1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số đặc điểm và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại lá thông nhựa (pinus merkusii jungh et de vries) tại thị trấn trới, huyện hoành bồ, tỉnh quảng ninh

56 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 611,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I.. ĐẶT VẤN ĐỀ (6)
  • PHẦN II. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (8)
    • 2.1. Trên thế giới (8)
    • 2.2. Ở Việt Nam (10)
    • 2.3. Sơ lƣợc về loài Thông nhựa (11)
    • 2.4. Tổng quan về sâu hại Thông ở Việt Nam (13)
  • PHẦN III. ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU (16)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (16)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (16)
      • 3.1.2. Địa hình (16)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (17)
      • 3.2.1. Kinh tế (17)
      • 3.2.2. Xã hội (18)
      • 3.2.3. Điều kiện về rừng và đất rừng (18)
  • PHẦN IV. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (19)
    • 4.1. Mục tiêu nghiên cứu (19)
    • 4.2. Đối tƣợng nghiên cứu (19)
    • 4.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (19)
    • 4.4. Nội dung nghiên cứu (19)
    • 4.5. Phương pháp nghiên cứu (19)
      • 4.5.1. Phương pháp kế thừa số liệu (19)
      • 4.5.2. Phương pháp điều tra thực địa (20)
      • 4.5.3. Phương pháp xử lí số liệu (25)
      • 4.5.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học cơ bản của các loài sâu hại chính (27)
      • 4.5.5. Phương pháp nghiên cứu, đề xuất biện pháp phòng trừ (28)
  • PHẦN V. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (30)
    • 5.1. Danh lục các loài sâu hại lá Thông tại nơi nghiên cứu (30)
    • 5.2. Phân tích sự biến động của mật độ và mức độ gây hại của sâu hại lá thông (31)
    • 5.3. Mối quan hệ giữa mật độ sâu hại chủ yếu với các yếu tố sinh thái (36)
      • 5.3.1. Mối quan hệ giữa mật độ sâu hại chủ yếu với nhiệt độ và độ ẩm (36)
      • 5.3.2. Mối quan hệ giữa mật độ các loài sâu hại chủ yếu với hướng dốc (37)
      • 5.3.3. Mối quan hệ giữa mật độ các loài sâu hại chủ yếu với độ cao (39)
      • 5.3.4. Mối quan hệ giữa mật độ các loài sâu hại chủ yếu với tuổi cây (41)
    • 5.4. Đặc điểm sinh học của sâu róm 4 túm lông và ong ăn lá thông đầu đen (43)
      • 5.4.1. Đặc điểm sinh học của sâu róm 4 túm lông (43)
      • 5.4.2. Đặc điểm sinh học của ong ăn lá thông đầu đen (46)
    • 5.5. Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp quản lý các loài sâu hại chính (48)
      • 5.5.1. Kết quả thử nghiệm biện pháp vật lý cơ giới (48)
    • 5.6. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại lá thông (49)
      • 5.6.1. Biện pháp kiểm dịch thực vật (50)
      • 5.6.2. Biện pháp vật lý cơ giới (50)
      • 5.6.3. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh (51)
      • 5.6.4. Biện pháp sinh học (51)
      • 5.6.5. Biện pháp hoá học (52)
  • PHẦN VI. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ (54)
    • 6.1. Kết luận (54)
    • 6.2. Tồn tại (54)
    • 6.3. Kiến nghị (55)
    • Ảnh 5.1: Sâu non sâu róm 4 túm lông (43)
    • Ảnh 5.2 Ong ăn lá thông đầu đen trưởng thành và kén (47)
    • Biểu 5.1: Mật độ, mức độ hại lá và hệ số biến động của sâu hại lá thông trong (32)
    • Biểu 5.2: Nhiệt độ và độ ẩm không khí trong các đợt điều tra (36)
    • Biểu 5.3: Mật độ các loài sâu hại chủ yếu theo độ cao (37)
    • Biểu 5.4: Kết quả kiểm tra độ thuần nhất của 3 ô tiêu chuẩn 02,03,04 (40)
    • Biểu 5.5: Mật độ các loài sâu hại chủ yếu theo tuổi cây (42)
    • Biểu 5.6 Kết quả thử nghiệm biện pháp vật lý cơ giới (0)
    • Biểu 5.7 Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh (49)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

Trong nông lâm nghiệp, côn trùng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến sản xuất Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm sinh thái và hình học của các loài côn trùng là cần thiết để con người có thể quản lý và tối ưu hóa hoạt động sản xuất.

Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú Năm

Cuốn sách cổ 3000 TCN từ Syria đã ghi chép về những cuộc bay khổng lồ và tác động tàn phá nghiêm trọng của châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria).

Năm 1793, Sprengel (1750 – 1816) xuất bản tác phẩm nổi tiếng mô tả mối quan hệ cấu tạo của loài hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng

Về phân loại từ năm 1910 đến năm 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập

Năm 1931, tác giả E Secquy đã cho ra mắt cuốn sách "Côn trùng và sự phá hoại của nó" tại Pháp, trong đó đề cập đến những nghiên cứu quan trọng về các loài sâu hại thông.

Từ năm 1937 đến 1952, Đức đã công bố nhiều nghiên cứu quan trọng về sâu hại rừng thông, đồng thời phát hiện ra nhiều loài ký sinh của chúng.

Năm 1948, A.I Ilinski đã xuất bản cuốn sách “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng”, trong đó đề cập đến phân loại một số loài thuộc Họ Bọ lá.

Năm 1950, Viện hàn lâm khoa học Nga đã phát hành 11 tập phân loại côn trùng châu Âu, trong đó tập thứ 5 tập trung vào Bộ Cánh cứng (Coleoptera), bao gồm bảng tra 1350 giống thuộc Họ Bọ lá (Chrysomelidae).

Năm 1952, môn côn trùng lâm nghiệp chính thức được giảng dạy tại các trường Đại học Lâm nghiệp ở Trung Quốc, đánh dấu bước khởi đầu quan trọng cho việc nghiên cứu và phát triển lĩnh vực côn trùng lâm nghiệp tại quốc gia này.

Năm 1957, Lưu Băng Tiêu và Trần Tử Hạnh đã tiến hành nghiên cứu về đặc tính sinh vật học và sinh thái học của sâu róm thông, đồng thời khảo sát quá trình phát dịch và đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

Năm 1961, giáo trình “Côn trùng học” từ Liên Xô cũ đã trình bày nhiều loại côn trùng gây hại cho thân, lá và cành của cây lá kim và lá rộng, trong đó nổi bật là sâu róm thông thuộc giống Dendrolimus.

Năm 1962, nhà xuất bản Nông thôn Matxcơva phát hành cuốn sách “Dự báo trong bảo vệ thực vật” của M.Drakhopska Cùng năm, M.A.Ionescu ở Rumani cũng xuất bản cuốn “Côn trùng học”, trong đó đề cập đến phân loại họ Bọ lá (Chrysomelidae) Tác giả đã ghi nhận sự tồn tại của 24.000 loài bọ lá trên toàn thế giới và mô tả chi tiết 14 loài trong số đó.

Năm 1965, N.N.Padi và N.N.Khramxop cho ra đời tác phẩm “Sâu đục thân cây rừng và phương pháp phòng trừ chúng”

Từ năm 1965 đến 1970, nhiều cơ quan và cá nhân ở Trung Quốc đã nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học và quá trình phát dịch của sâu róm thông, cùng với các biện pháp phòng trừ Đặc biệt, sự ra đời của cuốn giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” từ trường Đại học Bắc Kinh và Nam Kinh đã đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này.

Năm 1990, nhà xuất bản lâm nghiệp Trung Quốc đã công bố một nghiên cứu quan trọng về phương pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại thông, trong đó trình bày nhiều mô hình toán học liên quan đến động thái quần thể sâu róm Thông đuôi ngựa, cùng với các phương pháp dự báo và quản lý sâu hại hiệu quả.

Vào năm 1998, nhà xuất bản ABF Nga đã phát hành cuốn sách "Bách khoa toàn thư thiên nhiên Nga: Côn trùng" của tác giả M.V Lomonosova, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng phong phú của thế giới côn trùng tại Nga.

Ở Việt Nam

Năm 1967, Viện Nghiên cứu Lâm Nghiệp đã tiến hành nghiên cứu dự tính và dự báo sâu róm thông, nhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng các phương pháp sinh học trong phòng trừ Các phương pháp này bao gồm dự báo số lứa sâu xuất hiện trong năm, dự đoán mật độ sâu và khả năng hình thành dịch, cũng như đánh giá mức độ gây hại.

Năm 1976 xuất bản giáo trình “Côn trùng học” của tác giả Phạm Ngọc Anh

Năm 1989, Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam phát hành cuốn sách “Côn trùng Lâm Nghiệp” của tác giả Trần Công Loanh, nghiên cứu sâu sắc về hình thái, đặc tính sinh vật học và phân loại nhiều loại côn trùng trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Năm 2001, Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã và Trần Văn Mão đã phát hành cuốn sách "Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp", cung cấp các phương pháp điều tra, đánh giá và dự báo khả năng phát sinh của sâu bệnh hại rừng dựa trên đặc điểm sinh học của từng loài.

Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh đã phát hành cuốn “Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích – tập I”, cung cấp tài liệu nghiên cứu quan trọng cho những người quản lý tài nguyên rừng Tài liệu này hỗ trợ trong việc áp dụng các giải pháp phòng trừ bệnh hại rừng dựa trên nguyên lý quản lý sâu bệnh hại tổng hợp (IPM), tận dụng sự kiểm soát tự nhiên của các loài côn trùng thiên địch, nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường.

Nghiên cứu về côn trùng chủ yếu phục vụ ngành Lâm nghiệp, nhằm nâng cao lợi ích của côn trùng có ích và tiêu diệt côn trùng có hại Các côn trùng thường tác động đến cây lâm nghiệp như cây ăn quả, cây rừng tự nhiên và cây công nghiệp, với đặc điểm chung là kích thước lớn, chiều cao phát triển cao và chu kỳ sản xuất dài Điều này dẫn đến sự phát triển của thảm thực bì và tàn dư thực vật, tạo điều kiện cho các loài sâu hại sinh sống Hơn nữa, chu kỳ canh tác dài và cơ sở vật chất hạn chế ở nhiều địa phương gây khó khăn cho công tác điều tra, nghiên cứu và phòng trừ sâu hại.

Để ngành lâm nghiệp phát triển bền vững, các nhà nghiên cứu cần chú trọng hơn vào việc nghiên cứu và dự báo sớm tình hình sâu hại.

Sơ lƣợc về loài Thông nhựa

Tên khác: Thông ta, thông hai lá

Tên khoa học: Pinus merkusii Jungh et de Vries

Cây gỗ lớn có chiều cao từ 25-30 m, thậm chí hơn, với đường kính ngang ngực từ 50-60 cm, có cây lên tới 1 m Thân cây thẳng, tròn và chứa nhiều nhựa, vỏ dày màu nâu đỏ nhạt hoặc nâu đen, nứt dọc sâu Tán lá rộng với lá kim màu xanh thẫm dài từ 15-25 cm, gốc lá có bẹ dài 1-2 cm Quả cây hình nón, hạt hình trái xoan và hơi dẹt Thời gian ra hoa vào tháng 5-6 và quả chín vào tháng 9-10 năm sau, với khoảng 35-40 kg quả cho 1 kg hạt, mỗi kg hạt chứa từ 27.000 đến 30.000 hạt.

Cây ưa sáng và chịu được bóng râm nhẹ khi còn nhỏ, có khả năng xanh tốt quanh năm Cây có khả năng tái sinh hạt mạnh mẽ và rễ phát triển rộng, có thể lan tới 9-10 m, với rễ cọc sâu và rễ tơ có nấm cộng sinh tạo thành nốt sần Sự phát triển của cây chậm trong giai đoạn đầu, đặc biệt trước 4-5 tuổi, nhưng sau đó sẽ tăng trưởng nhanh hơn khi đạt 10 tuổi.

Quê hương chính của Thông nhựa là các nước Đông Nam Á, mọc ở vành đai độ cao từ 10-250m và 700-900 m so với mức nước biển; có 2 nhóm xuất xứ:

Nhóm lục địa được phân bố ở những khu vực có mùa khô kéo dài từ 3 đến 6 tháng, với giai đoạn cỏ phát triển trong khoảng 3 đến 5 năm đầu Trong giai đoạn này, hàm lượng và chất lượng nhựa của cây không cao Các loại thông nhựa ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thuộc về nhóm này.

Nhóm đảo ở vùng cận nhiệt đới có lượng mưa và độ ẩm cao, với một mùa khô ngắn và không có giai đoạn cỏ Đặc biệt, khu vực này có hàm lượng và chất lượng nhựa cao hơn, trong đó chỉ có Thông nhựa ở Sumatra thuộc nhóm này.

Thông nhựa tại Việt Nam phân bố rộng rãi trong khoảng 10 vĩ độ và gần 5 kinh tuyến, với độ cao từ 100-200m đến gần 1000m, trải dài từ khu vực ven biển đến hơn 100km sâu trong đất liền Có hai dạng sinh học của cây con Thông nhựa, mỗi loại có đặc điểm hình thái và sinh trưởng khác nhau, tương ứng với hai vùng có chế độ mưa khác biệt trong các mùa Hè Thu và Thu Đông.

Dạng 1 có lá dài, màu xanh thẫm, thường mọc tập trung ở đỉnh thân, với tốc độ sinh trưởng nhanh về đường kính nhưng chậm về chiều cao Các khu vực nổi bật có sự hiện diện của Thông nhựa bao gồm Bảo Lộc, Di Linh (Lâm Đồng), Yên Lập, Uông Bí (Quảng Ninh), Phú Bình (Thái Nguyên) và Mộc Châu (Sơn La).

Dạng 2 có lá ngắn, màu xanh nhạt, mọc tập trung từ giữa đến 1/3 trên đỉnh thân, sinh trưởng chậm về đường kính nhưng nhanh hơn về chiều cao Các khu vực nổi bật có cây Thông nhựa bao gồm Huế, Bố Trạch (Quảng Bình), Hoàng Mai (Nghệ An), Hà Trung (Thanh Hoá) và Nho Quan (Ninh Bình).

Vùng thấp dưới 300-400m so với mực nước biển có Thông nhựa dạng 1 với chế độ mƣa mùa hè thu có ở Quảng Ninh, Thái Nguyên và dạng

2 với chế độ mƣa mùa Thu Đông có ở các tỉnh ven biển từ Ninh Bình đến Thừa Thiên – Huế

Vùng cao 600-700m đến dưới 1000m chỉ có Thông nhựa dạng 1 với chế độ mƣa mùa Hè Thu có ở các tỉnh Lâm Đồng ở phía Nam và Sơn La ở phía Bắc

Nền nhiệt độ bình quân năm dao động từ 20-25°C với tổng nhiệt độ đạt 8200-9000°C/năm, lượng mưa hàng năm từ 1800-2100 mm Đất feralit hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau, có thành phần cơ giới từ nhẹ đến nặng, nhưng phù hợp nhất là loại đất có cơ giới trung bình Đặc biệt, đất này thường có phản ứng chua với pH KCl trong khoảng 3,3-4,9.

Gỗ có nhiều nhựa, đặc biệt là ở lõi cây, với hai sản phẩm chính được chế biến từ nhựa là dầu thông (têrêbentin) và tùng hương (côlôphan) Những nguyên liệu này rất quan trọng cho các ngành công nghiệp như sơn, véc ni, xenlulô, dược phẩm, xà phòng, giấy, chất dẻo, mực in và cao su Cây thông từ 25-30 tuổi sinh trưởng tốt có thể cho lượng nhựa từ 3-4 kg mỗi năm, và đây là loài thông có khả năng sản xuất nhựa cao nhất so với nhiều loài thông khác trên thế giới.

Gỗ có tỷ trọng 0,77 thuộc nhóm V, với vòng tăng trưởng hẹp, mặt mịn và vân rõ, thường được sử dụng trong sản xuất đồ mộc gia dụng, bao bì và ván phủ bề mặt trong toa xe Gỗ nhỏ có đường kính dưới 25-30 cm, nhẹ và hàm lượng nhựa thấp, còn được dùng làm nguyên liệu giấy sợi dài Thông dựa không chỉ có hình dáng đẹp và mùi nhựa thơm mà còn được trồng làm cây phong cảnh tại các khu nghỉ dưỡng và danh lam thắng cảnh Đặc biệt, rễ của cây có nấm cộng sinh giúp cố định Nitơ, cải tạo đất hiệu quả Quy trình khai thác nhựa cây thông hai lá QTN-29-97 được Bộ NN&PTNT ban hành theo quyết định số 2531 NN-KHCN/QĐ ngày 4/10/1997 yêu cầu khai thác cây từ 25 tuổi trở lên, đường kính ngang ngực từ 25 cm, áp dụng phương pháp đẽo hình chữ nhật và chích hình xương cá cho rừng trồng thuần loài.

Khi bô nhựa đầy, cần thu gom ngay và thực hiện việc thu từ 2-3 lần mỗi tháng Nhựa nên được chứa trong thùng phuy tráng kẽm hoặc bể xây, bảo quản ở nơi râm mát và phải được che mưa để đảm bảo chất lượng.

Tổng quan về sâu hại Thông ở Việt Nam

Từ năm 1962 đến 1982 đã có rất nhiều bài báo đề cập đến sâu róm thông của các tác giả nhƣ Nguyễn Hồng Đản, Nông Văn Ba, Trần Kiểm (1962), Phạm

Ngọc Anh (1963) và Nguyễn Hữu Liêm (1968) đã thực hiện các nghiên cứu tập trung vào đặc điểm hình thái của sâu róm thông đuôi ngựa, đồng thời đề xuất sử dụng một số loại thuốc hóa học để phòng trừ loài sâu này.

