Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, chất lượng học tiếng Việt của học sinh dân tộc chưa cao, kéo theo sự hạn chế về phát triển năng lực tư duy,
Trang 11
TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỌC, VIẾT
CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
bị lên lớp 1, vốn Tiếng Việt vẫn còn rất mới mẻ với các em Chính điều này đã làm cho các giáo viên ở bậc tiểu học gặp nhiều khó khăn trong việc giảng dạy Đây cũng là thực trạng chung ở các địa bàn vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiêu số nói chung và hs trường TH Lê Hồng Phong nói riêng Khi kiểm tra chất lượng đọc viết học sinh tiểu học từ lớp 2 đến lớp 5 thì có gần 50% học sinh chưa đọc, viết đúng tốc độ theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Còn chuyện đọc sai lỗi chính
tả, sai dấu thì gần như 100% Với những học sinh đầu cấp khi đến lớp, nhiều em vẫn còn chưa thông thạo Tiếng Việt nên tiếp thu kiến thức cũng khó khăn hơn
Mặc dù các đã tăng cường nhiều biện pháp để cải thiện kết quả, song do vốn Tiếng Việt của học sinh người dân tộc thiểu số còn hạn chế, nên các em tiếp thu bài học khá chậm Vì vậy, khi thầy, cô giáo giảng bài, các em không hiểu được nghĩa của từ nên mau quên Vấn đề này cứ kéo dài năm này qua năm khác
và chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh người dân tộc thiểu
số lên các lớp trên bỏ học ngày càng nhiều Vì vậy trong quá trình làm công tác quản lý tôi tich lũy một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lương đọc viết cho học sinh dân tộc thiểu số giúp các em đọc thông viết thạo để học tốt môn tiếng Việt và các môn học khác
2 Mục tiêu, nhiệm vụ
Trang 22
Tiếng Việt vừa là môn học cơ bản, vừa là môn học công cụ để học sinh chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng của các bộ môn khác trong chương trình giáo dục Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học, chất lượng học tiếng Việt của học sinh dân tộc chưa cao, kéo theo sự hạn chế về phát triển năng lực tư duy, ít nhiều tạo ra bất lợi cho việc đạt đến những chuẩn mực trong mục tiêu giáo dục của bậc học tiểu học
Đối với học sinh người dân tộc, việc tiếp thu những tri thức và kỹ năng tiếng Việt là hoàn toàn mới bởi tiếng mẹ đẻ của các em và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau “Trẻ em dân tộc từ lúc lọt lòng mẹ đã được tiếp xúc nói tiếng mẹ đẻ là tiếng dân tộc Tiếng Việt là tiếng phổ thông nhưng vẫn là ngôn ngữ thứ hai Tiếng Việt vẫn không phải là tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc, các em vẫn không thể có những ưu điểm bẩm sinh như học sinh Kinh học tiếng Việt” (Mông
Ký Slay) Do vậy, việc nghiên cứu tìm cách khắc phục nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt nói chung và cụ thể chất lượng đọc, viết nói riêng cho học sinh dân tộc là giúp giáo viên căn cứ cụ thể vào thực trạng từng học sinh đọc, viết chưa đạt chuẩn để có nhiều phương pháp dạy học, vận dụng linh hoạt giúp các
em phát huy tính tích cực trong học tập; giúp các em đọc, viết tốt hơn Tạo tiền
để để các em lĩnh hội tri thức ở các môn học khác của bậc tiểu học và các cấp học tiếp theo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững
3.Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp dạy đọc, viết cho học sinh dân tộc thiểu số (HSDTTS) của giáo viên, cách đọc, viết của học sinh và các sản phẩm của học sinh thông qua các bài luyện tiếng Việt như : tập đọc, tâp viết, chính tả, các giờ tập đọc trên lớp
Các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục, giáo dục học sinh dân tộc thiểu số
4.Giới hạn của đề tài
Học sinh từ khối 1 đến khối 5 điểm trường buôn Drai thuộc trường Tiểu
Trang 33
học Lê Hồng Phong (100 % học sinh là dân tộc Ê đê)
5.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học
II.Phần nội dung
1 Cơ sở lí luận:
Căn cứ vào Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Quyết định số 16/2006/QĐ- BGD ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình giáo dục phổ thông
