1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận án tiến sĩ tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình ở việt nam hiện nay (khảo sát chương trình đối thoại chính sách (VTV1), sự kiện và bình luận

389 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 389
Dung lượng 4,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên sóng truyền hình tại Việt Nam hiện nay, không khó để khán giả cóthể nghe thấy những lời giới thiệu về một chương trình truyền hình thuộc nhóm các thể loại báo chí chính luận, như: “

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN NGA HUYỀN

TÍNH CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH

ĐÀM THOẠI TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY(Khảo sát các chương trình Đối thoại chính sách (VTV1), Sự kiện

và Bình luận (VTV1), 45 phút (HTV9) trong năm 2014 và 2015)

HÀ NỘI - 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN NGA HUYỀN

TÍNH CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀM THOẠI TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY(Khảo sát các chương trình Đối thoại chính sách (VTV1), Sự kiện

và Bình luận (VTV1), 45 phút (HTV9) trong năm 2014 và 2015)

Ngành: Báo chí học

Mã số: 9 32 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Đinh Thị Thúy

Hằng PGS, TS Đỗ Chí Nghĩa

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác.Những kết luận khoa học của luận án là mới và chƣa công bố trong bất cứcông trình khoa học nào.

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2021

Tác giả luận án

Nguyễn Nga Huyền

Trang 4

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu chuyên ngành Báo chí học tạiHọc viện Báo chí và Tuyên truyền, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận án tốtnghiệp để bảo vệ cấp Học viện.

Để có được kết quả này, trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơnchân thành của mình tới hai người hướng dẫn khoa học của tôi là PGS,TS.Đinh Thị Thúy Hằng và PGS,TS Đỗ Chí Nghĩa đã hướng dẫn, định hướngcho tôi về đề tài, phương pháp nghiên cứu và hoàn thiện luận án!

Đồng thời, tôi trân trọng cảm ơn các nhà khoa học tham gia hội đồngchuyên đề, hội đồng cơ sở, phản biện kín, hội đồng cấp Học viện đã đóng gópnhiều ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận án! Trân trọng cảm ơn cácthầy cô đã trực tiếp giảng dạy, cung cấp cho tôi hệ thống kiến thức lý luận vàthực tiễn đáng quý! Những kiến thức này đã và sẽ giúp ích cho tôi trong quátrình học tập, nghiên cứu, công tác hiện tại cũng như trong tương lai

Trân trọng cảm ơn thầy cô Viện Báo chí, Ban Quản lý Đào tạo đã tậntâm giúp đỡ và chỉ bảo cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứutại Học viện Báo chí và Tuyên truyền!

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, người thân, bạn bè

đã ủng hộ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày tháng

Tác giả luận án

Nguyễn Nga Huyền

Trang 5

TỔNG QUAN 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍNH CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀM THOẠI TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 39

1.1 Cơ sở lý luận của tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình ở Việt Nam 39

1.2 Cơ sở thực tiễn của tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình ở Việt Nam 58

1.3 Các tiêu chí đánh giá tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình 75

Chương 2 THỰC TRẠNG TÍNH CHÍNH LUẬN TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀM THOẠI TRUYỀN HÌNH THUỘC DIỆN KHẢO SÁT 86

2.1 Biểu hiện của tính chính luận thông qua các yếu tố cấu thành của các chương trình đàm thoại truyền hình thuộc diện khảo sát 86

2.2 Nhận xét về thực trạng tính chính luận trong các chương trình đàm thoại truyền hình thuộc diện khảo sát 134

Chương 3 NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO TÍNH CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀM THOẠI TRUYỀN HÌNH 139

3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình ở Việt Nam hiện nay 139

3.2 Một số giải pháp và khuyến nghị nâng cao chất lượng tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình 155

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 173

1 Kết luận 173

2 Khuyến nghị 176

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 178

TÀI LIỆU THAM KHẢO 180

PHỤ LỤC 189

Trang 6

THUẬT NGỮ:

1 Chat show: Là thuật ngữ tiếng Anh, chỉ một chương trình phát

thanh/truyền hình có nội dung chính là cuộc nói chuyện,trao đổi (có thể về một chủ đề hoặc hơn) của ít nhất haingười, trong đó có người dẫn chương trình và khách mời

2 Ê-kíp: Nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ, công việc với

nhau (từ gốc tiếng Pháp: équipe)

3 Online: Trực tuyến (chỉ việc đang kết nối trực tiếp với mạng

Internet hoặc đang liên kết trong mạng cục bộ)

4 Talk show: (giống Chat show)

5 Video clip:Chương trình phát thanh/truyền hình có nội dung chính là cuộcnói chuyện, trao đổi (có thể về một chủ đề hoặc hơn) của ít nhất hai người, trong đó

có người dẫn chươngtrình và khách mời

6 Xê-ri: Chuỗi, loạt (từ gốc tiếng Anh: series)

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1.5.1 Kết cấu chương trình 45 phút 121

Sơ đồ 2.1.5.2 Kết cấu chương trình ĐTCS 123

Sơ đồ 2.1.5.3 Kết cấu chương trình SK&BL 123

Sơ đồ 2.1.5.4 Kết cấu chương trình 23 giờ 124

DANH MỤC HÌNH ẢNH Ảnh 2.1.6.1 Giao diện chương trình 45 phút 127

Ảnh 2.1.6.2 Giao diện chương trình SK&BL có kết nối cầu truyền hình 128

Ảnh 2.1.6.3 Giao diện chương trình ĐTCS nhìn từ trên cao và nhìn chính diện129 Ảnh 2.1.6.4 ĐTCS ghi hình tại cảng Hải Phòng 129

Ảnh 2.1.6.5 ĐTCS ghi hình tại cảng cá Bình Định 129

Ảnh 2.1.6.6 Khách mời chương trình Ghế không tựa lần lượt đổi chỗ với người dẫn chương trình để ngồi lên hai chiếc ghế, đại diện cho các giai đoạn thăng trầm của sự nghiệp, cuộc sống 130

Ảnh 2.1.6.7 Chương trình Ghế đỏ được ghi hình tại các địa điểm khác nhau 131

Ảnh 2.1.6.8 Hai bối cảnh cố định của chương trình Chuyện đêm muộn 131

Ảnh 2.1.6.9 Bối cảnh quán bar của chương trình 23 giờ 131

Ảnh 2.1.6.10 Giao diện chương trình SK&BL, góc máy ghi hình 132

người dẫn chương trình trước đây (trái) và hiện nay (phải) 132

Ảnh 2.1.6.11 Giao diện chương trình SK&BL, góc máy ghi hình khách mời trước đây (trái) và hiện nay (phải) 132

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Truyền hình là phương tiện truyền thông ra đời ở các quốc gia có nền

kỹ thuật phát triển ở châu Âu, châu Mỹ từ những năm 30 của thế kỷ XX Mặc

dù xuất hiện muộn hơn vài trăm năm so với báo in và sau phát thanh vài chụcnăm, nhưng truyền hình đã nhanh chóng khẳng định được chỗ đứng vữngchắc của mình trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng Nhờthành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là về côngnghệ thông tin, ngành truyền hình có những bước tiến vượt bậc về nhiều mặt,trở thành phương tiện truyền thông và giải trí có mặt ở tất cả các quốc gia,lãnh thổ và hầu khắp các gia đình Ngay cả khi báo mạng điện tử - một loạihình báo chí ưu việt xuất hiện cùng với sự phát triển bùng nổ của công nghệthông tin trong thế kỷ XXI mà đỉnh cao là mạng Internet, thì truyền hình vẫnđang tỏ ra là một loại hình truyền thông có sức cạnh tranh rất đáng nể

Để có được khả năng này, trước hết là do truyền hình được sở hữu sứcmạnh vô cùng to lớn, đó là khả năng tác động đến công chúng bằng hình ảnhđộng và âm thanh, vốn là những yếu tố rất thu hút sự chú ý thông qua thị giác

và thính giác của công chúng Nếu như thông tin trên báo in được chuyển tảiđến độc giả thông qua con chữ, ảnh - tức là chỉ có thể tác động duy nhất vàothị giác, còn thông tin qua phát thanh được gửi đến thính giả bằng âm thanh,(lời nói, tiếng động, âm nhạc) - tức là chỉ có thể tác động qua thính giác, thìvới truyền hình, mọi thứ diễn ra sống động như khán giả được trực tiếpchứng kiến sự thật bằng cả tai nghe, mắt nhìn Chính vì thế, dù là loại hìnhbáo chí sinh sau, nhưng truyền hình vẫn là lựa chọn hàng đầu của đa số côngchúng ở mọi quốc gia trên thế giới

Tại Việt Nam, trong nhiều năm qua, truyền hình luôn giữ vai trò là mộtloại hình truyền thông đại chúng hấp dẫn Không chỉ ở thành thị mà ngay cả ở

Trang 9

các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa hiện nay, chiếc ti-vi đã thành một vậtdụng rất phổ biến Tỷ lệ sở hữu ít nhất một chiếc ti-vi tại các hộ gia đình ởViệt Nam là 83% [102, truy cập ngày 07/6/2016, 22:13] Thậm chí ở thànhthị, việc mỗi một thành viên trong gia đình có một ti-vi trong phòng riêng đãkhông còn là điều xa xỉ Người ta có thể thấy phương tiện nghe - nhìn này ởtrong các cửa hàng, quán xá Điều này cho thấy rõ tầm quan trọng và mức độphổ biến của truyền hình trong đời sống của người dân Việt Nam hiện nay.