Vào năm 1959-1960, Phạm Ngọc Anh đã công bố nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của sâu róm thông đuôi ngựa tại lâm trường Yên Dũng, Bắc Giang Đồng thời, Nguyễn Đình Hạnh cũng tiến hành nghiên cứu về sâu hại lá thông và bạch đàn ở vườn ươm thuộc lâm trường Yên Dũng, Bắc Giang.

Năm 1967, Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp đã tiến hành nghiên cứu về dự tính dự báo sâu róm, nhằm hỗ trợ việc áp dụng phương pháp sinh học Các phương pháp dự báo bao gồm việc ước lượng số lứa sâu xuất hiện trong năm, mật độ sâu, khả năng hình thành dịch và mức độ gây hại của chúng.

Năm 1989, Trường Đại học Lâm nghiệp đã phát hành cuốn sách “Côn trùng lâm nghiệp” của tác giả Trần Công Loanh, cung cấp thông tin chi tiết về hình thái, sinh vật học và phân loại côn trùng lâm nghiệp Cuốn sách cũng đề xuất các phương pháp dự tính và biện pháp phòng trừ sâu hại Năm 1990, Lê Nam Hùng từ Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã trình bày nghiên cứu về biện pháp dự tính, dự báo và phòng trừ sâu róm thông (Dendrolimus Punctatus Walker) tại miền Bắc Việt Nam Nghiên cứu chủ yếu dựa vào đặc tính sinh vật học của sâu róm thông mà chưa chú trọng đến đặc điểm dịch bệnh của chúng, và biện pháp phòng trừ chỉ được áp dụng trong một số lâm phần thông tại miền Bắc mà chưa được khảo nghiệm trên toàn quốc.

Năm 1996, Đào Xuân Trường đã biên soạn “Bài giảng về phòng trừ sâu hại rừng” Cuốn sách này đã viết về đặc điểm, tình hình sâu róm thông ở Nghệ

Năm 1996, Trần Minh Đức đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, trong đó nghiên cứu chi tiết về chủng loài, phân bố và đặc điểm sinh vật học của ong ăn lá thông tại khu vực Bình Trị Thiên.

Quảng Nam Đà Nẵng Tác giả đã đề cập đến việc ứng dụng một số loại thuốc hoá học để phòng trừ loài sâu hại này

Từ năm 1997 đến hết năm 2007, trong các khoá luận tốt nghiệp đại học của mình, Nguyễn Đình Nam (2001), Trần Minh Đức (2002), Hồ Sỹ Chiết

Vào năm 1996 và 1997, các nghiên cứu của Ngô Văn Tuấn và Lê Trọng Hƣng đã chỉ ra các đặc tính sinh học của sâu hại lá thông, từ đó đề xuất những biện pháp hiệu quả để phòng trừ chúng.

Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về sâu hại Thông, đặc biệt là sâu hại lá Thông Những công trình này đã cung cấp cho chúng ta hiểu biết sâu sắc và toàn diện về các loài sâu hại này.

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Thị trấn Trới, đô thị loại IV, đóng vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội của huyện Hoành Bồ Với vị trí địa lý thuận lợi, Trới góp phần phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cộng đồng.

Phía Tây, Bắc giáp xã Sơn Dương;

Phía Đông giáp xã Lê Lợi;

Phía Nam giáp phường Việt Hưng, TP Hạ Long

Thị trấn Trới có địa hình chủ yếu là đồi núi, với độ cao trung bình từ 50m đến 100m, xen kẽ là các dải đồng bằng và thung lũng nhỏ hẹp nằm hai bên sông Trới Địa hình có độ dốc chính từ Tây Bắc về Đông Nam, với độ dốc từ 2° đến 10° Khu vực có đất bằng nhỏ hẹp chủ yếu là đất bồi tụ chân núi và bãi bồi ven sông, nhưng vùng đất thấp thường bị nhiễm mặn Sự phức tạp của địa hình, với sự đan xen giữa đồng bằng và đồi núi, ảnh hưởng lớn đến tổ chức, quản lý và giao lưu giữa các khu vực trong thị trấn.

Thị trấn Trới có khí hậu nhiệt đới biển, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam Á, phân thành hai mùa rõ rệt: mùa hè nóng ẩm và mùa đông lạnh khô Nằm trong vành đai nhiệt đới, nơi đây có tiềm năng bức xạ và nhiệt độ phong phú, với hai lần mặt trời qua thiên đỉnh mỗi năm.

- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm khoảng 22,8 0 C;

- Lƣợng mƣa trung bình hàng năm ở mức 1433 mm;

- Độ ẩm không khí trung bình 80%;

- Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1693 giờ/năm.

Điều kiện kinh tế - xã hội

Năm 2016, mặc dù gặp nhiều khó khăn và thách thức, nhưng thị trấn đã nỗ lực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ và sự giám sát của HĐND, cùng với sự điều hành của UBND và sự tham gia tích cực của các ngành, đoàn thể, kinh tế xã hội của thị trấn đã tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực.

Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, địa bàn hiện có 1.305 cơ sở kinh doanh, tăng 13 cơ sở so với năm 2015 Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2016 đạt 775 tỷ đồng, trong khi giá trị sản xuất của ngành dịch vụ vận tải đạt 180 tỷ đồng.

Về Công nghiệp: Tổng số có 120 cơ sở với 481 lao động, tổng giá trị sản xuất đạt 689 tỷ Giá trị ngành xây dựng đạt 73,6 tỷ đồng

Vào năm 2016, tổng diện tích gieo trồng đạt 131,8 ha, với tổng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt 42.985 triệu đồng, tăng 5,2% so với năm 2015.

- Trồng trọt: Giá trị sản xuất trồng trọt đạt 27.042 triệu đồng

Chăn nuôi tiếp tục được củng cố với số lượng gia súc, gia cầm duy trì theo kế hoạch, bao gồm 60 con trâu, 16 con bò, 1.205 con lợn và 15.452 con gia cầm, với giá trị sản xuất đạt 14.898 triệu đồng Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc và gia cầm được thực hiện hiệu quả.

- Lâm nghiệp: Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 770 triệu đồng Công tác kiểm tra phòng, chống cháy rừng được tăng cường

- Thuỷ sản: Giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 275 triệu đồng

Tính đến 31/12/2016, tổng số hộ nghèo trên địa bàn thị trấn là 04 hộ; hộ cận nghèo là 39 hộ

Công tác Văn hoá - Xã hội đƣợc duy trì và tiếp tục đƣợc đẩy mạnh Năm

Năm 2016, có 07 khu phố (Khu 2, 3, 5, 6, 8, 9, 10) được công nhận giữ vững danh hiệu khu phố văn hóa Đồng thời, các khu này tiếp tục duy trì và thực hiện tốt bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020, góp phần chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tỷ suất sinh đã giảm xuống còn 9,76‰, giảm 1,32‰ so với năm 2015.

Thị trấn Trới có 2.611 hộ gia đình với tổng cộng 7.497 nhân khẩu, trong đó có 13 dân tộc anh em sinh sống như Kinh, Dao, Tày, Hoa, Sán Dìu, Mường, Sán Chỉ, Khơ Me, Hán, Cao Lan, Nùng, Lô Lô và Thái Người Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 2.468 hộ và 7.050 nhân khẩu, tương đương 94,04% dân số của thị trấn.

211 nhân khẩu chiếm 2,99% dân số còn lại là các dân tộc khác

3.2.3 Điề u ki ệ n v ề r ừng và đấ t r ừ ng

Tổng diện tích đất nông – lâm – nghiệp của thị trấn đạt 877,68 ha, chiếm 71,72% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất lâm nghiệp chiếm 50,84% với diện tích 622,10 ha Tuy nhiên, diện tích đất rừng sản xuất năm 2015 đã giảm so với kỳ kiểm kê trước đó.

2014 là 19,49 ha Nguyên nhân diện tích giảm do chuyển sang đất giao thông.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích đặc điểm và thành phần của các loài sâu hại lá Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh et de Vries) Đồng thời, bài viết cũng đề xuất các biện pháp hiệu quả để phòng trừ những loài sâu hại này tại khu vực nghiên cứu, nhằm bảo vệ sức khỏe và sự phát triển của cây Thông nhựa.

- Xác định thành phần loài sâu hại và đặc điểm của loài sâu hại chính

- Đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại tại khu vực nghiên cứu.

Đối tƣợng nghiên cứu

Các loài sâu hại lá Thông nhựa trong địa phận hành chính của thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ 06/03/2017 đến 10/04/2017

- Địa điểm nghiên cứu: Thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.

Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần loài sâu hại lá Thông nhựa tại khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài sâu hại chính tại khu vực nghiên cứu

- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ sâu hại lá Thông nhựa tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất các biện pháp quản lý sâu hại lá Thông nhựa.

