TÓM TẮTĐề tài nghiên cứu: Nghiên cứu biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2005-2015” Với mục tiêu nghiên cứu biến độ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực
và chưa từng được được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Huế, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hiếu Trung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện thuận
lợi để tôi hoàn thành bản luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Dương Viết Tình đã trực tiếphướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Tài nguyên vàMôi trường, Trường Đại học Huế đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo UBND quận Sơn Trà, thành phố ĐàNẵng, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Sơn Trà đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Huế, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hiếu Trung
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: Nghiên cứu biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa
và công nghiệp hóa quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2005-2015”
Với mục tiêu nghiên cứu biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa và côngnghiệp hóa, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai dưới tác
động của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, góp phần định hướng phát triển
trong những giai đoạn tiếp theo trên địa bàn quận Sơn Trà
Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu được thu thập từ Niên giám thông kêcủa Chi cục thống kê quận Sơn Trà, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng
Đăng ký quyền sử dụng đất của UBND quận Sơn Trà, các báo cáo thuyết minh công
tác kiểm kê, thống kê đất đai của quận qua các năm để có được tình hình phát triển
kinh tế, xã hội, diễn biến của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa rên địa bàn quận
Kết quả nghiên cứu đề tài giúp cho ta nhận thấy rằng kể từ khi Đà Nẵng trở thành đô
thị loại 1 cấp quốc gia, đất đai đã có sự thay đổi lớn theo xu hướng đất nông nghiệp
giảm 789.0719 ha, đất phi nông nghiệp tăng 379.0802 ha trong giai đoạn 2005-2015
do trên địa bàn quận tiếp tục thực hiện công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị, đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ yếu tập trung tại phường Thọ Quang, quận Sơn Trà Biến
động đất đai trên địa bàn quận Sơn Trà là phù hợp với định hướng phát triển KT-XH
của địa phương, qua đó tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Sau khi thay đổi
cơ cấu sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được nâng cao hơn Thành phố
cũng đầu tư mở rộng không gian đô thị tại quận, mở rộng phát triển các khu công
nghiệp trọng điểm tại địa phương Tuy nhiên, chất lượng của công tác lập và quản lí
quy hoạch sử dụng đất tại địa phương chưa được cao, xảy ra tình trạng dự án treo còn
nhiều Việc phát triển các khu công nghiệp cũng kéo theo nhiều vấn đề về ô nhiễm môi
trường sản xuất và sinh hoạt xung quanh khu công nghiệp cũng như giải quyết việc
làm cho những lao động lớn tuổi bị thu hồi đất Vì vậy UBND quận cần có giải pháp
quy hoạch hợp lý
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Khái niệm về biến động đất đai 3
1.1.2 Các hình thức biến động đất đai ở Việt Nam 3
1.1.3 Một số vấn đề cơ bản về đô thị hóa và công nghiệp hóa 4
1.1.4 Tính tất yếu của đô thị hóa và công nghiệp hóa 6
1.1.5 Quan điểm về đô thị hóa và công nghiệp hóa 7
1.1.6 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và biến động đất đai 8 1.1.7 Tác động của đô thị hóa và công nghiệp hóa 9
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.2.1 Tình hình đô thị hóa và công nghiệp hóa trên thế giới 10
1.2.2 Kinh nghiệm đô thị hóa ở một số nước trên thế giới 13
1.2.3 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 16
Trang 51.3 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN ĐẤT
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2 Các phương pháp chuyên môn
2.3.3 Phương pháp minh họa trên bản đồ, sơ đồ, hình ảnh
2.3.4 Phương pháp dự báo
2.3.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của quận Sơn Trà 44 3.2 Tình hình thay đổi cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn quận Sơn Trà
3.2.1 Tình hình thay đổi cơ cấu sử dụng đất ở quận Sơn Trà giai đoạn 2005-2015
3.2.2 Những thách thức do quá trình thay đổi mục đích sử dụng đất
3.3 NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2005 - 2015
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất của quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
3.3.2 Tình hình biến động về sử dụng đất trên địa bàn quận Sơn Trà giai đoạn 2005 - 2015
3.3.3 Biến động về mục đích, đối tượng sử dụng đất tại quận Sơn Trà
Trang 63.3.4 Đánh giá biến động sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp
hóa trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 67
3.4 PHÂN TÍCH NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỀ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI Ở QUẬN SƠN TRÀ 71
3.4.1 Điểm mạnh của việc biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa trên địa bàn quận Sơn Trà thời gian qua 72
3.4.2 Điểm yếu biến động đất đai tại quận Sơn Trà trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa thời gian qua 72
3.4.3 Cơ hội của biến động về đất đai ở quận Sơn Trà trong thời gian tới 74
3.4.4 Thách thức đối với biến động đất đai ở quận Sơn Trà trong thời gian tới 74 3.5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUY HOẠCH, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI GIAI ĐOẠN 2015-2020 TẠI QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 76
3.5.1 Giải pháp về quy hoạch 76
3.5.2 Giải pháp về quản lý 77
3.5.3 Giải pháp về sử dụng đất đai 78
3.5.4 Vai trò các bên có liên quan nhằm thực hiện tốt giải pháp 80
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83
1 KẾT LUẬN 83
2 ĐỀ NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố dân cư quận năm 2015 33
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu về lao động quận Sơn Trà giai đoạn 2005 - 2015 33
Bảng 3.3 GDP và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2015 35
Bảng 3.4 Cơ cấu kinh tế quận giai đoạn 2011-2015 35
Bảng 3.5 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 39
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu về y tế của quận Sơn Trà giai đoạn 2005-2015 43
Bảng 3.7 Thay đổi cơ cấu sử dụng đất quận Sơn Trà giai đoạn 2005 - 2015 47
Bảng 3.8 Diện tích đất đai phân theo đơn vị phường quản lý 49
Bảng 3.9 Biến động về mục đích sử dụng một số loại đất tại quận Sơn Trà 61
Bảng 3.10 Tình hình biến động đất đai theo đối tượng sử dụng đất tại quận Sơn Trà 63 Bảng 3.11 Diện tích đất phân theo đơn vị hành chính cấp dưới trực thuộc 68
Bảng 3.12 Tóm tắt điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức của việc biến động đất đai trên địa bàn quận Sơn Trà 73
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững (mô phỏng theo WCED) 8
Hình 1.2 Biểu đồ thống kê tổng số đô thị từ năm 1990 - 2010 17
Hình 1.3 Biểu đồ thống kê đất đô thị năm 2008 17
Hình 3.1 Vị trí, ranh giới hành chính quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 28
Biểu đồ 3.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất trên địa bàn quận Sơn Trà 31
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu kinh tế quận Sơn Trà 36
Biểu đồ 3.3 Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản giai đoạn 2011-2015 37
Biểu đồ 3.4 Sản lượng khai thác thủy sản giai đoạn 2011-2015 38
Biểu đồ 3.5 Cơ cấu về mục đích sử dụng của một số loại đất năm 2015 62
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh nước ta bước vào năm thứ tám kể từ khi gia nhập Tổ chứcthương mại thế giới (WTO), cơ hội phát triển, lợi ích của đất nước là rất lớn Tuy
nhiên, cũng có nhiều thách thức đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu, năng lực cạnh tranh cao
hơn Để đáp ứng hoà nhập kịp thời thì quá trình đô thị hoá và công nghiệp hóa là quá
trình phát triển tất yếu Công nghiệp hoá và đô thị hoá đã làm thay đổi bộ mặt của đất
nước trên nhiều phương diện Những năm gần đây, chúng ta đang chứng kiến quá trình
đô thị hoá với tốc độ nhanh chưa từng có Hệ thống đô thị hình thành ngày một nhiều
và đã trở thành hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội Bên cạnh lợi
ích, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã gây ra sự biến đổi tiêu cực nhiều mặt
đối với các thành phần tài nguyên - môi trường mà đất đai là thành phần tài nguyên
chịu tác động trực tiếp, biến động sâu sắc và mạnh mẽ nhất Mật độ dân số đô thị và
các khu công nghiệp ngày càng tăng, quy hoạch kiến trúc không đồng bộ, quá trình
phát triển đô thị mang tính tự phát v.v đã làm cho việc sử dụng tài nguyên đất đai
lãng phí, không hợp lý, thiếu tính bền vững
Hiện nay, quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá ở nước ta thiên về tăngtrưởng kinh tế mà chưa quan tâm đúng mức đến quy hoạch bền vững, tình trạng sử
dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị, phát triển công nghiệp ồ ạt có thể
dẫn đến nguy cơ về an ninh lương thực quốc gia, ô nhiễm môi trường nhất là ở các
thành phố lớn và các khu công nghiệp, khu chế xuất Các đô thị hàng ngày thải ra hàng
tấn rác, riêng rác thải y tế chiếm 250 tấn, thêm vào đó việc thu gom mới đạt khoản
60% và hình thức xử lý chủ yếu là chôn lấp nên gây ô nhiễm trầm trọng nguồn nước,
đất và không khí
Trước thực tiễn đó, đòi hỏi phải đưa ra các kế sách đảm bảo sự phát triển đô thịphải hướng tới mục tiêu cân đối giữa phát triển kinh tế, tính hiện đại với tính bền vững
của tự nhiên, con người và xã hội Để quy hoạch phát triển hợp lý cần phải có dữ liệu
đầy đủ về các nguồn tài nguyên như: đất, nước, năng lượng Trong đó, nguồn tài
nguyên đất đang dần cạn kiệt cần được đặc biệt chú trọng Việc nghiên cứu biến động
tài nguyên đất để đưa ra các quyết định chính xác, tin cậy, kịp thời là cơ sở quyết định
cho quá trình phát triển đô thị phục vụ quy hoạch bền vững
Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của vùng Trung Bộ,
là thành phố trẻ, năng động, thành phố đang biến đổi từng ngày theo hướng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, phù hợp với xu thế chung của cả nước và trên thế giới Để
phát triển kinh tế - xã hội cho thành phố, đất đai được chuyển mục đích từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp ngày càng nhiều
Trang 11Quá trình đô thị hóa ở quận Sơn Trà – thành phố Đà Nẵng diễn ra khá sôi độnglàm cho đời sống người dân được thay đổi và nâng cao Nhưng quá trình này cũng đưa
lại nhiều khó khăn và thách thức mà thành phố phải đối mặt trong vấn đề sử dụng đất,
vấn đề đời sống, việc làm và sính kế của người dân
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở trên, được sự nhất trí của Trường Đại học
Nông Lâm Huế và Thầy giáo hướng dẫn, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu biến
động đất đai trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng, giai đoạn 2005-2015”.
