1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN cứu bảo tồn LOÀI xá xị (CINNAMOMUM PARTHENOXYLON (JACK) MEISN ) tại KHU bảo tồn THIÊN NHIÊN THƯỢNG TIẾN TỈNH hòa BÌNH

62 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Bảo Tồn Loài Xá Xị (Cinnamomum Parthenoxylon (Jack) Meisn) Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Thượng Tiến Tỉnh Hòa Bình
Tác giả Chu Quang Tưởng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Văn Sâm
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Trên thế giới (9)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (11)
    • 1.3. Nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến (16)
  • Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI (17)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (17)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (17)
      • 2.1.2. Khí hậu, thủy văn (17)
      • 2.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng (18)
      • 2.1.4 Thảm thực vật rừng (18)
      • 2.1.5. Cấu trúc rừng và tổ thành thực vật (19)
    • 2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội (19)
      • 2.2.1. Dân tộc, dân số (19)
      • 2.2.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp (19)
  • Chương 3. MỤC TIÊU ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (21)
    • 3.2. Đối tượng nghiên cứu (21)
    • 3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu (21)
      • 3.3.1. Nội dung nghiên cứu (21)
      • 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu (21)
      • 3.3.3. Phương pháp thu thập, điều tra, khảo sát thực địa (0)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (25)
    • 4.1. Đặc điểm hình thái và giá trị nguồn gen Xá xị (25)
    • 4.2. Đặc điểm sinh thái (28)
      • 4.2.1. Đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có Xá xị phân bố tập trung (31)
      • 4.2.2. Đặc điểm tái sinh của lâm phần có Xá xị phân bố tập trung (34)
    • 4.3. Nhân tố ảnh hướng và giải pháp bảo tồn loài Xá xị (36)
      • 4.3.1. Nhân tố ảnh hưởng đến loài xá xị (36)
      • 4.3.2. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn loài Xá xị ............................................ 35 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (48)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

- Nghiên cứu về phân loại họ Long não và loài Xá xị

Trên thế giới, nghiên cứu phân loại các loài thực vật thuộc chi

Cinnamomum thuộc họ Lauraceae, được Antoine Laurent de Jussieu nghiên cứu và đặt tên vào năm 1789, trong khi Jacob Christian Schaeffer mô tả chi Cinnamomum vào năm 1760 Họ Long não bao gồm 54 chi với khoảng 3500 loài, chủ yếu phân bố ở các khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới ở Bắc và Nam bán cầu, đặc biệt tập trung tại Đông Nam Á và khu vực nhiệt đới châu Mỹ.

Long não (Cinnamomum) là một chi lớn trong họ Long não (Lauraceae), bao gồm khoảng 250 loài phân bố từ châu Á đến Đông Nam Á, Australia và khu vực Tây Thái Bình Dương Tại miền Nam châu Mỹ, chỉ có một số ít loài, trong khi khu vực Malesian đã phát hiện khoảng 90 loài Hiện tại, khoảng 150 loài đã được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) là một loài trong họ Long não, được xếp vào nhóm thiếu dữ liệu DD (Data Deficient) trong danh lục đỏ của IUCN (1994) Ở Trung Quốc, Xá xị đã được mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, nhưng các nghiên cứu sâu về loài này vẫn còn hạn chế.

- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, trồng các loài cây họ Long não và loài Xá xị

Bảo tồn nguồn gen cây rừng, đặc biệt là loài cây Xá Xị, là việc giữ gìn đa dạng di truyền cần thiết cho cải thiện giống cây, phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Mục đích chính của bảo tồn nguồn gen là duy trì vốn gen lâu dài để làm nền tảng cho công tác chọn giống Cải thiện giống là vấn đề quan trọng, quyết định sự thành công trong trồng rừng Với sự phát triển của công nghệ gen và sinh học, việc chọn và tạo giống cây rừng đang có nhiều cơ hội phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Mặc dù nhiều nghiên cứu đã tập trung vào các biện pháp kỹ thuật thâm canh để nâng cao năng suất, nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến kỹ thuật thâm canh riêng cho loài cây Xá Xị.

Nghiên cứu về nhân giống và gieo trồng các loài thực vật thuộc chi Re (Cinnamomum) và chi Bời lời (Litsea) đã được thực hiện với nhiều phương pháp khác nhau Các loài Bời lời như Litsea cubeba, Litsea umbrosa, và Litsea citrata chủ yếu được nhân giống bằng hạt, trong khi Litsea cubeba còn được nghiên cứu nhân giống qua phương pháp nuôi cấy mô tế bào Tuy nhiên, chưa có công bố nào về nhân giống bằng hom cho các loài Bời lời Gieo trồng các loài này đã được thực hiện ở một số quốc gia, nhưng tài liệu về lĩnh vực này còn hạn chế Đối với chi Long não (Cinnamomum), nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số loài như Cinnamomum camphora và Cinnamomum iners có thể nhân giống bằng hom, với tỷ lệ ra rễ cao nhất khi sử dụng hom cành tuổi 1 Kết quả cũng cho thấy rằng thời gian thu hái, loại chất điều hoà sinh trưởng, và nồng độ hoá chất cần thiết khác nhau tùy thuộc vào từng loài.

Nhân giống hữu tính của Long não (Cinnamomum camphora) đã được thực hiện thành công Hạt Long não cần được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 20°C để duy trì sức nảy mầm từ 1-6 tháng Việc gieo hạt càng sớm sẽ giúp tăng tỷ lệ nảy mầm, mang lại hiệu quả cao hơn cho quá trình nhân giống.

Tình hình nghiên cứu trong nước

- Nghiên cứu về phân loại họ Long não và loài Xá xị

Nghiên cứu về thành phần loài và phân loại họ Long não (Lauraceae) ở Việt Nam đã được thực hiện bởi nhiều tác giả, trong đó có Lecomte (1907-1952), Phạm Hoàng Hộ (1992-2000) và Nguyễn Kim Đào (2002) Đặc biệt, Phạm Hoàng Hộ đã tóm tắt mô tả 40 loài thuộc chi Long não vào năm 1991 Nguyễn Kim Đào, đến từ Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật, đã có nhiều nghiên cứu sâu sắc về họ Long não và đóng góp quan trọng cho cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập II, năm 2002).

Năm 2003, họ Long não (Lauraceae) được công nhận với 257 loài thuộc 21 chi, trong đó chi Long não (Cinnamomum) bao gồm 44 loài Chi Long não có đặc điểm nổi bật là lá thường có 3 gân chính và quả có các thuỳ bao hoa dày lên ở phía dưới Một trong những loài tiêu biểu của chi này là xá xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn).

- Nghiên cứu về giá trị nguồn gen các loài cây họ Long não và loài Xá xị

Nghiên cứu về giá trị tài nguyên thực vật thuộc chi Long não (Cinnamomum) được thực hiện bởi Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật, với công bố trong cuốn "Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam" (Lã Đình Mỡi, 2002) về thành phần hoá học, công dụng và tình trạng buôn bán quốc tế của một số loài cây trong chi này Các tác giả cũng đã trình bày khả năng nhân giống, gây trồng, cũng như đặc điểm sinh thái, sinh trưởng và phát triển của chúng Đặc biệt, nghiên cứu về thành phần hoá học của tinh dầu Xá xị, có giá trị thương mại lớn trên thị trường quốc tế, đã được thực hiện bởi các nhà khoa học từ Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật và Trường Đại học Dược Hà Nội.