Phương pháp nghiên cứu

4.5.1 Phương pháp kế th ừ a s ố li ệ u

Kế thừa tài liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu của Ủy ban nhân dân thị trấn Trới

Kế thừa tài liệu về Thông nhựa nhƣ diện tích, độ tuổi, điều kiện chăm sóc… của hạt Kiểm lâm huyện Hoành Bồ

Các tài liệu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài sâu hại: tham khảo các cuốn sách nhƣ:

+ “Côn trùng rừng” Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997)

+ “Bảo vệ thực vật” Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2004)

+ Bài giảng “Kỹ thuật phòng trừ sâu hại” Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (2002)

4.5.2 Phương pháp điề u tra th ực đị a

- Tiến hành điều tra sơ bộ, nắm bắt tình hình sâu hại của khu vực điều tra làm cơ sở cho điều tra tỉ mỉ

Để tiến hành điều tra hiệu quả, cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ như thước dây, dao phát, cuốc, dây lập ô, dụng cụ đo đường kính và chiều cao, vợt bắt mẫu, chai lọ để đựng mẫu, cùng với máy GPS.

- Dựa theo giáo trình “ Điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp” để lập ô tiêu chuẩn cần phải tuân thủ theo các tiêu chí sau:

Ô tiêu chuẩn là khu vực rừng được lựa chọn để tiến hành điều tra, với đầy đủ các đặc điểm về đất đai, địa hình, thực bì, hướng phơi và tình hình sinh trưởng, nhằm đại diện cho lâm phần được khảo sát.

Số lượng ô tiêu chuẩn (ÔTC) trong rừng trồng phụ thuộc vào địa hình, tuổi cây và thảm thực bì Nếu rừng có địa hình đồng đều và thảm thực bì nhất quán, số lượng ÔTC sẽ ít hơn, trong khi địa hình phức tạp và sự không đồng nhất về tuổi cây yêu cầu nhiều ÔTC hơn Trung bình, cứ 10 đến 20 ha cần điều tra một ÔTC, với diện tích ÔTC từ 500 đến 2500 m² và số cây trong mỗi ÔTC phải đạt ít nhất 100 cây.

+ Hình dạng ÔTC tùy theo địa hình mà có thể là hình vuông, hình chữ nhật hay hình tròn

+ Vị trí ÔTC cần phải đảm bảo tính đại diện cho lâm phần nghiên cứu

Khi bố trí, cần chú ý đến các yếu tố địa hình như độ cao, vị trí tương đối và hướng phơi Ngoài ra, các đặc điểm của lâm phần như loài cây, tuổi cây, mật độ trồng, độ tàn che, thảm thực bì và đặc điểm thổ nhưỡng cũng rất quan trọng.

Để xác định ô tô hình vuông hoặc hình chữ nhật, trước tiên, cần căng dây lấy một cạnh làm mốc Tiếp theo, áp dụng định lý Pythagore trong tam giác vuông để xác định góc vuông và kéo các cạnh còn lại Ô tô được coi là chính xác khi sai số khép góc nhỏ hơn 1/200.

Tổng diện tích Thông nhựa tại Thị trấn Trới là 104,7 ha Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tôi đã thiết lập 6 ô tiêu chuẩn hình chữ nhật, mỗi ô có diện tích 1000m².

4.5.2.3 Phương pháp điều tra trong ô tiêu chuẩn

 Điều tra đặc điểm của ô tiêu chuẩn

Sau khi xác định ranh giới của ô tiêu chuẩn, chúng ta tiến hành điều tra các đặc điểm của ô tiêu chuẩn, chủ yếu thông qua phương pháp kế thừa tài liệu Để tính toán chỉ số H vn và D 1.3 bình quân, tôi đã điều tra ngẫu nhiên 30 cây trong mỗi ô tiêu chuẩn Dụng cụ đo đường kính D 1.3 là thước dây, trong khi chiều cao H vn được đo bằng súng bắn độ cao Các yếu tố như hướng phơi, độ dốc và độ cao so với mặt nước biển được xác định bằng máy GPS và địa bàn Những đặc điểm khác như cấp tuổi cây, mật độ trồng và vị trí tương đối đã được kế thừa từ tài liệu của cán bộ quản lý tại thị trấn Trới.

Kết quả đƣợc ghi vào mẫu biểu 01 nhƣ sau:

Biểu 1: Đặc điểm ô tiêu chuẩn

4 Vị trí tương đối Đỉnh đồi Đỉnh đồi Sườn đồi Chân đồi Sườn đồi Chân đồi

Tây Bắc Tây Bắc Tây Bắc Đông

7 Độ cao so với mặt nước biển

8 Cấp tuổi Cấp 6 Cấp 6 Cấp 6 Cấp 5 Cấp 5 Cấp 6

12 Thực bì Cỏ lau, dương xỉ,…

Cỏ lau, mua lông, lấu,sói rừng

Dương xỉ, mua lông, cỏ lau, keo tái sinh…

Để đảm bảo tính chính xác trong điều tra, tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 30 cây tiêu chuẩn, tương đương 10÷30% tổng số cây trong ô tiêu chuẩn Đối với cây Thông nhựa, tôi sẽ điều tra 5 cành từ mỗi cây tiêu chuẩn, tập trung vào các vị trí cụ thể để thu thập dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy.

Hai cành ở dưới tán song song với đường đồng mức

Hai cành ở giữa tán vuông góc với đường đồng mức

Một cành ở ngọn song song với đường đồng mức

OTC5 OTC6 Ảnh 4.1: Các ô tiêu chuẩn

 Điều tra thành phần, số lƣợng và chất lƣợng sâu hại lá

Để điều tra sâu hại lá, cần quan sát và đếm số lượng cá thể của từng loài sâu hại trên tất cả các cành đã chọn của cây tiêu chuẩn, ghi nhận theo các giai đoạn phát triển của chúng Kết quả sẽ được ghi vào mẫu biểu 02.

Biểu 2: Điều tra thành phần, số lƣợng sâu hại lá

Số hiệu ÔTC:……… Loài cây:………

Ngày điều tra:……….Người điều tra:………

Số lƣợng sâu hại Tổng số cành

Ghi Trứng Sâu chú non

- Điều tra mức độ hại lá của các loài sâu

Biểu 03: Điều tra mức độ hại lá của các loài sâu

Số lá bị hại theo các cấp R% Ghi

+ Trên mỗi cây tiêu chuẩn chọn 5 cành để điều tra Điều tra 2 cành dưới, 2 cành giữa và 1 cành ở ngọn

+ Trên mỗi cành tiêu chuẩn, điều tra 6 cụm lá: 2 cụm ở cuối cành, 2 cụm ở giữa cành, 2 cụm ở đầu ngọn thân cành

+ Phân cấp mức độ bị hại:

Cấp 0: Cụm lá không bị sâu hại Cấp I: Những cụm lá bị hại dưới 25% tổng số lá Cấp II: Những cụm lá bị hại từ 25% - 50% tổng số lá Cấp III: Những cụm lá bị hại từ 50%-75% tổng số lá Cấp IV: Những cụm lá bị hại >75% tổng số lá

4.5.3 Phương pháp xử lí s ố li ệ u

* Tính mật độ của các loài sâu hại ở mỗi ô tiêu chuẩn hoặc ô dạng bản qua từng đợt điều tra theo công thức sau:

∑ Trong đó: M là mật độ của 1 loài sâu trong ÔTC

Xi là số lƣợng cá thể của loài sâu hại trên cây điều tra n là tổng số cây điều tra

* Xác định tỷ lệ cây có sâu theo công thức:

Trong đó: P% là tỷ lệ cây có sâu n là số cây tiêu chuẩn có sâu

N là tổng số cây tiêu chuẩn điều tra

Sau mỗi đợt điều tra tính P% trung bình của khu vực nghiên cứu theo công thức:

∑ Trong đó: Ptb là tỷ lệ cây có sâu trung bình của đợt điều tra

Pi là tỷ lệ cây có sâu của ô tiêu chuẩn thứ i

M là tổng số ô tiêu chuẩn

Từ chỉ số P% ta xác định đƣợc mức độ bắt gặp của các loài sâu hại:

P% > 50%: Phân bố đều 25% ≤ P% ≤ 50% Phân bố không đều P% < 25% Phân bố ngẫu nhiên

* Xác định mức độ hại lá R%:

Mức độ hại lá của các cây điều tra được biểu thị bởi R%, trong đó ni là số lá bị hại ở từng cấp và vi là trị số của cấp hại i, có giá trị từ 0 đến 4.

N là tổng số cụm lá điều tra trên cây tiêu chuẩn

V là trị số cấp hại cao nhất (V=4)

* Hệ số biến động của từng loài sâu hại : ̅ 100

Trong đó : Xi là mật độ tuyệt đối của loài trong đợt điều tra thứ i

S là sai tiêu chuẩn, ̅ là mật độ tuyệt đối trung bình của các đợt điều tra, n là tổng số mẫu điều tra, và S% là hệ số biến động bình quân tương đối của một loài sâu.

Nếu S% càng nhỏ thì loài sâu đó xuất hiện đều và ít biến động

Nếu S% càng lớn thì loài sâu đó xuất hiện không đều và biến động nhiều

S% < 25% Biến động ít 25% < S% < 75% Biến động nhiều 75% < S% Biến động rất nhiều

Trong đó : Xi là giá trị cần kiểm tracủa cây thứ i ̅ là giá trị trung bình cộng cần kiểm tra

N là tổng số cây điều tra

Để xác định tính thuần nhất về mật độ sâu hại, tôi áp dụng tiêu chuẩn U nhằm kiểm tra sự khác biệt tại các vị trí khác nhau Nếu phát hiện sự sai khác trong mật độ sâu hại, tôi sẽ tiếp tục đánh giá tình trạng sinh trưởng của cây ở những vị trí đó.