Trong hệ thống phân chia các thể loại báo chí tại Việt Nam hiện nay,

nhóm các thể loại báo chí chính luận (hay còn gọi là nhóm báo chí chính luận, nhóm chính luận báo chí…) là nhóm nhận được nhiều sự thống nhất

cao giữa các nhà nghiên cứu, lý luận báo chí về mặt phân loại Đặc trưng của nhóm này là năng lực thông tin lý lẽ, tức là việc sử dụng khả năng lập luận,

phân tích, đánh giá để đưa ra quan điểm (của một cá nhân hoặc tổ chức) vềmột thông tin, vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó mà báo chí phản ánh Trongnhóm các thể loại báo chí chính luận, những thể loại cơ bản có thể kể đến là:bình luận, chuyên luận, xã luận, đàm luận, phiếm luận… [56]

Trên sóng truyền hình tại Việt Nam hiện nay, không khó để khán giả cóthể nghe thấy những lời giới thiệu về một chương trình truyền hình thuộc

nhóm các thể loại báo chí chính luận, như: “chương trình talkshow chính

luận với mục tiêu chú trọng vào những chính sách, dự án và kế hoạch phát triển trong các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá” [98, truy cập

ngày 09/10/2014, 11:12], hay “lên sóng vào 08h00 Chủ nhật hàng tuần, 90

phút để hiểu là một điểm hẹn chính luận hấp dẫn với khán giả truyền hình trong hơn 2 tháng qua Thông qua các chuyên mục trong chương trình, khán giả được hiểu thêm về một chính sách đem lại lợi ích cho cuộc sống, khám phá góc nhìn biếm họa về những điều còn chưa đẹp trong đời sống và cùng tìm hiểu về những dự án góp phần mang tới một tương lai tươi đẹp hơn cho đất nước.” [94, truy cập ngày 30/5/2017, 18:20] v.v.

Trang 10

Trong số nhiều hình thức thể hiện của chương trình chính luận trêntruyền hình, không khó để nhận thấy hình thức đàm thoại vẫn chiếm giữnhững vị trí quan trọng trên các kênh thời sự - chính luận, ví dụ như các

chương trình đã và đang phát sóng: Đối thoại chính sách (VTV1), Sự kiện và

Bình luận (VTV1), Toàn cảnh thế giới (VTV1), Những góc nhìn (Truyền hình

Nhân Dân), Nhận diện sự thật (Truyền hình Quốc phòng), Câu chuyện hôm

nay (Truyền hình Quốc hội), Góc nhìn HTV (Truyền hình TP.HCM - HTV),

Hà Nội - Những góc nhìn (Truyền hình Hà Nội - HaTV) v.v.

Ở những kênh truyền hình hàng đầu thế giới, có thể kể tên các chương

trình đã và đang rất nổi tiếng như: Larry King Live và Larry King Specials

(những chương trình góp phần làm nên danh tiếng của kênh CNN do nhà báo

huyền thoại Larry King phụ trách), Amanpour (chương trình chuyên về các

vấn đề thời sự quốc tế, do nữ nhà báo nổi tiếng Amanpour phụ trách và dẫn

trên kênh CNN), Hardtalk (chương trình phỏng vấn các vấn đề thời sự của

đài BBC) v.v Tất cả đều là những đàm thoại, do các nhà báo, người dẫnchương trình kỳ cựu, kinh nghiệm phụ trách Mức độ phủ sóng và ảnh hưởngcủa những chương trình này mang tầm quốc tế, không chỉ thu hút sự chú ýcủa dư luận mà còn của các chính khách, những nhân vật quan trọng bởikhách mời tham gia chương trình không chỉ dừng lại ở những chuyên gia,người nổi tiếng, mà còn là nguyên thủ các quốc gia

Như vậy, dù là ở Việt Nam hay trên thế giới, bên cạnh những hình thứckhác, thì hình thức đàm thoại của chương trình chính luận trên truyền hìnhvẫn luôn có một vị trí ổn định và thậm chí được nhiều kênh, đài truyền hìnhchú trọng Chính vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích về đàm thoại trên truyềnhình là một nghiên cứu cần thực hiện trong bối cảnh hiện nay

Bên cạnh đó, cũng cần phân tích thêm rằng về mặt khái niệm, thuật ngữcũng như cách hiểu trong thực tế thì chương trình chính luận có hình thứcđàm thoại cũng hoàn toàn có thể được hiểu thành chương trình đàm thoại

Trang 11

mang tính chính luận Vì vậy, yếu tố “đàm thoại” ở đây thuộc về mặt hìnhthức và “chính luận” ở đây là thuộc về tính chất, nội dung của chương trìnhtruyền hình.

Do vậy, trong luận án này, tác giả nhìn nhận từ góc độ: nghiên cứu

“tính chính luận” trong các chương trình đàm thoại truyền hình Theo đó, tácgiả kỳ vọng sẽ rút ra được kết luận về biểu hiện của tính chính luận trongtừng loại đàm thoại trên truyền hình, từ đó quay ngược trở lại để đánh giánhững yếu tố tác động đến tính chính luận trong chương trình đàm thoạitruyền hình Việc này đặt ra đòi hỏi cần phải hệ thống hoá các chương trìnhđàm thoại truyền hình cũng như phân tích được mức độ của tính chính luậntrong từng loại

Nếu làm rõ được những cơ sở lý luận và thực tiễn về tính chính luậntrong các chương trình đàm thoại truyền hình ở Việt Nam hiện nay, nghiêncứu sinh cho rằng có thể tạo ra những tiền đề cần thiết nhằm đề ra những giảipháp phù hợp, có tính khả thi cho việc nâng cao chất lượng các chương trìnhđàm thoại chính luận truyền hình Vì thế, việc nghiên cứu đề tài này cũng cóthể góp phần bổ sung những vấn đề lý luận báo chí truyền hình

Cụ thể hơn, việc tổ chức các chương trình đàm thoại đảm bảo tínhchính luận là một công việc phức tạp, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng vàphối hợp nhuần nhuyễn của nhóm thực hiện chương trình Trong nhóm này,mỗi thành viên với chức danh và nhiệm vụ cụ thể cần có những phẩm chất,kinh nghiệm, kỹ năng riêng, đặc biệt là người dẫn chương trình Ngoài ra,một đàm thoại truyền hình mang tính chính luận còn đòi hỏi phải có những vịkhách mời phù hợp, đáp ứng tốt yêu cầu cụ thể của mỗi chương trình

Trong luận án này, nghiên cứu sinh khảo sát ba chương trình đàm thoạichính luận, hai chương trình đàm thoại chân dung và hai chương trình đàmthoại giải trí của Việt Nam trong hai năm 2014 và 2015 Cụ thể, ba chương

trình đàm thoại chính luận là: Đối thoại Chính sách, Sự kiện và Bình luận trên

Trang 12

kênh VTV1, và 45 phút trên kênh HTV9; hai chương trình đàm thoại giải trí là: Chuyện đêm muộn (VTV3), 23 giờ (VTV2); và hai chương trình đàm thoại chân dung là Ghế đỏ (YanTV), Ghế không tựa (VTV6).

VTV1, VTV2, VTV3 và VTV6 là những kênh truyền hình quyen thuộcvới khán giả cả nước của Đài truyền hình Việt Nam, còn kênh HTV9 thuộcĐài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và kênh YanTV (phát trên hệ thốngtruyền hình cáp Việt Nam) là kênh truyền hình xã hội hoá Do đó, việc lựachọn các chương trình trên những kênh này để khảo sát là có tính đại diệncao Hơn nữa, do mật độ xuất hiện các chương trình đàm thoại ở các kênhnày khá lớn và công tác tổ chức đàm thoại tại các kênh này cũng rất tiêu biểunên có thể thông qua việc khảo sát để rút ra được những kết luận khoa học

Việc lựa chọn số lượng chương trình đàm thoại chính luận để khảo sátnhiều hơn so với hai loại chương trình đàm thoại còn lại là do nghiên cứusinh chọn đàm thoại chính luận sẽ là đối tượng khảo sát chính, còn đàm thoạichân dung, đàm thoại giải trí sẽ là đối tượng khảo sát mang tính tham chiếu

Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh mong muốn khảo sát tham chiếu thêm

hai chương trình đàm thoại nổi tiếng của thế giới là Amanpour của đài truyền hình Mỹ CNN và Hardtalk của kênh truyền hình Anh BBC cũng trong

khoảng thời gian trên Cả hai đều là những chương trình đàm thoại về các vấn

đề thời sự trong nước và quốc tế Trong đó, Amanpour do nhà báo nữ Christiane Amanpour đảm nhiệm, còn Hardtalk so nhà báo Stephen Sackur

phụ trách Việc lựa chọn hai chương trình này để khảo sát sẽ mang ý nghĩa sosánh, đối chiếu với các chương trình đàm thoại chính luận được khảo sáttrong nước

Ngoài ra, còn có một lý do khác khiến tác giả quyết định chọn đề tàinày là do bản thân nghiên cứu sinh đã có nhiều năm trực tiếp làm công việcbiên tập, tổ chức sản xuất, dẫn chương trình đàm thoại Qua thực tế, tác giảnhận thấy để tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình ở Việt

Trang 13

Nam được nhận diện rõ nét hơn, thì còn nhiều vấn đề cần phải được làm sáng

tỏ về phương diện lý luận

Chính vì vậy, tác giả tin tưởng rằng với những kinh nghiệm đúc kếtđược, lại được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các nhà khoa học, tác giả sẽ thực hiệnthành công đề tài nghiên cứu này

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các lý luận về đàm thoại truyền hình và khảo sát,phân tích thực trạng tính chính luận trong các chương trình đàm thoại truyềnhình đã chọn, đề tài nghiên cứu này sẽ đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thểnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chương trình đàm thoại chínhluận truyền hình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, cần làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phân tíchtính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình;

Thứ hai, cần nhận diện được biểu hiện của tính chính luận thông quacác yếu tố cấu thành của chương trình đàm thoại truyền hình tại Việt Nam;

Thứ ba, cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các thành viên thamgia đàm thoại chính luận truyền hình, đặc biệt là người dẫn chương trình vàkhách mời;

Thứ tư, xác định các tiêu chí đối với tính chính luận trong đàm thoạitruyền hình tại Việt Nam;

Thứ năm, nêu ra một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi cao nhằmnâng cao chất lượng tính chính luận trong đàm thoại truyền hình tại ViệtNam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tính chính luận của chương trình

đàm thoại truyền hình ở Việt Nam hiện nay.