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của thực vật

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về đặc điểm sinh học và sinh thái của các loài thực vật tại các Vườn Quốc gia ở Việt Nam Điển hình như công trình của Đỗ Đình Tiến (2000) về trà hoa vàng tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, Phan Thanh Diễn (2005) nghiên cứu về loài lim xẹt nhằm cải thiện rừng tại vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo, và Hoàng Thái Sơn (2005) về đặc điểm của một số loài đỗ quyên tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên Ngoài ra, Nguyễn Hoàng Hảo (2005) đã nghiên cứu loài Gõ đỏ phục vụ cho việc phát triển rừng tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên, cùng với các nghiên cứu khác về loài Huỷnh và Vối thuốc, nhằm xây dựng và phát triển rừng trồng tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Bắc Giang Những nghiên cứu này đóng góp quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Cinnamomum balansae Lecomte là loài cây quan trọng trong công tác bảo tồn tại rừng đặc dụng Yên Tử - Quảng Ninh, như đã được nêu trong nghiên cứu của Phùng Văn Phê năm 2007 Ngoài ra, cây Quế (Cinnamomum cassia Blume), thuộc chi Long não (Cinnamomum) và họ Long não (Lauraceae), cũng được nghiên cứu sâu sắc bởi tác giả Phạm Xuân Hoàn từ Trường Đại học Lâm nghiệp.

Trong nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon) ở miền Bắc Việt Nam” (2009-2011), Phùng Văn Phê đã đánh giá đặc điểm hình thái, phân bố và sinh thái của cây Xá xị tại Vĩnh Phúc và Cao Bằng Cây trưởng thành có lá đơn nguyên, hình trứng ngược hay trái xoan, kích thước 5-15 x 2,5-8cm, với lá trung bình 6,4cm x 4,6cm Hoa Xá xị mọc thành cụm ở đầu cành, có khoảng 15 hoa mỗi cụm, hoa lưỡng tính với bao hoa màu trắng vàng Quả hạch hình cầu, đường kính 0,8-1,2 cm, chín vào tháng 10-11 Cây thường xanh này sinh trưởng liên tục, ra chồi quanh năm, với lá non màu đỏ Tại Tam Đảo, Xá xị phân bố rải rác trong rừng thứ sinh nhân tác, với số lượng cá thể rất ít Đất nơi có Xá xị phân bố có hàm lượng mùn trung bình đến giàu, nhưng lại chua và nghèo Canxi, Magie.

Nghiên cứu nhân giống và trồng các loài thuộc họ Long não và loài Xá xị cho thấy rằng các loài trong chi Long não thường được nhân giống bằng hạt hoặc hom giống Hạt Long não (C camphora) và hạt Quế (C cassia) chỉ có thể giữ được sức nảy mầm trong 6 tháng và cần được gieo ngay sau khi thu hái Tỷ lệ nảy mầm của hạt Quế xây lan (C verum) đạt 80%, trong khi hạt Long não chỉ đạt 40-60% Cây con của loài Quế lợn (C iners) có tỷ lệ sống tới 80% khi trồng rễ trần Nhân giống sinh dưỡng bằng hom cành cũng cho kết quả khả quan, với tỷ lệ ra rễ đạt 75-90% nếu hom được xử lý đúng cách Hạt Long não nhỏ, nặng khoảng 160-180 gam, cần được bảo quản trong điều kiện ẩm để duy trì sức nảy mầm Trước khi gieo, nên ngâm hạt trong nước nóng 50 độ C để thúc đẩy quá trình nảy mầm, và thời gian nảy mầm có thể kéo dài tới 50-60 ngày Các thử nghiệm so sánh giữa nhân giống bằng hạt và sinh dưỡng cho thấy sự sinh trưởng của quần thể Long não non không khác biệt nhiều.

Quế (Cinnamomum cassia) là cây thuộc họ Long não, có thể nhân giống bằng hạt hoặc hom cành Hạt Quế chứa dầu béo, dễ mất khả năng nảy mầm nếu không bảo quản đúng cách Để nâng cao tỷ lệ nảy mầm lên 80-90%, hạt cần được ngâm trong nước muối loãng hoặc thuốc tím 1% và giữ ở nhiệt độ 40-60 độ C Hạt nên được gieo trong vườn ươm hoặc bầu đất đã chuẩn bị sẵn Cây con từ 1-2 năm tuổi có thể được trồng ra diện tích sản xuất Thí nghiệm giâm cành cho thấy tỷ lệ ra rễ và nảy chồi cao khi sử dụng hom giống từ chất kích thích sinh trưởng Cành giâm cần được cắm vào cát sạch, ẩm và có mái che ánh sáng trực tiếp, sau đó chuyển dần ra ánh sáng khi đã ra rễ để kích thích sự phát triển.

Nghiên cứu về giâm hom loài Xá Xị (Cinnamomum parthenoxylon) cho thấy đây là loài cây khó ra rễ Giá thể cắm hom, đặc biệt là hỗn hợp 60% cát vàng và 40% mùn cưa, là yếu tố quyết định đến tỷ lệ hình thành và chất lượng rễ Để đạt hiệu quả tốt nhất, hom nên được cắt vào buổi sáng, xử lý bằng chất điều hòa sinh trưởng và giâm ngay trong ngày IBA với nồng độ 250 ppm là lựa chọn tối ưu, mang lại tỷ lệ ra rễ cao và chất lượng rễ tốt nhất Thời gian xử lý hom trong 30 phút cũng có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả này.

Xá Xị có thể được nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro, và nghiên cứu ban đầu của Viện CNSH Lâm nghiệp, trường Đại học Lâm nghiệp đã khẳng định khả năng nhân nhanh thành công Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu tạo rễ in vitro để xác định môi trường phù hợp, do Xá Xị là cây khó ra rễ trong điều kiện nuôi cấy.

Giống cây trồng là một yếu tố quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp, giúp tăng năng suất cây nông nghiệp gấp đôi so với những năm 1960 (Lê Đình Khả, 2003) Theo Nguyễn Huy Sơn (2006), cải thiện giống cây rừng đã trở thành một giải pháp hàng đầu để nâng cao sản lượng và chất lượng rừng Các hoạt động cải thiện giống bắt đầu bằng việc khảo nghiệm loài và xuất xứ cho các loài như thông, bạch đàn, keo và phi lao, sau đó tiến hành chọn lọc cây trội và xây dựng vườn giống cho nhiều loài, bao gồm cả cây bản địa và ngoại nhập.