2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa
và công nghiệp hóa, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai
dưới tác động của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, góp phần định hướng phát
triển trong những giai đoạn tiếp theo
- Ý nghĩa khoa học: đóng góp những nội dung mới bổ sung cho cơ sở khoa học và
phương pháp luận ứng dụng tổng hợp nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp để nghiên cứu biến động đất đai
- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho công tác
xác định biến động đất đai, quy hoạch và định hướng phát triển khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵngtrong những giai đoạn tiếp theo
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Khái niệm về biến động đất đai
Biến động đất đai là sự thay đổi thông tin, không gian và thuộc tính của thửa đấtsau khi xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập hồ sơ địa chính ban đầu
Căn cứ vào đặc trưng biến động đất đai ở Việt Nam, người ta phân chia thành
ba nhóm biến động chính: biến động hợp pháp, biến động không hợp pháp, biến động
chưa hợp pháp
1.1.2 Các hình thức biến động đất đai ở Việt Nam
Sự thay đổi bất kỳ thông tin nào so với thông tin trên giấy chứng nhận đã cấp vàthông tin trên hồ sơ địa chính đã được lập lúc ban đầu (những thông tin: tự nhiên, kinh
tế, xã hội, pháp lý) thì điều phải có sự xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Chúng ta có thể phân ra các hình thức biến động sau:
Biến động về quyền sử dụng đất: chuyển nhượng, chuyển đổi, hợp thức hóa,thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thay đổi do tách hợp thửa đất
Biến động do thay đổi mục đích sử dụng đất
Biến động do quy hoạch
Biến động do thiên tai (sạt lỡ, đất bồi)
Biến động do thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất
Biến động do sai sót, nhầm lẫn về nội dung thông tin ghi trên giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất; do cấp đổi hoặc thu hồi giấy chứng nhận; do thay đổi số thứ tự tờ
Trang 13Biến động do nhận quyền sử dụng đất do chia tách, sát nhập tổ chức theo Quyếtđịnh của cơ quan, tổ chức.
Biến động ranh giới giữa các thửa đất giáp cận.[11]
1.1.3 Một số vấn đề cơ bản về đô thị hóa và công nghiệp hóa
Định nghĩa về đô thị khá phong phú, tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia
có những khái niệm khác nhau Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết để gọi
là đô thị phải là 400 người/km2 hay 1.000 người/dặm vuông Anh Các quốc gia Châu
Âu định nghĩa đô thị dựa trên việc sử dụng đất đô thị, không cho phép có một khoảng
trống tiêu biểu nào lớn hơn 200m Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng
đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường
là 75% trở lên lao động phi nông nghiệp.[24]
Ở Việt Nam cũng có nhiều từ chỉ đô thị như: thành phố, thị xã, thị trấn, thành thị và cáckhái niệm, các tiêu chí xác định đô thị cũng không đồng nhất ở những thời điểm khác nhau Các từ đó điều cóhai thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố, có nghĩa là chợ, nơi buôn bán, biểuhiện của phạm trù hoạt động kinh tế Hai thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và có tác động qua lạitrong quá trình phát triển Như vậy, một tụ điểm dân cư sống phi nông nghiệp và làm chức năng, nhiệm vụcủa một trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế của một khu vực lớn, nhỏ là những tiêu chí cơ bản đầu tiên
để định hình đô thị.[20]
Theo Thông tư 31/TTLD ngày 20/11/1990 của Bộ Xây dựng và Ban tổ chứccán bộ Chính phủ thì đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ chủ yếu là lao động
phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên
nghành có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong
tỉnh hoặc huyện
Trên quan điểm xã hội học, đô thị là một hình thức tồn tại của xã hội trong mộtphạm vi không gian cụ thể và là một hình thức cư trú của con người Sự tồn tại của đô
thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa độc lập với
nhau, ở đây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải con số cộng của nhiều bộ phận
cấu thành Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó.[11]
Trên góc độ quản lý kinh tế - xã hội, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độcao, chủ yếu là hoạt động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm
tổng hợp hay trung tâm chuyên nghành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh
hoặc trong huyện.[13]
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao độngphi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên
Trang 14nghành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của cả miền đô
thị, của một đô thị, của một huyện hoặc một đô thị trong huyện
Đô thị hoá là quá trình phát triển đô thị ở một quốc gia Đô thị hóa bao gồmviệc mở rộng các đô thị hiện có và việc hình thành các đô thị mới Một khu vực nào đó
được “hóa” thành đô thị khi nó hội đủ các tiêu chuẩn của đô thị.[2]
Có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị hóa, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnhtừng quốc gia
Cách hiểu đơn giản nhất và thông dụng nhất về đô thị hóa là sự mở rộng của đôthị tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay
diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu
tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó được gọi là mức đô thị hóa; còn
theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng
rãi lối sống thành thị thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc
sống.[23]
Theo tiến sĩ Guoming Wen, đô thị hóa là quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử
tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố Thường quá
trình này được nhìn nhận như sự di cư của nông dân nông thôn đến các đô thị và quá
trình tiếp tục của bản thân các đô thị.[3]
Tiến sĩ Jung Duk (Hàn Quốc) cho rằng đô thị hóa là sự gia tăng dân số chủ yếu
từ nông thôn ra thành thị mà trước đây, thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích tìm
kiếm việc làm, cơ hội giáo dục và những thú vui, tiện nghi nơi đô thị, trong giai đoạn
ban đầu công nghiệp hóa.[3]
Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi một khu vực, một vùng nào đó chưa “đô thị”
thành “đô thị” Những vùng, khu vực có thể là vùng ven đô thị hay ngoại thành, có thể
thị trấn, thị tứ khi có cơ hội đô thị hóa, từ đô thị mở rộng không gian và dện tích cũng
như thu hút luồng di cư của dân không nhất thiết từ đô thị trung tâm mà cả những vùng
khác nhất là nông thôn trong cả nước.[23]
Đô thị hóa là một quá trình chuyển hóa, vận động phức tạp, có quy luật về mặtkinh tế - văn hóa và xã hội Theo nghĩa rộng, đô thị hóa được hiểu là quá trình nâng
cao vai trò, vị trí, chức năng của các thành phố, các đô thị trong sự vận động phát triển
xã hội Quá trình này bao quát những thay đổi trong sự phân bố lực lượng sản xuất,
trước hết là trong quần cư, trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội, cơ cấu lao động, cấu trúc
tổ chức không gian sống của cộng đồng.[19]
Tóm lại, khái niệm đô thị hóa được đề cập có thể chưa giống nhau nhưng thốngnhất ở điểm là thường đề cập đến hai thành tố
Thứ nhất, đô thị hóa là sự tăng lên của cư dân đô thị Sự tăng lên này theo ba
Trang 15dòng chính là sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị, dòng di dân từ nông thôn ra
thành thị và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị
Thứ hai, đô thị hóa ở rộng không gian kiến trúc Mở rộng không gian đô thị làmột tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình đô thị hóa Đó cũng có thể
sát nhập vào đô thị hóa và mở rộng đô thị ra ngoại thành hoặc lân cận
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển nền kinh tế từ sản xuất thủ công, lạc hậusang sản xuất bằng máy móc với trình độ kỹ thuật cao Quá trình công nghiệp hóa làm
biến đổi sâu sắc bộ mặt xã hội và môi trường thiên nhiên
Có thể hiểu công nghiệp hóa là quá trình biến đổi xã hội đặc trưng bởi kinh tếnông nghiệp sang kinh tế công nghiệp Nói đơn giản, công nghiệp hóa là quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công
nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Quá trình công nghiệp hoá ở cấp độ vi mô thể hiện
việc biến đổi lao động từ bằng thủ công từ sức người và sức vật sang lao động cơ khí,
lao động dựa vào máy móc Ngày nay là lao động dựa vào công nghệ tin học Chỉ báo
dễ nhận thấy nhất của công nghiệp hóa là cơ cấu lao động theo nghành kinh tế nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thay đổi theo hướng tăng dần tỉ lệ lao động công
nghiệp và giảm dần tỉ lệ lao động nông nghiệp Một chỉ báo quan trọng khác là các
nghành nghề công nghiệp liên tục xuất hiện Một chỉ báo nữa là tỷ trọng sản lượng
công nghiệp trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội.[21]
Nội dung chủ yếu của quá trình công nghiệp hóa trên thế giới: trang bị kỷ thuật,công nghệ hiện đại theo đó xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý trong tất cả các nghành
của nền kinh tế quốc dân Quá trình công nghiệp hóa trên thế giới gắn liền với cuộc
cách mạng khoa học kỷ thuật.[26]
1.1.4 Tính tất yếu của đô thị hóa và công nghiệp hóa
Đô thị hóa và công nghiệp hóa xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đườngphát triển Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau và
với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hoá tiếp tục lan rộng như là một quá
trình kinh tế, xã hội trên toàn thế giới Quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân cư,
thay đổi các mối quan hệ xã hội, quá trình thúc đẩy và đa dạng hoá những chức năng
phi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hoá đô thị Đô thị hoá là
sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị
trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Cũng có thể tính theo tỉ lệ
gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Đô thị hoá là quá trình phát triển rộng rãi lối
sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống Các
nước phát triển như Châu Âu, Mĩ hay Úc thường có mức độ đô thị hoá cao (trên 80%)
hơn nhiều so với các nước đang phát triển như Trung Quốc (khoảng 30%) Đô thị các
Trang 16các trường hợp các nước đang phát triển.
