1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ hệ thống hóa các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ thực hiện kỹ thuật ném rổ từ xa

200 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ Thống Hóa Các Bài Tập Nhằm Phát Triển Sức Mạnh Tốc Độ Thực Hiện Kỹ Thuật Ném Rổ Từ Xa Đối Với Vận Động Viên Nữ Bóng Rổ Đội Tuyển Quảng Ninh
Tác giả Đinh Đắc Thi
Người hướng dẫn GS.TS Dương Nghiệp Chí, TS. Phạm Thế Vượng
Trường học Viện Khoa Học Thể Dục Thể Thao
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.1. Quá trình hình thành và phát triển môn bóng rổ (15)
      • 1.1.1. Lịch sử phát triển bóng rổ thế giới (15)
      • 1.1.2. Sự phát triển của bóng rổ Việt Nam (16)
    • 1.2. Đặc điểm và xu thế phát triển bóng rổ (18)
      • 1.2.1. Đặc điểm chung môn bóng rổ (18)
      • 1.2.2. Những xu hướng của bóng rổ hiện đại (23)
    • 1.3. Cơ sở lý luận huấn luyện sức mạnh tốc độ bóng rổ (25)
    • 1.4. Cơ sở lý luận về kỹ thuật thể thao (29)
      • 1.4.1. Dạy học kỹ thuật thể thao (29)
      • 1.4.2. Đặc điểm huấn luyện thể thao thanh thiếu niên (37)
    • 1.5. Đặc điểm phát triển về hình thái, chức năng tâm - sinh lý của vận động viên nữ (38)
    • 1.6. Các công trình nghiên cứu liên quan (41)
      • 1.6.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (41)
      • 1.6.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (43)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU . 37 2.1. Đối tượng nghiên cứu (48)
    • 2.1.1 Đối tượng chủ thể nghiên cứu (48)
    • 2.1.2 Đối tượng khách thể nghiên cứu (48)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (48)
      • 2.2.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu (48)
      • 2.2.2. Phương pháp phỏng vấn (49)
      • 2.2.3. Phương pháp quan trắc video (49)
      • 2.2.4. Phương pháp kiểm tra y sinh (50)
      • 2.2.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm (54)
      • 2.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (61)
      • 2.2.7. Phương pháp toán học thống kê (62)
    • 2.3. Tổ chức nghiên cứu (65)
      • 2.3.1. Phạm vi nghiên cứu (65)
      • 2.3.2. Kế hoạch nghiên cứu (65)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (67)
    • 3.1. Nghiên cứu thực trạng trình độ tập luyện (sức mạnh tốc độ) làm cơ sở nâng cao năng lực ném rổ từ xa (67)
      • 3.1.1. Lựa chọn các chỉ tiêu, test đánh giá sức mạnh tốc độ cho nữ vận động viên Đội tuyển bóng rổ Quảng Ninh (67)
      • 3.1.2. Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh tốc độ của vận động viên Đội tuyển nữ bóng rổ Quảng Ninh (82)
      • 3.1.3. Đánh giá thực trạng sức mạnh tốc độ của vận động viên Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh (88)
      • 3.1.4. Bàn luận (97)
    • 3.2. Nghiên cứu kỹ thuật ném rổ từ xa và một số yếu tố có liên quan (101)
      • 3.2.1. Phân tích kỹ thuật (101)
      • 3.2.2. Xác định các điểm cần quan sát trong kỹ thuật (107)
      • 3.2.3. Đánh giá kỹ thuật ném rổ từ xa của nữ VĐV đội tuyển bóng rổ Quảng (111)
      • 3.2.4. Bàn luận (114)
    • 3.3. Hệ thống hoá và ứng dụng các bài tập nhằm phát triển kỹ thuật ném rổ từ xa trong kế hoạch huấn luyện của Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh (116)
      • 3.3.1. Hệ thống hoá các bài tập phát triển kỹ thuật ném rổ từ xa trong kế hoạch huấn luyện của vận động viên nữ đội tuyển Quảng Ninh (116)
      • 3.3.2. Đánh giá hiệu quả hệ thống bài tập ném rổ từ xa đối với phát triển trình độ và hiệu suất ghi điểm từ xa của Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh (130)
      • 3.3.3. Bàn luận (164)
    • A. Kết luận (170)
    • B. Kiến nghị (171)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (174)
  • PHỤ LỤC (183)

Nội dung

TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Quá trình hình thành và phát triển môn bóng rổ

1.1.1 Lịch sử phát triển bóng rổ thế giới

Môn bóng rổ được sáng lập vào tháng 12 năm 1891 bởi Dr James Naismith, giáo viên thể chất tại Trường huấn luyện Springfield, Massachusetts, Hoa Kỳ Ông đã phát triển trò chơi này dựa trên các trò chơi ném bóng trước đó như Pok và Ollamalituli Với những nét mới lạ và hấp dẫn, bóng rổ nhanh chóng được công nhận và lan rộng khắp nước Mỹ, hiện nay trở thành một môn thể thao thu hút hàng chục triệu người trên toàn cầu.

Tháng 12 năm 1981 G Nâyssmit đã soạn thảo những điều luật thi đấu đầu tiên cho môn bóng rổ và dùng nó để tổ chức trận đấu Năm 1892 ông đã cho xuất bản “Sách luật chơi bóng rổ” gồm 15 điều mà phần lớn những điều ấy dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến ngày nay

Vào năm 1894, khi Luật bóng rổ chính thức được ban hành, môn thể thao này đã nhanh chóng lan rộng sang các nước phương Đông như Nhật Bản, Trung Quốc và Philippines, trước khi đến châu Âu và Nam Mỹ Bóng rổ lần đầu tiên được tổ chức thi đấu biểu diễn tại Thế vận hội Olympic lần thứ 3 vào năm 1904.

Từ năm 1919 đến 1931, các hiệp hội bóng rổ quốc gia được thành lập và khởi đầu các cuộc thi đấu giao hữu quốc tế Đặc biệt, vào năm 1923, các trận đấu bóng rổ quốc tế đầu tiên dành cho nữ đã diễn ra tại Pháp, với sự tham gia của các đội từ Ý, Pháp và Tiệp Khắc.

Ngày 18 tháng 6 năm 1932, Liên đoàn Bóng rổ Quốc tế (FIBA) được thành lập với sự tham gia của đại diện từ 8 quốc gia: Ý, Argentina, Hy Lạp, Latvia, Bồ Đào Nha, Romania, Thụy Sĩ và Tiệp Khắc Cuộc họp quốc tế đầu tiên đã thống nhất về việc thành lập FIBA và thông qua các điều luật thi đấu Năm 1935, Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận bóng rổ là môn thể thao Olympic, và năm 1936, môn thể thao này lần đầu tiên xuất hiện tại Thế vận hội lần thứ 11 ở Berlin với sự tham gia của 21 quốc gia, trong đó đội tuyển Mỹ giành chức vô địch Đến năm 1938, giải vô địch bóng rổ nữ Châu Âu đầu tiên được tổ chức tại Rome, nơi đội nữ Ý đã giành chiến thắng.