Bón phân cho cây rừng đã trở thành một biện pháp thâm canh quan trọng ở Việt Nam trong hơn 10 năm qua, với nhiều nghiên cứu đáng chú ý như của Lê Đình Khả về bón phân cho Keo lai tại Cẩm Quỳ - Ba Vì - Hà Tây và Đỗ Đình Sâm với 14 công thức bón phân cho Keo lai trên đất phù sa cổ ở Đông Nam Bộ Những nghiên cứu này chứng minh rằng bón phân là giải pháp hiệu quả trong việc nâng cao năng suất cây trồng Tuy nhiên, việc nghiên cứu bón phân cho cây Xá Xị vẫn còn hạn chế và cần được khai thác thêm.

Nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến

Tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình, chưa có nghiên cứu nào về phân loại và bảo tồn các loài cây thuộc họ Long Não, đặc biệt là loài Xá xị Gần đây, khu bảo tồn đã triển khai chương trình nghiên cứu nhằm khai thác và phát triển nguồn gen loài Tai chua, với kết quả bước đầu xác định được hiện trạng phân bố, nhân giống và trồng thành công tại đây.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, được thành lập vào năm 1986, có diện tích 1.500 ha, tọa lạc tại xã Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Địa hình tại đây phức tạp với những đồi núi có độ dốc vừa phải, một số nơi cao hơn 1.000 m Khu bảo tồn chủ yếu là rừng trên núi đá vôi, với thảm thực vật chủ yếu là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, mặc dù đã bị tác động Khu vực nghiên cứu bị chia cắt mạnh bởi nhiều dông núi nhỏ và khe suối, với độ dốc trung bình từ 30° đến 35°, và có nơi đạt tới 40° đến 45°.

Khu rừng bảo tồn Thượng Tiến nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có đặc trưng cơ bản sau

- Khí hậu : Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè nắng ấm từ tháng 4 đến tháng 9

Chế độ nhiệt của khu vực này có nhiệt độ bình quân năm đạt 23.5⁰C, với nhiệt độ trung bình mùa nóng là 25⁰C và mùa lạnh là 20⁰C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dao động từ 5 đến 8⁰C Nhiệt độ cao nhất từng ghi nhận là 41⁰C vào tháng 6, trong khi nhiệt độ thấp nhất đã từng xuống đến 0⁰C vào tháng 1 Ở các thung lũng, nhiệt độ trong năm có thể giảm xuống còn 10⁰C trong một số ngày.

- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân năm là 1.400-1.600 mm, mưa tập chung vào các tháng 7,8 ( chiếm khoảng 80 % lượng mưa trong năm)

Chế độ ẩm của khu vực này có độ ẩm bình quân năm đạt 75%, với mức cao nhất vào tháng 3 - 4 lên tới 80% và thấp nhất là 65% trong tháng 1 - 2 Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 1.300mm Trong những tháng khô hạn, độ ẩm có thể giảm xuống còn 40 - 45%, gây ra tình trạng nóng bức và khô, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của cây cối.

Khu vực Thượng Tiến chịu ảnh hưởng bởi hai loại gió chủ yếu: gió Đông Bắc trong mùa khô hanh và gió Đông Nam trong mùa mưa Gió Đông Bắc, với đặc trưng lạnh lẽo, thường xuất hiện vào những ngày có độ ẩm thấp, gây thiệt hại cho cây cối trong vùng.

Với địa hình dốc và chia cắt mạnh, hệ thống sông ngòi trong vùng thường ngắn và có độ dốc cao, dẫn đến dòng chảy mạnh trong mùa mưa và nguy cơ lũ lụt Sông Bôi, chảy theo hướng Đông Nam và đổ vào sông Đáy, là nguồn thủy chính của khu vực Ngoài ra, phía Nam còn có hệ thống suối cung cấp nước sạch, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho xã.

Điều kiện khí hậu thủy văn tại khu vực này rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài động thực vật rừng trong hệ sinh thái rừng Quốc gia.

Đá mẹ là nguồn gốc hình thành đất đai tại huyện Kim Bôi, theo tài liệu địa chất, chủ yếu từ các sản phẩm phong hóa của sa thạch, phiến thạch và các loại đá biến chất khác.

- Một số loại đất chính;

+ Đất Feralit màu vàng trên núi thấp: phân bố ở độ cao từ 300 - 700m, hình thành trên các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch

Đất đá vôi thung lũng là loại đất có tính kiềm, được hình thành từ quá trình phong hóa của đá sa thạch, đá biến chất và đá vôi Loại đất này rất thích hợp cho việc trồng một số loại cây ăn quả có múi như cam, chanh, và bưởi.

Theo báo cáo Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu BTTN

Thượng Tiến giai đoạn 2013 - 2020 độ che phủ của rừng 90.5 % tổng diện tích tự nhiên Thảm thực vật rừng được phân thành 8 kiểu chính và phụ;

Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh trên núi đất dưới 700m là thảm thực vật phổ biến trong khu vực, mặc dù đã bị tác động Thành phần thực vật chủ yếu trong cấu trúc rừng này là Đen lá rộng.

Dưới tán rừng tươi tốt, các loài cây như ba khét, kháo xanh, ba soi và lá nến phát triển mạnh mẽ, trong khi lớp cây tái sinh và cây bụi lại kém phát triển hơn.

2.1.5 Cấu trúc rừng và tổ thành thực vật

- Tầng vượt tán có những loài Đen lá rộng, Kháo xanh, Ngõa khỉ … tạo thành tầng tán không liên tục với chiều cao từ 10 - 20m

- Tầng ưu thế sinh thái gồm rất nhiều loài tham gia tạo thành tầng tán liên tục Gồm các loài Ba soi, Ba bét, Hoắc quang,

Đặc điểm kinh tế - xã hội

Theo thống kê năm 2017 tại UBND xã Thượng Tiến, tổng dân số là 1.098 người, trong đó dân tộc Mường chiếm 97% với 1.041 người, dân tộc Kinh 2% với 20 người, và phần còn lại thuộc về dân tộc Thái Mật độ dân số đạt 20 người/km², tỷ lệ dân số tự nhiên ổn định ở mức 1% Cộng đồng tại xã có truyền thống định canh, định cư, với nền văn minh lúa nước và các lễ hội văn hóa truyền thống đặc trưng của vùng cao Tây Bắc.

Dân số trong vùng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rừng và khu vực sinh thái Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán canh tác và phương thức sử dụng đất riêng, dẫn đến sự khác biệt trong tác động đến tài nguyên thiên nhiên và rừng Do đó, cần thiết phải có các chính sách phù hợp để hỗ trợ đồng bào phát triển kinh tế, đồng thời tham gia vào việc phát triển bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

2.2.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp

Sản xuất nông nghiệp là ngành chủ đạo trong xã, tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp hạn chế và năng suất cây trồng thấp đã gây khó khăn cho đời sống người dân Cụ thể, diện tích trồng lúa là 243,2 ha với năng suất đạt 41 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 997 tấn Ngoài ra, diện tích trồng ngô là 24,7 ha nhưng năng suất chưa được đề cập.

Diện tích canh tác tại địa phương bao gồm 40 tạ/ha với sản lượng đạt 99,8 tấn, trong đó có 70ha sắn, 2,5ha lạc và 4,6ha mía Về chăn nuôi, xã có sự đa dạng về các loại vật nuôi như trâu, bò, lợn, dê và gia cầm như gà, vịt Ngoài ra, một số hộ còn nuôi nhím và ong để phát triển kinh tế Đặc biệt, trâu và bò được chăn nuôi theo hai hình thức: chăn thả ở bãi cỏ ven rừng và thả rông trong rừng.