Trang 14

45 tối thứ Tư hằng tuần, thu hút được sự chú ý của công luận với những chủ

đề thảo luận nóng bỏng Đó là lý do để nghiên cứu sinh chọn chương trình này trên VTV1 để khảo sát

Bên cạnh Đối thoại chính sách, một chương trình khác trên kênh VTV1 được chọn để khảo sát là Sự kiện và Bình luận - một chương trình ra đời từ

những năm 2000 và được phát sóng trực tiếp lúc 9 giờ 30 sáng thứ 7 hằngtuần Với những nội dung đề cập đến những sự kiện nóng hổi trong tuần, đâycũng là một chương trình rất được chú ý trên sóng VTV1

Kênh truyền hình thứ hai được lựa chọn để khảo sát trong luận án này làHTV9 - kênh thông tin chính trị, kinh tế, xã hội của Đài Truyền hình thành phố

Hồ Chí Minh (HTV) Trên kênh này, nghiên cứu sinh chọn chương trình 45 phút (được phát sóng lúc 20 giờ 40 tối thứ Tư hằng tuần) cho khảo sát của mình 45 phút là chương trình chính luận với mục tiêu chú trọng vào những chính sách,

dự án và kế hoạch phát triển trong các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn

hóa Chương trình là một diễn đàn để người dẫn chương trình và các khách mờitrò chuyện, trao đổi về những chủ đề nổi bật đang được xã hội quan tâm.Chương trình do HTV phối hợp thực hiện cùng FBNC - kênh truyền hình kinh tếtài chính chuyên biệt đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)

Điều đặc biệt là chương trình do nhà báo - TS Trần Ngọc Châu dẫndắt Ông là người đã nhận bằng tiến sĩ khoa học Báo chí - Truyền thông đạichúng tại đại học Washington, Hoa Kỳ (2005); bằng thạc sĩ truyền thông tạiđại học Trinity College, Scotland (từ xa, 1995); bằng thạc sĩ Triết học Tây

Trang 15

phương và văn chương Anh, Trường Đại học Văn khoa, Viện Đại học SàiGòn (1974) Nhà báo Trần Ngọc Châu từng là Tổng biên tập kênh FBNC.

Song song với VTV1 và HTV, tác giả lựa chọn thêm các chương trìnhđàm thoại chân dung và đàm thoại giải trí để khảo sát trên các kênh VTV2,VTV3, VTV6 (Đài THVN) và YanTV (Truyền hình cáp Việt Nam) Trong

đó, hai đàm thoại giải trí là: Chuyện Đêm muộn, có thời lượng 30 phút, là

chương trình đàm thoại giải trí trên kênh VTV3 phát sóng vào 23h30 cácngày thứ Hai, Tư và Sáu hàng tuần, và phát lại cùng giờ các tối thứ Ba, Năm

và Bảy, và 23 giờ có thời lượng 45 phút được phát sóng vào tối thứ 6 hàng tuần trên kênh VTV2 Hai chương trình đàm thoại chân dung là: Ghế đỏ

(kênh YanTV), phát sóng vào 22 giờ 30 phút thứ Hai hằng tuần, với thời

lượng 15 phút và Ghế không tựa (VTV6) phát sóng tối thứ Tư hằng tuần.

Phần giới thiệu chi tiết về các chương trình sẽ được đề cập trong chương 2của luận án này

Ngoài các chương trình được khảo sát trong nước, luận án này sẽ khảosát tham chiếu hai chương trình đàm thoại chính luận của truyền hình nướcngoài Trong đó, CNN (Cable News Network) là kênh truyền hình Mỹ có mặt

ở hơn 200 quốc gia trên thế giới với số lượng công chúng lên tới gần 2 tỷngười Mạng lưới tin tức của CNN trải rộng khắp thế giới và hoạt động 24/7với tất cả những công nghệ, kỹ thuật, thiết bị hiện đại nhất Ở kênh CNN, tác

giả khảo sát chương trình Amanpour - một trong những chương trình nổi bật

của CNN, do nữ nhà báo kỳ cựu Christiane Amanpour phụ trách Nội dungcủa chương trình làm về những vấn đề, sự kiện chính trị quốc tế nổi bật nhất.Khách mời của chương trình thường là những chính trị gia, thậm chí lànguyên thủ quốc gia, hoặc những người có địa vị cao như: Nguyên Tổng thư

ký Liên Hợp quốc Ban Ki-moon, Cựu ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, Tổngthống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan, Cố lãnh đạo Libya Gaddafi, CựuĐại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường… Chương trình có thời

Trang 16

lượng 30 phút, được phát sóng vào lúc 9 giờ tối trên Truyền hình Cáp ViệtNam, từ thứ 3 đến thứ 7 hằng tuần dưới một dạng thức linh hoạt Trong năm

số mỗi tuần thường sẽ có một đến hai số là đàm thoại chính về một chủ đề

Chương trình đàm thoại chính luận nước ngoài thứ hai tác giả lựa chọn

để khảo sát là Hardtalk trên kênh BBC (British Broadcasting Channel) của

Anh Chương trình này lựa chọn những chủ đề nhạy cảm, những câu hỏi khó,

và chọn khách mời là những cá tính nổi bật Nhà báo Stephen Sackur làm việccho BBC với tư cách nhà báo nước ngoài đã được 15 năm và mang lại cho

kênh truyền hình này rất nhiều thành tích Hardtalk có thời lượng 25 đến 30

phút, được phát sóng từ thứ 2 đến thứ 5 trên hệ thống BBC World Service màTruyền hình cáp Việt Nam chuyển tải

Thời gian khảo sát được chọn là hai năm 2014 và 2015 Đây cũng làkhoảng thời gian nghiên cứu sinh chính thức bắt tay vào việc thực hiện đề tàinày nên việc thu thập các cứ liệu nghiên cứu có thuận lợi

Mặc dù tính đến thời điểm này, hai chương trình đàm thoại chính luận,một chương trình đàm thoại chân dung và một chương trình đàm thoại giải trítrong nước thuộc diện khảo sát đã dừng phát sóng, nhưng những vấn đề đangđặt ra về tính chính luận trong các chương trình này vẫn còn giữ nguyên tínhthời sự và đòi hỏi những giải pháp cấp thiết

5 Giả thuyết nghiên cứu của luận án

- Một là, đàm thoại truyền hình là một chương trình có tính chính luận

- Hai là, trong thực tế không phải chương trình đàm thoại truyền hìnhnào cũng thể hiện tính chính luận do chất lượng các chương trình không đồngđều và do mục đích của từng dạng đàm thoại truyền hình

- Ba là, để nâng cao tính chính luận, sự hấp dẫn của tính chính luậntrong đàm thoại truyền hình, cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kịch bản,khách mời, người dẫn chương trình của đàm thoại truyền hình

6 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 17

- Cơ sở lý luận

Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về báo chí - truyền thông; các quan điểm và chính sách của Đảng, Nhànước về báo chí - truyền thông nói chung, các vấn đề liên quan đến báo chíchính luận và quy trình tổ chức sản xuất đàm thoại truyền hình; các công trìnhkhoa học đã được công bố về Lý thuyết báo chí và truyền thông; Lý thuyết vềbáo chí chính luận

Luận án dựa trên cơ sở thực tiễn vận hành sản xuất các chương trìnhđàm thoại truyền hình ở một số kênh truyền hình ở Việt Nam hiện nay vớinhững ưu điểm và hạn chế thể hiện qua các số liệu thống kê, kết quả điều trakhảo sát, phỏng vấn chuyên sâu do chính tác giả thực hiện và thu thập từnhững kết quả nghiên cứu có liên quan

Trong quá trình nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh sẽ sử dụng phầnmềm xử lý thông tin định lượng SPSS Các phương pháp nghiên cứu địnhlượng và định tính sử dụng trong luận án như sau:

Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích thu thập các nhận xét,đánh giá của người xem truyền hình về 3 chương trình đàm thoại chính luậntruyền hình trong diện khảo sát, cũng như những tác động của các chươngtrình này đối với công chúng Dung lượng mẫu là 400, lựa chọn theo phươngpháp chọn mẫu điển hình Phân bố mẫu theo nơi cư trú là: Hà Nội: 200, thànhphố Hồ Chí Minh: 200 Theo giới tính: Nam: 190 Nữ: 210

Sản phẩm phân tích bao gồm toàn bộ các chương trình đàm thoại chínhluận trong diện khảo sát được phát sóng trong hai năm 2014 và 2015 và lựa

Trang 18

chọn ngẫu nhiên mỗi tháng 1 đến 2 số của mỗi chương trình đàm thoại giải trí

và chân dung cũng trong khoảng thời gian này, sao cho trung bình mỗi nămkhảo sát 12 số

Theo đó, tổng số chương trình đàm thoại chính luận là: 225, trong đó

Sự kiện & Bình luận: 84, Đối thoại Chính sách: 77, 45 phút: 64 (số lượng ít

nhất do chương trình dừng phát sóng từ tháng 10 năm 2015) Tổng số chương trình đàm thoại giải trí là: 48, trong đó Chuyện đêm muộn: 24, 23 giờ:

24 Tổng số chương trình đàm thoại chân dung là: 48, cụ thể là Ghế đỏ: 24,

Ghế không tựa: 24.