Vào năm 1948, HLV người Mỹ T.Arter đã giới thiệu môn Bóng rổ mini, dành cho trẻ em từ 8 đến 12 tuổi với các quy tắc đơn giản hơn Bóng có kích thước nhỏ hơn (chu vi 68-73cm, trọng lượng 450-500g) và rổ cao 2,60m, khoảng cách từ bảng rổ đến vạch phạt là 4m Kích thước sân thi đấu là 28m dài và 15m rộng, không có vòng 3 điểm, với mặt bảng ngang 1,20m và thẳng đứng 0,9m Trò chơi này, có tên gọi "Basketball" (Basket-Rổ, Ball-Bóng), đã trải qua hơn một thế kỷ phát triển và trở thành một trong những môn thể thao phổ biến nhất trên thế giới, nổi bật với không gian cao, tốc độ nhanh, sức mạnh lớn và kỹ năng phức tạp.

1.1.2 Sự phát triển của bóng rổ Việt Nam

Vào đầu thế kỷ XX, bóng rổ đã được du nhập vào Việt Nam cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, nhưng chỉ phát triển hạn chế trong một số trường học, công sở và trong quân đội Pháp tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Huế Thời kỳ này, bóng rổ chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị, kỹ thuật còn non kém và tinh thần thi đấu thường mang tính chất cay cú, ăn thua.

Sau Cách mạng tháng 8, phong trào thể dục thể thao, đặc biệt là bóng rổ, đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng phát triển Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống Pháp đã khiến phong trào tạm lắng để tập trung cho chiến tranh Đến năm 1954, sau khi hòa bình lập lại, bóng rổ ở miền Bắc đã phát triển mạnh mẽ với các trung tâm tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Cao Bằng và Lạng Sơn, cùng với sự tham gia của các ngành và lực lượng vũ trang Hàng năm, các giải vô địch miền Bắc được tổ chức, bao gồm Giải hạng A, hạng B cho nam nữ, giải vô địch các đội mạnh và giải thanh thiếu niên.

Từ năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, phong trào bóng rổ đã phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo thanh niên học sinh tham gia Kể từ năm 1985, bóng rổ đã trở thành môn thi đấu trong hệ thống Quốc gia, với sự hiện diện của các đội từ Bắc vào Nam như Bắc Ninh, Yên Bái, Quảng Ninh, và Phòng Không Không Quân Tại miền Trung và Nam bộ, các đội như Ninh Thuận, Bình Thuận, Tp Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, và Cần Thơ cũng góp mặt trong phong trào này.

Bóng rổ Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể trong những năm gần đây, mặc dù trước đó tiến bộ diễn ra chậm Trong vài năm qua, môn thể thao này đã hồi phục và phát triển thông qua giải bóng rổ các đội mạnh toàn quốc Năm 1996, giải đấu có sự tham gia của 7 đội nam và 6 đội nữ, trong đó chỉ có 2 đội nữ có vận động viên với độ tuổi trung bình dưới mức quy định.

Nhiều VĐV bóng rổ nam tại Việt Nam đã qua tuổi thi đấu đỉnh cao và giảm sút thể lực, trong khi chiều cao trung bình của họ vẫn còn thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả thi đấu Tính đến nay, các trận đấu bóng rổ thường có điểm số không vượt quá 100 điểm Tuy nhiên, bóng rổ đã có những bước tiến với việc thường xuyên giao lưu và thi đấu quốc tế, tham gia các giải khu vực như SeaGames, đồng thời mời các chuyên gia từ Trung Quốc, Úc và Philippines đến Việt Nam để giảng dạy và huấn luyện.

Từ năm 2016 đã có Giải bóng rổ chuyên nghiệp Việt Nam (Vietnam

Basketball Association), được viết tắt VBA.

Đặc điểm và xu thế phát triển bóng rổ

1.2.1 Đặc điểm chung môn bóng rổ

Bóng rổ là môn thể thao tập thể và là một phần của Thế vận hội Olympic cũng như các kỳ đại hội thể thao Châu Á và Đông Nam Á (SEA Games) Trận đấu diễn ra trên sân có kích thước 28m x 15m giữa hai đội, mỗi đội gồm 5 người, kéo dài 40 phút Mục tiêu của môn thể thao này là ngăn chặn đối phương ghi điểm và nỗ lực ghi điểm vào rổ của đối thủ Kết quả trận đấu thường có điểm số cao, trung bình từ 80-85 điểm, với tần suất thay đổi tỷ số lớn (mỗi 30 giây thay đổi một lần) và không có tỷ số hòa Để đạt được mục tiêu này, các thành viên trong đội cần phối hợp nhịp nhàng để thực hiện nhiệm vụ chung.

Mỗi trận đấu bóng rổ bao gồm 4 hiệp, mỗi hiệp kéo dài 10 phút không tính thời gian bóng chết Thời gian nghỉ giữa hiệp 1-2 và hiệp 3-4 là 2 phút, trong khi nghỉ giữa hiệp 2-3 là 15 phút Các đội có quyền gọi hội ý 2 lần (1 phút/lần) trong hiệp 1-2 và 3 lần trong hiệp 3-4 Ngoài ra, họ có thể sử dụng tối đa 2 lần hội ý trong 2 phút cuối của hiệp 4 và 1 lần trong mỗi hiệp phụ kéo dài 5 phút.

Các VĐV trên sân thể hiện hành động có định hướng rõ ràng theo từng vị trí, được phân chia thành trung phong, tiền phong và hậu vệ Trung phong thường là những VĐV cao nhất trong đội, sở hữu thể lực và sức bật tốt, trong khi tiền phong đóng vai trò quan trọng trong việc ghi bàn và hỗ trợ tấn công.

Vận động viên có chiều cao lý tưởng, nhanh nhẹn và sức bật tốt, cùng với khả năng ném rổ chính xác và đánh giá tình huống hiệu quả Họ tấn công một cách kiên quyết và dũng cảm Trong khi đó, hậu vệ cần có sức mạnh, sự linh hoạt và bền bỉ tối đa, đồng thời thể hiện sự khôn ngoan và thận trọng trong từng pha bóng.

Sân thi đấu bóng rổ được phân chia thành ba khu vực chính: khu vực bên ngoài vạch 3 điểm 6m75 (guards), khu vực giữa vòng 3 điểm và khu vực hình chữ nhật (forward), cùng với khu vực trung tâm bên trong hình chữ nhật (center) Mỗi khu vực này tương ứng với vị trí hoạt động chủ yếu của từng cầu thủ.

Hậu vệ ném xa (Shooting Guard) là cầu thủ nhanh nhẹn, có khả năng cản phá hiệu quả tiền phong đối phương và là người chuyền bóng xa tốt nhất Họ thường thực hiện những cú ném rổ chính xác từ cự ly 3 điểm Ngoài ra, cầu thủ ở vị trí này cũng có thể chơi tốt ở vị trí tiền đạo phụ (small forward), và những người chơi ở cả hai vị trí trong trận đấu được gọi là “Swingmen”.