Trong những năm gần đây, nhờ sự hỗ trợ của nhà nước từ dự án 661, diện tích rừng trồng tăng đều hàng năm Hiện tại, phần lớn diện tích rừng trong xã đã được giao cho các hộ dân quản lý và bảo vệ tại khu rừng phòng hộ KBTTN Thượng Tiến Tuy nhiên, công tác khoanh nuôi và phục hồi rừng vẫn chưa đạt hiệu quả cao, một phần do vốn đầu tư thấp và một phần do cơ chế chính sách chưa đảm bảo quyền lợi cho người dân trong việc khoanh nuôi và phục hồi rừng.

MỤC TIÊU ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen của cây Xá xị quý hiếm tại khu BTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình.

- Xác định được tình hình phân bố tự nhiên của Xá xị tại khu BTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình

- Xác định được một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của xá xị tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được giải pháp bảo tồn và phát triển cây Xá xị tại KBTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình.

Đối tượng nghiên cứu

Xá Xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) tại khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình.

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu hiện trạng Xá xị tại khu BTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và tái sinh của loài Xá xị tại khu vực Nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp bảo tồn loài Xá xị tại khu vực Nghiên cứu

Để bảo vệ các loài thực vật nguy cấp quý hiếm, cần thu thập tài liệu liên quan như danh mục các loài trong sách đỏ Việt Nam, Nghị định 06, CITES và danh mục IUCN 2020 Việc này giúp nâng cao nhận thức và đảm bảo sự bảo tồn hiệu quả cho các loài thực vật đang gặp nguy hiểm.

- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên khí hậu, thủy văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng

- Thông tin tư liệu về điều kiện kinh tế - xã hội; Dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác

Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm tại Việt Nam và trên thế giới đã chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo tồn chúng Các văn bản liên quan cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng hiện tại của những loài này, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả Việc bảo vệ thực vật quý hiếm không chỉ góp phần duy trì đa dạng sinh học mà còn hỗ trợ phát triển bền vững cho môi trường sống.

3.3.3 Phương phá p thu th ập, điề u tra, kh ả o s á t th ực đị a

Phương pháp điều tra thu thập số liệu theo tuyến là một kỹ thuật quan trọng, trong đó tuyến đường được xác định trước trên bản đồ địa hình Việc lựa chọn tuyến cần dựa trên các đường mòn có sẵn, nhằm tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận khu vực điều tra.

Các tuyến điều tra có chiều dài khác nhau được xác định để đảm bảo bao quát tất cả các trạng thái rừng Những tuyến này được đánh dấu trên bản đồ và thực địa bằng sơn hoặc dây nilon màu dễ nhận biết.

- Dùng máy định vị GPS để xác định phân bố của loài Xá xị trên các tuyến điều tra vào bản đồ

- Dùng máy ảnh để lưu lại hình ảnh của loài trên tuyến điều tra

* Thiết lập các tuyến điều tra:

Dựa trên điều kiện về thời gian, nhân lực và vật lực cần thiết cho công tác điều tra, chúng tôi sẽ thực hiện các nội dung của đề tài một cách hiệu quả và đảm bảo các yếu tố cần thiết Công tác chuẩn bị nội nghiệp rất quan trọng; sau khi xem xét tình trạng rừng và đất lâm nghiệp tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, cùng với điều kiện địa hình và ý kiến từ lãnh đạo địa phương, chúng tôi sẽ xác lập các tuyến điều tra đại diện qua các sinh cảnh để xác định loài nghiên cứu theo nội dung đề ra.

+ Phương pháp điề u tra thu th ậ p s ố li ệu trong điề u tra lâm h ọ c

Trên các tuyến điều tra, khi phát hiện loài Xá xị, cần lập các ô tiêu chuẩn để tiến hành nghiên cứu, với diện tích mỗi ô là 500 m² (20x25 m) Trong các ô tiêu chuẩn này, việc điều tra thành phần loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây gỗ được thực hiện, bao gồm việc thu mẫu và điều tra cá thể của tầng cây cao.

- Điều tra, đo tính tất cả các cá thể loài thực vật được tìm thấy trong OTC có đường kính ngang ngực (D1.3) lớn hơn hoặc bằng 6cm

- Đo D1.3 bằng thước kẹp kính

- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước đo cao Blummleiss

Đo đường kính tán (Dt) của cây bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây và Nam Bắc Đối với những cây khó tiếp cận do địa hình hiểm trở, áp dụng phương pháp mục trắc dựa trên kinh nghiệm từ những cây đã được đo trước đó Kết quả điều tra theo tuyến sẽ được ghi chép vào mẫu biểu quy định.

Mẫu biểu 01: Biểu điều tra các cây theo tuyến

Số hiệu tuyến:………… Chiều dài tuyến:………

Kiểu rừng chính: Độ cao:……… Độ dốc:………….……Hướng dốc:…………

Ngày điều tra: Người điều tra:

… b/ Điều tra, đo đếm cây tái sinh

Cây tái sinh được khảo sát trong các ô dạng bản có diện tích 25 m², với tổng cộng 5 ô được thiết lập cho mỗi ô tiêu chuẩn Trong đó, 4 ô được đặt tại 4 góc và 1 ô nằm ở trung tâm của ô tiêu chuẩn.

Trong ô dạng bản, điều tra xác định tên và số lượng cây tái sinh theo các cấp chiều cao và chất lượng Cây tái sinh được phân loại thành 3 cấp sinh trưởng: tốt, trung bình và xấu, đồng thời phân chia nguồn gốc tự nhiên thành 2 nhóm: tái sinh chồi và tái sinh chồi hạt Chiều cao cây tái sinh được chia làm 5 cấp: cây có chiều cao < 20 cm (cây mạ hay cây con dưới 1 tuổi), cây từ 20-50 cm (chịu ảnh hưởng lớn của tầng thảm tươi), cây từ 50-100 cm, cây từ 100-300 cm, và cây cao trên 300 cm (đã vượt qua tầng cây bụi thảm tươi).

Kết quả điều tra cây tái sinh được ghi vào biểu sau:

Mẫu biểu 02: Biểu điều tra tái sinh tự nhiên theo tuyến

Ngày điều tra: Người điều tra:

>100 Hạt Chồi Tốt TB Xấu

Xác định mật độ cây tái sinh: Mật độ (N) được tính theo công thức:

N: số cây đếm được trong diện tích S (cây)

S: diện tích đo đếm (ha)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm hình thái và giá trị nguồn gen Xá xị

- Tên phổ thông : Xá xị

- Tên khác: Re hương, gù hương

- Tên khoa học: Cinnamomum parthenoxylon (jack) Meisn

- Tên đồng nghĩa: Laurus parthenoxylon Jack, 1820; Laurus porrecte

Roxb 1832; Sassafras parthenoxylon (Jack) Nees, 1836; Cinnamomum simondii Lecomte, 1913; Cinnamomum porrectum (Roxb.) Kosterm 1952 a Đặc điểm hình thái

Cây gỗ có kích thước trung bình đến lớn, cao từ 15 đến 25 mét và đường kính thân từ 40 đến 120 cm Cây có thể rụng lá nhiều hoặc ít, với gốc phình to và đôi khi có bạnh gốc Vỏ ngoài của cây có màu nâu, nâu xám đến xám đậm, thường nứt dọc và bong ra từng mảng, trong khi thịt vỏ có màu nâu đỏ nhạt Cành non của cây tròn, thô, có cạnh và có màu lục xám.