Từ đó rút ra mối quan hệ giữa sinh trưởng của cây Thông nhựa và mật độ sâu hại

Công thức tính tiêu chuẩn U : ̅ ̅

Giá trị trung bình cộng cần kiểm tra của hai ô tiêu chí (ÔTC) được xác định bởi n1 và n2, là dung lượng quan sát được của các ô này, cùng với các sai số tiêu chuẩn tương ứng Việc đánh giá này là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của dữ liệu.

H 0 :à1 = à2 ( Giả thuyết hai trung bỡnh mật độ bằng nhau)

- Khi |U| > 1,96 → H 0 (α = 0.05) → hai số trung bình có sự sai khác nhau với độ tin cậy là 95%

- Khi |U| < 1,96 → H0 (α = 0.05) → hai số trung bình không có sự sai khác với độ tin cậy là 95%

4.5.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học cơ bản của các loài sâu hại chính

Các loài sâu hại chính thường xuyên xuất hiện và gây hại lớn, phân bố đều trong môi trường Để nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của chúng, cần thu thập dữ liệu về thành phần, mật độ, mức độ gây hại và thiên địch tại các điểm điều tra Sau đó, các số liệu thu được sẽ được xử lý để cung cấp thông tin liên quan đến các loài sâu hại chính.

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Danh lục các loài sâu hại lá Thông tại nơi nghiên cứu

Dựa trên kết quả điều tra các ô tiêu chuẩn, đã xác định được thành phần các loài sâu hại và thống kê danh mục các loài sâu hại lá thông tại khu vực nghiên cứu.

Bảng 5.1 : Danh lục các loài sâu hại lá Thông nhựa

STT Tên Việt Nam Tên khoa học Pha thu thập

1 Sâu róm 4 túm lông Dasychira axutha Collenette • -

II BỘ CÁNH MÀNG HYHENOPTERA

Họ ong ăn lá thông Diprionidae

2 Ong ăn lá thông đầu đen Diprion pini L + -

( • ): Pha trứng ( - ): Pha sâu non

( 0 ) : Pha nhộng ( + ) : Sâu trưởng thành Kết quả điều tra cho thấy tại khu vực nghiên cứu có 2 loài sâu hại lá thuộc

Trong nghiên cứu về sâu hại, hai loài sâu róm thông đuôi ngựa và sâu róm 4 túm lông thường xuất hiện cùng nhau, nhưng số lượng cá thể không nhiều Thời tiết phức tạp trước đợt điều tra, với nhiều đợt mưa phùn và nhiệt độ thấp, đặc biệt là các đợt rét đậm, đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các loài sâu hại này Khu vực nghiên cứu chủ yếu là Thông nhựa từ cấp tuổi 5 đến 6, tạo điều kiện phù hợp cho một loài nhưng không cho loài còn lại Cần tiến hành thêm các nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.

Phân tích sự biến động của mật độ và mức độ gây hại của sâu hại lá thông

Phân tích mối quan hệ giữa mật độ và mức độ gây hại là cần thiết để xây dựng các giải pháp phòng trừ sâu hại hiệu quả Sự biến động của hai yếu tố này không chỉ liên quan chặt chẽ với nhau mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Việc hiểu rõ sự tương tác giữa mật độ sâu hại và mức độ gây hại sẽ cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho các biện pháp quản lý sâu bệnh.

Biểu 5.1: Mật độ, mức độ hại lá và hệ số biến động của sâu hại lá thông trong khu vực thị trấn Trới Chỉ tiêu Đợt điều tra

Mật độ (cá thể/cây) + hệ số biến động Tỷ lệ cây có sâu (P%)

Sâu róm 4 túm lông Ong ăn lá thông Sâu róm 4 túm lông Ong ăn lá thông

Trứng S% Sâu non S% Sâu non S% Trứng Sâu non Sâu non Đợt 1

Ta có biểu đồ biểu thị mật độ tuyệt đối của sâu hại lá thông nhƣ sau:

Hình 5.1: Biểu đồ thể hiện sự biến động về mật độ của các pha sâu hại thông qua các đợt điều tra

Biểu đồ hình 5.1 cho thấy mật độ trung bình của hai loài sâu róm 4 túm lông và ong ăn lá thông đều có xu hướng tăng Cụ thể, mật độ loài ong ăn lá thông tăng trung bình 0,12 con/cây Đối với loài sâu róm 4 túm lông, mật độ ở pha trứng tăng mạnh từ 0,04 con/cây ở đợt điều tra đầu tiên lên 0,32 con/cây ở đợt thứ hai, sau đó giảm xuống còn 0,21 con/cây ở đợt ba Mặc dù vậy, mật độ sâu non của loài sâu róm 4 túm lông vẫn tăng trong cả ba đợt điều tra Để phân tích sự biến động mật độ tuyệt đối của các pha sâu hại, chúng tôi đã thiết lập biểu đồ tương ứng.

Mậ t đ ộ (co n/cây ) Đợt điều tra

Sâu róm 4TL (-) Ong ăn lá Sâu róm 4TL (•)

Hình 5.2: Biểu đồ thể hiện hệ số biến động của các pha sâu hại lá thông

Giá trị của S% phản ánh mức độ biến động và phân bố của sâu hại Trong giai đoạn không có dịch, sâu hại có hệ số biến động cao Khi dịch bệnh bùng phát, số lượng cá thể sâu hại tăng lên đáng kể và phân bố trở nên đồng đều hơn, dẫn đến hệ số biến động giảm.

Biểu đồ hình 5.2 cho thấy hệ số biến động của sâu hại thấp nhất là 19,83% ở pha sâu non sâu róm 4 túm lông Hệ số biến động của pha sâu non ong ăn lá thông giảm dần qua các đợt điều tra, cho thấy sự xuất hiện đều và ít biến động Để phân tích sự biến động này, chúng tôi đã lập biểu đồ biểu diễn tỷ lệ cây có sâu hại lá thông.

Hình 5.3: Biểu đồ thể hiện sự biến động về tỷ lệ cây có sâu hại lá thông

S% Đợt điều tra Sâu róm 4TL (-) Ong ăn lá Sâu róm 4TL (•)

Tỷ lệ cây có sâu

Sâu róm 4TL (-) Ong ăn lá Sâu róm 4TL (•)

Dựa vào chỉ tiêu đánh giá sự phân bố của sâu ăn lá, tỷ lệ cây có sâu P% tại thị trấn Trới đều nhỏ hơn 20%, cho thấy sự phân bố không đều của các loài sâu hại lá thông Sự nối tiếp giữa các pha của sâu róm 4 túm lông ảnh hưởng đến tỷ lệ cây có sâu, với sự gia tăng trứng ở đợt 1 và 2, nhưng giảm ở đợt 3 do trứng đã phát triển thành sâu non Để xác định mối quan hệ giữa mật độ sâu hại và mức độ hại lá, tôi đã lập biểu đồ mức độ hại lá qua các đợt Do sự tương đồng trong hình thức phá hại của sâu róm 4 túm lông và ong ăn lá thông, việc xác định mức độ gây hại riêng cho từng loài gặp khó khăn, vì vậy mức độ gây hại chung cho cả hai loài được tính toán và thể hiện trong biểu đồ.

Hình 5.4: Sự biến động của chỉ số gây hại R%

Biểu đồ hình 5.4 cho thấy mức độ ăn hại lá thông đã giảm từ 8,2% ở đợt 1 xuống còn 6,96% ở đợt 2, nhưng lại tăng lên 9,87% ở đợt 3 Sự biến động này là do mật độ sâu hại thay đổi, với pha sâu non là giai đoạn gây hại mạnh nhất.

R% của sâu róm 4 túm lông và ong ăn lá thông phụ thuộc vào mật độ sâu non trên cây chủ Cả hai loài này đều có khả năng sinh sản cao, với sâu róm 4 túm lông mỗi con cái có thể đẻ từ 250-500 trứng, trong khi ong ăn lá thông đẻ từ 130-135 trứng Mặc dù vậy, sự phá hoại lá của các loài sâu hại trên cây thông nhựa, vốn có đặc tính chát, là tương đối ít, với mức độ cao nhất chỉ đạt 9,87%.

Mối quan hệ giữa mật độ sâu hại chủ yếu với các yếu tố sinh thái

Đời sống của sâu hại lá thông chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường, với bất kỳ biến đổi nào trong điều kiện sống đều có thể làm thay đổi thành phần và số lượng cá thể sâu hại Các yếu tố môi trường phi sinh vật như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và hướng gió tác động trực tiếp đến chúng, trong khi nhóm sinh vật bao gồm nguồn thức ăn và thiên địch cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của sâu hại.

5.3.1 M ố i quan h ệ gi ữ a m ật độ sâu h ạ i ch ủ y ế u v ớ i nhi ệt độ và độ ẩ m

Sự biến động số lượng các loài sâu hại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ yếu tố khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm Các dữ liệu nghiên cứu về nhiệt độ và độ ẩm được thể hiện rõ trong bảng dưới đây.