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, một số quốcgia dù phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lên
nền kinh tế công nghiệp bằng con đường công nghiệp hóa đều gắn liền với đô thị hóa
Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt làcác nước Châu Á, trong đó có Việt Nam Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô
thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển
kinh tế - xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân
Trong lịch sử cận đại, đô thị hóa trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình côngnghiệp hóa tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh
tế theo hướng hiện đại hóa: Tăng tỷ trọng của các nghành công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng của nghành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP Nhìn chung,
từ góc độ kinh tế, đô thị hóa là xu thế tất yếu của sự phát triển
Như vậy, đô thị hóa là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm và tìnhhình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và không
thể đảo ngược của sự phát triển xã hội Đô thị hóa là hệ quả của sức mạnh công nghiệp
và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới
1.1.5 Quan điểm về đô thị hóa và công nghiệp hóa
Đô thị hóa và công nghiệp hóa là xu thế chung của mọi quá trình chuyển đổi từnền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp Vấn đề quan trọng đặt ra là
làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của đô thị hóa, đồng thời hạn
chế và đi đến thủ tiêu mặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá
trình đô thị hóa phải gắn liền với khái niệm “Phát triển bền vững”
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấnphẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của
nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những
nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”
Theo Uỷ ban thế giới về môi trường và Phát triển (WCED) trong báo cáo
Tương lai của chúng ta năm 1987 thì phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa
mãn nhu cầu của thể hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng mãn nhu cầu của
thể hệ tương lai
Trang 17Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững (mô phỏng theo WCED)
Phát triển bền vững là sự phát triển tổng hòa của ba yếu tố: kinh tế bền vững,môi trường bền vững, xã hội bền vững và hạt nhân của nó chính là “con người” (hình
1.1) Những nghiên cứu về phát triển bền vững của cộng đồng tập trung vào một hệ
thống liên kết các vấn đề về sức mạnh của cộng đồng, chất lượng cuộc sống và phát
triển con người theo ba lĩnh vực trên.[9]
Như vậy, đô thị hóa phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảomôi trường tự nhiên, xã hội trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Mục tiêu của
đô thị hóa phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất của con người,
tức là phát triển đô thị phải lấy con người làm trọng tâm, đặt vấn đề con người và môi
trường lên hàng đầu
1.1.6 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và biến động đất đai
Đô thị hóa là quá trình song song với sự phát triển công nghiệp hóa và cáchmạng khoa học kỹ thuật Quá trình đô thị hóa phản ánh tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường Không ai phủ nhận rằng một quốc gia được
coi là công nghiệp hóa thành công lại không có tỉ lệ di dân đô thị ngày càng chiếm vị
trí áp đảo so với cư dân nông thôn Đô thị hóa trước hết là hệ quả trực tiếp của quá
trình công nghiệp hóa và sau này là hệ quả của quá trình đô thị hóa, cơ cấu lại nền kinh
tế theo hướng hiện đại hóa, tăng tỷ trọng của các nghành công nghiệp và dịch vụ, giảm
tỷ trọng của nghành nông nghiệp trong cơ cấu GDP
Công nghiệp hóa càng mạnh, quy mô đô thị tập trung lớn hơn, hoạt động đô thịphức tạp hơn, nên cấu trúc đô thị cũng phức tạp, xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm như
làm tăng nhu cầu phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, nhà ở Điều này đồng nghĩa với
Trang 18người luôn kỳ vọng khai thác triệt để quỹ đất chưa sử dụng, tuy nhiên hầu hết diện tích
đất này thường nằm ở khu vực không thuận lợi để phát triển, nhất là phát triển đô thị
Mặt khác, xu hướng đô thị hóa thường lan rộng tại những khu vực có vị thế, điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi, do đó thường có hướng tập trung phát triển tại các
vùng đồng bằng, nơi tập trung phần lớn diện tích đất nông nghiệp màu mở mà nông
dân đang sản xuất Cuốn theo xu hướng phát triển của xã hội, việc chuyển đổi các diện
tích đất nông nghiệp này sang mục đích phi nông nghiệp là không thể tránh khỏi, điều
này làm chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong một lãnh thổ qua từng giai đoạn phát
triển Ngoài ra, công nghiệp hóa và đô thị hóa ồ ạt rất dễ làm ảnh hưởng xấu đến môi
trường sinh thái, môi trường đất nông nghiệp ở các vùng phụ cận, nếu không có các
giải pháp quản lý và sử dụng đất hợp lý thì có thể làm mất cân đối cơ cấu sử dụng đất,
gây biến động lớn đến mục đích sử dụng của các loại đất, nhất là đối với đất nông
nghiệp bị chuyển đổi sang mục đích đất phi nông nghiệp Quá trình chuyển đổi này là
một chiều nên không thể cải tạo lại được, làm cho việc sử dụng đất thiếu tính bền vững
trong tương lai
1.1.7 Tác động của đô thị hóa và công nghiệp hóa
Đô thị hóa và công nghiệp hóa là quá trình mang tính lịch sử - tự nhiên, đô thịhóa nhìn bề ngoài như một sự di dân vĩ đại, trước hết từ nông thôn ra thành thị và sự tự
đổi mình, tiếp tục phát triển của bản thân các đô thị Đây là quá trình phức tạp hơn
nhều lần trong thực tế, đô thị hóa có những tác động hai mặt lên sự phát riển kinh tế
-xã hội
Tác động tích cực: Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã cung cấp mộtlượng lao động lớn, có trình độ; góp phần giải quyết công ăn việc làm, giảm bớt lao
động dư thừa hiện nay; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai vì đất đai luôn có giới hạn,
việc tập trung cao dân cư trong các quận nội thành hay vùng ven đô đã làm cho hệ số
sử dụng đất cao nhất, tiết kiệm nhất Đô thị hóa tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nhanh hơn, tạo tiền đề, thị trường cho khu vực công nghiệp, đặc biệt là
dịch vụ Sự giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, miền, nghành kinh tế được thể
hiện nhờ quá trình đô thị hóa cũng là quá trình thị trường hóa Nó kích thích cầu và mở
đường cho cung ứng
Đô thị hóa tạo điều kiện giao lưu và giữ gìn văn hóa các vùng miền, làm phongphú hơn văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa hiện đại Dân di cư đến thành phố đồng thời
mang văn hóa riêng ở vùng quê của họ, góp phần vào một nền văn hóa chung được
hưởng với lưu giữ ở thành phố Nó tạo điều kiện cải biến con người thuần nông sang
người thành thị, có tính công nghiệp cao hơn từ những người nông dân với nền sản
xuất lúa nước, phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Đây cũng là một trong những con
Trang 19đường đưa nhà nước ta đi dần lên chủ nghĩa xã hội, thông qua sự đào luyện trong quá
trình phát triển kinh tế
Ngoài ra quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đêm lại một số mặt xã hội đó
là nâng cao tuổi thọ trung bình, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em, giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng,
tăng tỉ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa và các vấn đề an sinh xã
hội khác
Tác động tiêu cực: Nhu cầu về đất đai tăng, dẫn đến diện tích bình quân trênđầu người thu hẹp dần Các sản phẩm công nghiệp thải ra môi trường đe dọa trực tiếp
tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống Ô nhiễm không khí dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng như hiệu ứng nhà kính; suy thoái lớp ozone
Vấn đề lao động và việc làm trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thịtrường luôn bị đe dọa; kết cấu hạ tầng giao thông và môi trường luôn bị phá vở, không
theo kịp yêu cầu thực tiễn Sự tăng lên đột biến của dân số trong quá trình đô thị hóa
và công nghiệp hóa đã làm cho kết cấu hạ tầng đã có bị lạc hậu nhanh chóng, trong khi
kết cấu hạ tầng mới chưa xây dựng kịp hoặc xây dựng dỡ dang; gây sức ép về chất
lượng giáo dục và y tế, đồng thời sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp đã ảnh hưởng
không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của nhiều người dân ở khu vực ngoại ô vì họ trở
nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống
Ngoài ra, đô thị hóa và công nghiệp hóa khoét sâu hố phân cách giàu nghèo,gia tăng tình trạng di dân từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm hoặc tìm kiếm
lối sống tiến bộ nơi thành thị, thị trường lao động nơi thành thị bị ứ đọng, tình trạng