Hậu vệ điều phối bóng (Point Guard) được xem là nhạc trưởng của đội bóng, có nhiệm vụ phòng thủ và phát động tấn công Cầu thủ ở vị trí này cần có kỹ thuật chuyền bóng, dẫn bóng, giữ bóng và khả năng quan sát nhạy bén Họ thường là người cầm bóng nhiều nhất, từ phần sân của mình sang sân đối phương, và điều khiển hướng tấn công của đội Mặc dù có thể hình nhỏ hơn các vị trí khác, nhưng họ rất nhanh nhẹn và xử lý bóng một cách sắc sảo.

Tiền phong phụ (Small Forward) là một vị trí quan trọng trong đội bóng, đảm nhận vai trò tương tự như hậu vệ điều phối bóng, với khả năng chạy chỗ linh hoạt để tạo khoảng trống Cầu thủ ở vị trí này cần có kỹ năng ném bóng tốt và được xem là điểm chủ chốt trong phòng thủ Họ thường là những người chơi 1 đấu 1 xuất sắc và có khả năng ném bóng từ xa tốt hơn so với tiền đạo chính, do đó, cầu thủ ở vị trí này thường phải có thể hình cao lớn.

Tiền phong chính (Power Forward) là vị trí mạnh mẽ nhất trong bóng rổ, đảm nhiệm vai trò quan trọng trong cả tấn công và phòng thủ Người chơi ở vị trí này thường ghi điểm cận rổ và tranh bóng gần rổ, với nhiệm vụ chính là ghi càng nhiều điểm càng tốt Tiền phong chính thường là người chơi gần nhất với trung phong, theo đúng chiến thuật mà huấn luyện viên đã xác định.

Trung phong (Center) là cầu thủ cao nhất trong đội, có vai trò tương tự như tiền phong chính nhưng với tầm hoạt động hẹp hơn Họ cần có khả năng tranh bóng tốt, ghi điểm gần rổ khi tấn công và cản phá các pha ném bóng gần rổ khi phòng thủ Vị trí này còn yêu cầu phong tỏa không cho đối phương tranh bóng trong khu vực sân nhà Những cầu thủ ở vị trí này thường được gọi là Bigman, vì họ có thể hình cao lớn, không nhất thiết phải nhanh nhẹn hay có kỹ thuật chơi bóng điêu luyện như các vị trí khác.

Hoạt động trong thi đấu bóng rổ rất đa dạng và thay đổi liên tục:

Trong thi đấu bóng rổ, quá trình tấn công và phòng thủ diễn ra liên tục với nhiều hoạt động đa dạng như ném rổ, chuyền bóng và đột phá Nghiên cứu của Mclnnes (1995) phân loại hoạt động di chuyển thành 8 loại, bao gồm chạy, trượt phòng thủ và bật nhảy Tỷ lệ thời gian thực hiện các hoạt động này cho thấy di chuyển trượt phòng thủ chiếm 34,6%, chạy 31,2%, và bật nhảy 4,6%, trong khi hoạt động đứng và đi bộ chiếm 29,6% thời gian thi đấu Tần số thay đổi hoạt động là 997 ±183, cho thấy sự biến đổi liên tục trong thi đấu bóng rổ, với nhiều chuyển đổi giữa các dạng hoạt động chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.

Thi đấu bóng rổ là một hoạt động không liên tục, với những khoảng thời gian giãn cách giữa các pha hành động Trận đấu có thể kéo dài đến 1 giờ 30 phút, nhưng vẫn duy trì cường độ hoạt động cao.

Giải đấu bóng rổ năm 2003 được chia thành 4 hiệp, với mỗi đội có quyền sử dụng 5 lần hội ý, mỗi lần kéo dài 1 phút Trong suốt trận đấu, có trung bình 22,25 lần dừng ngẫu nhiên khác do bóng ra biên, cầu thủ phạm lỗi, ném phạt, và hội ý của trọng tài Thời gian cho mỗi lần dừng ngẫu nhiên này góp phần tạo nên nhịp điệu và sự kịch tính của trận đấu.

Trong hiệp thi đấu bóng rổ, tỷ lệ giữa hoạt động và nghỉ ngơi của vận động viên thường là 1:1 hoặc thấp hơn, và khi xem xét toàn trận, tỷ lệ này có thể lên tới 1:3 Giá trị trung bình của các đợt hoạt động cường độ cao là 134,5 ± 32,4 lần, trong khi cường độ dưới tối đa là 150,3 ± 40,6 lần Các đợt hoạt động cường độ cao kéo dài từ 1,5 đến 35 giây, với mật độ giữa hai cường độ này là 1:1,12 Điều này cho thấy một trận đấu bóng rổ kéo dài khoảng 1:30 giờ (bao gồm cả thời gian nghỉ và bóng chết) được chia thành nhiều đoạn ngắn giữa các đợt hoạt động cường độ cao và cường độ dưới tối đa.

Nguồn cung cấp năng lượng trong thi đấu bóng rổ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau do tính đa dạng của hoạt động này.

Cơ sở lý luận huấn luyện sức mạnh tốc độ bóng rổ

Khái niệm về sức mạnh tốc độ và các quan điểm về sức mạnh tốc độ có nhiều, rất đa dạng, có một số quan điểm cơ bản sau:

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: Sức mạnh tốc độ là sức mạnh được sinh ra trong các động tác nhanh [67]

Theo D Harre: Sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục lực cản với tốc độ co cơ cao của VĐV [15]

Theo William J.Kraemer, Steven J Fleck (1993): Sức mạnh tốc độ là năng lực biểu hiện trị số sức mạnh lớn trong một thời gian ngắn nhất [95]

Theo Nguyễn Thế Truyền và cộng sự (2002): sức mạnh tốc độ là sức mạnh động lực tính theo đơn vị thời gian [72]

Sức mạnh tốc độ được định nghĩa là khả năng tối đa của cơ bắp thực hiện các động tác trong thời gian ngắn nhất với biên độ nhất định.

Hoạt động thi đấu bóng rổ đỉnh cao diễn ra nhanh và liên tục, thời gian

Trận thi đấu bóng rổ kéo dài hơn 1 giờ, do đó nguồn cung cấp năng lượng hỗn hợp ưa – yếm khí rất quan trọng Các HLV bóng rổ Việt Nam thường huấn luyện các bài tập sức mạnh tốc độ với cường độ cao, nhưng điều này có thể dẫn đến mệt mỏi quá sức cho VĐV, ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn và buổi tập tiếp theo Hệ quả là các VĐV thường gặp khó khăn trong việc duy trì thể lực khi đối mặt với nhịp độ thi đấu cao trong các giải quốc tế Để cải thiện sức mạnh tốc độ và đảm bảo thể lực cho đội tuyển bóng rổ Việt Nam trong các giải đấu đỉnh cao, cần có các phương pháp khoa học hiệu quả.

Môn bóng rổ hiện đại đòi hỏi vận động viên có sức mạnh vượt trội, thể hiện qua khả năng nhảy cao, tốc độ nhanh và sự khéo léo trong các động tác di chuyển Những yếu tố này không chỉ quan trọng cho sức bền mà còn quyết định đến hiệu suất thi đấu của VĐV.