Biểu 5.2: Nhiệt độ và độ ẩm không khí trong các đợt điều tra Đợt điều tra Nhiệt độ không khí ( 0 C) Độ ẩm không khí (%) Đợt 1 18,92 89 Đợt 2 24,33 85 Đợt 3 24,75 86

Sâu róm 4 túm lông phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 25-30°C và độ ẩm 80-85% Sự giảm nhiệt do gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng đến số lượng và mật độ của chúng, nhưng khi nhiệt độ tăng lên, mật độ sâu róm cũng gia tăng Độ ẩm cao trên 90% không thuận lợi cho sự sinh trưởng của sâu non, dẫn đến tỷ lệ chết rất cao Ngoài ra, khi lượng mưa thấp và kéo dài, sâu róm dễ bị vi sinh vật gây bệnh, làm giảm số lượng Ong ăn lá thông, thường gây hại mạnh ở lâm phần từ 4 đến 8 tuổi, cũng có sự gia tăng mật độ tương tự như sâu róm, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm Nhiệt độ tăng dần là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ong ăn lá thông, dẫn đến mật độ của chúng ngày càng tăng.

5.3.2 M ố i quan h ệ gi ữ a m ật độ các loài sâu h ạ i ch ủ y ế u v ới hướ ng d ố c Để phân tích mối quan hệ giữa mật độ sâu hại với hướng dốc tôi đã so sánh kết quả điều tra của hai ô tiêu chuẩn 03 và 06 có hướng dốc khác nhau, còn các điều kiện khác tương tự nhau Kết quả thu được thể hiện trong biểu sau:

Biểu 5.3 Mật độ các loài sâu hại chủ yếu theo hướng dốc

Hướng dốc Mật độ (con/cây)

Biểu 5.3 cho thấy rằng sâu non sâu róm 4 túm lông và ong ăn lá thông ở ô tiêu chuẩn hướng Đông Nam (06) có mật độ cao hơn so với ô tiêu chuẩn hướng Tây Bắc (03) Ngược lại, số lượng trứng sâu róm 4 túm lông lại lớn hơn ở ô tiêu chuẩn hướng Tây Bắc Để minh họa rõ hơn cho kết quả này, tôi đã thiết lập biểu đồ 5.5.

Hình 5.5: Biểu đồ thể hiện mật độ các loài sâu hại chính theo hướng dốc

Hướng dốc ảnh hưởng đến mật độ sâu hại, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng không lớn Giả thiết rằng nguồn thức ăn khác nhau sẽ dẫn đến mật độ sâu hại khác nhau, và điều này có thể được thể hiện qua sự sinh trưởng của cây thông.

Để đánh giá, chỉ số này cần được đo với dung lượng mẫu đủ lớn (n ≥ 30 cây), do đó có thể áp dụng tiêu chuẩn U Kết quả so sánh cho thấy

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự sinh trưởng của Thông nhựa khác nhau giữa hai hướng phơi Hướng Đông Nam nhận gió Đông ẩm ướt, giúp cây phát triển tốt hơn so với hướng Tây Bắc, nơi bị ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc lạnh và khô, dẫn đến sự phát triển kém Môi trường sống cho sâu hại ở hướng Tây Bắc không thuận lợi như ở Đông Nam, nơi có điều kiện sinh trưởng tốt hơn và nguồn thức ăn dồi dào, làm cho mật độ sâu hại lá ở sườn Đông Nam cao hơn so với sườn Tây Bắc.

Hướng dốc Sâu róm 4TL (•) Ong ăn lá Sâu róm 4TL (-)

5.3.3 M ố i quan h ệ gi ữ a m ật độ các loài sâu h ạ i ch ủ y ế u v ới độ cao Độ cao so với mặt nước biển có ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ và độ ẩm là hai yếu tố chính ảnh hưởng chủ yếu đến thảm thực vật và côn trùng rừng

Trong nghiên cứu, các vị trí như đỉnh đồi, chân đồi và sườn đồi thường được lựa chọn để phân tích ảnh hưởng của độ cao đến mật độ sâu hại Để so sánh và làm rõ mức độ khác biệt này, cần thiết phải chọn những ô tiêu chuẩn với độ cao tương đối khác nhau.

Kết quả đƣợc ghi vào mẫu biểu 5.3 nhƣ sau:

Biểu 5.3: Mật độ các loài sâu hại chủ yếu theo độ cao Loài sâu ÔTC

Ong ăn lá thông Đỉnh đồi

Mật độ của sâu hại ở các vị trí độ cao khác nhau đƣợc biểu diễn bằng đồ thị sau:

Hình 5.6: Biểu đồ thể hiện mật độ sâu hại lá thông theo độ cao của ô tiêu chuẩn

Biểu 5.3 và biểu đồ 5.6 cho thấy sự giảm dần của mật độ sâu non sâu róm 4 túm lông và ong ăn lá thông theo độ cao, trong khi trứng sâu róm 4 túm lông có xu hướng tăng nhẹ Độ cao tác động đến nhiều yếu tố như khí hậu, đất đai, sinh trưởng cây trồng, đặc tính sinh thái của sâu hại và thiên địch Để tăng tính thuyết phục cho các lý luận, tôi đã kiểm tra mức độ đồng nhất về sinh trưởng của các ô tiêu chuẩn được so sánh, với các ô được chọn có cùng hướng dốc Tây Bắc nhằm đảm bảo tính đồng nhất về điều kiện khí hậu.

Biểu 5.4: Kết quả kiểm tra độ thuần nhất của 3 ô tiêu chuẩn 02,03,04 Chỉ tiêu ÔTC ̅̅̅̅̅̅ (cm) ̅̅̅̅̅ (m) |U D1.3 | |U Hvn | Đỉnh – Sườn 40,14 – 32,91 15,92 – 15,62 3,84 0,98

0,3 Đỉnh đồi Sườn đồi Chân đồi

Vị trí tương đối Sâu róm 4TL (•) Sâu róm 4TL (-) Ong ăn lá

Kết quả kiểm tra cho thấy các ô tiêu chuẩn ở chân và đỉnh đồi không đồng nhất về chỉ tiêu sinh trưởng, trong khi ô ở sườn và chân lại đồng nhất về cả hai chỉ tiêu so sánh Mặc dù giữa đỉnh đồi và sườn đồi không đồng nhất về chỉ tiêu D 1.3, nhưng lại đồng nhất về chỉ tiêu Hvn Độ cao giữa các ô tiêu chuẩn so sánh không chênh lệch lớn và do cùng hướng dốc Tây Bắc, các ô này tương đối đồng nhất về điều kiện khí hậu.

Qua điều tra thực tế, tôi nhận thấy rằng chỉ tiêu sinh trưởng của thông ở đỉnh đồi tốt hơn so với sườn và chân đồi Khu vực nghiên cứu chủ yếu có thông nhựa từ 6 tuổi trở lên (trên 30 tuổi), và hiện tại đang tiến hành trồng bổ sung thông non ở chân và sườn đồi Bên cạnh đó, các hoạt động của con người, chủ yếu là khai thác nhựa, đã tác động đến rừng, làm mật độ sâu hại tại các vị trí này có sự biến động.

Độ cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mật độ của các loài sâu hại, chủ yếu thông qua sự thay đổi của các yếu tố sinh thái khác.

5.3.4 M ố i quan h ệ gi ữ a m ật độ các loài sâu h ạ i ch ủ y ế u v ớ i tu ổ i cây

Trên một loài cây, có nhiều loại sâu hại khác nhau, mỗi loại thường thích nghi với một giai đoạn phát triển cụ thể của cây Mỗi loài sâu hại cũng phát triển mạnh mẽ nhất ở một giai đoạn tuổi cây nhất định.

Đặc điểm sinh học của sâu róm 4 túm lông và ong ăn lá thông đầu đen

5.4.1 Đặc điể m sinh h ọ c c ủ a sâu róm 4 túm lông a) Vị trí và phân loại

Sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha Collenette) thuộc họ ngài độc (Lymantridae), bộ cánh vảy (Lepidoptera) b) Hình thái và tập tính

* Hình thái: Ảnh 5.1: Sâu non sâu róm 4 túm lông

Sâu trưởng thành có cơ thể màu tro hoặc xám – đen, với đầu màu xám nhạt và râu hình răng lược Cánh trước mang màu xám nâu, pha lẫn màu tối, có 4-5 đường vân gợn sóng chạy ngang, chia cánh thành các mảng màu sáng tối khác nhau Ngoài ra, sâu còn có nhiều lông mọc xung quanh chân, và kích thước của con cái lớn hơn nhiều so với con đực.

Trứng có hình cầu dẹt với đường kính khoảng 1mm, có đặc điểm là giữa lõm xuống và có một điểm nhỏ lồi ra Mới đẻ, trứng có màu xám xanh, sau đó sẽ chuyển sang màu xám tối.

