trường tối ưu để trích ly enzyme protease có hoạt tính cao từ sinh khối Bacillus subtilis.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với nhân tố và 3 lần lặp lại

Nhân tố AA: Các loại môi trường (5 loại)

AA0= Protein máu dè cá (mẫu đối chứng)

AA2 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme bromelin

AA3 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme papain

AA4 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme neutrate

Tổng số nghiệm thức là: 5

Tổng số mẫu của thí nghiệm là: 5 x 3 = 15 mẫu.

Trong thí nghiệm, mỗi bình tam giác được chuẩn bị với 20 mL môi trường nuôi cấy lỏng, đã được khử trùng ở 121 o C trong 15 phút và để nguội xuống khoảng 40–50 o C Tiếp theo, 5% dịch vi khuẩn đã được nuôi cấy trong 24 giờ được cấy vào năm loại môi trường khác nhau Quá trình nuôi mẫu diễn ra trên máy lắc, và mẫu enzyme thô được thu thập để đo hoạt độ protease sau các khoảng thời gian 0 giờ, 4 giờ, 8 giờ, 12 giờ, 16 giờ, 20 giờ và 24 giờ.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định chỉ tiêu theo dõi là protease được sinh ra từ quá trình nuôi cấy nấm mốc Aspergillus oryzae Đặc biệt, thí nghiệm sử dụng protein thủy phân từ máu cá tra để khảo sát đường cong sinh trưởng của Aspergillus oryzae, nhằm đánh giá khả năng phát triển và sản xuất enzyme của loài nấm này.

Mục đích của nghiên cứu này là so sánh tốc độ sinh trưởng của nấm mốc Aspergillus oryzae trong môi trường nuôi cấy có chứa chế phẩm protein thủy phân tự sản xuất với môi trường chứa chế phẩm protein thủy phân thương mại Việc đánh giá này sẽ giúp xác định hiệu quả của các chế phẩm protein khác nhau trong việc hỗ trợ sự phát triển của nấm mốc, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho các ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm và sinh học.

Xác định môi trường thích hợp để nấm mốc Aspergillus oryzae có tốc độ sinh trưởng cao nhất.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 1 nhân tố và 3 lần lặp lại Nhân tố BB: Các loại môi trường (5 loại)

BB0= Protein máu cá (mẫu đối chứng)

BB2 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme bromelin

BB3 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme papain

BB4 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme neutrate Tổng số nghiệm thức là 5

Tổng số mẫu thí nghiệm: 5×3 (lần lặp lại) = 15 mẫu

Chủng nấm mốc Aspergillus oryzae được cấy vào các môi trường dinh dưỡng khác nhau với mật độ ban đầu 6,9 lgCFU/mL Nghiên cứu sự tăng trưởng của Aspergillus oryzae diễn ra từ 0 đến 72 giờ, với mẫu được thu thập sau mỗi 4 giờ để khảo sát mật độ vi khuẩn bằng phương pháp đếm khuẩn lạc.

Chỉ tiêu theo dõi là tốc độ sinh trưởng của nấm mốc Aspergillus oryzae trong các môi trường pepton khác nhau, nhằm xác định môi trường tối ưu để nấm mốc này phát triển với tốc độ cao nhất Thí nghiệm sẽ khảo sát khả năng sinh protease của Aspergillus oryzae.

Mục đích của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh tổng hợp enzyme protease của nấm mốc Aspergillus oryzae, đồng thời khảo sát môi trường tối ưu để trích ly enzyme protease từ sinh khối nấm mốc có hoạt tính cao.

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 1 nhân tố và 3 lần lặp lại

Nhân tố CC: Các loại môi trường (5 loại)

CC0= Protein máu cá (mẫu đối chứng)

CC2 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme bromelin

CC3 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme papain

CC4 = Protein máu cá thủy phân bằng enzyme neutrate Tổng số nghiệm thức là 5

Tổng số mẫu thí nghiệm: 5×3 (lần lặp lại) = 15 mẫu

* Tiến hành thí nghiệm: Mỗi bình tam giác chứa 20 mL môi trường nuôi cấy lỏng, pH 6,5, được khử trùng ở 121 o C trong 15 phút và để nguội khoảng

Nghiên cứu được thực hiện với chủng nấm mốc Aspergillus oryzae ở nhiệt độ 40 – 50 độ C, cấy vào các môi trường dinh dưỡng khác nhau với mật độ ban đầu 6,9 lgCFU/mL Nấm mốc này được nuôi trong điều kiện lắc, và mẫu enzyme thô được thu thập sau các khoảng thời gian 0, 4, 8, 12, 16, 20 và 24 giờ để đo hoạt độ protease.

* Chỉ tiêu theo dõi: Xác định protease sinh ra

Ngày đăng: 07/07/2021, 06:08

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w