Công văn 896/BGD ĐT-GDTH ngày 13 tháng 02 năm 2006 của Bộ Giáo dục về việc hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho HSDTTS
Công văn 8114/BGD ĐT-GDTH ngày 15 tháng 9 năm 2006 của Bộ Giáo dục về nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho HSDTTS
Thông tư sô 55/ 2011/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BGDĐT-BCA về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã
Trang 42.Thực trạng
Về giáo viên: có một số thuận lợi và khó khăn như sau:
Tổng số CBGV của trường: 43; trong đó CBQL: 3, Giáo viên: 40
40 giáo viên: Trong đó giáo viên tiểu học: 31, giáo viên dạy chuyên các môn ( Mỹ thuật: 2, Âm nhạc:1; TD:1; Ê đê:01; Tiếng anh:2; Tin học: 1; TPT đội:1); đủ giáo viên cho tổ chức dạy 9buổi/tuần, đạt tỉ lệ 1,5 giáo viên/lớp
Có 100% CBGV đạt trình độ chuẩn; có 41 CBGV đạt trình độ trên chuẩn ( 20 ĐH, 21 CĐ), đạt tỉ lệ 95,6 % Số lượng Đảng viên 22 đồng chí, đạt tỉ
lệ 53,3 %
Số lượng CBGV là đảng viên và có trình độ trên chuẩn nhiều, luôn được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; nắm bắt được chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước đối với HSDTTS Nhà trường có 01 giáo viên dạy tiếng Ê đê, năng lực chuyên môn tốt, phương pháp dạy học linh hoạt phù hợp với HSDTTS; giáo viên nhiệt tình, năng động có tinh thần trách nhiệm cao
Công ty VNPT có chương trình hỗ trợ phần mềm VNEdu và sim điện thoại cho CBQL, cha mẹ học sinh để tăng cường mối quan hệ thường xuyên giữa
Trang 55
nhà trường – giáo viên và học sinh
Trường đang thực mô hình trường học mới (VNEN), sự phối hợp của nhà trường với địa phương, cộng đồng, cha mẹ học sinh rất hiệu quả trong công tác giáo dục học sinh Năm học 2016-2017 trường được dự án Room to Rread hỗ trợ dự án Thư viện thân thiện nên nguồn sách đọc cho học sinh đọc thêm rất dồi dào
Về giáo viên: Một số giáo viên do phương ngữ địa phương là Hà Tĩnh, Nghệ An, Huế nói hơi nặng, nhanh đôi lúc giáo viên nói học sinh và cha mẹ học sinh khó nắm bắt hết các nội dung thông tin Đa số giáo viên dạy ở buôn Drai đều
ở các nơi khác đến dạy, không biết tiếng Ê đê, nếu biết thì cũng chỉ được ít từ ở mức độ nhất định; giáo viên không thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những tình huống cần thiết trong dạy học tiếng Việt cho học sinh Mặt khác giáo viên ít
có dịp tìm hiểu về phong tục, tập quán, đời sống của các em ở trong buôn vì vậy việc gần gũi giữa giáo viên và học sinh ngoài giờ học còn rất hạn chế Biện pháp của giáo viên hỗ trợ học sinh đọc, viết yếu chưa quyết liệt
Về học sinh có một số thuận lợi, khó khăn như sau:
Tổng số học sinh của trường: 539 Trong đó HSDTS: 158
Tổng số học sinh điểm trường buôn Drai: 90; HSDTTS: 90; Nữ HSDTTS: 41
Một số học sinh được cha mẹ rất quan tâm mua đầy đủ sách, vở và đồ dùng học tập, học sinh đi học chuyên cần, mối quan hệ giữa giáo viên với cha mẹ học sinh gần gũi thân thiện, liên lạc thường xuyên qua điên thoại bằng sim Vina do VNPT hỗ trợ
Một số học sinh vào lớp 1 nói tiếng Việt khá lưu loát
Chất lượng học sinh đọc đúng tốc độ, viết đúng tốc độ ở các giờ tập đọc, chính tả chưa cao
Số lượng từ của hoc sinh (nhất là học sinh vào học lớp 1) sử dụng được trong giao tiếp không nhiều, học sinh chỉ nói được những từ, câu rất đơn giản
Trang 66
như: Thầy giáo, cô giáo, bạn,… hay các sự vật gần gũi như: Quyển vở, bút chì, cái bảng, Có thể nói số lượng từ mà các em sử dụng được chỉ tương đương với một trẻ em 3 hoặc 4 tuổi học sinh dân tộc kinh Khả năng chú ý và tập trung vào bài học của học sinh không bền Học sinh yếu đi học học chưa chuyên cẩn
Từ thực trạng nêu trên ở địa phương, trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng và từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đọc, viết cho học sinh dân tộc thiểu số; trong những năm học qua, tôi đã áp dụng thành công một
số giải pháp:
3.Nội dung và hình thức của giải pháp
a.Mục tiêu của giải pháp
Đối với phân công chuyên môn:
Hàng năm phân công đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn vững, có kinh nghiệm dạy từng khối lớp; có trách nhiệm cao, nhiệt tình, có khả năng giao tiếp tốt với học sinh, cha mẹ học sinh để dạy học sinh ở điểm trường buôn Drai Khi nhận bàn giao học sinh từ trường mầm non E Tung vào lớp 1/buôn Drai phải
cử những giáo viên có kinh nghiệm dạy lớp 1 đi nhận bàn giao học sinh
Sau khi tuyển sinh phải phân công giáo viên dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh làm quen với lớp 1 và 2 tuần 0 để học sinh làm quen với lớp, có thêm vốn từ tiếng Việt
Bố trí giáo viên dạy tiếng Ê đê nhiệt tình, có trình độ chuyên môn và trách nhiệm cao, thông thạo tiếng địa phương hỗ trợ giáo viên chủ nhiệm lớp, phân công nhân viên thư viện cho học sinh mượn truyện, báo thiếu nhi… để học sinh
có thêm nguồn tư liệu học,
Phân công nhân viên thư viện 1 ngày/tuần đi phân hiệu cho học sinh mượn truyện để tạo hứng thú trong học tập của học sinh, làm cho học sinh nhận thấy học tiếng Việt là có ích và thực sự cần thiết, tạo niềm đam mê trong học tập của các em, tạo môi trường thân thiện để các em tham gia, tạo động cơ “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” đối với học sinh để từng bước nâng cao hơn nữa
Trang 77
chất lượng dạy học
- Đối với chỉ đạo giáo viên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ
Chỉ đạo giáo viên dạy học theo Chuẩn kiến thức và kỹ năng, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, phù hợp với địa phương, dạy học tới từng học sinh; tăng cường việc chấm, chữa bài tại chỗ học sinh ngồi để giáo viên chỉ ra những lỗi sai của học sinh để giúp các em tự sửa những lỗi của mình; kịp thời động viên, khích lệ những cố gắng dù nhỏ nhất của học sinh
Giáo viên điều chỉnh thời gian dạy học của các môn học khác để tăng thêm thời gian cho môn Tiếng Việt
Tăng cường tích hợp dạy Tiếng Việt trong các môn học, các hoạt động giáo dục Vận dụng các phương pháp dạy học Tiếng Việt với tư cách dạy học ngôn ngữ thứ hai; tăng thời gian luyện đọc, luyện viết cho học sinh
Đối với công tác phối hợp với các đoàn thể và chính quyền địa phương Tăng cường sự phối hợp với chính quyền địa phương, cha mẹ học sinh trong việc huy động học sinh ra lớp và xây dựng cơ sở vật chất cho các trường Phối hợp với đội thanh niên tình nguyện; Đoàn thanh niên của buôn để giúp đỡ nhà trường trong việc tăng cường công tác sinh hoạt Đội - Sao để học sinh được tham gia các hoạt động tập thể từ đó giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, động viên các em đi học chuyên cần
b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Các giải pháp trong công tác quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng đọc, viết của HSDTTS: Cần kiểm tra, thống kê cụ thể số học sinh đọc, viết yếu:
Vào đầu năm học sau khi phân công chuyên môn, lãnh đạo nhà trường đi
dự giờ trên lớp, nắm bắt chất lượng sơ bộ đọc , viết của học sinh; từ thực tiễn dự giờ đột xuất trên lớp ngay từ đầu năm học chỉ đạo bộ phận chuyên môn phát phiếu cho giáo viên chủ nhiệm thông kê số học sinh đọc viết yếu:
Trang 88
- Thống kê số học sinh đoc, viết yếu/điểm trường buôn Drai theo các thứ
tự cột, mục sau:
+ Khối/lớp/Tổng số học sinh/ Tổng số HSDTTS/ Nữ HSDTTS/ số hs đọc yếu/số học sinh viết yếu
+ Sau khi nắm bắt số lượng cụ thể học sinh; yêu cầu giáo viên chủ nhiệm lập danh sách học sinh đọc, viết yếu để có biện pháp giáo dục, phối hợp:
STT/Họ và tên hs/năm sinh/Chỗ ở/Con ông/Con bà/ hoàn cảnh gia đình( kinh tế, sự quan tâm chăm sóc của bố, mẹ)
- Khi đã thống kê cụ thể số học sinh trên yêu cầu bộ phận chuyên môn tập huấn lại các văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, Hướng dẫn dạy học sinh dân tộc thiểu số
Đặc điểm của giáo viên nắm bắt các văn bản chỉ đạo rất chung chung, nếu CBQL không chú ý cụ thể hóa các văn bản thì việc nắm bắt các yêu cầu về dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng lớp giáo viên không nắm chắc vì vậy thực hiện nhiều lúc còn mang tính cảm tính, hình thức; vì vậy cần yêu cầu tập huấn trọng tâm mốt số văn bản sau để giáo viên nắm chắc yêu cầu chuẩn kiến thức đọc, viết/các khối lớp; giáo viên phải ghi vào sổ tích lũy chuyên môn:
Quyết định số 16/2006/QĐ- BGD ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình giáo dục phổ thông
Riêng về tốc độ đọc (đọc thông), tốc độ viết (Viết chính tả) căn cứ vào các văn bản hướng dẫn chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đà tạo; tài liệu chuẩn môn Tiếng Viêt từng lớp đều có bảng xác định mức độ cần đạt theo từng giai đoạn để giáo viên xác định rõ “ mốc” cần đạt, cụ thể như sau:
Trang 9Khoảng 25 chữ/15 phút
Khoảng 30 chữ/15 phút
Khoảng 45 chữ/15 phút
Khoảng 50 chữ/15 phút
Khoảng 65 chữ/15 phút
Khoảng 70 chữ/15 phút
Khoảng 85 chữ/15 phút
Khoảng 90 chữ/15 phút
Lớp 5
Trang 10Khoảng 115 chữ/15 phút
Khoảng 120 chữ/15 phút
Các giải pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ
Những giải pháp cụ thể cho từng phân môn:
Tổ chức cho lớp 1 dạy Tiếng Việt – Công nghệ giáo dục, tăng khả năng thực hành của học sinh được đọc, viết nhiều hơn
Phân môn Học vần: Là phân môn chiếm nhiều thời lượng nhất của môn Tiếng Việt Nếu học sinh không thuộc được các chữ cái, biết ghép các vần thì học sinh không thể đọc, viết cũng như học các môn học khác được Vì vậy trong công tác chỉ đạo, chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau:
Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm lớp tạo mọi điều kiện về thời gian và tài liệu, thiết bị dạy học để học sinh được thực hành các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói và phát triển nhiều nhất hai kỹ năng đọc, viết
Tăng thời lượng dạy học phân môn Học vần từ 2 tiết lên 3 tiết Sử dụng nhiều hình thức dạy học sinh động để tạo hứng thú cho học sinh trước khi bước vào bài học mới: Hội thoại tự nhiên giữa giáo viên và học sinh; vào bài bằng một bài hát, một câu chuyện nhỏ, một câu đố vui, tổ chức nhiều trò chơi học tập cho học sinh tham gia,…
Sử dụng triệt để các đồ dùng được cấp phát trong dạy học, giáo viên tăng cường làm và sưu tầm các đồ dùng dạy học đơn giản, có sẵn ở địa phương
Rèn cho học sinh đọc đúng, viết đúng các âm, vần, tiếng dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương: Phụ âm đầu: b/v; dấu thanh: hỏi/nặng; ngã/sắc Cho các em đọc liên tục các câu đơn giản: Bố bế bé, bé vẽ bò bê,…
Trang 1111
Để việc rèn kỹ năng phát âm cho HSDTTS đạt hiệu quả, trước hết giáo viên phải chuẩn về phát âm tiếng Việt, nếu giáo viên phát âm không chuẩn thì sẽ làm các em phát âm sai
Việc sửa lỗi phát âm cho các em phải được chú trọng và thực hiện trong mọi lúc, mọi nơi, trong tất cả các giờ học, môn học Giáo viên đứng lớp phải tạo không khí thân thiện, môi trường giao tiếp thuận lợi để khuyến khích các em phát huy khả năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Tổ chức các hình thức dạy học phong phú cho các em có nhiều cơ hội được đọc, viết Trong giờ học, cần đặt những câu hỏi gợi mở, ngắn gọn, đưa ra các tình huống giao tiếp thuận lợi giúp các em chủ động phát triển vốn ngôn ngữ tiếng Việt Đặc biệt, giáo viên phải biết động viên, khuyến khích các em nói, khéo léo chỉnh sửa khi nghe các em phát âm sai hoặc dùng từ, đặt câu chưa đúng
Tăng cường sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động, các hình thức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
Không giải nghĩa từ bằng từ điển mà nên giải nghĩa từ bằng các hình ảnh trực quan, các vật thật hoặc đưa các từ vào trong văn cảnh cụ thể để học sinh hiểu được nghĩa của từ
Sử dụng ngữ liệu chứa nội dung hấp dẫn, sưu tầm các câu đồng giao, thơ
để giúp học sinh dễ thuộc, viết đúng các chữ cái
Hoặc sử dụng một số câu đố vui để giới thiệu một số âm, vần thay cho việc yêu cầu học sinh quan sát tranh để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh
Hạn chế tối đa sử dụng tiếng địa phương trong dạy học Chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết với học sinh
Phân môn Tập đọc
Kết hợp nhiều hình thức, biện pháp tổ chức dạy đọc thích hợp để huy động được nhiều học sinh đọc Một trong những hình thưc tối ưu đó là chia nhóm, đọc nối tiếp Tăng số lần học sinh đọc/ 1 tiết