Trong thi đấu bóng rổ, tố chất thể lực sức mạnh kết hợp với sức nhanh của chuyển động là rất quan trọng Năng lực sức mạnh được phân chia thành sức mạnh tĩnh và sức mạnh vận động chậm, nhưng sức mạnh tốc độ lại đóng vai trò chủ yếu Việc phát triển sức mạnh tốc độ sẽ giúp nâng cao hiệu quả thi đấu trong môn thể thao này.

Theo nghiên cứu, hơn 70% động tác trong bóng rổ yêu cầu sức mạnh tốc độ, do đó, việc huấn luyện sức mạnh tốc độ là rất cần thiết Năng lực sức mạnh tốc độ được định nghĩa là khả năng vượt qua các lực cản với tốc độ co cơ cao của vận động viên Đây là một tố chất quan trọng, thể hiện sự kết hợp giữa sức mạnh và tốc độ trong quá trình hoạt động thể chất.

Trong thể thao, sức mạnh và tốc độ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong các môn như ném, đẩy, chạy và nhảy Mỗi môn thể thao yêu cầu những tố chất khác nhau về sức mạnh và tốc độ để đạt hiệu quả tối ưu.

Để đạt được tốc độ cao nhất, con người cần vượt qua lực cản lớn, và tốc độ đạt được phụ thuộc vào sức mạnh cơ bắp Mối quan hệ giữa lực và tốc độ trong các hoạt động khác nhau có thể được biểu diễn bằng hàm số Hympebol (P + a).(P + b) = const.

Trong đó P: là lực do còn người phát huy; a, b là hằng số

Việc phân loại các động tác thể thao dựa trên logic nhất định nhằm nhận thức bản chất và đặc điểm của môn thể thao, từ đó giúp chọn lựa động tác hiệu quả hơn Phân loại thường dựa vào các kỹ năng hoạt động cơ bản như chạy, nhảy, leo trèo, trườn, bò, và mang vác Ngoài ra, phân loại cũng dựa vào các tố chất thể lực, chẳng hạn như phát triển tốc độ qua chạy cự ly ngắn hay phát triển sức mạnh qua cử tạ Thực tế cho thấy, ít có loại động tác chỉ tập trung vào một tố chất thể lực mà thường là sự kết hợp của nhiều tố chất ưu thế.

Sự phát triển sức mạnh tốc độ không chỉ nâng cao tốc độ co cơ mà còn tối đa hóa sức mạnh vận động Để đạt được tốc độ vận động cao, cần phải kết hợp huấn luyện sức mạnh tối đa và sức mạnh nhanh Phương pháp huấn luyện này rất quan trọng, yêu cầu tối ưu hóa khả năng chuyển đổi từ sức mạnh tối đa sang sức mạnh tốc độ Để đạt hiệu quả cao, huấn luyện sức mạnh tốc độ cần phải chính xác về kỹ thuật động tác, điều này giúp sử dụng sức mạnh tốc độ hiệu quả và tránh lãng phí năng lượng cho những hoạt động không cần thiết.

Trong bóng rổ, các kỹ năng như bật nhảy, ném rổ, phòng thủ, phản công nhanh và đột phá đều yêu cầu sự kết hợp giữa sức mạnh và tốc độ Việc phát huy tối đa sức mạnh trong những tình huống thuận lợi là yếu tố quyết định để dứt điểm hiệu quả.

Để đạt hiệu quả cao trong thi đấu, vận động viên cần tạo ra lực nhanh, mạnh và bất ngờ, nhằm tổng hợp lực lớn với tốc độ cao Bên cạnh đó, khả năng của sợi cơ và các nhóm cơ tham gia hoạt động cũng rất quan trọng, vì chúng ảnh hưởng đến sự hưng phấn và kích thích cần thiết cho vận động viên Động tác phải được thực hiện với hiệu suất tối ưu, trong đó lực và tốc độ được tạo ra từ công suất lớn nhất mà không có yếu tố cản trở nào.

Sức mạnh bột phát trong thi đấu Bóng rổ là một yếu tố quan trọng, cho phép vận động viên phát huy lực lớn trong thời gian ngắn nhất Để đánh giá sức mạnh bột phát, người ta thường sử dụng chỉ số sức mạnh tốc độ.

Trong đó I là chỉ số sức mạnh tốc độ

Fmax: là trị số sức mạnh tối đa tmax: là thời gian đạt được sức mạnh tối đa

Sức mạnh bột phát là yếu tố quan trọng trong thi đấu bóng rổ, thể hiện qua các tình huống như nhảy ném và tranh cướp bóng Để đạt được hiệu suất tối đa, vận động viên cần có sự co rút nhanh, phụ thuộc vào sức mạnh và tốc độ của cơ thể.

Thực tế cho thấy đặc trưng của sức mạnh tốc độ được thể hiện ở:

Cường độ hoạt động cao

Thời gian hoạt động cho mỗi lần thực hiện

Khối lượng nhỏ, số lần lặp lại ít

Để hệ thống hóa các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho kỹ thuật ném rổ từ xa, cần nghiên cứu mối quan hệ giữa sức mạnh và kỹ thuật trong thể thao thành tích cao Sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh tốc độ, có vai trò quan trọng trong kỹ thuật ném rổ 3 điểm Bên cạnh đó, hiệu quả thi đấu còn phụ thuộc vào các tố chất thể lực khác như sức nhanh, sức bền, sự mềm dẻo và khéo léo của vận động viên.

Thi đấu bóng rổ còn cần nhiều loại kỹ thuật khác như giữ bóng, dẫn bóng, chuyền bóng [54], [93]

Tố chất sức mạnh đóng vai trò quan trọng trong kỹ thuật ném rổ từ xa, liên quan đến sức mạnh của chi dưới, lưng và tay Để hệ thống hóa các bài tập phát triển sức mạnh hiệu quả, cần nắm vững lý luận huấn luyện sức mạnh, bao gồm các khái niệm liên quan, yếu tố ảnh hưởng và phương pháp huấn luyện thích hợp.

Cơ sở lý luận về kỹ thuật thể thao

1.4.1 Dạy học kỹ thuật thể thao

Trong những năm 90, Việt Nam đã xuất bản một số sách lý luận về phương pháp giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao, mở đầu cho việc nghiên cứu lý luận dạy kỹ thuật thể thao Các tác giả đã xác định rõ nhiệm vụ và đặc điểm của việc dạy học động tác kỹ thuật thể thao.

Trong quá trình dạy học các động tác, người ta thường phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

Tạo một “vốn vận động ban đầu” làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo, cao hơn

Dùng làm các bài tập “dẫn dắt” hoặc như các phương tiện để tác động có chủ đích đến sự phát triển các năng lực thể chất riêng

Hình thành và phát triển các kỹ năng vận động cơ bản là rất quan trọng cho cuộc sống hàng ngày, lao động, thể thao và nhiều lĩnh vực khác Việc đạt được sự hoàn thiện trong những kỹ năng này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn nâng cao hiệu suất trong các hoạt động thường nhật.