Lá có kích thước từ 5-15 x 2,5-8cm, với đầu lá nhọn và ngắn, gốc lá hình nêm hoặc nêm rộng Cả hai mặt lá đều nhẵn, có từ 3-8 đôi gân bên, và cuống lá dài từ 1,2-3cm.

Cụm hoa dạng chuỳ hay tán; mọc ở đầu cành hay nách lá; mỗi cụm mang khoảng 10 hoa Hoa lưỡng tính; bao hoa 6 thuỳ, màu trắng vàng; nhị 9, bao phấn

4 ô, chỉ nhị có lông, 3 nhị vòng trong có 2 tuyến mật; nhị lép 3

Quả mọng có hình cầu, đường kính từ 0,6 đến 1cm, với đế hình chén và có khía răng Khi chín, quả có màu xanh vàng hoặc tím đen Giá trị nguồn gen của loại quả này rất quan trọng và cần được bảo tồn.

Xá xị là cây đa tác dụng, phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, và Bình Thuận Cây không chỉ có giá trị gỗ trong xây dựng mà còn cung cấp các bộ phận được chưng cất để sản xuất tinh dầu, phục vụ cho ngành công nghiệp và y dược.

Xá xị là loại gỗ có chất lượng tốt với vân đẹp, ít bị nứt nẻ và biến dạng khi khô, không bị mối mọt, và dễ dàng gia công chế biến Ngoài ra, lá xá xị có tác dụng làm thuốc cầm máu, chữa đau dạ dày, phong thấp và mẩn ngứa ngoài da Quả xá xị cũng được sử dụng để chữa cảm, sốt và ho.

Tinh dầu xá xị được ứng dụng rộng rãi trong ngành mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm Nó không chỉ được sử dụng làm thuốc xoa bóp mà còn có tác dụng chữa thấp khớp và giảm đau nhức Tinh dầu này được chiết xuất từ tất cả các bộ phận của cây, bao gồm lá, vỏ, thân và rễ, nhưng thường thì gỗ thân rễ là nguyên liệu chính để chưng cất Với giá trị thương mại cao, tinh dầu xá xị đang chiếm lĩnh thị trường quốc tế.

Tình trạng khai thác gỗ và rễ cây Xá xị để chiết xuất tinh dầu tại Việt Nam đang đẩy loài cây này vào nguy cơ tuyệt chủng Với khu phân bố bị chia cắt và khai thác nghiêm trọng, hiện nay chỉ còn rất ít cây trưởng thành Xá xị được xếp vào nhóm IIA theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP và thuộc danh sách CR (cực kỳ nguy cấp) trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 Theo IUCN, loài cây này được phân loại là thiếu dữ liệu để đánh giá Do đó, việc thu thập thông tin về tình trạng phân bố và bảo tồn là vô cùng quan trọng để quản lý và phát triển loài thực vật quý giá này.

Đặc điểm sinh thái

Xá xị là loài cây phân bố rộng rãi ở Việt Nam, thường xuất hiện ở độ cao từ 500-700m Chúng chiếm ưu thế trong tán rừng và có tỷ lệ cao trong số các loài cây hiện diện Cây thường mọc trong các khu rừng rậm nhiệt đới thường xanh, ẩm ướt trên các loại núi đất hoặc núi đá vôi, với hình dạng và đặc điểm bên ngoài thay đổi tùy thuộc vào loại đất mà chúng sinh trưởng.

Cây Xá xị có màu sắc đa dạng từ đỏ nhạt đến nâu vàng, thường mọc trên đất phiến thạch, đá phong hóa và đất axit, với màu đỏ vàng nhạt trên những loại đất này Chúng phát triển chủ yếu trong rừng mưa nhiệt đới thường xanh, trên các sườn núi có tán rừng trung bình và đất màu mỡ Cây có tốc độ phát triển nhanh trong khoảng thời gian 15 - 25 năm, ưa bóng râm nhẹ khi còn nhỏ và thích ánh sáng khi trưởng thành Thời gian ra hoa từ tháng 3 đến tháng 6, trong khi quả chín từ tháng 6 đến tháng 10 Tại khu BTTN Tượng Tiến, Xá xị thể hiện chất lượng sinh trưởng tốt, và bản đồ phân bố của cây tại khu vực nghiên cứu cũng được cung cấp.

Hình 4.5 Bản đồ phân bố xá xị tại khu vực nghiên cứu

- Các thông tin phân bố của loài Xá xị trong quá trình đi thực tế được thể hiện trong bảng 1:

Bảng 4.1 Kết quả điều tra Xá xị cây trội Chỉ tiêu

Kinh độ Vĩ độ Độ cao D1,3 Hvn (m) Hdc (m) Dt

Theo nghiên cứu tại khu vực Xá xị, loài cây này phân bố ở độ cao từ 319 đến 678m Đường kính ngang ngực trung bình của các cây trưởng thành đạt 30,8 cm, trong khi đường kính tán trung bình là 0,7 m Chiều cao tối đa của cây lên tới 16,5 m và chiều cao dưới cành là 12,3 m Tại khu vực KBTT Thượng Tiến, Xá xị chủ yếu phát triển trong rừng thường xanh trên núi đá vôi, với thảm thực vật chính là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, mặc dù đã chịu tác động từ môi trường.

4.2.1 Đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có Xá xị phân bố tập trung

- Cấu trúc tổ thành tầng cây cao

Tại khu BTTN Thượng tiến thiết lâp 20 OTC có xá xị phân bố ở từng trạng thái khác nhau, tóm tắt các chỉ tiêu tổ thành được thể hiện ở bảng 2 :

Bảng 4.2 Công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có Xá xị phân bố

Thành phần cấu trúc tổ thành tầng cây cao có xá xị phân bố khá đa dạng

OTC Số loài Mật độ lâm phần (cây/ha)