Phạm vi nghiên cứu

3 đàm thoại chính luận, 2 đàm thoại giải trí, 2 đàmthoại chân dung

Tính chính luận của các chương trình đàm thoại

Mẫu nghiên cứu thuộc diện khảo sát, từ ngày 1/1/2014 đến ngày

31/12/2015

Đơn vị nghiên cứu Nội dung toàn chương trình, biểu hiện của tính chính

luận qua các yếu tố cấu thành chương trìnhThống kê số lượng và so sánh số lượng những biểu

Phân tích định hiện của tính chính luận thông qua các yếu tố cấu

lượng thành chương trình trên 7 đàm thoại diện khảo sát

trong 2 năm

Được sử dụng để khảo sát các văn bản, các chỉ thị, nghị quyết và cáctài liệu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa một số vấn đề lý luận báo chí nóichung và báo chí truyền hình nói riêng nhằm xây dựng khung lý thuyết cho đềtài cũng như hệ thống hoá một số khái niệm, thuật ngữ quan trọng của đề tài

Sử dụng với mục đích nghiên cứu nhận thức, thực trạng sản xuất

chương trình đàm thoại chính luận tại các cơ quan báo chí truyền hình Cụ

Trang 19

thể, nghiên cứu sinh đã tiến hành phỏng vấn sâu 25 trường hợp thuộc cácnhóm sau:

Nhóm 1 (9 trường hợp): Những người trực tiếp thực hiện, sản xuất cácchương trình trong diện khảo sát, bao gồm 3 người dẫn chương trình, 2 biêntập viên, 2 đạo diễn, 2 quay phim

Nhóm 2 (7 trường hợp): Những người làm công tác quản lý cơ quanbáo chí truyền hình từ cấp Phó Giám đốc Đài trở lên

Nhóm 3 (9 trường hợp): Những người là chuyên gia trong lĩnh vựctruyền thông, báo chí

Để đảm bảo tính khách quan và nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu,các cá nhân tham gia phỏng vấn sâu được để ở tình trạng khuyết danh khitrình bày kết quả trong luận án

Được sử dụng để làm sáng tỏ thực trạng quá trình tổ chức sản xuất cácđàm thoại; qua đó chỉ rõ các đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của hoạt độngnày, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị có tính khả thi cao nhằm góp phầnnâng cao chất lượng đàm thoại chính luận truyền hình trong diện khảo sát nóiriêng và các đàm thoại chính luận truyền hình ở nước ta nói chung

Tất cả các phương pháp được vận dụng bổ trợ lẫn nhau để mang lại kếtquả có ý nghĩa với luận án

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận án là một trong số ít công trình khoa học nghiên cứu, hệ thống hoánhững vấn đề liên quan đến tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyềnhình ở Việt Nam; đồng thời hệ thống khái niệm về báo chí chính luận, đàm thoạichính luận, và các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu; làm rõ “tínhchính luận” về phương diện các yếu tố cấu thành nên chương trình

Trang 20

đàm thoại, bao gồm đề tài, câu hỏi, người dẫn chương trình, khách mời v.v.đồng thời, nêu lên tác động của truyền hình chính luận nói riêng đối với xã hội.

Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà quản lý báo chí, độingũ phóng viên, biên tập viên; cung cấp cơ sở ban đầu về lý luận và thực tiễnkhi cơ quan báo chí muốn xây dựng, nâng cao hiệu quả của các chương trìnhđàm thoại chính luận truyền hình Đồng thời, đây cũng là nguồn tham khảohữu ích đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên về báo chí trong việc cung cấpnhững lý thuyết liên quan đến đàm thoại truyền hình, các yếu tố về nội dung,hình thức, và thành viên đàm thoại

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên hệ thống một cách tổng quát,chuyên sâu, cập nhật về tính chính luận trong đàm thoại truyền hình ở ViệtNam hiện nay

8 Kết cấu của luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Tổng quan, Kết luận & Kiến nghị, Tài liệu

tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 3 chương, 7 tiết.

Trang 21

TỔNG QUAN

Qua tìm hiểu, tham khảo nhiều nguồn tài liệu, tác giả nhận thấy đã cónhững công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo khoa học, đề cậpđến một phần, một vài điểm, hoặc có liên quan đến công trình của mình.Trong quá trình nghiên cứu, tác giả hệ thống hoá những tài liệu này thành hai

nhóm vấn đề lớn liên quan đến đề tài nghiên cứu: Một là tài liệu liên quan

đến chính luận báo chí và tính chính luận, hai là tài liệu liên quan đến chương trình đàm thoại truyền hình.

Hai nhóm này bao gồm cả các tài liệu bằng tiếng Việt và tài liệu tiếngnước ngoài Đặc biệt, trong các tài liệu bằng tiếng Anh, có một thuật ngữtiếng Anh quan trọng là “talk show” Tác giả luận án xin được giữ nguyêncách gọi này và chú giải sang tiếng Việt như sau: một chương trình phátthanh hoặc truyền hình có định dạng chính là cuộc nói chuyện, trao đổi giữahai người trở lên (gồm người dẫn chương trình và khách mời) về một chủ đề.Những công trình tiếng nước ngoài dưới đây hầu hết được nghiên cứu vàxuất bản tại Mỹ, nơi sáng tạo ra dạng chương trình talk show truyền hình, vốn

là nguồn gốc của những chương trình đàm thoại, đàm luận, tọa đàm hiện naycủa truyền hình Việt Nam Do đó, đây là nguồn tham khảo, đối chiếu khôngthể thiếu để nghiên cứu sinh hoàn thành nghiên cứu này

Hai nhóm vấn đề lớn liên quan đến đề tài nghiên cứu được trình bày cụthể theo phạm vi từ các tài liệu tiếng nước ngoài, đến các tài liệu dịch từ tiếngnước ngoài sang tiếng Việt, và các tài liệu tiếng Việt Các tài liệu được trìnhbày theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại như sau:

1 Tài liệu liên quan đến chính luận báo chí và tính chính luận

1.1 Tài liệu tiếng nước ngoài liên quan đến chính luận báo chí và tính chính luận

Trang 22

Trong quá trình khảo sát các tài liệu quốc tế để tìm hiểu sự tương đồng

và khác biệt về mặt lý luận, nghiên cứu sinh nhận thấy báo chí phương Tâynói chung phân biệt báo chí theo các lĩnh vực cụ thể: chính trị, kinh tế, xã hội,thể thao, giải trí v.v Điểm này khá tương đồng với cách gọi “báo chí chuyênbiệt” như ở Việt Nam Nếu ở nước ta khái niệm “chính luận báo chí” hoặc

“báo chí chính luận” rất phổ biến, thì ở các nền báo chí Tây phương, họ sửdụng khái niệm mà nghiên cứu sinh cho rằng là tương đương gần nhất bằngtiếng Anh là “political journalism” và “public affairs journalism” (tạm dịchlần lượt là “báo chí về chính trị” và “báo chí về các vấn đề công chúng quantâm”) Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu các tài liệu tiếng nước ngoài,nghiên cứu sinh chỉ tập trung vào những tài liệu liên quan đến hai khái niệmnày

1.1.1 Tài liệu tiếng nước ngoài liên quan đến báo chí chính trị

Đầu tiên, về khái niệm “báo chí chính trị”, các tài liệu mà nghiên cứusinh có cơ hội tiếp cận đa số quan niệm rằng đây là một thành phần trung tâmcủa khái niệm “truyền thông chính trị”

Năm 2002, ấn bản đầu tiên của cuốn sách “Political Journalism: New

Challenges, New Practices” (tạm dịch là Báo chí về Chính trị: Thách thức mới, Thực tiễn mới) [84] với dung lượng 249 trang đã được xuất bản tại nhà

xuất bản Routledge của nước Anh Đây là tác phẩm của các nhà nghiên cứu,giảng viên cao cấp về chính trị ở các trường đại học Châu Âu là RaymondKuhn và Erik Neveu Sau này sách được tái bản nhiều lần nữa

Nội dung của cuốn sách này đáng chú ý ở chỗ trong phân tích về báochí chính trị phương Tây, Erick Neveu đã phân tích ba đặc tính của báo chíchính trị [84, tr.42-44] Thứ nhất, báo chí chính trị luôn được xếp ở vị trí ưutiên so với các nội dung khác Thứ hai, báo chí chính trị phải đối mặt vớinhiều vấn đề hơn trong việc chuyển tải và diễn đạt tin tức (và ông phân tíchthêm rằng báo chí viết về khoa học và kinh tế cũng sẽ đối mặt với vấn đề

Trang 23

tương tự) Thứ ba, do mức độ tương tác giữa các nhà báo viết về chính trị vàcác chính trị gia là khá cao (khi các nhà báo chuyên trách phải đi theo tham

dự các phiên họp, hoạt động của các chính trị gia) nên giữa họ nảy sinh mộtmối quan hệ mật thiết mà nhà báo viết ở mảng khác khó có được

Từ những đặc tính này của báo chí chính trị, các tác giả cuốn sách cũngđặt ra những thách thức đối với các nhà báo viết về chính trị, đó là: tính tự chủcủa các nhà báo khi phải đối mặt với các chuyên gia truyền thông của giớichính trị; tính đa chiều toàn diện của thông tin khi một mặt phải giám sát phảnbiện chính phủ và giới chính trị gia, một mặt phải hiểu và biểu đạt đúngnhững vấn đề của các nhóm xã hội đối với giới chính trị… [84, tr.44-46]

Những nội dung trên đã khái quát hoá những vấn đề mà báo chí gặpphải khi đưa tin chính trị ở phương Tây, đồng thời cũng phản ánh những yếu

tố mang tính kỹ năng, nghiệp vụ của nhà báo viết về chính trị Điều này cóđiểm gần với mảng báo chí chính luận ở Việt Nam, khi mức độ quan trọngcủa thông tin chính luận luôn được coi trọng, và các nhà báo được phân côngtheo dõi mảng này hiếm khi là những người mới vào nghề hoặc ít kinhnghiệm

Khẳng định thêm cho nội dung của báo chí chính trị là định nghĩa về nó

trong cuốn “Political journalism in transition, Western Europe in a

Comparative Perspective” (tạm dịch là: Sự dịch chuyển của báo chí chính trị, Tây Âu trong quan điểm so sánh) do hai nhà nghiên cứu Raymond Kuhn và

Rasmus Kleis Nielsen biên tập, được xuất bản năm 2014 tại nhà xuất bảnI.B.Tauris & Co Ltd

Ở phần đầu của cuốn sách, báo chí chính trị cũng được nhắc đến như:một thể chế chính thức, độc lập… tham gia vào việc phản biện những nhà cầmquyền, thúc đẩy các nhà hoạt động chính trị, các vấn đề chính trị, quan điểm chínhtrị cụ thể, thông tin cho công

Trang 24

chúng những tin tức thời sự và vận động công dân có những hành động chính trị [85, tr.15].

Các tác giả cũng đi sâu làm rõ một loạt các câu hỏi đơn giản nhưng

quan trọng về báo chí chính trị như: Nó hoạt động như thế nào tại các quốc

gia được lựa chọn khảo sát? Sự tương đồng và sự khác biệt trong hoạt động của nó là gì? Nó thay đổi như thế nào? Điều này cho thấy tính đặc thù trong

hoạt động của báo chí chính trị ở mỗi quốc gia và từ đó dẫn đến cách tácnghiệp không hoàn toàn giống nhau của các nhà báo theo dõi chuyên trách nộidung này

Tại Việt Nam, trước đây khái niệm “báo chí chính luận” có cách hiểugần như tương đồng với “báo chí chính trị” khi nội dung chủ yếu luận bàn vềcác vấn đề, sự kiện chính trị - xã hội Tuy nhiên, giờ đây dường như cáchhiểu và cách làm các tác phẩm báo chí chính luận không còn như vậy

Trước kia, nói đến chính luận người ta thường chỉ nói đến cácvấn đề thuộc chính trị xã hội Ngày nay, cuộc sống biến độnghằng ngày và luôn diễn ra vô số sự kiện không chỉ chính trị xãhội mà cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, thể thao Thậm chí, cónhững sự kiện, sự việc tưởng chừng dễ nhận thức nhưng khi tácđộng đến nhiều người thì nảy sinh những cách nhìn nhận khácnhau, vì vậy cần có sự tham gia của tác phẩm chính luận để địnhhướng dư luận đến nhận thức đúng đắn nhất [54, tr.23-24]

Việc phân tích nội dung này sẽ được nghiên cứu sinh triển khai ở phầnsau của luận án

Tiếp theo là cuốn sách của tác giả Stephen Cushion mang tên “News

and Politics: The rise of live and interpretive journalism” (tạm dịch: Tin tức

và Chính trị: Sự nổi lên của báo chí trực tiếp và diễn giải), xuất bản năm

2015 bởi nhà xuất bản Routledge [87], cũng là một nghiên cứu đáng chú ý

Trang 25

Cuốn sách này đưa ra những phân tích phê bình các bản tin truyềnhình, nguồn thông tin chính cho hầu hết công chúng, và hỏi xem liệu tốc độ

và sự nhanh chóng của nền văn hoá tin tức 24 giờ có ảnh hưởng đến địnhdạng và phong cách của các bản tin đó theo thời gian không Stephen Cushioncũng theo dõi một cách rõ ràng sự chuyển đổi từ việc biên tập tin tức sangđưa tin trực tiếp, đồng thời cho rằng sự gia tăng của tin tức trực tiếp, hai chiều

có thể làm tăng sự hiểu biết của người xem về các vấn đề chung của cộngđồng, từ đó khiến các nhà báo có những hành động như: kiểm tra hoạt độngcủa các chính trị gia hàng đầu, giải thích thông tin đến từ nhiều nguồn cạnhtranh nhau, hay giải thích bối cảnh rộng hơn của những câu chuyện hàngngày… nhằm thoả mãn nhu cầu của công chúng

Những nội dung mà nghiên cứu sinh cho rằng mang tính tham khảo ởcuốn sách này chính là yếu tố “báo chí diễn giải” - một nội dung mà tác giảMitchell Stephens cũng đã sử dụng để đặt làm trọng tâm cho cuốn sách dịch

từ tiếng Anh “Hơn cả tin tức: Tương lai của báo chí” (tên nguyên bản tiếng Anh: Beyond News: The future of journalism) được nhà xuất bản Trẻ phát

hành năm 2015 [45]

Báo chí diễn giải giờ đây đóng vai trò ngày càng quan trọng và là thếmạnh cạnh tranh của các cơ quan báo chí Trong quan điểm này, việc đưa tinchỉ là bước đầu Thao tác quan trọng và mang giá trị hơn đối với công chúngchính là “diễn giải tin tức” Những bài báo có thông tin diễn giải đầy đủ, rõràng, khách quan hơn sẽ được đón nhận nhiều hơn từ công chúng và ngượclại Chính vì thế, báo chí chính trị cũng như báo chí chính luận phải nắmđược xu thế này và biến nó thành thế mạnh trong bối cảnh hiện nay Các tácphẩm chính luận hiện nay bên cạnh việc nêu lên quan điểm, cũng cần phải đachiều, để đảm bảo tính khách quan, diễn giải của thông tin

Có thể thấy, mỗi nghiên cứu trên tiếp cận báo chí chính trị theo mộthướng và đều tìm ra các góc độ riêng để tìm hiểu về nó, tuy nhiên, có một

Trang 26

điểm chung là cách hiểu về báo chí chính trị ở những nghiên cứu trên đây làkhá tương đồng, và đều gắn liền với đặc thù chính trị ở các nước mà nhữngnghiên cứu này lựa chọn khảo sát Nếu so sánh với khái niệm “chính luận”

trong nghiên cứu của luận án này, thì “political journalism” (báo chí chính trị)

không hoàn toàn tương đồng, bởi các đề tài, đối tượng của các tin tức chínhluận hiện nay tại Việt Nam không chỉ khu biệt trong lĩnh vực chính trị Điềunày sẽ được làm rõ hơn trong các chương nội dung, đặc biệt là chương 2 củaluận án này

1.1.2 Tài liệu tiếng nước ngoài liên quan đến báo chí về các vấn đề công chúng quan tâm

Tiếp theo, tác giả tiếp cận khái niệm “public affairs journalism”, tức

“báo chí về các vấn đề công chúng quan tâm”, qua một số nghiên cứu sauđây

Cuốn sách “Public Affairs Reporting Now, News of, by and for the

People” (tạm dịch là: Đưa tin công chúng quan tâm hiện nay, Tin tức của dân, do dân và vì dân) do nhà xuất bản Focal Press tái bản năm 2013 (xuất

bản lần đầu năm 2008) Đây là cuốn sách của tác giả G.Michael Killenberg Giáo sư ngành báo chí - truyền thông, cựu phóng viên, biên tập viên

-Khái niệm “public affairs reporting” (dịch là: đưa tin về những vấn đề

công chúng quan tâm) được giải thích trong cuốn sách này là:

một kiểu tin tức khiến cho công chúng tiếp nhận với tư cách làcông dân, và khiến cho các cơ quan, tổ chức, dù là nhà nước hay tưnhân, phải hướng đến lợi ích công Sau tất cả, các nhà báo chính là

những người phục vụ công chúng, hoặc nên là như thế [82, tr.16].

Trong cuốn sách này, tác giả cho rằng vai trò của các nhà báo ở đây làđại diện cho công chúng trong việc kiểm tra các ứng viên chính trị cho chức

vụ được bầu, yêu cầu các hồ sơ, biên bản pháp lý tại toà án, điều tra việc sửdụng tiền thuế của chính quyền, tham dự các cuộc họp của hội đồng các nhà

Trang 27

trường, phỏng vấn tù nhân, hoặc giám sát một loạt các vấn đề và điều kiệnliên quan đến cuộc sống của người dân… Như vậy, với tư cách người phục

vụ công chúng, các nhà báo đưa ra ánh sáng các vụ tham nhũng, cảnh báo vàchất vấn các chính sách công, đòi hỏi trách nhiệm của nhà cầm quyền và phơibày sự bất công trong xã hội [82, tr.16]

Như tiêu đề của nó, có thể nói, cuốn sách này hướng trọng tâm củaviệc đưa tin tức vào người dân Họ vừa là nguồn gốc định hướng cho tin tứcbáo chí, vừa là một trong những đối tượng tiếp nhận chính, cũng đồng thời làđối tượng đánh giá, giám sát việc đưa tin của nhà báo, cũng như chất lượngtin tức báo chí Vì vậy, khái niệm “public affairs” ở đây, theo quan điểm củanghiên cứu sinh, là có sự tương đồng với các đề tài của nhóm các thể loại báochí chính luận ở Việt Nam

Một nghiên cứu khác liên quan đến khái niệm này là cuốn sách của cáctác giả Davis Merritt (cựu phóng viên, biên tập viên) và Maxwell E

McCombs (giáo sư, nhà nghiên cứu cao cấp) mang tên “The two W’s of

journalism: The Why and What of Public Affairs reporting” (tạm dịch là: Hai chữ W trong báo chí: Tại sao và Cái gì trong việc đưa tin công chúng quan tâm) [78], được xuất bản năm 2014 tại nhà xuất bản Routledge (Anh).

Phần giới thiệu của cuốn sách mô tả rằng trong cuốn sách này, các tácgiả khám phá nội dung đưa những tin tức công chúng quan tâm - một trọngtâm của hoạt động báo chí Họ đã vượt qua khuôn khổ những chỉ dẫn củanghề báo về việc đưa tin và thể hiện tin tức, để hướng đến việc phản ánh lý

do mà báo chí hoạt động theo cách mà nó đang có hiện nay Cuốn sách cũngđặt ra những câu hỏi quan trọng cho các nhà báo hiện tại và tương lai như:Tại sao chúng ta làm báo? Làm thế nào để hoàn thành các mục tiêu của nghềbáo? Và nó được thảo luận trong hai phần rõ rệt của sách: phần một là về

“The Why” (Tại sao) và phần hai về “The What” (Cái gì).

Trang 28

Trong phân tích của cuốn sách, các tác giả cho rằng một nền dân chủchỉ có thể được vận hành tốt nếu như các thành phần tham gia vào nó chia sẻđược điểm chung với nhau Điều này khiến cho vai trò của các nhà báo trong

xã hội được làm rõ hơn Trong một hệ thống giá trị được tái cấu trúc, nhà báo

là người phải hiểu rằng nguyên nhân của sự chia sẻ điểm chung giữa cácthành phần trong nền dân chủ cũng phải được xác định là quan trọng khôngkém nội dung và cách thức của việc đó Điều này đã góp phần lớn làm sáng tỏhơn về cách hiểu “public affairs” trong cuốn sách này Theo đó, mối quan tâm

của công chúng phải được hiểu đúng từ khía cạnh nguyên nhân (why), nội dung (what), tiếp đến là phải được chuyển tải, phản ánh một cách phù hợp trên báo chí, đó là khía cạnh cách thức (how).

Có thể thấy, trong hai khái niệm “báo chí chính trị” và “báo chí về cácvấn đề công chúng quan tâm” của báo chí phương Tây, thì khái niệm thứ hai

có sự tương đồng nhiều hơn đối với khái niệm “chính luận” trong nghiên cứucủa nghiên cứu sinh, khi đề cập rộng hơn đến các mối quan tâm của xã hội,chứ không khu biệt trong lĩnh vực chính trị, dù rằng không thể phủ nhận sựảnh hưởng mang tính chi phối của lĩnh vực này lên toàn bộ đời sống xã hội

1.2 Tài liệu tiếng Việt và dịch sang tiếng Việt liên quan đến chính luận và tính chính luận

Số lượng các sách nghiên cứu, tài liệu… về lý luận báo chí hiện naykhông phải là ít, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả luận ánxin liệt kê và phân tích những tài liệu có nội dung liên quan đến hoặc có tínhchất tham khảo đối với luận án

Cuốn sách sớm đề cập đến các thể chính luận trên báo chí là “Tác

phẩm báo chí” tập III của PGS.TS Trần Thế Phiệt, xuất bản năm 1995 tại

Nhà xuất bản Giáo dục Tác giả đã đề cập một số nội dung mang tính khái

quát của loại tác phẩm chính luận báo chí như: vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng,đặc trưng,

Trang 29

hình thức trình bày Đồng thời, ông cũng đi sâu phân tích một số thể loại tiêubiểu như xã luận, bình luận, chuyên luận.

Trong nghiên cứu này, tác giả Trần Thế Phiệt đã làm rõ khái niệm

“chính luận báo chí” là một nhóm các tác phẩm “phản ánh hiện thực bằng

phương thức luận bàn, phân tích, lý giải, nhằm giải quyết những vấn đề bằng

lý lẽ” [55, tr.15].

Tuy nhiên, những nghiên cứu trong tác phẩm này chỉ dừng lại ở phạm

vi báo in Đây là một nghiên cứu đã ra đời cách đây hơn 20 năm nên thực tếnày cũng là điều dễ hiểu Tuy vậy, cuốn sách này dường như là nghiên cứu

đầu tiên về các tác phẩm báo chí chính luận, đồng thời cũng là một trongkhông nhiều các đầu sách tiếng Việt về báo chí đương thời Vì thế, giá trị củacuốn sách là ở chỗ đóng vai trò nền tảng để nhiều nghiên cứu sau này tiếp thu

và kế thừa Những quan niệm về báo chí chính luận được đưa ra trong cuốnsách này có vai trò định hướng hết sức quan trọng cho các nghiên cứu vềchính luận báo chí sau này, trong đó có nghiên cứu của nghiên cứu sinh

Cũng nghiên cứu về báo chí chính luận, năm 2000, tác giả Trần Quang

đã xuất bản cuốn “Các thể loại chính luận báo chí” tại Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia Ngoài việc nghiên cứu một số thể loại như xã luận, bình luận giốngnghiên cứu của PGS.TS Trần Thế Phiệt, tác giả Trần Quang còn đi sâu phântích sự ra đời, đặc điểm, kết cấu của một số thể loại khác như bài phản ánh,bài phê bình, tiểu luận, bài điểm báo, điều tra Tác giả Trần Quang cũng giớihạn phạm vi nghiên cứu của mình ở các thể loại trên báo in chứ không mởrộng sang các loại hình báo chí khác

Năm 2005, tác giả Trần Quang tiếp tục xuất bản tại Nhà xuất bản Đại

học Quốc gia Hà Nội cuốn “Các thể loại báo chí chính luận” Cuốn sách này

trình bày một cách khái quát các quan niệm về các thể loại báo chí Từ đó, đisâu vào phân tích quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm của các thể loạibáo chí thuộc nhóm thể loại báo chí chính luận là: bài phản ánh, bình luận, xã

Trang 30

luận, tiểu luận, phê bình và giới thiệu tác phẩm, thư của ban biên tập, điểmbáo, điều tra Cuốn sách này đã có thêm nhiều chỉnh sửa, nhưng nhìn chungvẫn giống tác phẩm đã xuất bản trước đó ở cốt lõi Trong cuốn sách này, mặc

dù tác giả đã đưa thêm nhiều ví dụ về thể loại chính luận ở báo truyền hình,nhưng xét trên tổng thể, các lập luận ở tác phẩm này vẫn thiên về các thếmạnh của báo in

Xét ở góc độ ngôn ngữ, PGS.TS Vũ Quang Hào cũng đã nghiên cứu về

phong cách ngôn ngữ chính luận trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí” (xuất bản

năm 2001 tại NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) Ông phân tích chức năng củaphong cách ngôn ngữ chính luận và phân tích các đặc điểm của nó ở cácphương diện: phương tiện từ ngữ, phương tiện cú pháp, phương pháp diễnđạt Đây là một trong số không nhiều những nghiên cứu về phong cách ngônngữ chính luận có góc nhìn riêng Luận án của nghiên cứu sinh tuy không chỉthiên về mặt ngôn ngữ và phong cách, nhưng việc tham khảo nghiên cứu củaPGS.TS Vũ Quang Hào là vô cùng hữu ích đối với nghiên cứu sinh

“Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản” là tên cuốn sách do GS.TS.

Nguyễn Đức Dân xuất bản năm 2007 tại NXB Giáo Dục Trong nghiên cứunày, tác giả đã đưa ra nhận định về đặc điểm và phong cách của ngôn ngữ báochí, đồng thời tách riêng tìm hiểu ngôn ngữ đặc thù của hai loại hình báo nói

và báo hình Với nghiên cứu sinh, đây là nghiên cứu rất đáng tham khảo ởkhía cạnh ngôn ngữ báo hình

Năm 2007, ThS Nguyễn Ngọc Oanh (nay là PGS.TS Nguyễn NgọcOanh) đã bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở (Học viện

Báo chí và Tuyên truyền) có tên gọi “Các thể loại chính luận trên truyền

hình”.

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã tìm hiểu một số nội dung

cơ bản của chính luận báo chí như: sự ra đời và phát triển của thể loại tácphẩm chính luận, đặc trưng của thể loại chính luận, sự phân chia hệ thống các

Trang 31

thể loại chính luận báo chí, vai trò và đặc trưng của chương trình chính luậntruyền hình, sáng tạo tác phẩm bình luận truyền hình Đây là tiền đề cho cáccuốn sách về chính luận truyền hình được tác giả xuất bản vào năm 2014,

2015 mà nghiên cứu sinh sẽ đề cập ở dưới đây

Năm 2013, tác giả Nguyễn Ngọc Oanh đã bảo vệ thành công đề tàinghiên cứu khoa học cấp cơ sở tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền có tên là

“Báo chí chính luận đối ngoại” Kế thừa những nội dung cơ bản của đề tài

nghiên cứu khoa học trước đó về chính luận truyền hình, tác giả NguyễnNgọc Oanh đi sâu phân tích lĩnh vực đối ngoại

Năm 2014, PGS.TS Trần Thế Phiệt tiếp tục cho ra mắt cuốn sách “Tác

phẩm chính luận báo chí” Bên cạnh những phân tích, phản ánh căn bản về

loại thể tác phẩm chính luận báo chí, đặc biệt là trên báo in, thì cuốn sách nàycung cấp thêm cho nghiên cứu sinh những kiến thức tham khảo về đàm luận,tọa đàm chính luận truyền hình ở góc độ một nhà nghiên cứu lâu năm vềchính luận báo chí Thời điểm cuốn sách ra đời cũng là lúc nghiên cứu sinhbắt tay vào nghiên cứu lý luận về chính luận báo chí, vì thế cuốn sách này đãcung cấp thêm một nguồn tham khảo cập nhật, hữu ích

Năm 2014, TS Trần Bảo Khánh đã đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị

và Truyền thông số tháng 12 năm 2014 bài nghiên cứu mang tên “Tính chất

chính luận của chương trình thời sự truyền hình” Như tên gọi, bài nghiên

cứu phân tích “tính chất chính luận” trong chương trình Thời sự trên kênh

VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam Trong đó, tác giả cho rằng tính chấtchính luận trong các chương trình thời sự truyền hình chủ yếu dựa vào “ngôn

ngữ nói”, và lý giải dựa trên thế mạnh “phân tích, lý giải, đánh giá, nhận

định” của ngôn ngữ nói Bên cạnh đó, TS Trần Bảo Khánh cũng cho rằng sự

hấp dẫn của chính luận trong chương trình Thời sự nằm ở nội dung chươngtrình như các phóng sự, phóng sự điều tra, những vệt tuyên truyền lớn nhâncác sự kiện quan trọng của đất nước và ở việc đánh giá, bình luận, đưa ra

Trang 32

quan điểm về những vấn đề thời sự nổi cộm, đang được dư luận quan tâm.

Có thể nói, bài nghiên cứu này đã phân tích tính chính luận ở góc độ nội dungthông tin và nằm ở phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ nói của các tác phẩmbáo chí trong chương trình Thời sự truyền hình Do đó, đây là một tham khảorất hữu ích đối với nghiên cứu sinh

Cũng trong năm 2014, tác giả Nguyễn Ngọc Oanh đã xuất bản cuốn

sách “Chính luận truyền hình: Lý thuyết và kỹ năng sáng tạo tác phẩm” tại

Nhà xuất bản Thông tấn Cuốn sách này đã khái quát những nội dung cơ bảncủa chính luận báo chí, chính luận truyền hình và từ đó phân tích những vấn

đề chung của thể loại bình luận truyền hình, trong đó có nói đến đàm luậntruyền hình, đồng thời phân tích tâm lý giao tiếp và ảnh hưởng của ngôn ngữđến công chúng truyền hình Có thể thấy nội dung chính của cuốn sách đãkhái quát những vấn đề của chính luận truyền hình và phân tích thể loại tiêubiểu nhất của nó là đàm luận truyền hình Đây là cuốn sách đầu tiên đề cậpmột cách đầy đủ về “chính luận truyền hình” Năm 2015, tác giả NguyễnNgọc Oanh tiếp tục cho tái bản cuốn sách này

- Nhận xét:

Có thể nói, các tài liệu được đề cập trên đây chỉ phân tích chính luậnbáo chí với tư cách là một nhóm thể loại, một nhóm các tác phẩm có chungđặc điểm là sử dụng lý lẽ để phân tích, luận bàn về một vấn đề thời sự Ngoàinghiên cứu của TS Trần Bảo Khánh, yếu tố “tính chính luận” không được đềcập trực tiếp trong nhiều tài liệu như một khái niệm độc lập Vì vậy, trongchương 1 của luận án, nghiên cứu sinh xin phân tích kỹ hơn về khái niệm nàytheo nghiên cứu của cá nhân mình

2 Tài liệu liên quan đến chương trình đàm thoại truyền hình và kỹ năng sản xuất chương trình đàm thoại truyền hình

2.1 Tài liệu tiếng nước ngoài liên quan đến chương trình đàm thoại truyền hình và kỹ năng sản xuất chương trình đàm thoại truyền hình

Trang 33

Đối với khái niệm “chương trình đàm thoại truyền hình”, tác giả luận

án khó có thể tìm ra một khái niệm tương đương bằng tiếng Anh phù hợp

hơn “talk show” (tạm dịch là: chương trình dạng trò chuyện), dù rằng về nội

hàm hai khái niệm này không hoàn toàn trùng khớp Việc phân biệt hai kháiniệm này sẽ được làm rõ hơn trong chương 1 của luận án, còn ở phần Tổngquan này, tác giả luận án vẫn tìm hiểu những công trình nghiên cứu tiếngnước ngoài về “talk show” để đảm bảo tính tham khảo của nghiên cứu

Trong năm 2002, một cuốn sách đã được xuất bản tại Nhà xuất bản

University of Texas Press, đó là: “Television Talk: A History of the TV Talk

show” (tạm dịch là: Trò chuyện trên truyền hình: Lịch sử của talk show truyền hình) do hai tác giả Bernard M Timberg và Robert J Erler xuất bản.

Cuốn sách này cho biết hoàn cảnh ra đời và các giai đoạn phát triển trong lịch

sử của talk show truyền hình tại Mỹ từ những năm 50 của thế kỷ trước đếnđầu thế kỷ XXI; đồng thời phân tích ba phân nhánh chính của nó là: talk showgiải trí vào tối muộn, talk show vào ban ngày có khán giả tham gia, và talkshow bình luận tin tức vào sáng sớm

Đây là cuốn sách được đánh giá là có những nghiên cứu rất quan trọng

về lịch sử ra đời của thể loại talk show trên truyền hình tại Mỹ nói riêng vàthế giới nói chung Do đó, cuốn sách này sẽ giúp nghiên cứu sinh có hiểu biết

cơ bản về tiền thân của talk show truyền hình, vốn gần gũi với chương trìnhđàm thoại truyền hình tại Việt Nam

Ngoài ra, trong tương quan so sánh với Việt Nam, hiện nay các chươngtrình có dạng thức đàm thoại chưa có sự phân loại giống như ba phân nhánhchính của talk show mà nghiên cứu này chỉ ra Vì vậy, ở luận án này, nghiêncứu sinh chủ động đề xuất các loại đàm thoại nổi bật trong thực tiễn truyềnhình Việt Nam để so sánh với nhau, là: đàm thoại chính luận, đàm thoại giảitrí, đàm thoại chân dung

Năm 2004, tác giả Steve Clements đã lần đầu tiên xuất bản cuốn:

“Show runner: Producing Variety and Talk shows for Television” (tạm dịch

Trang 34

là: Những người làm chương trình dạng show: Sự đa dạng trong Sản xuất và

chương trình đàm thoại truyền hình) tại Nhà xuất bản Silman-James Press.

Sau này ông tiếp tục cho tái bản nhiều lần Nội dung cuốn sách này nói về quátrình sản xuất đa dạng và phức tạp của các chương trình mang dạng thức

“show” nói chung và talk show truyền hình nói riêng Đồng thời, SteveClements cũng phân tích những khó khăn, kinh nghiệm “đằng sau màn ảnh”của nhóm làm talk show truyền hình tại Mỹ - vốn được đúc rút từ chínhnhững trải nghiệm bản thân của tác giả, một nhà sản xuất chương trình truyềnhình có tiếng tại Mỹ

Cuốn sách này sẽ giúp tác giả luận án có những so sánh với những nộidung tương tự của truyền hình Việt Nam, đặc biệt ở phần kỹ năng sản xuấtchương trình, và rút ra được những kết luận thiết thực cho nghiên cứu củamình

Một cuốn sách bằng tiếng Anh có tính tham khảo rất cao khác là cuốn

“Talk show” của tác giả Dick Cavette xuất bản lần đầu tại Nhà xuất bản Times

Books vào năm 2010 Dick Cavette là người dẫn chương trình talk show nổi

tiếng mang tên The Dick Cavette Show trong nhiều năm Cuốn “Talk show” của Cavette cung cấp cho nghiên cứu sinh những câu chuyện rất chi tiết đằng

sau màn ảnh, những cảm nghĩ của tác giả đối với các khách mời đã từng thamgia talk show của ông, và những bình luận sắc sảo của ông đối với các vấn đềchính trị và văn hoá của nước Mỹ đương thời Điều đáng tham khảo ở cuốnsách này là cách tư duy của một người dẫn chương trình có trình độ trướccác vấn đề thời sự, và cách mà ông khiến cho các khách mời chia sẻ tâm sự,suy nghĩ của mình

Mới đây nhất, năm 2013, một cuốn “Talk show” khác đã được tác giả

Jaime Clarke xuất bản tại Nhà xuất bản PFP Publishing Khác với cuốn sáchtrùng tên của tác giả Dick Cavette, cuốn sách này đã mời những nhà vănđương thời đến trường quay và trò chuyện về tất cả các chủ đề (ngoại trừ việc

Trang 35

sáng tác) như: lần đi xem ca nhạc đầu tiên, anh hùng của tuổi thơ, những bímật của gia đình, công việc tồi tệ nhất, cuộc cãi vã đầu tiên, chiếc ô tô đầutiên, những khoảnh khắc xấu hổ, bộ phim hoạt hình yêu thích, nụ hôn đầu đời,nỗi sợ vô hình, đĩa nhạc yêu thích…

Thực tế, talk show kiểu này mang tính giải trí và chân dung chứ khôngphải chính luận Nó đi sâu phân tích yếu tố cá nhân của khách mời, phân tíchcác suy nghĩ, kỷ niệm của họ chứ không phải đưa ra góc nhìn, quan điểm của

họ trước các vấn đề thời sự Tuy nhiên, cách đặt câu hỏi, cách “khai thác”khách mời của tác giả là đáng tham khảo để áp dụng cho công việc của ngườidẫn chương trình đàm thoại chính luận truyền hình

2.2 Tài liệu tiếng Việt và dịch sang tiếng Việt liên quan đến chương trình đàm thoại truyền hình và kỹ năng sản xuất chương trình đàm thoại truyền hình

2.2.1 Tài liệu tiếng Việt và dịch sang tiếng Việt liên quan đến chương trình đàm thoại truyền hình

Trong tìm hiểu của nghiên cứu sinh, chưa có một công trình nghiêncứu được xuất bản thành sách nào nói về đàm thoại truyền hình một cách trựctiếp Tuy nhiên, cụm từ này được nhắc đến trong một số công trình nghiêncứu với sự xác nhận mang tính tương đương với một số cụm từ khác như:hội thoại, đối thoại, toạ đàm, đàm luận…

Năm 2015, PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh đã tái bản cuốn “Chính luận

truyền hình: Lý thuyết và kỹ năng sáng tạo tác phẩm” tại Nhà xuất bản Thông

tấn với một số sửa chữa, bổ sung Đến nay, đây vẫn là tác phẩm nghiên cứucập nhật và đầy đủ nhất về chính luận truyền hình Cũng giống như phầnkhung của cuốn sách xuất bản năm 2014, cuốn sách này triển khai nội dung từrộng đến hẹp: đi từ chính luận báo chí, chính luận truyền hình đến bình luậntruyền hình, đàm luận truyền hình và khái quát tâm lý giao tiếp ảnh hưởngcủa ngôn ngữ đến công chúng truyền hình

Trang 36

Trong đó, nghiên cứu sinh đặc biệt quan tâm đến chương 5 của cuốnsách nói về “Đàm luận truyền hình” PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh sử dụngkhái niệm “đàm luận” để nhấn mạnh vào góc độ chính luận của nhữngchương trình mang tính trao đổi bàn luận Điểm này vừa giống và vừa khácvới nghiên cứu của nghiên cứu sinh trong luận án này Điểm giống ở chỗ cảtác giả và nghiên cứu sinh đều nhất trí về yếu tố chính luận ở những chươngtrình hội thoại, trao đổi về các đề tài báo chí, thời sự Còn điểm khác ở chỗnghiên cứu sinh sử dụng từ “đàm thoại”, và nói về “tính chính luận” củachương trình đàm thoại để có sự phân tích độc lập đối với tính chính luận củachương trình dạng này, phân biệt nó với chương trình đàm thoại mang tínhgiải trí, chân dung.

Trong chương 5, PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh tiến hành phân tích cácđặc điểm của đàm luận truyền hình, các dạng đàm luận truyền hình và phânbiệt nó với các dạng đàm thoại truyền hình khác Nội dung trong chương này

có nhiều điểm tương đồng về mặt ý tưởng với nghiên cứu của nghiên cứusinh Tuy nhiên, với khuôn khổ 15 trang, chương này chưa trình bày chi tiếtvào những yếu tố mà luận án của nghiên cứu sinh rất chú trọng tìm hiểu như:người dẫn chương trình, khách mời (góc độ tham gia và số lượng kháchmời), đề tài, câu hỏi chương trình v.v vốn là những yếu tố, theo quan điểmcủa nghiên cứu sinh, rất khác biệt và đặc trưng khi nó ở trong một chươngtrình đàm thoại có tính chính luận

Chính vì vậy, tuy bề ngoài có nhiều điểm tương đồng, nhưng cuốnsách của tác giả Nguyễn Ngọc Oanh và luận án là hai công trình có hướngnghiên cứu khác nhau

Không trực tiếp đề cập đến khái niệm này, nhưng về mặt lý luận liênquan đến thể loại báo chí truyền hình có một công trình nghiên cứu mang tên

“Sự vận động, phát triển của thể loại, tác phẩm báo chí truyền hình trong môi

trường truyền thông hiện đại” Đây đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở (của

Trang 37

Học viện Báo chí và Tuyên truyền) do ThS Đinh Ngọc Sơn chủ nhiệm và bảo

vệ thành công năm 2008

Công trình nghiên cứu này đã khái quát sự phát triển của thể loại tác

phẩm báo chí truyền hình và chia thành ba nhóm: hội thoại, tin tức và

gameshow Trong đó, chương trình đàm thoại truyền hình mà nghiên cứu sinh

nghiên cứu thuộc vào nhóm hội thoại, và mang đầy đủ những đặc điểm của

thể loại tác phẩm này

Như vậy, mặc dù có thể dễ dàng hiểu ý nghĩa của khái niệm “đàm thoạitruyền hình”, nhưng tác giả luận án chưa khảo sát thấy nghiên cứu nào trựctiếp định nghĩa và sử dụng khái niệm này một cách chính thức Trong chương

1 của luận án, nghiên cứu sinh sẽ phân tích lý do sử dụng khái niệm này và phân biệt nó với các khái niệm có ý nghĩa tương đương

2.2.2 Tài liệu tiếng Việt và dịch sang tiếng Việt liên quan đến kỹ năng sản xuất chương trình đàm thoại truyền hình

Cuốn sách đầu tiên đề cập đến việc việc sáng tạo các tác phẩm, thể loạitruyền hình cơ bản như: tin truyền hình, phóng sự truyền hình, ký sự truyềnhình, phỏng vấn truyền hình, tạp chí truyền hình, cầu truyền hình là của tác

giả Trần Bảo Khánh Sách có tiêu đề “Sản xuất chương trình truyền hình”, do

Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin in và phát hành năm 2002 Cho đến nay,đây vẫn là một trong số không nhiều những tài liệu tham khảo chính thứcđược in thành sách cho việc đào tạo chuyên ngành truyền hình tại Học việnBáo chí và Tuyên truyền Cuốn sách đã phân tích về các thể loại báo chí cụthể được sử dụng trên truyền hình, đồng thời phân tích phương thức thựchiện ứng với từng thể loại TS Trần Bảo Khánh cũng trình bày các dạngphỏng vấn trên truyền hình - một hình thức gần gũi với đàm thoại truyền hình,

và đưa ra nhiều dạng thức thể hiện, phương pháp tiến hành phỏng vấn truyềnhình Do đó, cuốn sách này có nhiều nội dung để nghiên cứu sinh kế thừa vàphát triển

Trang 38

Tiếp đến là cuốn “Sáng tạo tác phẩm báo chí” của tác giả Đức Dũng,

được xuất bản năm 2002 tại Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin Trong cuốnsách này, ở mục Phần thứ nhất, trong Chương 2, tác giả đã phân tích nội dung

“Viết và nói cho phát thanh, truyền hình” Trong đó, đáng chú ý là nhữngnguyên tắc viết cho phát thanh, truyền hình và kỹ năng trình bày văn bản phátthanh, truyền hình Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên về kỹ năngnói và viết cho cả phát thanh, truyền hình Tuy nhiên, phần về truyền hình cònchung chung và đôi chỗ còn được phân tích giống như phát thanh, trong khitrên thực tế văn bản viết cho truyền hình có một số nét khác biệt đặc trưng

Ở mục Phần thứ hai, trong Chương VI, tác giả đã đi sâu phân tích thểloại bình luận của báo chí Đặc biệt, ngoài những nội dung khái quát chung vềthể loại bình luận, tác giả đã phân tích cụ thể bài bình luận phát thanh, truyền

hình Theo đó, tác giả cho rằng, “do được sử dụng trên sóng nên tác phẩm

bình luận phát thanh truyền hình cũng bị biến đổi theo quy luật của việc thông tin bằng lời nói” [19, tr.148] Điều này được thể hiện ở các khía cạnh

như dung lượng, cấu trúc, quy mô của tính chất, vấn đề, sự kiện… Đây lànhững phân tích đầu tiên trong nghiên cứu báo chí về sự khác nhau của thểloại bình luận trên báo in và trên phát thanh, truyền hình và là tiền đề chonghiên cứu của nghiên cứu sinh

Một cuốn sách khác của tác giả Đức Dũng viết cùng tác giả Hoàng

Đình Cúc là cuốn “Những vấn đề của báo chí hiện đại”, cũng xuất bản tại

Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, năm 2007 Đáng chú ý là mục 14 trongphần 2, các tác giả bàn về “Lời dẫn và người dẫn chương trình truyền hình”.Trong đó, vai trò của lời dẫn và người dẫn trong chương trình cũng như cácnguyên tắc viết lời dẫn và các tiêu chí đối với một người dẫn chương trìnhtruyền hình đã được đề cập Đây cũng là một trong những nghiên cứu sớm vềnội dung dẫn chương trình truyền hình và mang giá trị tham khảo bước đầucho nghiên cứu của luận án này

Trang 39

Trong các năm 2004, 2005, Nhà xuất bản Thông tấn đã cho xuất bảnhàng loạt sách nghiên cứu lý luận và nghiệp vụ báo chí, truyền thông đượcdịch của nước ngoài Trong đó, một số cuốn sách ít nhiều có liên quan đếnnghiên cứu của nghiên cứu sinh, cụ thể như sau:

Sách “Báo chí truyền hình” (hai tập) [13 và 14] của các tác giả người

Nga là G.V Cudơnhetxốp, X.L Xvich, và A.Ia.Iurrốpxki Trong hai cuốnsách này, tập 1 đề cập đến những vấn đề lý luận chung và kịch bản truyềnhình; tập 2 đề cập đến các thể loại truyền hình và kỹ năng Trong tập 2 này,một số vấn đề có liên quan đến việc tổ chức sản xuất tác phẩm, chương trìnhtruyền hình đã được trình bày trong chương II: “Các nghiệp vụ nhà báo trongtruyền hình” và chương IV: “Nhà báo với chiếc camera ghi hình” Trong đó,chương II đã phân chia và phân tích về các chức năng của nhà báo truyền

hình gồm có: phóng viên truyền hình, nhà bình luận, nhà phân tích tổng

quan, người phỏng vấn, người dẫn chương trình (trong cuộc tranh luận hoặc

trong một chương trình đối thoại nào đó), người dẫn chương trình gặp gỡ

giao lưu, người dẫn chương trình thời sự.

Cách tách biệt công việc người dẫn chương trình đối thoại với ngườidẫn chương trình thời sự, người phỏng vấn… như trên của các tác giả ngườiNga khá tương đồng với quan điểm của tác giả luận án Bởi tuy cùng là côngviệc “dẫn chương trình”, nhưng mỗi một thể loại chương trình, tính chấtchương trình lại đòi hỏi một cách dẫn dắt khác, một yêu cầu về kỹ năng dẫnkhác Trong chương này, Cudơnhetxốp và Iurrốpxki cũng phân tích về nhữngyêu cầu đối với một người dẫn chương trình về mặt hình thức, trình độ, kỹnăng Nội dung này là một tham khảo để tác giả luận án so sánh với yêu cầuđối với người dẫn chương trình đàm thoại tại Việt Nam

Tài liệu khác cần đề cập là cuốn “Công nghệ phỏng vấn” của Maria

Lukina (tác giả người Nga) [44] Trong đó, chương VI có đề cập đến vấn đề

“Phỏng vấn trên báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử” Phần trình bày

Trang 40

phỏng vấn trên sóng có dung lượng 14 trang (278-292) đã đề cập đến côngviệc của người phỏng vấn trong trường quay.

Nội dung này có gắn bó mật thiết với công việc của người dẫn chươngtrình đàm thoại truyền hình - vốn là một nhân tố quan trọng làm nên tínhchính luận của chương trình Tuy nhiên, cần phải khẳng định thêm rằng côngviệc của người dẫn chương trình đàm thoại truyền hình có tính chính luậnkhông đơn giản chỉ là “phỏng vấn” Bởi ngoài việc biết cách đặt câu hỏi chocác khách mời tham gia đàm thoại, người dẫn chương trình còn phải đóng vaitrò như một thành viên cùng tham gia bàn luận về vấn đề được nói đến Do

đó, những nội dung trong cuốn sách này không phải là tất cả công việc củangười dẫn chương trình đàm thoại truyền hình có tính chính luận, trong khi

đó là nội dung mà luận án này sẽ cố gắng tìm hiểu một cách toàn diện

“Cách điều khiển cuộc phỏng vấn” là tác phẩm của hai tác giả người

Nga là Makxim Kuzunhesop và Irop Sưkunop [43] Hai phần với tám chươngcủa cuốn sách này đã ít nhiều đề cập đến những nguyên tắc chung của sự giaotiếp và đi sâu phân tích các kỹ thuật phỏng vấn, kỹ năng thuyết phục, kỹ năngthương lượng, phát biểu nơi công cộng…

Nếu như chương I và II nêu lên những nội dung mang tính khái quát,

cơ bản về nguyên tắc giao tiếp, tâm lý giao tiếp, thì chương IV và V lại khắchoạ chi tiết hơn các kỹ năng Trong đó, chương IV: “Làm phỏng vấn như thếnào” và chương V: “Làm thế nào để thuyết phục người đối thoại” miêu tả rấtchi tiết 13 bước cần thực hiện để có cuộc phỏng vấn thành công và 6 bướccần làm để thuyết phục được người đối thoại

Những nội dung này có tính tham khảo rất cao đối với những ngườidẫn chương trình đàm thoại, bởi kỹ năng phỏng vấn, thuyết phục là những kỹnăng thiết thực đi liền với công việc của họ khi đàm thoại Tuy đã ra đời cáchđây hơn 10 năm nhưng những giá trị của cuốn sách này vẫn có tính thamkhảo rất cao đối với luận án của nghiên cứu sinh

Ngày đăng: 07/07/2021, 05:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w