Tính chất của các nhiệm vụ và đặc điểm của các động tác cần học đã chi phối đặc điểm quá trình dạy học

Thực hiện các nhiệm vụ có độ khó khác nhau yêu cầu thời gian khác nhau và phụ thuộc vào độ phức tạp cấu trúc của động tác Độ phức tạp này được xác định bởi số lượng cử động, yêu cầu về độ chính xác trong không gian và thời gian, cũng như khả năng phối hợp vận động Phương pháp dạy học cũng ảnh hưởng đến độ phức tạp, ví dụ, động tác đơn giản thường học nguyên vẹn, trong khi động tác phức tạp được chia thành từng phần Mối liên quan giữa các giai đoạn chuẩn bị, cơ bản và kết thúc của động tác cũng rất quan trọng, có thể bắt đầu từ phần cơ bản hoặc chuẩn bị tùy thuộc vào động tác Đặc điểm dạy học còn phụ thuộc vào mức độ thể lực yêu cầu; đối với động tác không yêu cầu cao về thể lực, có thể sử dụng phương pháp lặp lại ổn định, trong khi động tác đòi hỏi sức mạnh và tốc độ cần kết hợp với giáo dục thể lực tương ứng và hệ thống bài tập chuẩn bị Kỹ xảo vận động cần được hình thành và cải thiện dựa trên sự phát triển của các tố chất thể lực.

Trong dạy học các môn thể thao như bóng và các môn đối kháng cá nhân (vật, quyền anh, đấu kiếm), cần chú trọng đến các động tác có tính biến dạng cao Việc giảng dạy các động tác này nhằm đảm bảo mối liên hệ tối ưu giữa các yếu tố củng cố kỹ xảo vận động và các yếu tố tăng cường tính biến đổi hợp lý trong những điều kiện và tình huống thay đổi liên tục.

Cơ chế và quy luật hình thành kỹ năng vận động đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các giai đoạn của quá trình dạy học động tác Việc hiểu rõ những yếu tố này giúp giáo viên thiết kế chương trình giảng dạy hiệu quả hơn, từ đó nâng cao khả năng tiếp thu và phát triển kỹ năng cho học sinh.

Quá trình dạy học các động tác:

Giai đoạn dạy học ban đầu

Giai đoạn dạy học đi sâu

Giai đoạn củng cố và tiếp tục hoàn thiện

Trong những năm gần đây, lý luận về dạy học kỹ năng vận động đã được nhiều tác giả nâng cao và bổ sung Các tác giả chủ yếu tập trung vào việc hoàn thiện mục đích, nhiệm vụ và căn cứ của việc dạy học kỹ năng vận động.

Mục đích dạy học kỹ năng là “truyền thụ kỹ năng vận động và giáo dục con người”, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện

Các nhiệm vụ của dạy học kỹ năng vận động là:

Nắm vững tri thức cơ bản của thi đấu, kỹ thuật cơ bản và kỹ năng cơ bản (3 thứ cơ bản)

Nắm vững phương pháp thi đấu bao gồm giáo dục, huấn luyện, thi đấu, hồi phục và đánh giá là rất quan trọng Đồng thời, việc bồi dưỡng năng lực thi đấu thông qua tự học, huấn luyện, thi đấu, tự hồi phục và tự đánh giá cũng đóng vai trò then chốt trong quá trình phát triển kỹ năng.

Sửa chữa động tác sai, cải tiến động tác, cố gắng nâng cao tính hiệu quả và tính kinh tế của động tác

Dưới tiền đề sáng tạo, nâng cao trình độ kỹ thuật và chiến thuật

Tiến hành giáo dục sức khỏe và giáo dục nhân văn cho VĐV

Trong dạy học kỹ năng cho VĐV, ngày nay đặc biệt chú ý phát huy tính tự giác và sáng tạo của vận đông viên

Những căn cứ dạy học kỹ năng vận động:

Những căn cứ sinh học [2], [10], [61], [88]:

Quá trình hình thành kỹ năng vận động diễn ra qua các giai đoạn quan trọng, bao gồm nhận thức, phân loại, củng cố và tự động hóa, tạo nên một hệ thống phản xạ có điều kiện.

Quy luật chuyển dịch kỹ năng vận động chỉ ra rằng việc học một kỹ năng mới sau khi đã nắm vững một kỹ năng trước đó có thể tạo ra tác động tích cực hoặc tiêu cực Để tối ưu hóa ảnh hưởng này, huấn luyện viên cần áp dụng các phương pháp nhằm tận dụng sự chuyển dịch có lợi, từ đó cải thiện kỹ thuật mới hoặc phát triển các tố chất thể lực cần thiết.

Những căn cứ tâm lý học:

Xây dựng động cơ học kỹ năng vận động chính xác

Gây hứng thú, thỏa mãn nhu cầu dạy và học, chú ý tích lũy tri thức Tạo các phản xạ có điều kiện

Những căn cứ xã hội học:

Cải thiện quan hệ giữa dạy và học là điều cần thiết, bao gồm việc tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa giáo viên và học sinh, tạo sự hài hòa trong giao tiếp giữa các cá nhân, và hợp lý hóa cấu trúc tổ chức trong môi trường giáo dục.

Thỏa mãn nhu cầu của xã hội

Nhấn mạnh tinh thần phối hợp nhóm

Nguyên tắc dạy học là những quy tắc cơ bản trong quá trình giảng dạy, dựa trên mục tiêu và kỹ năng vận động Giá trị chính của các nguyên tắc này là cung cấp cơ sở cho huấn luyện viên trong việc hướng dẫn công tác giảng dạy Các nguyên tắc dạy học kỹ năng vận động chủ yếu bao gồm những yếu tố cần thiết để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Nguyên tắc tư duy kết hợp với thao tác là yếu tố quan trọng trong giảng dạy kỹ năng vận động, khác biệt so với các phương pháp giảng dạy thông thường Khi học, VĐV không chỉ thực hiện các kỹ thuật động tác mà còn nhận được sự hướng dẫn từ HLV về tư duy, cùng với việc giải thích các vấn đề liên quan đến sinh cơ, sinh lý, sinh hóa, và đặc điểm cá nhân cũng như môn thể thao mà họ tham gia.

Nguyên tắc trực quan là việc áp dụng phương pháp giảng dạy trực quan nhằm nâng cao tư duy và thực tiễn tích cực cho vận động viên Nguyên tắc này được triển khai từ giai đoạn bắt đầu giảng dạy động tác cho đến khi hoàn thiện và nâng cao chất lượng, giúp thực hiện động tác một cách sáng tạo.

Nguyên tắc kết hợp thích ứng lượng vận động với thực tế cá thể VĐV là phương pháp dạy kỹ năng vận động, điều chỉnh lượng vận động phù hợp với trí lực, thể lực và tâm lý của từng VĐV Nguyên tắc này nhằm nâng cao chất lượng kỹ thuật vận động và được áp dụng ngay từ khi bắt đầu dạy kỹ năng cho đến khi VĐV có khả năng thực hiện kỹ năng một cách sáng tạo.

Nguyên tắc kết hợp giữa việc nắm vững kết cấu và bồi dưỡng năng lực là yếu tố quan trọng giúp vận động viên (VĐV) hiểu rõ tri thức và kỹ năng của các động tác cơ bản, đồng thời phát triển những năng lực đặc biệt cần thiết cho từng VĐV.

Đặc điểm phát triển về hình thái, chức năng tâm - sinh lý của vận động viên nữ

Cơ thể phụ nữ có nhiều đặc điểm riêng biệt so với nam giới về hình thái và chức năng Chiều cao và cân nặng trung bình của phụ nữ thấp hơn nam giới khoảng 10%, dẫn đến sự khác biệt trong các chỉ số hình thái khác Chiều dài các bộ phận cơ thể và chi của phụ nữ ngắn hơn nam giới với tỷ lệ 1/1,1 Trong khi đó, chiều rộng vai của phụ nữ nhỏ hơn rõ rệt so với nam giới, nhưng chiều rộng hông lại lớn hơn Các chỉ số vòng đùi, vòng cánh tay, vòng ngực và các số đo khác như đường kính cơ, mạch máu đều nhỏ hơn ở phụ nữ với tỷ lệ 1/1,21 Về thể tích, phụ nữ cũng có thể tích phổi, buồng tim và máu lưu thông thấp hơn nam giới theo tỷ lệ 1/1,33, và trọng lượng cơ thể phụ nữ trong điều kiện tương tự cũng thấp hơn khoảng 1,33 lần so với nam giới.

Cơ thể phụ nữ có những đặc điểm riêng biệt, đặc biệt là trong cấu tạo cột sống Tỷ lệ đốt sống ngực so với toàn bộ cột sống ở nữ giới dài hơn, trong khi các đốt sống cổ và thắt lưng lại ngắn hơn so với nam giới, dẫn đến sự linh hoạt cao hơn của cột sống nữ Hơn nữa, độ linh hoạt này được cải thiện nhờ vào dây chằng và đĩa sụn chêm có độ đàn hồi tốt hơn ở phụ nữ.

Trọng lượng tổ chức mỡ của phụ nữ chiếm khoảng 25% trọng lượng cơ thể, trong khi ở nam giới chỉ chiếm khoảng 15% Phụ nữ cũng có tỷ lệ cơ thấp hơn, với khoảng 30% trọng lượng cơ thể là cơ, so với 40% ở nam giới Đặc biệt, nữ vận động viên có tỷ lệ cơ thấp hơn nhiều so với phụ nữ không tập luyện Do mỡ hầu như không chứa nước, nên lượng nước trong cơ thể phụ nữ thấp hơn rõ rệt so với nam giới, chỉ chiếm 55% trọng lượng cơ thể, trong khi ở nam giới là 70%.

Bộ xương của phụ nữ phát triển kém hơn so với nam giới, với nhiều xương nhỏ hơn, mảnh mai và mềm hơn, cùng bề mặt xương nhẵn Những đặc điểm này làm giảm khả năng chịu trọng tải của phụ nữ, kết hợp với sự hạn chế về mức độ phát triển cơ và dây chằng, khiến họ dễ bị chấn thương hơn khi mang vác hoặc va chạm trong quá trình tập luyện và thi đấu thể thao.

Hô hấp ở phụ nữ nhanh hơn (20-24 lần/phút) và có độ sâu cùng dung tích phổi thấp hơn so với nam giới Lượng hồng cầu và hêmôglôbin trong máu của nữ giới cũng ít hơn, nhưng tốc độ lắng máu lại cao hơn Khoảng 48% nữ vận động viên không có sự thay đổi về kích thước tim, trong khi 42% có phì đại tâm thất trái và 10% phì đại cả hai thất Tần số co bóp của tim ở nữ vận động viên giảm xuống 42-48 lần/phút, thấp hơn 10-12 lần/phút so với nữ không tập thể thao Huyết áp động mạch tối đa và tối thiểu của các nữ vận động viên giảm trung bình từ 8-10 mmHg và 5-10 mmHg Phản ứng mạch và huyết áp của họ trong các bài kiểm tra chức năng ít biểu hiện hơn so với những người không tập, và thời gian hồi phục sau thử nghiệm ngắn hơn Tập luyện cũng góp phần làm giảm tần số hô hấp.

Dung tích sống của nữ VĐV có thể đạt từ 1000 - 1500ml, thậm chí lên tới 5000ml ở một số trường hợp Để xây dựng phương pháp tập luyện hiệu quả cho các VĐV nữ, cần xem xét đặc điểm cơ thể trong thời kỳ kinh nguyệt, thường bắt đầu ở độ tuổi 12 - 15 và kéo dài từ 2 - 7 ngày với chu kỳ 24 - 30 ngày Tập luyện căng thẳng có thể làm kéo dài chu kỳ này tới 36 - 42 ngày Mặc dù 50 - 70% nữ VĐV vẫn có kinh nguyệt bình thường mà không ảnh hưởng đến hiệu suất, một số phụ nữ có thể gặp phải tình trạng giảm lưu lượng máu, giảm khả năng hấp thụ ôxy và cảm giác đau bụng dưới Sự ổn định của chu kỳ kinh nguyệt rất quan trọng trong việc quyết định khả năng tập luyện của phụ nữ Những VĐV có chu kỳ ổn định và cảm giác tốt vẫn có thể tập luyện bình thường, trong khi những VĐV đẳng cấp cao có thể thi đấu hiệu quả ngay cả trong thời kỳ kinh nguyệt mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Về mặt tâm lý, nam và nữ có khí chất tương đồng nhưng khác biệt trong biểu hiện tâm lý, khuynh hướng và phản ứng với stress Nghiên cứu của Đinâyca C cho thấy nam giới thường thiên về sức mạnh và tư duy logic, trong khi nữ giới lại dịu dàng và cảm tính hơn Cũng theo Đinâyca C., nữ giới có xu hướng nội tâm nhiều hơn, trong khi nam giới có xu hướng hướng ngoại Đặc biệt, khả năng thích nghi với stress của nam giới kém hơn so với nữ giới khi đối mặt với môi trường mới.

Nghiên cứu đặc điểm tính cách và đời sống tinh thần của phụ nữ là cần thiết để đánh giá khả năng áp dụng các biện pháp đối đãi cá biệt trong tập luyện, từ đó nâng cao sức khỏe và hiệu quả tập luyện cho họ.

Các công trình nghiên cứu liên quan

1.6.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu về lý thuyết và phương pháp huấn luyện thể thao cơ bản của các nhà khoa học Liên Xô (cũ) đã dẫn đến việc xây dựng phương pháp để xác định các chuẩn mực cần thiết cho trình độ tập luyện thể lực toàn diện của vận động viên ở nhiều lứa tuổi và trình độ chuyên môn khác nhau Các biểu chuẩn mực về trình độ tập luyện thể lực và các hệ số tương quan đã được soạn thảo, với nội dung kiểm tra tổng hợp có những đặc điểm phù hợp với từng loại hình thể thao.

Trong các môn thể thao có chu kỳ, việc kiểm tra tổng hợp được thực hiện thông qua việc xác định các chỉ số liên quan chặt chẽ đến thành tích thể thao, sử dụng các phương pháp kiểm tra sư phạm, sinh hoá và chức năng Đầu tiên, cần xác định sức bền chung và chuyên môn, cũng như trình độ tập luyện về tốc độ, sức mạnh tốc độ và sức mạnh của vận động viên Mục tiêu này yêu cầu áp dụng các hệ thống thử nghiệm đa dạng để đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên trẻ, đồng thời xác định khả năng hoạt động chung và chuyên môn, cũng như theo dõi các yếu tố tâm lý và sinh lý.

Trong các môn thể thao sức mạnh - tốc độ, việc kiểm tra tổng hợp giúp xác định các dấu hiệu hình thái - chức năng, đặc điểm hoạt động thần kinh cao cấp và sự thể hiện phẩm chất cá nhân của VĐV trẻ Để đánh giá trình độ tập luyện thể lực và kỹ thuật, cần sử dụng các thử nghiệm sư phạm, quan sát sư phạm và phương pháp nghiên cứu y sinh học Đối với các môn thể thao phức tạp về kỹ thuật, việc đánh giá nên áp dụng thang điểm chuẩn để hợp nhất các chỉ tiêu khác nhau như kg, cm và số lần thực hiện, đồng thời chuyển đổi kết quả thực hiện bài tập thành điểm số.

Trong các môn thể thao, việc đánh giá tổng hợp nhằm thu thập dữ liệu về trình độ kỹ - chiến thuật, thể lực, tâm lý và khả năng chức năng của VĐV trẻ là rất quan trọng Cần tập trung vào việc đánh giá sự phát triển của sức nhanh, sức bền chung và chuyên môn, cùng với các tố chất như sức mạnh, tốc độ, khả năng khéo léo và trình độ thực hiện kỹ - chiến thuật Mục tiêu là thực hiện quan sát sư phạm, áp dụng phương pháp đánh giá chuyên gia, ghi chép các chỉ số thi đấu và thử nghiệm để xác định các khía cạnh khác nhau của trình độ tập luyện, cũng như theo dõi tâm lý của VĐV.

Theo V.P Philin phạm vi lứa tuổi bắt đầu giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu ở môn bóng rổ, bóng chuyền là lứa tuổi 11 – 12 [50] Ron Ekker

Năm 2013, nghiên cứu đã phân chia các giai đoạn đào tạo vận động viên bóng rổ thành bốn giai đoạn quan trọng Tác giả nhấn mạnh rằng huấn luyện chuyên môn hóa ban đầu diễn ra từ độ tuổi 11 đến 13, với tổng thời gian đào tạo là 416 giờ, bao gồm 18 giờ lý thuyết, 126 giờ thể lực chung, 65 giờ thể lực chuyên môn, 100 giờ kỹ thuật, 52 giờ chiến thuật, 34 giờ phối hợp kỹ - chiến thuật và thời gian kiểm tra - đánh giá.

Theo Thomas R., Baechle và Roger W Earle (2000), sự kết hợp giữa huấn luyện sức mạnh, sức nhanh và sức bền trong thể thao rất phức tạp, với sức mạnh đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện kỹ thuật và hoạt động vận động Mục tiêu phát triển sức mạnh không chỉ là gia tăng sức mạnh tổng thể, mà còn nhằm đáp ứng các yêu cầu đặc thù của từng môn thể thao, từ đó nâng cao thành tích vận động Trong bóng rổ, các loại sức mạnh đặc trưng bao gồm sức mạnh bật nhảy, sức mạnh tốc độ thời gian trung bình, sức mạnh tăng tốc và sức mạnh giảm tốc.

1.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu hệ thống các bài tập ứng dụng trong giảng dạy và huấn luyện môn bóng rổ cho các đối tượng khác nhau tại Việt Nam đã thu hút sự chú ý của nhiều tác giả.

Lê Nguyệt Nga (2004) đã nghiên cứu trình độ tập luyện của vận động viên bóng rổ nam nữ cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, trong khi Đặng Hà Việt (2006) tập trung vào việc xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho vận động viên đội tuyển bóng rổ nam quốc gia.

Lưu Thiên Sương (2004), “Nghiên cứu đánh giá sự mệt mỏi - hồi phục của VĐV đội tuyển bóng rổ nữ Tp Hồ Chí Minh” [60];

Phạm Văn Thảo và Đinh Quang Ngọc (2006) đã thực hiện nghiên cứu về việc lựa chọn các bài tập thể lực chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ tại Trường Đại học TDTT I, nhằm tối ưu hóa chương trình đào tạo Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu quả rèn luyện thể chất cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu của môn thể thao bóng rổ.

Lê Vũ Kiều Hoa (2007), “Lựa chọn và ứng dụng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh chuyên môn cho đội tuyển bóng rổ nữ quốc gia” [29];

Lê Thế Hùng (2004), “Nghiên cứu xác định một số nội dung và chỉ tiêu tuyển chọn VĐV bóng rổ nữ tỉnh Yên Bái lứa tuổi 13 – 14” [32],

Bùi Duy Hiếu (2011), “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nữ VĐV bóng rổ Hà Nội” [27];

Nguyễn Hữu Thiệp (2011), “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn nữ VĐV bóng rổ trẻ vào giai đoạn huấn luyện ban đầu 9 - 11 tuổi tỉnh Yên Bái”

Nguyễn Văn Hải (2013), “Đánh giá hiệu quả kế hoạch huấn luyện VĐV bóng rổ trẻ lứa tuổi 11 – 13” [21]

Qua tìm hiểu các đề tài nghiên cứu về bóng rổ của các tác giả trong và ngoài nước, có một số nhận xét như sau:

Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước đều đồng nhất trong việc áp dụng hệ thống bài tập đa dạng để phát triển năng lực chuyên môn cho vận động viên bóng rổ Những năng lực này bao gồm kỹ - chiến thuật và các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh tốc độ, sức bền, cùng khả năng phối hợp vận động.

Việc đánh giá trong huấn luyện thể thao chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu và bài test để tuyển chọn và loại bỏ VĐV Hiện tại, các test đánh giá vẫn mang tính sư phạm và chưa áp dụng nhiều phương tiện kỹ thuật tin cậy Đối với VĐV và sinh viên chuyên sâu bóng rổ, các bài tập và test về kỹ chiến thuật và thể lực có tỷ lệ ưu tiên như nhau Trong khi đó, với sinh viên không chuyên ngành thể dục thể thao, tỷ lệ và mức độ ưu tiên của các bài tập chủ yếu tập trung vào việc lựa chọn bài tập bóng rổ nhằm nâng cao kỹ - chiến thuật và thể lực chung.

Quá trình huấn luyện vận động viên bóng rổ cần sự kết hợp chặt chẽ giữa các chỉ tiêu và các bài test đánh giá khác nhau Hiệu quả của kế hoạch huấn luyện phải gắn liền với việc rèn luyện các tố chất thể lực, tùy thuộc vào yêu cầu của từng loại năng lực và giai đoạn huấn luyện khác nhau, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và huấn luyện.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về công tác huấn luyện thể thao, vấn đề huấn luyện bóng rổ tại Việt Nam vẫn còn mới mẻ và cần được các nhà khoa học chú trọng nghiên cứu Đặc biệt, việc hoàn thiện quy trình huấn luyện cho vận động viên bóng rổ trẻ trong giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là rất cần thiết.

Môn bóng rổ yêu cầu phát triển đồng bộ các tố chất, vì vậy việc đánh giá hiệu quả của một chương trình chỉ dựa vào một vài chỉ tiêu là không hợp lý Đặc biệt trong giai đoạn huấn luyện ban đầu, vận động viên cần chuẩn bị toàn diện cho các giai đoạn tiếp theo, bao gồm khả năng chức phận ở trạng thái tối ưu, chiến thuật đa dạng và kỹ thuật ổn định ở mức cao.

Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống bài tập và phát triển các tố chất thể lực trong giảng dạy bóng rổ cho sinh viên tại các trường cao đẳng và đại học Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu chất lượng về các môn thể thao như bóng đá, điền kinh, bơi lội và bóng chuyền, nhưng vẫn còn rất ít nghiên cứu được thực hiện dành riêng cho các vận động viên bóng rổ nữ cấp cao.

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 37 2.1 Đối tượng nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 06/07/2021, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aulic V.I (1982), Đánh giá trình độ tập luyện thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội, Phạm Ngọc Trân dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ tập luyện thể thao
Tác giả: Aulic V.I
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1982
2. Vũ Thị Thanh Bình, Phạm Lê Phương Nga (1998), Sinh lý học TDTT, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Vũ Thị Thanh Bình, Phạm Lê Phương Nga
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
3. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1986), Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao, Nxb TDTT, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao
Tác giả: Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1986
4. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1991), Lý luận và phương pháp thể thao trẻ, Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp thể thao trẻ
Tác giả: Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1991
5. Đinh Can (1979), Tập đánh bóng rổ, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đánh bóng rổ
Tác giả: Đinh Can
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1979
6. Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái (2002), Công nghệ đào tạo vận động viên trình độ cao, Nxb TDTT, Hà Nội, tr.96, 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ đào tạo vận động viên trình độ cao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2002
7. Dương Nghiệp Chí, Trần Đức Dũng, Nguyễn Đức Văn, Tạ Hữu Hiếu (2004), Đo lường thể thao, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Trần Đức Dũng, Nguyễn Đức Văn, Tạ Hữu Hiếu
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2004
8. Nguyễn Ngọc Cừ (1997), Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao, Tài liệu giảng dạy lớp bồi dưỡng cán bộ TDTT khu vực phía Bắc , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cừ
Năm: 1997
9. Nguyễn Ngọc Cừ, Dương Nghiệp Chí (2000), Huấn luyện với trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong cơ thể, Viện Khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện với trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong cơ thể
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cừ, Dương Nghiệp Chí
Năm: 2000
10. Điền Mạnh Cửu (2009), Nguyên lý khoa học cơ thể của huấn luyện vận động viên, Nxb Đại học TDTT Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý khoa học cơ thể của huấn luyện vận động viên
Tác giả: Điền Mạnh Cửu
Nhà XB: Nxb Đại học TDTT Bắc Kinh
Năm: 2009
12. Đoàn TDTT Phòng không Không quân (2009), Chương trình đào tạo VĐV bóng rổ, Trung tâm đào tạo vận động viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình đào tạo VĐV bóng rổ
Tác giả: Đoàn TDTT Phòng không Không quân
Năm: 2009
13. Trần Ngọc Đông và cộng sự (2009), “Kỹ thuật ném rổ tấn công”, Cao thủ bóng rổ, Nxb Đại học TDTT Bắc Kinh, tr.124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật ném rổ tấn công”, "Cao thủ bóng rổ
Tác giả: Trần Ngọc Đông và cộng sự
Nhà XB: Nxb Đại học TDTT Bắc Kinh
Năm: 2009
14. Nguyễn Hải Đường (2009), Lựa chọn hệ thống bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ trường đại học TDTT Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn hệ thống bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ trường đại học TDTT Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Hải Đường
Năm: 2009
15. Harre D (1996), Học thuyết huấn luyện, Nxb TDTT, Hà Nội, Dịch: Trương Anh Tuấn, Bùi Thế Hiển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện
Tác giả: Harre D
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1996
16. Bùi Quang Hải (2009), Giáo trình tuyển chọn tài năng thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tuyển chọn tài năng thể thao
Tác giả: Bùi Quang Hải
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2009
17. Nguyễn Phi Hải (2009), Ứng dụng máy móc chuyên môn nâng cao hiệu quả phòng thủ cho học sinh bóng rổ trường trung học phổ thông Matxcơva, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng máy móc chuyên môn nâng cao hiệu quả phòng thủ cho học sinh bóng rổ trường trung học phổ thông Matxcơva
Tác giả: Nguyễn Phi Hải
Năm: 2009
18. Nguyễn Phi Hải (2010), Tuyển chọn vận động viên bóng rổ, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn vận động viên bóng rổ
Tác giả: Nguyễn Phi Hải
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2010
19. Nguyễn Phi Hải (2012), “Diễn biến trình độ thể lực của nữ vận động viên bóng rổ đội tuyển của Trường đại học TDTT Bắc Ninh trong 3 tháng đầu năm 2012”, Tạp chí khoa học đào tạo và huấn luyện thể thao số đặc biệt, Trường đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến trình độ thể lực của nữ vận động viên bóng rổ đội tuyển của Trường đại học TDTT Bắc Ninh trong 3 tháng đầu năm 2012”, "Tạp chí khoa học đào tạo và huấn luyện thể thao số đặc biệt
Tác giả: Nguyễn Phi Hải
Năm: 2012
20. Nguyễn Văn Hải (2012), “Xác định các chỉ tiêu, test nhằm đánh giá trình độ thể lực, chuyên môn, tâm lý cho vận động viên bóng rổ trẻ lứa tuổi 11-13”, Kỷ yếu hội nghị khoa học quốc tế phát triển thể thao – tầm nhìn Olympic, Nxb TDTT, Hà Nội, tr.441 - 447 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các chỉ tiêu, test nhằm đánh giá trình độ thể lực, chuyên môn, tâm lý cho vận động viên bóng rổ trẻ lứa tuổi 11-13”, "Kỷ yếu hội nghị khoa học quốc tế phát triển thể thao –tầm nhìn Olympic
Tác giả: Nguyễn Văn Hải
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2012
21. Nguyễn Văn Hải (2013), Đánh giá kế hoạch huấn luyện bóng rổ trẻ lứa tuổi 11-13, Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Viện khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kế hoạch huấn luyện bóng rổ trẻ lứa tuổi 11-13
Tác giả: Nguyễn Văn Hải
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w