3,57 mỡ + 2,14 táu mặt quỷ + 1,42 sao đen + 2,87 Loài khác

500 2,8 mỡ + 1,6 dẻ + 1,2 táu mặt qủy + 5,6 loài khác

480 2,5 mỡ + 2,5 táu mặt quỷ + 1,25 sồi đầu cứng + 3,75 loài khác

IIA OTC4 7 440 4,09 mỡ + 1,81 dẻ + 4, 1 loài khác

400 1,5 ba bét 1,0 thừng mực + 1,0 trẩu + 1,0 gội + 1,0 sp1 + 4,5 loài khác

420 2,85 chẹo + 1,42 gội+ 0,95 mắc niểng + 4,78 loài khác

360 2,22 gạo + 1,11 côm tầng + 1,11 sp 2 + 3,44 loài khác

660 2,72 dẻ + 2,72 mỡ + 1,21 táu mặt quỷ + 3,35 loài khác

480 2,17 dẻ + 2,17 mỡ + 1,73 Pomu + 1,3 táu mặt quỷ + 2.63 loài khác

OTC11 14 300 1,3 sau sau + 8,7 loài khác

380 2,1 chẹo + 2,1 ràng ràng xanh + 1.05 bời lời + 1,05 sồi xanh+ 3.7 loài khác

340 1,17 ba gạc + 1,17 kháo + 1,17 mít rừng + 1,17 trám trắng + 4,68 loài khác

OTC18 15 320 1,25 trám trắng + 8,75 loài khác

320 1,25 chẹo + 1,25 trẩu + 1,25 xoan rừng +6,25 loài khác

360 1,66 ba bét + 1,66 gội + 1,1 bời lời + 1,1 kháo + 1,1 trẩu + 2,28 loài khác

380 1,05 màng tang + 1,05 me rừng + 1,05 vàng tâm + 6,8 loài khác

340 1,76 chẹo + 1,76 sồi xanh + 1,17 dẻ + 1,17 thanh thất + 4,14 loài khác

OTC15 13 280 1,42 chẹo tía + 8,58 loài khác

OTC16 ghi nhận 11 loài với thành phần chính gồm 1,66 ba bét, 1,66 gội, 1,1 bời lời, 1,1 kháo, 1,1 trẩu và 2,28 loài khác, trung bình mỗi OTC có từ 9 - 16 loài, thường là 3 - 5 loài tham gia vào công thức tổ thành lâm phần Ở trạng thái IIA, có 17 loài tham gia vào CTTT lâm phần, cao hơn so với trạng thái IIB (13 loài) và IIIA Hầu hết các OTC Xá xị không tham gia vào công thức tổ thành mà chỉ phân bố rải rác, góp phần tăng đa dạng sinh học cho lâm phần Tuy nhiên, do khai thác quá mức trong quá khứ, số lượng loài đã giảm, vì vậy cần có biện pháp bảo tồn và phát triển loài đúng mức để tăng cường số lượng quần thể Vấn đề đặt ra tại khu BTTN Thượng Tiến là không chỉ bảo tồn cây Xá xị hiện có mà còn cần giải pháp phát triển số lượng loài tại khu vực phân bố tự nhiên của nó.

Để xác định các loài cây thường mọc cùng với xá xị, chúng tôi đã tiến hành điều tra ô 6 cây với 20 OTC Kết quả cho thấy có 6 loài cây thường gặp nhất gần xá xị.

Bảng: 4.3 Tần suất và kích thước các loài cây hay gặp mọc gần nhất với xá xị

Tên VN Tên khoa học D 1.3

Cây n/c Xá xị Cinnamomum parthenoxylon 30,9 16,5 4,98 0

Một số cây hay gặp(

Gần nhất với xá xị )

5 Chẹo tía Engelhardtia chrysolepis Hance 30,9 13 8,75 8,5

Ghi chú : D 1.3 : Đường kính thân trung bình, H vn : Chiều cao vút ngọn trung bình, K khoảng cách trung bình đến cây nghiên cứu, D t: Đường kính tán trung bình

Cây trám trắng thường xuất hiện gần cây xá xị với khoảng cách trung bình là 5,6 mét, trong khi cây gạo thường mọc xa hơn, với khoảng cách trung bình lên tới 12,7 mét.

Cây nghiên cứu (Xá xị) có kích thước trung bình đường kính (D1.3) là 30,9 cm, lớn hơn các loài như dẻ (26,3 cm), trẩu (23,2 cm), mỡ (23,9 cm) và bằng với kích thước trung bình của chẹo tía (30,9 cm), nhưng nhỏ hơn loài gạo (38,9 cm) Về chiều cao, Xá xị cao hơn hai loài mỡ và chẹo tía, nhưng thấp hơn các loài dẻ, trẩu, trám trắng và gạo Đường kính trung bình tán (Dt) của Xá xị nhỏ hơn so với các loài khác, cho thấy độ tàn che của nó trong khu vực nghiên cứu không cao Kích thước và chiều cao của Xá xị cho thấy loài này có không gian phát triển khá ổn định.

4.2.2 Đặc điểm tái sinh của lâm phần có Xá xị phân bố tập trung:

Tổ thành cây tái sinh đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng thế hệ cây trồng tương lai Các lâm phần với tổ thành cây tái sinh khác nhau yêu cầu các biện pháp kinh doanh và quản lý bảo vệ khác nhau Kết quả nghiên cứu về tổ thành cây tái sinh tại khu vực có sự phân bố của loài Xá xị được thể hiện rõ qua bảng số liệu.

Bảng 4.4 Công thức tổ thành cây tái sinh tại lâm phần có Xá xị

(loài) Công thức tổ thành

OTC1 7600 12 5 2,1 mỡ + 1,05 đinh + 1,05 mò roi +

1,05 trâm trắng + 1,05 vù hương + 3,7 loài khác

OTC2 8800 12 6 2,27 dẻ + 1,36 sao đen + 0,9 lim xet

+ 0,9 mỡ + 0,9 trâm trắng + 0,9 xá xị +2,77 loài khác OTC3 7600 15 3 1,57 mỡ + 0,52 đinh + 0,52 long bàn +7,39 loài khác OTC4 7600 13 4 2,1dẻ + 1,05 mỡ + 1,05trúc tiết +

5,00 loài khác OTC6 8800 13 6 1,81 mỡ + 1,36 mò roi + 0,9 dẻ +

0,9 lim xẹt + 0,9 lìu thiu+0,9 trúc tiết +4,59 loài khác

OTC7 8800 16 3 1,81 dẻ + 0,9 chè đuôi lươn + 0,9 mỡ + 0,9 mò roi + 5,49 loài khác

Mật độ cây tái sinh (N ts) được đo bằng số lượng cây trên mỗi hecta, trong khi tổng số loài cây tái sinh (L ts) là số lượng các loài được ghi nhận trong sinh cảnh Ngoài ra, số loài cây tái sinh tham gia vào công thức tổ thành được gọi là L cttt.

Tổng số loài cây tái sinh trong mỗi OTC dao động từ 12 đến 16 loài, với 14 loài tham gia vào CTTT lâm phần Mỗi OTC có từ 3 đến 5 loài cây tái sinh, chủ yếu là các loài bản địa như mỡ và một số loài gỗ thân cứng như đinh, dẻ So sánh với công thức tổ thành cây tầng cao cho thấy tổ thành cây gỗ tái sinh vẫn duy trì ưu thế của cây mẹ, chứng tỏ hiệu quả bảo tồn tại khu BTTN Thượng Tiến Cây mẹ có khả năng gieo giống tốt, tạo điều kiện cho lớp cây tái sinh tương tự tổ thành cây tầng cao Xá xị xuất hiện trong CTTT OTC2 và OTC4, tuy số lượng cây trưởng thành không nhiều nhưng số lượng chồi lại lớn, cho thấy khả năng tái sinh tự nhiên bằng hạt của loài này rất kém Do đó, cần có kế hoạch thu hái hạt để gieo ươm thử nghiệm và tập trung vào nhân giống sinh dưỡng từ chồi, chủ yếu là giâm hom.

Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng cây gỗ tái sinh trong các trạng thái rừng rất cao, dao động từ 7.600 đến 8.000 cây/ha, chứng minh khả năng tái sinh mạnh mẽ của cây rừng tại khu vực này Toàn bộ lâm phần cây tái sinh đều có ngoại hình đẹp và tiềm năng phát triển thành cây tầng cao trong tương lai.

Nhân tố ảnh hướng và giải pháp bảo tồn loài Xá xị

4.3.1 Nhân tố ảnh hưởng đến loài xá xị

Qua khảo sát thực địa, phỏng vấn người dân và trao đổi với cán bộ KBT, chúng tôi đã xác định các mối đe dọa chính đối với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Thượng Tiến.

Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, với diện tích 6.204,7 ha, nằm trên địa bàn 3 xã Thượng Tiến, Kim Tiến (huyện Kim Bôi) và xã Quý Hòa (huyện Lạc Sơn), được quản lý bởi Ban Quản lý Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 5.960 ha và rừng trồng 125 ha Khu rừng này là một điểm đa dạng sinh học quan trọng của tỉnh, với 648 loài thực vật, bao gồm nhiều loài quý hiếm như gù hương, thiên tuế lá chè, hoa tiên, đinh vàng và sến mật Ngoài ra, khu bảo tồn còn là nơi sinh sống của 59 loài thú và 128 loài chim, trong đó có một số loài được ghi trong sách Đỏ như cầy hương, cầy gấm, sóc bay lớn và gà lôi trắng.

Hàng chục năm trước, Thượng Tiến là điểm nóng về khai thác rừng và nhiều vụ xâm phạm đã bị truy tố Sự săn bắt quá mức các loài động vật phục vụ cho thực phẩm và dược liệu từ cộng đồng địa phương đã đe dọa đến quần thể sinh vật Hiện nay, với 31 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và 264 thành viên, rừng Thượng Tiến được bảo vệ nghiêm ngặt Năm 2016, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến đã phát hiện và ngăn chặn 2 vụ khai thác rừng trái phép cùng 1 vụ vận chuyển lâm sản phụ trái phép qua 29 đợt tuần tra.

+ Những mối đe dọa trực tiếp

Khai thác lâm sản: Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến nằm trên địa bàn

Tại 3 xã Thượng Tiến, Kim Tiến (huyện Kim Bôi) và xã Quý Hòa (huyện Lạc Sơn), người dân tộc Mường đang đối mặt với tình trạng săn bắt động vật rừng trái phép, dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên động vật, đặc biệt là các loài hươu và sóc có giá trị kinh tế cao Hơn nữa, việc khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG) một cách ồ ạt và thiếu ý thức cũng đang làm suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên rừng, bao gồm cây thuốc, phong lan và nhiều loài khác có giá trị kinh tế.

Khai thác gỗ trái phép vẫn diễn ra tại khu vực, chủ yếu phục vụ nhu cầu sống của các hộ dân nhỏ lẻ, đặc biệt tại các xã Kim Tiến và Quý Hòa gần rừng Mặc dù người dân hiểu rõ quy định pháp luật và tầm quan trọng của bảo tồn, nhưng họ vẫn vi phạm vì lợi ích cá nhân Cùng với đó, củi đun là nguồn năng lượng thiết yếu hàng ngày cho các hộ gia đình xung quanh rừng, và hiện tại không có nguồn nhiên liệu thay thế nào khả thi.

Bảng 4.5 Các loài cây gỗ người dân thường khai thác ở khu vực

Tên Việt Nam Tên khoa học Sử dụng Bán Tình trạng hiện nay

Long não Cinnamomum camphora   ++ Đinh Markhamia stipulata

Ghi chú: +++: số lượng khai thác nhiều; ++: số lượng khai thác trung bình; +: số lượng khai thác ít, hiếm

Khai thác gỗ trái phép đang là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với đa dạng sinh học, không chỉ làm cạn kiệt tài nguyên gỗ tự nhiên mà còn ảnh hưởng xấu đến chất lượng rừng và môi trường sống Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội, cùng với việc tăng cường chế tài xử lý vi phạm, nhưng do lực lượng kiểm lâm tại khu bảo tồn thiên nhiên và hạt kiểm lâm còn yếu, hiệu quả ngăn chặn khai thác gỗ trái phép vẫn chưa cao, dẫn đến tình trạng này tiếp tục diễn ra.

Lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên quan trọng mà cộng đồng địa phương thu hái cho hai mục đích chính: sử dụng tại chỗ và thương mại Các loại lâm sản ngoài gỗ chủ yếu được mô tả trong bảng, tuy nhiên, một số loại hiện đang trở nên khan hiếm do khai thác quá mức.

Bảng 4.6 Hoạt động thu hái lâm sản ngoài gỗ ở khu vực nghiên cứu

Loại Thời gian khai thác Đối tượng Sử dụng Bán Tình trạng hiện nay

Phong lan Quanh năm Tất cả   ++

Nấm hương Quanh năm Tất cả   +

Tre, nứa Quanh năm Tất cả  +++

Các loại cây thuốc Quanh năm Nữ   ++

Mộc nhĩ Quanh năm Nữ  ++

Dây nhớt Quanh năm Nữ  +

Sâm Quanh năm Tất cả   +

Ghi chú: +++: nhiều; ++: trung bình; +: khan hiếm

Hoạt động thu hái lâm sản ngoài gỗ đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường rừng, dẫn đến tình trạng nhiễu loạn và tác động tiêu cực đến đời sống hoang dã, làm giảm đa dạng sinh học Hơn nữa, việc này còn gia tăng nguy cơ cháy rừng Do đó, cần thiết phải có chính sách quản lý hợp lý để đảm bảo việc thu hái lâm sản ngoài gỗ chỉ diễn ra trong ngưỡng cho phép, nhằm bảo vệ tài nguyên rừng và duy trì sự cân bằng sinh thái.

Chăn thả gia súc ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của rừng, đặc biệt là lớp cây tái sinh, cây bụi và thảm thực vật Hoạt động này có thể làm giảm sự ổn định và tính đa dạng sinh học của rừng.

Qua điều tra cho thấy hiện nay hầu hết các hộ trong vùng có tập quán chăn thả gia súc tự do (thả rông)

Thức ăn chủ yếu của trâu, bò bao gồm lá cây, măng và cỏ, nhưng nguồn thức ăn do người dân sản xuất lại không đủ Do đó, gia súc thường phải sống dựa vào thức ăn tự nhiên, trong khi bãi chăn thả lại ngày càng thiếu thốn Hệ quả là sự tàn phá nghiêm trọng các loài cây tái sinh, làm hủy hoại môi trường sống của thực vật Hơn nữa, việc gia súc di chuyển gây ra tình trạng dập nát cây con, làm đất bị nén chặt, hình thành các đường mòn dẫn đến thoái hóa và xói mòn đất.