Sâu non ở giai đoạn 6 tuổi có kích thước từ 35-45mm, với đầu màu nâu đỏ và trán màu nâu sẫm Thân sâu có màu nâu sẫm đến đen, trên bề mặt có đốm màu đen lẫn lộn Từ đầu đến đốt bụng thứ 8, mỗi đốt lưng đều có cụm lông đen dài hướng về phía trước Ở hai bên ngực trước, mỗi bên có một túm lông dài màu nâu tối, chĩa ra phía trước Đặc biệt, trên lưng từ đốt bụng thứ 1 đến đốt bụng thứ 4 có cụm lông màu nâu vàng hình dạng bàn chải.

Tuổi 1 của loài này có chiều dài thân từ 2-5mm và bề rộng đầu từ 0,6 đến 0,75mm Đầu có màu đen, trong khi thân thể có màu nâu vàng và ngực trước màu nâu đen Trên mỗi đốt ngực I, II, III có túm lông màu nâu nhạt, và lông trên cơ thể dài.

Ở tuổi 2, chiều dài thân của loài này đạt 4,50mm và bề rộng đầu là 0,90mm Đầu có màu đen hoặc nâu đỏ, trong khi thân thể có màu nâu nhạt Đặc biệt, các đốt bụng từ 5 đến 9 có túm lông màu nâu đen, và trên lưng của đốt bụng thứ 7 có túm lông dài.

Ở tuổi 3, chiều dài thân của sinh vật đạt 6,70mm và bề rộng đầu là 1,22mm Vùng đầu, cơ môi, trên môi và mắt bên có màu nâu, trong khi phần còn lại của cơ thể là màu đen Trên lưng, từ đốt bụng 7 đến 9, xuất hiện 4 vết đốm màu đen sẫm.

Ở tuổi 4, chiều dài thân của loài này đạt 11,80mm với bề rộng đầu là 1,80mm Đầu có màu đen và mắt bên màu nâu đỏ Trên hai bên đốt ngực và đốt bụng 8 có cụm lông dài màu đen, trong khi đốt bụng 1-2 có túm lông màu vàng hình dạng như bàn chải.

→Tuổi 4 sâu non sâu róm 4 túm lông mới có 2 túm lông

Sâu non tuổi 5 có chiều dài thân 19mm và bề rộng đầu 2,65mm Trên lưng từ đốt bụng 1-3, có túm lông màu vàng dạng bàn chải, trong khi mỗi đốt trên cơ thể mang lông màu vàng cam, khác biệt so với tuổi 4 Như vậy, sâu non tuổi 5 đặc trưng bởi 3 túm lông.

- Tuổi 6 : Chiều dài thân : 28,90mm (37-42mm); Bề rộng đầu : 3,75mm (3,05-4,05mm) Đầu màu nâu đỏ, thân màu đen, từ đốt bụng 1-4 có túm lông màu vàng hình bàn chải,…

Nhộng và kén : Nhộng cái dài 14-28mm, rộng 7-10mm, nhộng đực dài 14-20mm, rộng 6-9mm, màu nâu đỏ Bên ngoài có lông màu vàng mọc rải rác

Mặt lưng của loài này có lông mọc dày, hình thành 4 cụm màu nâu vàng Cuối bụng có gai cứng hình lưỡi câu Kén có kích thước dài từ 20-35mm và rộng 19mm, có hình bầu dục với màu nâu nhạt hoặc vàng cọ, bề mặt xù xì và có lông độc, bên ngoài có thể quan sát thấy cơ thể nhộng Nhộng thường kết thành chùm từ 2-4 nhộng trên thân cây hoặc gốc, hiếm khi kết nhộng đơn và ít khi thấy trên lá.

- Sâu trưởng thành vũ hoá tại một lỗ nhỏ ở đầu nhộng và vào lúc gần tối (16-18g), 1-3 giờ sau vũ hoá có thể bay đƣợc

Ngay sau đêm vũ hóa hoặc trong vòng 1-3 ngày, sâu róm 4 túm lông bắt đầu giao phối từ 21 giờ đến 6 giờ sáng, với thời gian giao phối chủ yếu từ 4-6 giờ sáng Mỗi con cái chỉ giao phối một lần và ngay sau đó sẽ đẻ trứng tại chỗ hoặc bay đến rừng thông để đẻ trứng Sau khi hoàn tất việc đẻ trứng, sâu trưởng thành sẽ chết trong vòng một đến hai ngày.

- Trứng nở sau 4-13 ngày, trong khoảng 2 ngày trứng có thể nở hết hoàn toàn và tỷ lệ nở trứng khoảng 80%

Sâu non mới nở bị thu hút bởi ánh sáng và thường tập trung trên đám trứng, ăn một phần vỏ trứng Sau khoảng 4 đến 5 giờ, chúng bò lên ăn lá thông với lượng thức ăn rất ít, chỉ gặm ở rìa lá, tạo ra các vết lõm Hành động này khiến lá thông dần bị hại, cuộn cong và khô héo.

Sâu non tuổi 1-2 có lông dài và dày, dễ dàng bị gió thổi đi xa Từ tuổi 3, chúng sống phân tán và gây hại mạnh mẽ Sâu non ở nhóm tuổi lớn thường cắn đứt giữa lá thông, chỉ để lại khoảng 3cm, phần đầu lá sẽ rơi xuống đất Chúng lột xác nhiều vào sáng sớm và gần tối, không ăn phần xác đã lột Sau khi lột xác từ 7-12 giờ, sâu non sẽ tiếp tục tìm kiếm thức ăn.

Sâu róm 4 túm lông thường làm kén ở thân cây, dưới tán cây bụi, và xung quanh gốc cây Chúng cũng có thể kết kén trong lá thông hoặc kẽ nứt vỏ cây thông Vào mùa đông, sâu non thường chọn những nơi khuất gió, hướng dương, rừng có độ tán che lớn, và những khu vực ẩm ướt trên sườn núi để trú ẩn.

Sâu róm thông trưởng thành có hoạt động vào ban đêm và ẩn nấp ban ngày, với tính xu quang mạnh, đặc biệt là với ánh sáng màu tím Chúng thích hợp sống trong điều kiện nhiệt độ từ 25-30 độ C và độ ẩm khoảng 80-85% Sâu róm thông thường ăn lá thông ở các cấp tuổi II-IV (10-20 tuổi).

5.4.2 Đặc điể m sinh h ọ c c ủa ong ăn lá thông đầu đen a) Vị trí phân loại

Ong ăn lá thông đầu đen (Diprion pini L.) thuộc họ ong ăn lá (Diprionidae), bộ cánh màng (Hymenoptera) b) Hình thái và tập tính

Ong trưởng thành có kích thước và màu sắc khác nhau: ong cái dài 9-10mm, màu nâu vàng với đầu đen, trong khi ong đực dài 8mm, màu nâu đen Râu của ong cái hình răng lược dài 3mm và có 18 đốt, trong khi râu của ong đực có hình lông chim kép Cả ong đực và ong cái đều có những đặc điểm chung nhất định.

- Có 3 mắt đơn xếp thành hình tam giác bẹt nằm giữa 2 mắt kép

- Các cánh màu hơi vàng, mắt cánh màu nâu đen

Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp quản lý các loài sâu hại chính

5.5.1 K ế t qu ả th ử nghi ệ m bi ệ n pháp v ật lý cơ giớ i

Sau khi thực hiện thử nghiệm các biện pháp vật lý cơ giới để bắt và tiêu diệt sâu non, trứng và nhộng, tôi đã tiến hành điều tra lại sau 14 ngày và thu được kết quả như sau:

Biểu 5.6 : Kết quả thử nghiệm biện pháp vật lý cơ giới

Thời gian thử nghiệm Ô đối chứng Ô thí nghiệm Mật độ (M) Tỷ lệ cây có sâu (P%)

Mật độ (M) Tỷ lệ cây có sâu (P%)

SR4TL OAL SR4TL OAL

Trước khi áp dụng biện pháp vật lý cơ giới

Kết quả từ biểu 5.6 cho thấy, trước khi áp dụng biện pháp vật lý cơ giới, tỷ lệ cây có sâu ở ô thí nghiệm là 35% và ô đối chứng là 35.29% Sau khi thực hiện biện pháp bắt giết sâu hại, tỷ lệ cây có sâu ở ô thí nghiệm giảm xuống 25%, trong khi ô đối chứng không áp dụng biện pháp nào, dẫn đến tỷ lệ cây có sâu tăng lên 41.18% Đồng thời, mật độ của hai loài sâu hại chính ở ô đối chứng cũng tăng, trong khi ở ô thí nghiệm, mật độ của chúng giảm.

Việc áp dụng biện pháp vật lý cơ giới đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm mật độ sâu hại tại khu vực nghiên cứu Phương pháp này không chỉ làm giảm số lượng sâu hại trên cây mà còn hạn chế khả năng phát tán sang các cây xung quanh.

5.5.2 K ế t qu ả th ử nghi ệ m bi ệ n pháp k ỹ thu ậ t lâm sinh

Trên ô thử nghiệm, chúng tôi đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như cuốc, xới, vun gốc và loại bỏ cành khô, lá rụng xung quanh thân cây, trong khi ô đối chứng không bị tác động Sau 14 ngày điều tra, chúng tôi đã thu được kết quả đáng chú ý.

Biểu 5.7 : Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Thời gian thử nghiệm Ô đối chứng Ô thí nghiệm Mật độ (M) Tỷ lệ cây có sâu (P%)

Mật độ (M) Tỷ lệ cây có sâu (P%)

SR4TL OAL SR4TL OAL

Trước khi áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Kết quả từ biểu 5.7 cho thấy, trước khi áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh, tỷ lệ cây có sâu ở ô thí nghiệm là 40,91% và ở ô đối chứng là 35% Sau khi thực hiện các biện pháp như cuốc, xới, vun gốc và loại bỏ cành khô, tỷ lệ cây có sâu ở ô thí nghiệm giảm xuống còn 27,27%, trong khi ở ô đối chứng tăng lên 40% Mật độ hai loài sâu hại cũng ghi nhận sự gia tăng ở ô đối chứng và giảm ở ô thí nghiệm.

Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong khu vực nghiên cứu đã chứng tỏ hiệu quả cao trong công tác phòng trừ sâu hại.

Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại lá thông

Phòng trừ sâu hại là việc áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại do sâu hại gây ra Để xác định thời điểm thực hiện phòng trừ, cần dựa vào các chỉ tiêu như ngưỡng kinh tế và ngưỡng gây hại Ngưỡng gây hại là mật độ sâu hại tại đó bắt đầu gây thiệt hại cho đối tượng bảo vệ, trong khi ngưỡng kinh tế là mức thiệt hại tương đương với chi phí thực hiện các biện pháp phòng trừ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ và mức độ gây hại của các loài sâu hại tại khu vực điều tra là rất thấp, do đó chưa cần áp dụng biện pháp phòng trừ Các biện pháp này chỉ nên được thực hiện khi số lượng và mức độ gây hại vượt quá ngưỡng cho phép Dưới đây là một số biện pháp phòng trừ sâu hại mà tôi đề xuất cho khu vực thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.

5.6.1 Bi ệ n pháp ki ể m d ị ch th ự c v ậ t

Biện pháp kiểm dịch thực vật là phương pháp quan trọng nhằm ngăn chặn sự lây lan của các đối tượng gây hại nguy hiểm giữa các quốc gia hoặc khu vực Biện pháp này bao gồm việc kiểm tra và phát hiện các loài sâu hại có thể đi kèm với hàng hóa như hạt giống, cây con và các sản phẩm lâm nông.

Một số biện pháp cụ thể :

- Hạn chế vận chuyển cây từ những nơi đã xảy ra dịch tới nơi chƣa có dịch Nếu có vận chuyển thì phải thông qua kiểm dịch

- Khoanh vùng bị dịch để kiểm soát ngăn chặn không để dịch lây lan sang các vùng lân cận

- Cây mang trồng phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đƣợc thực hiện kiểm dịch theo đúng quy định của các cơ quan chuyên môn

5.6.2 Bi ệ n pháp v ật lý cơ giớ i

Biện pháp vật lý cơ giới là phương pháp sử dụng các công cụ thủ công để tác động trực tiếp vào mật độ sâu hại Trong khu vực nghiên cứu, biện pháp này chủ yếu bao gồm việc bắt giết sâu hại, sử dụng bẫy dính cho sâu non di chuyển xuống gốc cây để hóa nhộng, và bẫy đèn để thu hút và tiêu diệt con trưởng thành, từ đó hạn chế số lượng sâu hại trong tương lai.

5.6.3 Bi ệ n pháp k ỹ thu ậ t lâm sinh

Biện pháp kỹ thuật lâm sinh là phương pháp canh tác hợp lý nhằm tạo ra diện tích cây trồng khỏe mạnh, có sức đề kháng cao với sâu bệnh Điều này không chỉ thúc đẩy sự cân bằng sinh thái mà còn hạn chế sự phát sinh và phát triển của sâu hại.

Biện pháp kỹ thuật lâm sinh là phương pháp hiệu quả trong phòng trừ sâu hại, kết hợp với chăm sóc và bảo vệ rừng Một số biện pháp cụ thể bao gồm việc quản lý sinh thái, duy trì đa dạng sinh học và áp dụng các kỹ thuật trồng rừng phù hợp.

- Trước khi tiến hành trồng mới cần xử lý đất, thực bì

Phát dọn dây leo và thu gom cành khô là cần thiết, nhưng cần đảm bảo độ che phủ của lớp thảm mục dưới tán rừng để hỗ trợ sự phát triển của thiên địch.

Trồng xen kẽ các loài cây lá rộng giúp ngăn chặn sự lây lan và di chuyển của sâu hại giữa các cây, đồng thời tạo thành các băng xanh có khả năng cản lửa hiệu quả.

Tiến hành tỉa thưa và chặt bỏ các cây suy yếu, bị sâu hại, cây chết đứng, đổ gãy hoặc cháy, sau đó đem ra khỏi rừng để đốt Hành động này nhằm tiêu diệt nơi cư trú của sâu hại, góp phần bảo vệ sức khỏe của rừng.

Nguyên tắc chung trong phòng trừ sâu hại là không tiêu diệt toàn bộ các loài, vì mỗi sinh vật đều có vai trò riêng trong hệ sinh thái và góp phần vào đa dạng sinh học Để kiểm soát số lượng sâu hại trong ngưỡng cho phép mà không ảnh hưởng đến lợi ích con người, biện pháp sinh học là một giải pháp hiệu quả.

Biện pháp sinh học là phương pháp hiệu quả trong việc phòng trừ sâu hại mà không gây ô nhiễm môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học Phương pháp này chủ yếu dựa vào việc sử dụng thiên địch và các chế phẩm sinh học để kiểm soát sâu hại Một số biện pháp sinh học cụ thể bao gồm việc áp dụng các loại thiên địch tự nhiên và sản phẩm sinh học an toàn.

Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của các loài thiên địch là rất quan trọng để phát triển các biện pháp tăng cường số lượng thiên địch trong tự nhiên Các biện pháp này bao gồm nhân nuôi, bảo vệ môi trường sống, tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch phát triển, cũng như thả thiên địch từ nơi khác vào khu vực cần thiết.

- Bảo vệ một số loài cây bụi có nhiều mật hoa tạo nơi trú ngụ và nguồn thức ăn cho thiên địch phát triển

Sử dụng chế phẩm sinh học là phương pháp hiệu quả để tiêu diệt và xua đuổi sâu hại Các chế phẩm phổ biến như Boverin, chứa nấm Bạch Cương (Beauveria basiana), và BT, chứa vi khuẩn Bacillus thuringiensis, được áp dụng rộng rãi Khi mật độ sâu non tăng cao và có nguy cơ phát dịch, nên phun chế phẩm sinh học lên toàn bộ tán lá vào thời điểm chiều mát để đạt hiệu quả tốt nhất.

Biện pháp hoá học là việc sử dụng thuốc trừ sâu để kiểm soát sâu hại, thường được áp dụng khi các phương pháp khác không hiệu quả trong việc ngăn chặn sự phát triển của chúng.

Hiện tại, mật độ sâu hại tại khu vực nghiên cứu rất thấp và chưa từng xảy ra dịch, nhưng khả năng phát dịch vẫn có thể xảy ra Do đó, việc chuẩn bị biện pháp hóa học để trừ sâu là cần thiết Khi áp dụng biện pháp này, cần chú ý đến phương pháp, kỹ thuật sử dụng và các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của thuốc Để đảm bảo hiệu quả khi sử dụng biện pháp hóa học, cần tuân thủ những điều kiện cơ bản.

- Sâu bệnh gì dùng thuốc đó, ƣu tiên những loại thuốc đặc trị hữu hiệu và có trong danh lục thuốc bảo vệ thực vật đƣợc phép sử dụng

Ngày đăng: 06/07/2021, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997), Côn trùng rừng, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Tác giả: Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1997
2. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
3. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (2002), Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
4. Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2004), Bảo vệ thực vật. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ thực vật. NXB Nông Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp"
Năm: 2004
5. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (2002), Bài giảng “Kỹ thuật phòng trừ sâu hại”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng “Kỹ thuật phòng trừ sâu hại”
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh
Năm: 2002
6. Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi (2009), Thống kê sinh học, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh học
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2009
7. Ngô Kim Khôi (1998), Thống kê toán học trong Lâm nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê toán học trong Lâm nghiệp
Tác giả: Ngô Kim Khôi
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1998
8. Phạm Ngọc Anh (1976), Côn trùng Lâm nghiệp, NXB Nông Ngiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng Lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Nông Ngiệp
Năm: 1976
10. Đặng Vũ Cần (1973), Sâu hại rừng và cách phòng trừ, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu hại rừng và cách phòng trừ
Tác giả: Đặng Vũ Cần
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1973
11. Nguyễn Bá Thụ, Đào Xuân Trường (2004), Sâu bệnh hại rừng trồng và các biện pháp phòng trừ, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu bệnh hại rừng trồng và các biện pháp phòng trừ
Tác giả: Nguyễn Bá Thụ, Đào Xuân Trường
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2004
9. Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Cẩm nang ngành Lâm nghiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w