thiếu việc làm ngày càng nhiều, thiếu nguồn nước sạch, phát sinh các tệ nạn xã hội
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Tình hình đô thị hóa và công nghiệp hóa trên thế giới
Từ thời cổ đại, nhiều đô thị đã xuất hiện, một số đô thị có quy mô lên đến100.000 dân Các đô thị cổ thường là giao điểm của các đường giao thông quan trọng,
dọc các lưu vực sông, trung tâm của các lưu vực sông, trung tâm các vùng châu thổ đất
đai màu mở, hay những vị trí cần thiết phòng chống quân xâm lăng Quá trình đô thị
hóa trên thế giới bắt đầu phát sinh trong thời kỳ văn ninh nông nghiệp, chỉ một phần
các thợ thủ công, thương nhân, hành chính tách ra thành lập đô thị.[21]
Gần 150 năm trước, trào lưu đô thị bắt đầu ở phương Tây rồi mới sang Mỹnhững năm cuối thế kỷ XIX và Châu Á là vào những thập niên 60, 70 và thế kỷ XX,
đều là hệ quả tự nhiên của quá trình hiện đại hóa đất nước thông qua các cuộc cách
mạng công nghiệp Trước đó nữa, sự chuyển biến các chức năng đô thị trong thời kỳ
giao lưu hàng hóa, tiền tệ phát triển mạnh làm xuất hiện hàng loạt nhà ga, hệ thống hạ
tầng giao thông, điện nước, các phương thức xây dựng mới bằng vật liệu bê tông, sắt,
Trang 20thép làm thay đổi bộ mặt của đô thị, kiến trúc thế giới Trong thế kỷ XX, các nước phát
triển đã chuyển gần 80% - 90% dân số cư trú từ nông thôn sang cư trú ở đô thị, đưa số
người sống trong đô thị hiện nay lên 50% dân số của thế giới (khoảng hơn 3 tỷ người
chỉ trong một thế kỷ) Các cuộc cách mạng công nghiệp tác động đã thay đổi diện mạo
của cả khu vực thành thị và nông thôn một cách sâu sắc, hình thành nên hệ thống kiến
trúc hiện đại, nếp sống văn minh đô thị tại các nước phát triển trên thế giới.[14]
Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số đô thị toànthế giới từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17,8% lên 40,5%, trong
khi khu vực phát triển là từ 54,99% lên 76,1%.[19]
Hiện tại tỉ lệ đô thị hóa Châu Á là 35%, Châu Âu là 75%, Châu Phi là 45%, Bắc
Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La Tinh Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, trong 1/4 thế
kỷ tới, việc tăng dân số hầu hết chỉ sẽ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các
nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị.[19]
Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào vào sự công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Tuy vậy, sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hoàng loạt vấn đề gây mất cân đối
với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bổ dân cư và vùng lao
động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao
nhiên liệu, năng lượng Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu
người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ xuống 0,17 ha vào năm 2015
Quá trình đô thị hóa là quá trình mang tính lịch sử Số lượng đô thị tăng lên vừa
là chỉ tiêu chứng tỏ trình độ đô thị hóa Đặc trưng của đô thị hóa thể hiện qua các vấn
đề: 1) dân số nông nghiệp của xã hội chuyển hóa nhanh chóng sang dân số phi nông
nghiệp, dân số đô thị; 2) số lượng đô thị và dân số đô thị trong một khu vực nhất định
không ngừng tăng lên; 3) quy mô dân số của nhiều đô thị trong một thời kỳ nhất định
tăng vọt và nâng cấp; 4) đô thị lớn, đô thị đặc biệt lớn và khu vực đô thị không ngừng
hình thành và mở rộng; 5) tỷ trọng dân số đô thị so với cả nước (hoặc khu vực) không
ngừng tăng lên.[10]
Quá trình phát triển đô thị trong thế kỷ 20
Trong thế kỷ 20 quá trình đô thị xảy ra với tốc độ nhanh chóng so với hàngngàn năm trước đó
Vào năm 1990 đã có 220 triệu cư dân thành thị (chiếm13%) trên toàn thế giới
Năm 1990, những thành phố đông dân nhất thế giới thuộc về Bắc Mỹ và Châu Âu
Cuối thế kỷ 20 chỉ có 3 thành phố Tokyo, NewYork và LosAngeles là những thành
phố công nghiệp
Trang 21Vào năm 1910, tại Hoa Kỳ, bắt đầu thời kỳ đô thị hóa tăng tốc vào cuối thậpniên 1910, và các nhà nghiên cứu cho biết ở thời điểm này Hoa Kỳ còn 21% dân số
sống ở nông thôn Mặc dù nhiều tiểu bang Main, Mississippi, Vermont và Tây
Virginia vẫn còn đa số nông thôn Tại Bắc Carolina, một phần lớn nông thôn vẫn còn
đến cuối những năm 1980
Trong khi dân số đô thị của thế giới dã tăng trưởng rất nhanh chóng (từ220.000.000 người trong năm 1900 đến 2.800.000.000 người trong năm 2000) trong
thế kỷ 20, trong vài thập kỷ tiếp theo sẽ thấy một quy mô dân số chưa từng thấy của
phát triển đô thị trong thế giới phát triển
Vào năm 1950 đã có 732 triệu cư dân thành thị (chiếm 29%) trên toàn thế giới
Đến năm 1990, 75% dân số Hoa Kỳ sống ở các thành phố
Quá trình phát triển đô thị hóa và công nghiệp hóa trong thập niên đầu thế
kỷ 21
Từ năm 2000 đến năm 2015, 11 siêu thành phố được dự báo được mức tăng dân
số dưới 1,5% và 5 thành phố sẽ ở với tốc độ tăng trưởng dân số trên 3%
Vào năm 2003 đã có ba tỷ cư dân thành thị (chiếm 48%) trên toàn thế giới Dân
số nông thôn chiếm 3,2 tỷ người
Tỉ lệ dân sống trong các siêu thành phố (từ 10 triệu người trở lên) là nhỏ Năm
2003, 4% dân số thế giới cư trú tại các siêu thành phố Khoảng 25% dân số thế giới và
một nửa dân số đô thị sống trong các khu định cư với ít hơn 500.000 dân
Với 35 triệu dân vào năm 2003, Tokyo cho đến nay là tích tụ đô thị đông dânnhất Sau Tokyo là Mexico City (18,7 triệu), New York (18,3 triệu), Sao Paulo (17,9
triệu), Mumbai (BomBay) (17,4 triệu) Vào năm 2015, Tokyo sẽ vẫn là tích tụ đô thị
lớn nhất với 36 triệu dân, tiếp theo là Mumbai (BomBay) (22,6 triệu), Delhi (20,9
triệu), Mexico City (20,6 triệu) và Sao Paulo (20 triệu)
Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc và các cơ quan Liên Hiệp Quốc cho biết sẽ phảitrãi qua một “cuộc cách mạng trong suy nghĩ” để đối phó với việc tăng gấp đôi dân số
đô thị ở Châu Phi và Châu Á Làn sóng đô thị hóa chưa từng có này cung cấp cơ hội
tiềm năng hoặc thất bại thảm hại Trong đó có 4% dân số thế giới cư trú tại các siêu
thành phố Khoảng 25% dân số thế giới và một nửa dân số đô thị sống trong các khu
định cư đô thị với ít hơn 500.000 dân
Trong số 20 siêu thành phố được xác định trong năm 2003, gần một nửa tăngtrưởng dân số dưới 1,5% từ năm 1975 đến năm 2000 và chỉ sáu thành phố đã tăng
trưởng ở mức trên 3%
Trang 22Liên quan đến các xu hướng mô tả ở trên, ba phần tư của tất cả các chính phủbáo cáo rằng họ không hài lòng với sự phân bố không gian các quần thể của họ Các
nước đang phát triển (79%) có nhiều khả năng hơn so với các nước phát triển (65%)
báo cáo sự không hài lòng Các nước đang phát triển cũng có khả năng đã áp dụng
chính sách để cải thiện phân bổ không gian
Quá trình đô thị hóa đã được nâng cao trong khu vực phát triển hơn, nơi mà74% dân số sống trong năm 2003
Vào năm 2005 đã có 3.200.000 cư dân đô thị (chiếm 49%) trên toàn thế giới
Đến năm 2007 dân số thành thị trên thế giới vượt quá mốc 50%, đánh dấu lần đầu tiên
trong lịch sử thế giới có cư dân đô thị nhiều hơn so với cư dân nông thôn
Vào tháng 5/2007 một sự kiện quan trọng xảy ra khi dân số Trái đất đã có sốdân cư đô thị cao hơn dân cư nông thôn Ngày 23/5/2007 là ngày đại diện cho một cột
mốc quan trọng lớn về nhân khẩu học, được gọi là ngày “Đô thị thiên niên kỷ”
Wimberley nói rằng ngày 23/5/2007, đánh dấu một cuộc gọi “mayday” cho tất
cả các công dân có liên quan của thế giới Vào năm 2010 đã có 51,3% dân số thế giới
sống ở thành thị
Quá trình phát triển đô thị đến năm 2011
Trong năm 2011, trên thế giới có 796 khu dân cư đô thị có từ 500.000 người trởlên được xác định; có 205 khu dân cư đô thị có từ 2.000.000 người trở lên được xác
định, trong đó Châu Phi 25, Châu Á 105, Châu Úc 2, Châu Âu 21, Bắc Mỹ 31, Nam
Mỹ 22; có 65 khu dân cư đô thị có từ 5.000.000 người trở lên được xác định, trong đó,
Châu Phi 12, Châu Á 31, Châu Úc 0, Châu Âu 7, Bắc Mỹ 8, Nam Mỹ 7
1.2.2 Kinh nghiệm đô thị hóa ở một số nước trên thế giới
1.2.2.1 Đô thị hóa ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh và nhanh Kể từ khinước Trung Hoa thành lập đến nay thành tựu phát triển đô thị hóa của Trung Quốc
được cả thế giới biết đến Nếu vào năm 1949, Trung Quốc có 136 thành phố với số dân
khoảng 54 triệu người, chiếm khoảng 10,6% dân số cả nước thì đến năm 2005, dân số
đô thị nước này đã đạt tới 800 triệu người sống ở trên 700 thành phố, tỉ lệ bằng 37%
Tình đến năm 2008 số dân sống ở thành thị, thị trấn ở Trung Quốc là 607 triệu người,
tốc độ đô thị hóa từ 7,3%, 45,68% năm 2008 đến năm 2011 là 51,27% dân số sống ở
khu vực đô thị Có những dự đoán cho rằng đến năm 2050, tỉ lệ đô thị hóa sẽ đạt 75%
Tính trung bình mỗi năm có 12 triệu người ở nông thôn vào sinh sống ở đô thị.[27]
Trang 23Tân thời kỳ đầu nước Trung Hoa mới ra đời lác đác chỉ có vài thành phố lớn.
Đến năm 2008, số thành phố có số dân hơn một triệu người là 122; thành phố có số
dân từ 500 nghìn đến một triệu là 118 thành phố Đồng thời, với sự phát triển của các
thành phố lớn là các khu thị trấn cũng phát triển mạnh, phá vỡ hệ thống phân chia giữa
thành thị và nông thôn Tính đến cuối năm 2008, cả nước có 19.234 thị trấn, dân số tại
các thành phố, thị trấn nhỏ chiếm tỉ lệ tổng dân số tại các thành phố, thị trấn từ 20%
năm 1978 đã tăng lên hơn 45% Ba quần thể thành phố là Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà
Bắc, khu tam giác sông Trường Giang và tam giác sông Châu Giang, sử dụng không
tới 3% diện tích đất trong cả nước, tập trung khoảng 14% dân số trên cả nước, tạo nên
42% tổng giá trị sản xuất trong nước Trung Quốc đã bước đầu hình thành hệ thống
thành phố, thị trấn lấy thành phố lớn là trung tâm, thành phố vừa và nhỏ là nòng cốt,
thành phố, thị trấn nhỏ làm cơ sở phát triển nhịp nhàng theo nhiều cấp độ, đi theo con
đường phát triển đô thị hóa đặc sắc Trung Quốc.[24]
Từng bước nâng cao trình độ đô thị hóa, thúc đẩy kinh tế khu vực tiếp tục pháttriển Cơ cấu ngành nghề của các khu đô thị được nâng cao chất lượng, hàng loạt các
tập đoàn xí nghiệp xuyên quốc gia đã lập cơ sở tại các khu đô thị, các cửa hàng liên kết
thương nghiệp, siêu thị đã tràn về các khu phố lớn và ngã nhỏ, đã thúc đẩy mạnh mẻ
thị trường thành thị và nông thôn phát triển Tính đến cuối năm 2008, tổng số các loại
hình tổ chức sản xuất công nghiệp hóa trên cả đất nước đã lên tới 200.150 cơ sở, thu
hút 98,08 triệu hộ nông dân Đặc khu Thâm Quyến đã thành lập hệ thống bảo hiểm xã
hội cho người nông dân Người nông dân từ không có việc làm nông nghiệp chuyển
sang phi nông nghiệp, từ đó làm cho nguồn lao động lưu động giữa thành thị và nông
thôn dần dần đi vào xu thế ổn định Theo thống kê, tổng số lao động nông dân làm việc
phi nông nghiệp trong cả nước chiếm tới 220 triệu người Lao động nông dân làm nhân
viên trong các nghành nghề công nghiệp chiếm 58% trong nghành dịch vụ - du lịch
chiếm 52% đã trở thành lực lượng quan trọng trong quá trình phát triển công nghiệp
hóa ở Trung Quốc.[24]
60 năm phát triển đô thị hóa đã làm cho các công trình công cộng liên quan đếnđời sống của người dân Trung Quốc phát triển từ không đến có, từ yếu đến mạnh Hiện
nay, hệ thống giao thông của Trung Quốc được cải thiện tương đối mạnh Đến cuối
năm 2008, tổng chiều dài đường quốc lộ ở Trung Quốc đạt tới 3,73 triệu km, gấp 46
lần so với thời kỳ đầu nước Trung Hoa mới thành lập; 97,8% số thôn hành chính trong
cả nước đã có đường quốc lộ đi qua Bình quân đầu người sử dụng nước sạch trong
sinh hoạt từ 38 lít nước được nâng lên 178 lít, tỉ lệ dùng nước sạch từ 42% lên 95%,
67% số thôn làng trong cả nước đã có nguồn nước máy sử dụng.[24]
Mức thu nhập của người dân được tăng lên rỏ ràng Mức sinh hoạt của ngườidân thành thị và nông thôn, môi trường sống được cải thiện cơ bản Năm 2008, bình
Trang 24nhân dân tệ, so với năm 1949 tăng gấp 157,8 lần Trước đây, các khu nhà ở phần lớn là
những khu nhà chung nhiều hộ, gác xếp, nhà mái tranh, thì ngày nay đã mọc lên các
đơn nguyên cao tầng, khu chung cư hiện đại Đến năm 2011, Trung Quốc sẽ cơ bản
giải quyết vấn đề nhà ở cho mười triệu gia đình ở thành phố hiện nay có thu nhập thấp
gặp khó khăn về nhà ở
1.2.2.2 Đô thị hóa ở Nhật Bản [25]
Là nước có trình độ phát triển cao, đô thị hóa mạnh mẽ, tập trung ở nhiều thànhphố lớn bậc nhất thế giới Nhật Bản là nước tư bản duy nhất ở Châu Á có trình độ kinh
tế phát triển cao Đô thị hóa ở Nhật Bản phát triển mạnh mẽ và gắn liền với sự phát
triển của các khu công nghiệp, các thành phố mọc lên nhanh chóng, đặc biệt là các
thành phố lớn có mật độ dày đặc ở đảo Honxu, trong đó thành phố lớn nhất Nhật Bản
đồng thời cũng là lớn nhất thế giới là Tokyo đã đạt 25 triệu dân tính đến năm 1990,
ngay từ năm 1960 Tokyo đã trở thành trung tâm kinh tế của Nhật Bản và của thế giới
Trước đây, theo dự báo của cơ quan thống kê Nhật Bản về dân số thành phố thìthành phố Tokyo đến năm 1990 là 18 triệu dân và đến năm 2000 là 19 triệu dân và
năm 2020 là 28 triệu dân, nhưng thực tế Tokyo đã đạt 29,8 triệu dân ngay từ đầu năm
1995 Nhật Bản đang là thành phố đứng đầu về dân số thế giới và còn giữ vị trí đến
năm 2010 và Tokyo tập trung 26% dân số đô thị ở Nhật
Vùng Tokyo kể cả vùng ngoại ô có sức mạnh kinh tế rất lớn, lớn hơn tiềm lựckinh tế của toàn nước Ý hay nước Anh Vùng Tokyo chiếm 33% GNP của toàn nước
thời kỳ 1987 - 1988 Osaka là thành phố lớn thứ hai của Nhật Bản có tốc độ tăng
trưởng 25% năm trong những năm 1985 - 1990, ngược lại Tokyo lại có tốc độ phát
triển đô thị gảm đi -0,6%
1.2.2.3 Đô thị hóa ở Hà Lan
Hà Lan là một quốc gia phát triển, theo Joanna Wilbers, để khắc phục những tácđộng tiêu cực của quá trình đô thị hóa, năm 1994, các nhà hoạch định cuộc sống thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đưa ra “Chính sách hiệp ước” Theo chính sách này,
các khu vực nông thôn vẫn giữ nguyên là nông thôn, đồng thời cũng quy hoạch phát
triển đô thị làm các khu dân cư, trung tâm tài chính và thương mại Chính sách này
cũng đưa ra những nguy hại đối với việc đô thị hóa và các khu vực ven thành phố.[1]
Ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Amtesdam đã bắt đầu tiến trình đô thị hóa và
nhanh chóng trở thành một thành phố có tầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, chính trị của
Hà Lan Tuy mật độ dân số hiện nay ở thành phố có những nơi đạt trên 20.000
người/km2 nhưng xung quanh thành phố vẫn tồn tại khoảng 600 khu vườn
Diện tích vườn ở Amtesdam chiếm khoảng 300 ha trong tổng số diện tích 1.907
ha của thành phố Những người nông dân ở thành phố Amtesdam đã thành lập các tổ
Trang 25chức gọi là “Hội những người nông dân đô thị” và Hiệp hội những người làm vườn ở
Amtesdam” Các hiệp hội đại diện cho tầng lớp nông dân thương lượng với Chính phủ
trong việc duy trì sự tồn tại của các khu vườn trong quá trình đô thị hóa Hiệp hội của
những người làm vườn đã đưa ra lý luận về sự đa chức năng của các khu vườn Các
khu vườn được sử dụng để sản xuất lương thực, thực phẩm để cung cấp cho nhu cầu
của thành phố, đồng thời còn thực hiện nhiều chức năng khác nhau để bình đẳng hóa
các nhóm lợi ích như: cung cấp cho thị dân một không gian mới, giáo dục cho trẻ em
về thiên nhiên và môi trường; làm gia tăng số lượng loài động vật, côn trùng và cây cỏ;
duy trì không gian xanh cho thành phố, làm trong sạch khí hậu cho thành phố
Vào năm 1995, khoảng 170 nông dân đã tổ chức “ Diễn đàn đối thoại của nôngdân vùng đất xám” Họ đã đưa ra những phân tích của mình về triển vọng kinh tế dài
hạn của vùng đất này nếu tiếp tục sản xuất nông nghiệp và thay đổi phương pháp sử
dụng đất Họ đã đối thoại trực tiếp với Chính phủ và các tổ chức môi trường nhằm giữ
vững và phát triển sản xuất nông nghiệp Bản thân những người nông dân đã trở thành
người quản lý, giáo dục và hoạt động kinh tế ở địa phương mình.[1]
1.2.2.4 Đô thị hóa ở Pháp
Pháp với số dân 58,1 triệu người năm 1995 và lên 60,7 triệu người năm 2005
Pháp có quá trình đô thị hóa lâu dài, tốc độ gia tăng dân số đô thị rất nhanh, giữa thế
kỷ 19 có 3/4 dân số là sống ở nông thôn Nhưng đến năm 1901 có đến 40% dân số
sống ở đô thị, đến năm 2005 Pháp có 76% dân số đô thị Trong đó tập trung vào những
vùng kinh tế ở phía Đông và phía Bắc có nhiều siêu đô thị sầm uất
1.2.3 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
1.2.3.1 Khái quát tình hình đô thị hóa ở Việt Nam
Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời Trung Đạivới sự hình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân, quá trình đó
diễn ra chậm chạp, mức độ phát triển cư dân thành thị thấp
Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của đô thị hóa ở Việt Nam
Đặc biệt sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành luật Doanh nghiệp (năm 2000), Luật
Đất đai (năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005); Chính phủ ban hành Nghị định về Quy
chế khu công nghiệp, khu chế xuất (năm 1997), nguồn vốn đầu tư trong nước và ngồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt, gắn theo đó là sự hình thành trên diện rộng,
số lượng lớn, tốc độ nhanh các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới và sự
cải thiện đáng kể các kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn Làn sóng đô thị hóa
đã lan tỏa, lôi cuốn và tác động trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Năm 1990 cả nước mới chỉ có 500 đô thị (tỉ lệ đô thị hóa vào khoảng 17 - 18%),năm 2000 con số này là 694 đô thị và tính đến năm 2010 có 755 đô thị
Trang 26(ĐVT: ha)
Hình 1.2 Biểu đồ thống kê tổng số đô thị từ năm 1990 - 2010 (Nguồn: [6])
Năm 2000, tỉ lệ dân cư đô thị toàn quốc là 22,3% thì đến năm 2010 là 34%
Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020 con số này sẽ là 80%.[23]
Về đất đô thị, diện tích toàn đô thị nước ta tăng mạnh qua các giai đoạn pháttriển Năm 1998 chỉ có 63.300 ha đến năm 2006 đã tăng lên 1.153.549 ha, đến năm
2008 là 4.896.500 ha, chiếm 14,78% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước; trong đó
đất nội thị là 1.410.400 ha, chiếm 4,26% diện tích đất tự nhiên và đất ngoại thị là
3.486.100 ha, chiếm 10,52% tổng diện tích đất tự nhiên
Qua hình 1.3, tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khucông nghiệp, phân bổ trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án trong và
ngoài nước, thu hút 1.000.000 lao động Phần lớn diện tích các khu công nghiệp, khu
chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công
nghiệp là nông dân
Hình 1.3 Biểu đồ thống kê đất đô thị năm 2008 (Nguồn: [5])
Trang 27Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát triển Đếncuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm dân cư đô thị, tăng 40% so với năm 1995.
Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng cấp, đáng chú ý
là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị
trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn
Với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, kết cấu hạ tầng ở nông thôn xưa nayvốn yếu kém đã có sự cải thiện đáng kể Các làng nghề được chấn hưng, mở mang góp
phần làm sôi động quá trình đô thị hóa ở nông thôn Làn sóng đô thị hóa cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI đã thổi luồng sinh khí mới vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Việt Nam
Ở Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa được thực hiện từ những năm 1960, kể từ sau đổimới, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra càng nhanh Theo Bộ Kếhoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm 2007 số dân đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc với khoảng
700 trung tâm đô thị lớn nhỏ; cả nước đã có 150 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tựnhiên 32,3 ngàn ha Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và có tác động rõ đến phát triển nông nghiệp và nôngthôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việcứng dụng các thành tựu trong công tác chọn giống, kỹ thuật canh tác, hình thành các khu nông nghiệp côngnghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.[13]
Đô thị hóa gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trực tiếp góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thủy sản trong tổng
thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng các nghành công nghiệp,
xây dựng, dịch vụ trong GDP Đối với nông nghiệp, cơ cấu nội nghành chuyển dịch
theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao
hơn Trong trồng trọt, tỷ trọng hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả ngày càng tăng
Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế xuất, cáctrung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng đất đai, tạo những
nghành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng
rãi khoa học, công nghệ Đô thị hóa kích thích và tạo cơ hội để con người năng động,
sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất,
kinh doanh vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao
động được cải thiện, đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hóa
Nhìn từ bình diện văn hóa làn sóng đô thị hóa cùng với sự phát triển hạ tầng vănhóa - xã hội, mở rộng mạng lới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn
Trang 28bán giữa các vùng miền đã làm cho diện mạo nông thôn, đời sống và tinh thần của dân
cư nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiện những yếu
tố văn hóa đô thị mới mẽ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hóa, các loại hình
văn học, nghệ thuật có giá trị; sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp, ứng xử văn
minh, tiến bộ làm cho văn hóa làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn hóa,
trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dân các vùng đô thị hóa,
nhìn trên tổng thể đã được nâng lên
Đó là xu hướng chủ đạo của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những nămđổi mới vừa qua Thực tiễn đã chứng minh tính hợp quy luật và những tác động tích
cực của đô thị hóa với nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam Tuy nhiên, do
những khó khăn của bản thân nền kinh tế đất nước đang trong quá trình chuyển đổi và
những hạn chế chủ quan trong quản lý, điều hành, đô thị hóa ở Việt Nam còn nhiều
mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông
thôn, nông dân cần được nhận thức đúng đắn và giải quyết hiệu quả
Đô thị hóa là động lực thúc đẩy phát triển tăng trưởng kinh tế - xã hội của mỗiquốc gia và đối với Việt Nam cũng vậy – đó là vấn đề hết sức hiện đại
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển
đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23-1-1998, trong đó
xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đô thị trên địa bàn cả nước và các
vùng đặc trưng Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định
1519/QĐ-TTg lấy ngày 8/11 hằng năm là ngày Đô thị Việt Nam, nhằm động viên và thu hút sự
quan tâm của các tầng lớp nhân dân, chính quyền các đô thị, các nhà quy hoạch, kiến
trúc, các nhà đầu tư phát triển đô thị, các chuyên gia và các tổ chức xã hội tích cực
tham gia xây dựng và phát triển đô thị
Bên cạnh đó các đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục mở mang, nâng cấp, là sự xuấthiện của các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng
tỏa rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn Hiện nay, mạng lưới được hình thành
và phát triển trên cơ sở các đô thị trung tâm, gồm 5 thành phố trung tâm cấp quốc gia
như: Thủ đô Hà Nội, các thành phố Hồ Chính Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ;
14 thành phố trung tâm cấp vùng như: các thành phố Mỹ Tho, Biên Hòa, Vũng Tàu,
Nha Trang, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Quy Nhơn, Huế, Vinh, Thanh Hóa, Nam Định,
Hạ Long, Việt Trì, Thái Nguyên; các thành phố, thị xã tỉnh lỵ khác; các đô thị trung
tâm cấp huyện, bao gồm các thị trấn huyện lỵ và các thị xã là vùng trung tâm chuyên
ngành của tỉnh và các đô thị trung tâm cấp tiểu vùng, bao gồm các thị trấn là trung tâm
các cụm khu dân cư nông thôn hoặc là các đô thị vệ tinh trong các vùng ảnh hưởng của
đô thị lớn
Trang 291.2.3.2 Tình hình chuyển đổi đất đai ở Việt Nam trong quá trình đô thị hóa và công
cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40%; trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước vẫn
còn tới 20%; nhiều vùng chủ yếu vẫn còn sản xuất nông nghiệp Trong công nghiệp,
nghành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng lâm nghiệp còn thấp; chăn nuôi,
thủy sản phát triển thiếu ổn định Nhìn tương quan khu vực và thế giới, tỷ trọng GDP
nông nghiệp của Việt Nam còn cao, và nếu so với chuẩn một nước hoàn thành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (tỷ trọng GDP nông nghiệp khoảng 4 - 8% tổng GDP), thì
chặng đường phấn đấu vượt lên còn rất gian nan
Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, chưa tác động trực tiếp vàthúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn Doanh nghiệp
nông thôn số lượng ít, quy mô nhỏ; số doanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm, thủy
sản không nhiều Đây là một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình chuyển
dịch và hạn chế chất lượng cơ cấu kinh tế ở nông thôn Phần lớn nông sản, kể cả nông
sản xuất khẩu, có giá trị gia tăng thấp, chỉ số cạnh tranh chỉ ở mức trung bình hoặc
dưới trung bình so với thế giới; giá trị thu được trên đơn vị diện tích canh tác bình
quân mới đạt xấp xỉ 30 triệu đồng/ha năm
Theo quy hoạch sử dung đất đến năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường,diện tích đất nông nghiệp tăng từ 8.793,78 nghìn ha (năm 2000) lên 9.363,06 ha (năm
2010) Tuy nhiên tốc độ tăng dân số trong khoảng thời gian này cũng từ 77,7 triệu lên
đến 86,5 triệu người Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người của cả nước
có xu thế giảm từ 0,113 ha (năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010), trong khi mức
trung bình chung của thế giới hiện là 0,23 ha
Bình quân hằng năm, tính từ 2001 đến 2007, gần 100 nghìn ha đất nông nghiệpđược thu hồi và chuyển đổi mục đích để phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, dịch
vụ, đường giao thông, khu dân cư ; khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp thu hồi
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó có 80% diện tích thuộc loại đất màu mỡ
cho 2 vụ lúa/năm.[14]
Trong khi đó đất đô thị tăng từ 63.300 ha năm 1998, đến 1.153.550 ha năm
2006, đến năm 2008 diện tích đất đô thị là 4.896.500 ha.[7]
Như vậy, chúng ta đã dùng hết quỹ đất đô thị được Chính phủ phê duyệt trongđịnh hướng phát triển đô thị đến năm 2020 Mặt khác, hiện nay đang có sự thiếu đồng
Trang 30bộ trong quản lý tài nguyên đất Hệ thống pháp luật và xây dựng nhà ở, đầu tư, bất động
sản, thuế, đất đai không liên thông nên việc áp dụng trong thực tế gặp nhiều khó khăn
Trong xu hướng phát triển đô thị của nước ta, đất đai đồng thời cũng là nguồnvốn quan trọng và chúng hầu như đều được chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang
Nhưng rõ ràng, với những vấn đề đặt ra trong chuyện đền bù giá đất, sử dụng đất vào
mục đích gì, ở nhiều trường hợp chúng đã chuyển vai trò từ nguồn lực để phát triển trở
thành gánh nặng cho phát triển.[16]
Đô thị hóa là một quá trình phát triển tất yếu của bất kì quốc gia nào, trong đó
có Việt Nam Tuy nhiên, đô thị hóa tự phát, thiếu quy hoạch khoa học sẽ làm nảy sinh
và để lại nhiều hậu quả tiêu cực, lâu dài và gây lãng phí lớn, cản trở sự phát triển của
đất nước Chính vì vậy, chiến lược đô thị của Việt Nam phải hướng tới mục tiêu đảm
bảo cân đối giữa tính hiện đại với tính bền vững của tự nhiên - con người - xã hội
thông qua việc lựa chọn mô hình định cư tiên tiến, phù hợp với đặc thù của Việt Nam
ở đô thị, nông thôn, miền núi, các vùng biên giới, hải đảo, bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích trướcmắt và lợi ích lâu dài của dân tộc, trên cơ sở tìm kiếm những phương thức phát triển đô thị tiết kiệm đất, đôthị xanh, đô thị sinh thái… thay thế cho mô hình đô thị còn tồn tại nhiều bất cập hiện nay của chúng ta
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động Trong quá trình lao độngcon người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con
người, vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản phẩm lao
động của con người
Đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quốc gia vô cùng quýgiá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh và quốc phòng
Sự khẳng định vai trò của đất đai như trên là hoàn toàn có cơ sở Đất đai là điềukiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc doanh và hoạt
động của con người Đất đai là tài nguyên quý giá, là điều kiện cho sự sống của động
-thực vật và con người trên Trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn
tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Bởi vậy việc sử dụng đất tiết
kiệm có hiệu quả và bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng
quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từngngành cụ thể, đất đai có vị trí khác nhau Trong công nghiệp và các ngành khác ngoài
nông nghiệp, trừ công nghiệp khai khoáng, đất đai nói chung làm nền móng, làm địa
điểm, làm cơ sở để tiến hành các thao tác Trái lại, trong nông nghiệp đặc biệt là ngành
Trang 31trồng trọt, đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông
nghiệp, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động
Diện tích đất đai có hạn Sự giới hạn đó là do toàn bộ diện tích bề mặt của TráiĐất cũng như diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ bị giới hạn Sự giới hạn
đó còn thể hiện ở nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành kinh tế quốc dân trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng Do diện tích đất đai có hạn nên người
ta không thể tùy ý muốn của mình tăng diện tích đất đai lên bao nhiêu cũng được Đặc
điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng
đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các
thành phần kinh tế, và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sử
dụng đất đai có cơ sở khoa học Đối với nước ta, diện tích bình quân đầu người vào
loại thấp so với các quốc gia trên thế giới Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm,
hiệu quả và bền vững lại càng đặc biệt quan trọng
Đất đai được sử dụng cho các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội
Việc mở rộng các khu công nghiệp, các khu chế xuất, việc mở rộng các đô thị, xây
dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nông lâm ngư nghiệp, đều phải sử dụng đất đai Để
đảm bảo cân đối trong việc phân bổ đất đai cho các ngành, các lĩnh vực, tránh sự
chồng chéo và lãng phí, cần coi trọng công tác quy hoạch và kế hoạch hóa sử dụng đất
đai và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong công tác quy hoạch và kế hoạch
hóa đất đai
Đất đai có vị trí cố định, tính chất cơ học, vật lý, hóa học và sinh học trong đấtcũng không đồng nhất Đất đai được phân bổ trên một diện rộng và cố định ở từng nơi
nhất định Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời
tiết, khí hậu, nước, cây trồng, ) và các điều kiện kinh tế như kết cấu hạ tầng, kinh tế,
công nghiệp trên các vùng và các khu vực nên tính chất của đất có khác nhau Vì vậy,
việc sử dụng đất đai vào các quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên
cứu kỹ lưỡng tính chất của đất cho phù hợp Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng
đất đai phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và chất lượng ruộng đất của
từng vùng để mang lại hiệu quả kinh tế cao Để kích thích việc sản xuất hàng hóa trong
nông nghiệp, Nhà nước đề ra những chính sách đầu tư, thuế, cho phù hợp với điều
kiện đất đai ở các vùng trong nước
Trong nông nghiệp, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó khôngngừng được nâng lên Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của
lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức thâm
canh và chế độ canh tác hợp lý Sức sản xuất của đất đai biểu hiện tập trung ở độ phì
nhiêu Vì vậy, cần phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêu của
đất, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng
Trang 32Về cơ cấu sử dụng đất: Cơ cấu sử dụng đất trong các thành phố và khu đô thị,nhìn chung, không hợp lý Diện tích đất ở chiếm tỉ lệ khá cao, trong khi diện tích các
công trình công cộng, đất thảm xanh, đất dành cho khu vui chơi giải trí, văn hóa, giáo
dục chiếm tỉ lệ nhỏ Các nghiên cứu gần đây cho thấy, dân số tăng nhanh làm cho
môi trường sống ở các khu vực đô thị và các khu công nghiệp đang bị ô nhiễm nặng nề
và ảnh hưởng tới sức khỏe của con người Trong các khu dân cư chật hẹp luôn trong
tình trạng không đủ dưỡng khí Các nhà máy thải các chất độc hại đã gây ra nhiều loại
bệnh nghề nghiệp nguy hiểm Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường: Ở một
số thành phố và trung tâm đô thị lớn của nước ta như Hà Nội, Việt Trì, Hải Phòng, Đà
Nẵng, Ninh Bình, Quy Nhơn, Nha Trang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Biên Hoà, thành phố Hồ
Chí Minh v.v và các khu công nghiệp như máy xi măng Hoàng Thạch, vùng mỏ
Quảng Ninh và một số hoá chất như Việt Trì, Hải Phòng, Đồng Nai điều kiện môi
trường sống đều vượt qua ngưỡng chịu đựng của con người Trong các đô thị Việt
Nam, đa số cư dân sống chen chúc, trong các khu nhà, ngõ hẻm chật chội; thiếu các
nhu cầu tối thiểu về nước sạch, hạ tầng cơ sở Có một số khu đô thị mới được hình
thành và phát triển ven đô, ngoại thành, nhưng chủ yếu là các dự án nhỏ lẻ, quy hoạch
nham nhở, tùy tiện không đồng bộ Các dự án khai thác quỹ đất chủ yếu xây nhà để
bán, không trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí
v.v Vấn đề càng trở nên nan giải khi dòng người nhập cư tự do từ nông thôn ra thành
thị ngày càng gia tăng song hành với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa phát
triển nhanh chóng như hiện nay
1.3 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN ĐẤT
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Nghiên cứu sự biến động đô thị thông qua việc thành lập bản đồ sử dụng đất tạicác thời điểm năm 1959, 1969 và 1978 tại Delhi, Ấn Độ bằng công nghệ viễn thám đa
thời gian của Gupta D.M và Menshi M.K
Nghiên cứu của Somporn Sangawongse về biến động sử dụng đất ở Chiềng Mai
- Thái Lan Thời điểm nghiên cứu năm 1988 tới năm 1991 bằng ảnh viễn thám sử dụng
phương pháp phân loại khoảng cách ngắn nhất (Minimum distance) và phương pháp
xác xuất cực đại (Maximum Likelihood) Nghiên cứu biến động dựa trên tỷ số ảnh
Adam Johnson tiến hành nghiên cúu lập bản đồ bề mặt lớp phủ, hiện trạng sửdụng đất khu vực miền Nam Mississippi dựa vào cặp ảnh Landsat 5 (TM) năm 1990
và Landsat 7 (ETM) năm 2000 Trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng chỉ số thực vật và
khảo sát biến động dựa trên phân tích chỉ số thực vật NDVI
Shigenobu Tachizuka và các cộng sự nghiên cứu sự mở rộng đô thị ở Băng Cốc(Thái Lan) là một thành phố với mức độ đô thị hoá và công nghiệp hoá cao Nghiên
Trang 33cứu tính toán chỉ số tổng hợp của đất, nước và thực vật để phân tích đưa ra đánh giá
biến động sử dụng đất
Tác giả Phạm Văn Cự là một trong những nhà khoa học có nhiều nghiên cứusớm và quan trọng trong lĩnh vực này Năm 2003, ông đã ứng dụng dữ liệu ảnh
ASTER để nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất vùng châu thổ sông Mekong Năm 2009,
trên cơ sở tích hợp các tư liệu ảnh SPOT trong hệ thống GIS, tác giả đã nghiên cứu
thành công mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sự phân bố rác thải nông thôn
của huyện Duy Tiên, Hà Nam Năm 2009, tác giả cũng đã công bố những kết quả
nghiên cứu mới nhất về quan hệ giữa sự biến động sử dụng đất và sự phân bố dân tộc
tại Sa Pa thông qua tư liệu viễn thám và GIS
Tác giả Hoàng Minh Hiền, Đỗ Xuân Lan đã nghiên cứu ứng dụng LandsatMSS, Landsat TM, Landsat ETM+ trong các năm 1975-1999 và chương trình phần
mềm GIS để xác định biến động đất vùng Tam Đảo.Với mục đích nghiên cứu biến
động sử dụng đất và xác định các thông số nhằm đánh giá tác động của việc mở rộng
đô thị đến môi trường khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận
Nhữ Thị Xuân, Đinh Bảo Hoa, Nguyễn Thị Thúy Hằng đánh giá biến động sửdụng đất huyện Thanh Trì - TP Hà Nội giai đoạn 1994 - 2003 trên cơ sở phương pháp
Trang 34CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Sự biến động đất đai của quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa
Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hoá đến biến động một số loại hình sử dụng đất tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
- Về không gian: đề tài được tiến hành trong phạm vi địa giới hành chính của quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa giai đoạn năm 2005 - 2015
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tình hình thay đổi cơ cấu sử dụng đất ở quận Sơn Trà
- Đánh giá sự biến động tài nguyên đất trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hoá giai đoạn 2005 - 2015 của quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn do biến động đất đai ở quận Sơn Trà (phân tích bằng công cụ SWOT)
- Đề xuất giải pháp quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giai đoạn tới
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp để thu thập, phân tích và xử lý số liệu, dữ kiện thông tin cần thiết để phục
vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài được sử dụng chủ yếu là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Đây làbước tiền đề rất quan trọng của đề tài, làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và đánh giá cácvấn đề đặt ra
Tài liệu thứ cấp: Nguồn tài liệu được thu thập từ Niên giám thông kê của Chi
cục thống kê quận Sơn Trà, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất
đai chi nhánh quận Sơn Trà, các báo cáo thuyết minh công tác kiểm kê, thống kê đất
Trang 35đai của quận qua các năm để có được tình hình phát triển kinh tế, xã hội, diễn biến của
quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa rên địa bàn quận
Thu thập từ những cơ quan nhà nước về các chủ trương, chính sách gồm cácNghị quyết Trung ương Đảng, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ về các vấn đề liên quan đến đề tài
Thu thập những sách lý luận, các công trình nghiên cứu đã được công bố cácbáo cáo, các tổng kết hội thảo, tài liệu từ Internet để có được các tài liệu liên quan đến
đề tài
Tài liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa tại địa bàn quận Sơn Trà, tiến hành chụp
hình, quay phim các khu đô thị và khu công nghiệp
2.3.2 Các phương pháp chuyên môn
cứu
tuyệt đối, số bình quân để tính toán, hệ thống hóa tài liệu điều tra theo nhiều tiêu thức khác nhau như tình hình
sử dụng đất, cơ cấu các loại đất, các đặc tình về lượng và chất của đất đai
có liên quan đến đề tài
thức khi chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
thu thập thông tin từ các nhà quản lý, các chuyên gia, chuyên viên, các nhà quản lý có kinh nghiệm liên quanđến lĩnh vực nghiên cứu nhằm có được những luận cứ có sức thuyết phục về mặt khoa học và thực tiễn để từ
đó đề xuất được những giải pháp phù hợp với thực tế của địa phương và mang tính khả thi Tham khảo ý kiếnđóng góp chuyên môn của các cán bộ đầu nghành, các cán bộ quản lý ở khu vực nghiên cứu
2.3.3 Phương pháp minh họa trên bản đồ, sơ đồ, hình ảnh
Phương pháp bản đồ được sử dụng để xem xét quá trình quy hoạch sử dụng đấttheo thời gian và sự biến động đất da theo thời gian Đây là phương pháp mô hình hóa
đặc thù trong phân tích sự biến động đất đai
Trang 362.3.4 Phương pháp dự báo
Mục tiêu của dự báo là xem xét quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa xảy ratrong tương lai như thế nào Đây là cơ sở để xác định các giải pháp cho quá trình quy
hoạch, quản lý và sử dụng đất đai trong tương lai Dự báo sự biến động đất đai, tình
hình phát triển dân số, mật dộ dân số, tình hình tăng trưởng kinh tế xã hội và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa
và công nghiệp hóa
2.3.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Công cụ phân tích và xử lý số liệu bằng bảng tính Ecxel
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
CỦA QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
3.1.1.1 Vị trí địa lý của quận Sơn Trà
Hình 3.1 Vị trí, ranh giới hành chính quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
(Nguồn: [22])
Thành phố Đà Nẵng là đô thị loại 1 trực thuộc Trung Ương, phía Tây giáp tỉnhThừa Thiên, Huế và tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp
huyện Điện Bàn, Quảng Nam, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên, Huế
Sơn Trà nằm về phía Đông thành phố Đà Nẵng, trải dài theo hạ lưu phía hữungạn sông Hàn, có tọa độ địa lý từ 16004’51’’ đến 16009’13’’ vĩ độ Bắc, 108015’34’’
đến 108018’42’’ kinh độ Đông Phía Bắc và Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp
Vũng Thùng (vịnh Đà Nẵng) và sông Hàn; phía Nam giáp quận Ngũ Hành Sơn
Trang 38Quận Sơn Trà có 7 phường gồm An Hải Đông, An Hải Tây, Phước Mỹ, An HảiBắc, Nại Hiên Đông, Mân Thái và Thọ Quang Quận Sơn Trà vừa có vị trí thuận lợi về
phát triển kinh tế, có đường nội quận nối với quốc lộ 14B nối Tây Nguyên - Lào, vừa
là địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh Có cảng Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ
kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực Miền Trung –
Tây Nguyên Có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ sở quốc phòng có vị trí quan
trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia
3.1.1.2 Địa hình của quận Sơn Trà
Địa hình quận Sơn Trà thuộc loại địa hình đồng bằng ven biển có tác động củahiện tượng bồi tích cát biển, trừ hòn Sơn Trà cao 696m nằm ở phía Bắc, còn lại có độ
cao trung bình từ 1,5m đến 2m so với mực nước biển Có thể chia làm ba loại địa hình:
- Loại địa hình cao, tương đối bằng phẳng, dốc dần từ đường Ngô Quyền và chân bán đảoSơn Trà (độ cao trung bình 6m) ra biển (độ cao trung bình 3m) Loại này chiếm diện tích chủ yếu (90%) kéodài suốt dọc khu đất quy hoạch
- Loại địa hình thấp, là các bãi cát ven sông Hàn và vịnh Đà Nẵng Độ cao trung bình 0,5 –1m, có chu kỳ ngập lụt khoảng 1 đến 2% Loại này chiếm diện tích khoảng 7 – 8%
- Loại địa hình gò đồi do cát bồi tích lâu đời Loại này diện tích rất ít (khoảng 1 – 2% ), tậptrung phí Tây đường Ngô Quyền, độ cao trung bình từ 9 – 12 m[22]
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết của quận Sơn Trà
Quận Sơn Trà mang những đặc điểm khí hậu đặc trưng của vùng gió mùa duyênhải miền Trung và đặc trưng của thành phố Đà Nẵng
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,60C, trung bình năm cao nhất là 29,80C vàtrung bình năm thấp nhất là 22,50C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 34,20C,
trung bình tháng thấp nhất là 190C Độ ẩm không khí trung bình là 82%, trung bình
cao nhất là 86% và trung bình thấp nhất là 64% và thấp tuyệt đối là 18%
Trang 39trung bình khoảng 15 – 20 m/s.
* Giờ nắng
Số giờ nắng chiếu hàng năm là 2.168 giờ, tháng 5 là tháng có số giờ nắng chiếunhiều nhất và thấp nhất là tháng 12 Sơn Trà chịu ảnh hưởng nhiều của chế độ gió
mùa Gió mùa Đông – Bắc xuất hiện sớm nhất vào tháng 8 và kết thúc chậm nhất vào
tháng 4 năm sau Trung bình hàng năm có khoảng 14 – 16 đợt gió mùa Đông – Bắc
ảnh hưởng đến thời tiết Đà Nẵng – Sơn Trà Gió mùa Tây – Nam thường mang theo
không khí khô và nóng, xuất hiện sớm nhất vào cuối tháng 2 và kết thúc chậm nhất
vào tháng 9, tháng 10, song tập trung chủ yếu vào các tháng 6 –8 Trung bình hàng
năm có từ 50 – 60 ngày có gió mùa Tây – Nam Cùng với điều kiện địa hình ven biển,
khí hậu thủy văn là điều kiện thuận lợi cho tàu ra vào cảng, phát triển công nghiệp và
dịch vụ du lịch Ngoài ra, còn là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa
dạng, đặc biệt là phát triển thủy sản và các ngành kinh tế biển khác Sơn Trà là địa bàn
chịu tác động trực tiếp khi có các cơn bão đổ bộ vào Đà Nẵng Bão thường xuất hiện
từ tháng 9 đến tháng 11, thêm vào đó là các hiện tượng thời tiết đặc biệt khác [22]
3.1.1.4 Chế độ thủy triều, thủy văn
Thủy triều: Quận Sơn Trà giáp biển Đông có chế độ bán nhật triều mỗi ngày lênxuống hai lần, biên độ triều dao động từ 0,69 – 0,85m, biên độ lớn nhất 1,3m về mùa
khô mực nước ngầm xuống thấp, nước biển xâm nhập sau vào đất liền gây nhiễm mặn
nguồn nước mặt và nước ngầm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của cư dân[22]
Thủy văn của quận Sơn Trà có đặc điểm sau: Sông Hàn có cửa sông tiếp giápvới biển nên chịu tác động mạnh của thủy triều, lòng sông tích tụ cát vừa, cát thô
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên của quận Sơn Trà
a Tài nguyên đất
Theo kết quả thống kê đất đai đến ngày 01/01/2015, tổng diện tích quận SơnTrà là 6,245,9317 ha, chi tiết được thể hiện ở biểu đồ 3.1
Trang 40Biểu đồ 3.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất trên địa bàn quận Sơn Trà [20]
Kết quả nghiên cứu và số liệu ở biểu đồ 3.1 cho thấy:
Đất nông nghiệp: tổng diện tích đất nông nghiệp toàn quận là: 3.770,04124 hachiếm 60,36% tổng diện tích đất tự nhiên ( năm 2015), hầu hết là đất lâm nghiệp với
diện tích 3.753,4034 ha chiếm 99,56% tổng diện tích đất nông nghiệp và chiếm
60,09% tổng diện tích đất tự nhiên, tập trung chủ yếu ở phường Thọ Quang
Đất phi nông nghiệp: diện tích đất phi nông nghiệp trên toàn quận chiếm2428,7975 ha chiếm 38,89 % tổng diện tích đất tự nhiên (năm 2015), trong đó đất
thương mại dịch vụ là 381,7873 ha chiếm tỉ lệ 6,11% so với tổng diện tích tự nhiên,
đất phát triển hạ tầng là 574,6610 ha, chiếm 23,65% tổng diện tích đất phi nông nghiệp
và chiếm 9,20% tổng diện tích đất tự nhiên, đất ở 568,6300 ha chiếm 23,41% tổng
diện tích đất phi nông nghiệp và chiếm 9,10% tổng diện tích đất tự nhiên
Đất chưa sử dụng: đất chưa sử dụng có diện tích 47,0903 ha chiếm 0,75 % tổngdiện tích đất tự nhiên
Có thể nói, cơ cấu sử dụng đất của quận Sơn Trà tương đối hợp lý, đáp ứngđược nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
b Tài nguyên biển
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30km, vịnh nước sâu Đà Nẵng với các cửa ra biểnnhư Sơn Trà, Tiên Sa là tiền đề để xây dựng các cảng nước sâu Có vùng lãnh hải thềm
lục địa độ sâu 200m từ Đà Nẵng trải ra 125km, tạo thành vành đai nước nông rộng lớn,
thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp biển và giao lưu với nước ngoài Bờ biển Đà
Nẵng có nhiều bãi tắm đẹp kết hợp với những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và giá trị được
nâng lên nhiều lần bởi các bãi tắm với các cảnh quan này không xa trung tâm thành phố,
có ý nghĩa cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng Theo số liệu điều tra sơ bộ,