Cháy rừng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên thực vật, đặc biệt là sự phát triển của tầng cây cao và lớp cây tái sinh, cũng như vai trò giữ ẩm cho đất và hạn chế xói mòn Nguyên nhân gây ra cháy rừng chủ yếu bao gồm việc đốt nương không kiểm soát, thiếu ý thức khi sử dụng lửa trong rừng, và các điều kiện tự nhiên như nắng nóng, khô hanh, đặc biệt là gió Lào, loại gió khô nóng dễ gây ra cháy.

Ban quản lý Khu Bảo tồn luôn chú trọng đến vấn đề cháy rừng Hiện tại, khu rừng Thượng Tiến chưa ghi nhận vụ cháy lớn nào, nhờ vào độ ẩm cao Tuy nhiên, cần phải duy trì sự cảnh giác và đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy để ngăn chặn nguy cơ cháy rừng.

Ho ạt độ ng qu ả n lý c ủ a Khu BTTN

Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên, được thành lập theo Quyết định số 1242/QĐ-UB của UBND tỉnh Hòa Bình vào ngày 09/10/2000, hiện có 12 cán bộ và một trạm bảo vệ, trực thuộc UBND tỉnh Hòa Bình Tuy nhiên, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ rừng còn thiếu thốn và lạc hậu, trong khi đội ngũ kiểm lâm còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, dẫn đến hiệu quả tuần tra và kiểm tra chưa cao Ngoài mức lương, cán bộ kiểm lâm không nhận được hỗ trợ tài chính bổ sung cho các hoạt động đầu tư và dự án, điều này đã hạn chế khả năng thực hiện công việc của họ Do đó, các hoạt động quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật tại khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đạt hiệu quả cao.

Trong những năm gần đây, Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến đã cải thiện đáng kể năng lực quản lý thông qua việc đào tạo cán bộ, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền đến từng người dân trong các xã thuộc khu vực bảo tồn Điều này đã giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về công tác bảo vệ rừng.

Những mối đe dọa gián tiếp

Người dân trong khu vực có truyền thống xây dựng nhà sàn bằng gỗ tốt và lớn, dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn gỗ quý Bên cạnh đó, việc săn bắt động vật hoang dã bằng bẫy và súng đang đe dọa đến sự tồn tại của hệ sinh thái, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm.

Ngày đăng: 06/07/2021, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), 2005. Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập II, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
2. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007. Sách Đỏ Việt Nam (phần thực vật). Nxb. Khoa học tự nhiên &amp; Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học tự nhiên & Công nghệ
4. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2000. 04 TCN 23: 2000 Quy phạm kỹ thuật trồng Quế (Cinamomum cassia BL) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm kỹ thuật trồng Quế (Cinamomum cassia
6. Hoàng Cầu, 1993. Phân vùng sinh thái và mở rộng vùng trồng Quế ở nước ta. Tạp chí Lâm nghiệp, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng sinh thái và mở rộng vùng trồng Quế ở nước ta
7. Hoàng Cầu, 1993. Kỹ thuật khai thác và chế biến vỏ Quế. Tạp chí lâm nghiệp số 10, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật khai thác và chế biến vỏ Quế
8. Hoàng Cầu, Nguyễn Hữu Phước, 1991. Kỹ thuật khai thác sơ chế và bảo quản vỏ Quế. Bản tin KHKT và KTLN số 6 - 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật khai thác sơ chế và bảo quản vỏ Quế
9. Hoàng Cầu, Nguyễn Hữu Phước, 1993. Nghiên cứu kỹ thuật khai thác và sơ chế vỏ Quế. Phân viên Nghiên cứu Đặc sản rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật khai thác và sơ chế vỏ Quế
11. Nguyễn Việt Cường, 2007. Chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế. Dự án giống cây lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế
12. Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh, 1998. Trồng rừng. Giáo trình trường Đại học Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng rừng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
13. Phạm Xuân Hoàn, 1995. Lập biểu sản lượng (tạm thời) cho rừng Quế (Cinnamomum cassia) trồng thuần loài đều tuổi tại Văn Yên – Yên Bái. Thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu sản lượng (tạm thời) cho rừng Quế (Cinnamomum cassia) trồng thuần loài đều tuổi tại Văn Yên – Yên Bái
14. Phạm Xuân Hoàn, Phạm Văn Điển, 1995. Xây dựng biểu cấp đất cho rừng Quế trồng thuần loài đều tuổi tại Văn Yên - Yên Bái. Tạp chí lâm nghiệp, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng biểu cấp đất cho rừng Quế trồng thuần loài đều tuổi tại Văn Yên - Yên Bái
15. Phạm Xuân Hoàn, 1996. Bước đầu nghiên cứu thể tích vỏ Quế (Cinnamomum cassia) dựa vào bề dày vỏ tại đường kính ngang ngực. Thông tin khoa học lâm nghiệp, số 1, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu thể tích vỏ Quế (Cinnamomum cassia) dựa vào bề dày vỏ tại đường kính ngang ngực
16. Phạm Xuân Hoàn, Hoàng Xuân Y, 1999. Lập biểu sản phẩm Quế trồng ở Yên Bái bằng phương trình đường sinh thân cây. Tạp chí lâm nghiệp, số 8, Bộ NN&amp; PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu sản phẩm Quế trồng ở Yên Bái bằng phương trình đường sinh thân cây
17. Phạm Xuân Hoàn, 1999. Vấn đề tuổi khai thác trong kinh doanh rừng Quế tại Văn Yên – Yên Bái. Thông tin chuyên đề khoa học công nghệ và kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn – Chuyên đề Trường Đại học Lâm nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học, số 10, Bộ NN và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tuổi khai thác trong kinh doanh rừng Quế tại Văn Yên – Yên Bái
18. Phạm Xuân Hoàn, 2001. Nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong kinh doanh rừng Quế (Cinnamomum cassia) tại tỉnh Yên Bái. Tóm tắt luận án tiến sỹ nông nghiệp, Trường Đại học lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong kinh doanh rừng Quế (Cinnamomum cassia) tại tỉnh Yên Bái
19. Trần Hợp, 1984. Một số đặc điểm sinh vật học cây Quế. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông Lâm, Thành phó Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh vật học cây Quế
20. Trần Hợp, 1991. Cây Quế miền Bắc Việt Nam. Một số công trình 30 năm Điều tra quy hoạch rừng, Hà Nội, tr 85 – 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Quế miền Bắc Việt Nam
21. Huỳnh Văn Kéo, 2003. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý – sinh thái và khả năng nhân giống bằng hom cây Hoàng đàn giả ở Vườn quốc gia Bạch mã.Luận án tiến sỹ Sinh học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý – sinh thái và khả năng nhân giống bằng hom cây Hoàng đàn giả ở Vườn quốc gia Bạch mã
22. Lê Đình Khả, 2003. Chọn giống Quế có năng suất tinh dầu cao. Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống Quế có năng suất tinh dầu cao
23. Lê Đình Khả và cộng sự, 2003. Chọn tạo giống và nhân giống cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu ở Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn tạo giống và nhân giống cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm