Các nghiên cứu về BLGĐ ở các cộng đồng dân tộc thiểu số nhấn mạnh rằng các chuẩn mực xã hội, cấu trúc gia đình và tập quán văn hóa là một trong những tác nhân chính của bạo lực đối với p
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
PHẠM THỊ PHƯƠNG MAI
BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở PHỤ NỮ 15 – 49 TUỔI
CÓ CHỒNG HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
PHẠM THỊ PHƯƠNG MAI
BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở PHỤ NỮ 15 – 49 TUỔI
CÓ CHỒNG HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Y HỌC DỰ PHÒNG
Mã số: : 8720163
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS LÊ THỊ THANH HOA
2 TS NGUYỄN QUANG MẠNH
Trang 3THÁI NGUYÊN - NĂM 202 LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Phạm Thị Phương Mai, học viên lớp cao học Khóa 22 chuyên
ngành Y học dự phòng, Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp hoàn thành dưới sự hướng
dẫn của TS Lê Thị Thanh Hoa và TS Nguyễn Quang Mạnh
2 Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào
khác đã được công bố tại Việt Nam
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 5 năm 2020 Người viết cam đoan
Phạm Thị Phương Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ quý báu của nhiều cá nhân
và tập thể Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới: Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y-Dược, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Thanh Hoa và TS Nguyễn Quang Mạnh, giảng viên trường Đại học Y-Dược, Đại học Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình: Phát triển ý tưởng nghiên cứu, xây dựng đề cương, triển khai các hoạt động nghiên cứu tại cộng đồng, phân tích, xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn các thầy cô giảng viên khoa Y tế Công cộng, cùng toàn thể giảng viên Trường Đại học Y-Dược, Đại học Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm
vụ học tập của mình
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc nhất tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là gia đình đã luôn động viên, khích lệ và là nguồn động lực to lớn giúp tôi trong những tháng ngày học tập, nghiên cứu để hoàn thành khoá học này
Một lần nữa xin được trân trọng cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 12 tháng 5 năm 2020
Tác giả: Phạm Thị Phương Mai
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm về bạo lực gia đình 3
1.2 Tình hình bạo lực gia đình trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.3 Một số yếu tố liên quan tới bạo lực gia đình 17
1.4 Vài nét về địa điểm nghiên cứu của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 21 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Thời gian nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.5 Chỉ số nghiên cứu 27
2.6 Định nghĩa một số biến số nghiên cứu 28
2.7 Kỹ thuật thu thập số liệu 30
2.8 Cách khống chế sai số 30
2.9 Công cụ thu thập số liệu 31
2.10 Đo lường và đánh giá 31
2.11 Phân tích và xử lý số liệu 32
2.12 Đạo đức trong nghiên cứu 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thực trạng bạo lực gia đình 34
3.2 Một số yếu tố liên quan tới bạo lực gia đình 42
Chương 4: BÀN LUẬN 49
4.1 Thực trạng bạo lực gia đình ở phụ nữ 15- 49 tuổi có chồng huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên năm 2019 49
4.2 Một số yếu tố liên quan tới bạo lực gia đình 56
KẾT LUẬN 65
KHUYẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách số phụ nữ tại 08 xã nghiên cứu 26 Bảng 3.1 Tuổi, dân tộc, tôn giáo của đối tượng nghiên cứu (n = 680) 34 Bảng 3.2 Trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi kết hôn lần đầu của đối
tượng nghiên cứu (n = 680) 35 Bảng 3.3 Hình thức bạo lực tinh thần của đối tượng nghiên cứu (n = 329) 37 Bảng 3.4 Hình thức bạo lực thể xác của đối tượng nghiên cứu (n = 148) 38 Bảng 3.5 Hình thức bạo lực tình dục của đối tượng nghiên cứu (n = 125) 38 Bảng 3.6 Hình thức bạo lực kinh tế của đối tượng nghiên cứu (n = 78) 39 Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tuổi, dân tộc của đối tượng nghiên cứu với
bạo lực gia đình 42 Bảng 3.8 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
với bạo lực gia đình 43 Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và tuổi kết hôn lần đầu của
đối tượng nghiên cứu với bạo lực gia đình 43 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tuổi của chồng đối tượng nghiên cứu với
bạo lực gia đình 44 Bảng 3.11 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của chồng đối tượng
nghiên cứu với bạo lực gia đình 44 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của chồng đối tượng nghiên
cứu với bạo lực gia đình 44 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thói quen sử dụng rượu, bia hay ma túy/
chất gây nghiện của chồng đối tượng nghiên cứu với bạo lực gia đình 45 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa công tác phổ biến luật phòng chống bạo
lực gia đình của phụ nữ với bạo lực gia đình 45 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thái độ chung của phụ nữ về bạo lực gia
đình với bạo lực gia đình 46 Bảng 3.16: Phân tích hồi quy logistic các yếu tố liên quan đến bạo lực
gia đình 46
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thực trạng bạo lực gia đình 36 Biểu đồ 3.2 Thực trạng tần suất bạo lực gia đình 36 Biểu đồ 3.3 Các hình thức bạo lực gia đình của đối tượng nghiên cứu 37
Trang 9DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 3.1 Ý kiến của đối tượng nghiên cứu về thực trạng bạo lực gia đình 39 Hộp 3.2 Ý kiến của đối tượng nghiên cứu về các hình thức bạo lực gia đình 40 Hộp 3.3 Ý kiến về hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ khi phụ nữ bị bạo lực gia đình 41 Hộp 3.4 Các ý kiến về sự tham gia giải quyết bạo lực gia đình của chính
quyền, địa phương 42 Hộp 3.5 Các ý kiến về một số yếu tố liên quan đến bạo lực gia đình 48
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạo lực gia đình (BLGĐ) đối với phụ nữ được nhìn nhận như là một vấn
đề nghiêm trọng tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới [12] BLGĐ xuất hiện ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống gia đình - xã hội và sức khỏe người phụ nữ Hậu quả nặng nề của BLGĐ đối với phụ nữ chính là ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất, tinh thần, tình dục và sinh sản [53] Ngoài ra BLGĐ còn làm tăng các chi phí của toàn xã hội, thêm gánh nặng cho hệ thống giáo dục và cơ quan tư pháp Bên cạnh đó người phụ nữ có thể bị chấn thương dẫn đến trầm cảm, căng thẳng và các rối loạn lo âu khác [61], [44]
Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) ngày 23 tháng 11 năm
2018, ước tính trên thế giới cứ 3 phụ nữ thì có 1 người đã trải qua bạo lực thể xác và/hoặc bạo lực tình dục, chủ yếu là do chồng hoặc bạn tình gây ra [69], có tới 38% các vụ giết phụ nữ được thực hiện bởi chồng hoặc bạn tình [72] Tỷ lệ BLGĐ phụ thuộc vào từng quốc gia, lãnh thổ dao động từ 15% ở Nhật Bản đến 71% ở vùng nông thôn Ethiopia [73], [53]
Ở Việt Nam, Từ 2012 đến hết 2017, cả nước xảy ra 139.395 vụ BLGĐ Trong đó bạo lực thể xác: 69.133 vụ, bạo lực tinh thần: 51.227 vụ, bạo lực kinh tế: 14.331 vụ, bạo lực tình dục: 4.338 vụ [5] Các nghiên cứu cho thấy yếu tố như: Sử dụng rượu, bia, ma túy [33], [55], thói quen cờ bạc của người chồng, kinh tế gia đình thấp, không có con hoặc số con nhiều hơn 2, trình độ học vấn thấp… là yếu tố đáng kể liên quan đến BLGĐ [26]
Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên chưa thật sự đồng bộ giữa các vùng miền, đặc biệt là các nghiên cứu về BLGĐ ở phụ nữ từ các nhóm dân tộc thiểu số Các nghiên cứu về BLGĐ ở các cộng đồng dân tộc thiểu
số nhấn mạnh rằng các chuẩn mực xã hội, cấu trúc gia đình và tập quán văn hóa
là một trong những tác nhân chính của bạo lực đối với phụ nữ Đặc biệt hơn vì
Trang 11những lý do như: Cảm giác bị kỳ thị tăng cao sau khi tiết lộ; Khả năng im lặng cao của những phụ nữ bị bạo lực; Sự thiếu tin tưởng vào chính quyền; Và nỗi sợ hãi với các kế hoạch can thiệp đòi hỏi thời gian dài để xây dựng lại mối quan hệ [31], [57] Như vậy, giữa các cộng đồng, quốc gia và khu vực thì tỷ lệ cũng như các yếu tố liên quan đến BLGĐ cũng khác nhau [69]
Định Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 50 km về phía Tây Bắc là nơi sinh sống của 8 dân tộc anh em, chủ yếu là dân tộc Tày (49,23%) [20] Trình độ văn hóa cũng như nhận thức của người dân ở đây còn nhiều hạn chế, đặc biệt là người dân ở một số xã đặc biệt khó khăn Trong đó những hiểu biết về BLGĐ nói chung và bạo lực đối với người phụ nữ nói riêng lại càng hạn chế Vậy, thực trạng BLGĐ ở phụ nữ 15-49 tuổi có chồng tại huyện Định Hóa, Thái Nguyên như thế nào? Và yếu tố nào liên quan đến BLGĐ ở đây cần được làm sáng tỏ?
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Bạo lực
gia đình ở phụ nữ 15-49 tuổi có chồng huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên năm 2019 và một số yếu tố liên quan” nhằm 2 mục tiêu sau đây:
1 Mô tả thực trạng bạo lực gia đình ở phụ nữ 15- 49 tuổi có chồng huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến bạo lực gia đình ở phụ nữ 15- 49 tuổi có chồng huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một vài nét về bạo lực gia đình
1.1.1 Định nghĩa bạo lực gia đình
Ở Việt Nam, theo Khoản 2 Điều 1 của Luật Phòng chống BLGĐ ban hành năm 2007 quy định: BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình [9] Như vậy, BLGĐ bao gồm các yếu tố bạo lực về thể xác, về tinh thần, về kinh tế và cả yếu tố bạo lực về tình dục
Theo WHO: bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ bạo lực về thể xác hoặc bạo lực tình dục hoặc lạm dụng tình cảm/tâm lý Trong đó:
- Bạo lực thể xác bao gồm đánh, tát, đánh, đá, xô/đẩy, làm tổn thương bằng vũ khí [71]
- Bạo lực tình dục bao gồm sử dụng vũ lực, đe dọa hoặc ép buộc quan hệ tình dục hoặc thực hiện các hành vi tình dục người phụ nữ không muốn Nó bao gồm việc làm hại một người trong quan hệ tình dục Nó cũng bao gồm cả hiếp dâm, và cố gắng hiếp dâm, trong đó liên quan đến việc sử dụng vũ lực, đe dọa, ép buộc hoặc sử dụng thuốc/rượu để có được sự thâm nhập vào âm hộ/âm đạo/hậu môn hoặc miệng do một hoặc nhiều thủ phạm đối với đối tác thân mật [70], [71]
- Bạo lực tinh thần bao gồm chỉ trích nhiều lần, gọi tên hoặc lăng mạ, đe dọa làm tổn thương người thân hoặc để phá hủy những thứ mà người đó quan tâm, coi thường hoặc sỉ nhục nơi công cộng [22]
Theo các định nghĩa ở trên thì nạn nhân của BLGĐ có thể là vợ, chồng, con cái hay bố mẹ tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ đề cập đến vấn đề BLGĐ đối với người phụ nữ
Trang 131.1.2 Phân loại bạo lực gia đình
- Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống BLGĐ ban hành ngày 21/11/2007 [9], các hành vi BLGĐ bao gồm:
+ Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;
+ Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
+ Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
+ Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; + Cưỡng ép quan hệ tình dục;
+ Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
+ Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
+ Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
+ Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
- Theo “Cẩm nang: Công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Bình
đẳng giới và phòng, chống BLGĐ dành cho cán bộ xã, phường, thị trấn” của
Bộ lao động thương binh và xã hội (2014), BLGĐ được chia thành năm loại như sau: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế, sao nhãng [2] Trong đó:
+ Bạo lực thể xác: Hành vi bạo lực thể xác là hành vi ngược đãi gây tổn thương về thực thể đối với nạn nhân BLGĐ Loại hành vi này dễ nhận biết nhất bởi nó để lại dấu vết trên cơ thể Một số hành vi bạo lực thể chất như: đánh,
Trang 14đấm, đá, tát…; Xô đẩy, giật kéo, quăng ném, bóp cổ; Sử dụng hung khí gây hủy hoại làm biến dạng cơ thể; Không cho ăn uống, nghỉ ngơi, không cho mặc quần áo, để rét; Giết chết (đầu độc, đốt cháy, đâm chém…)
+ Bạo lực tinh thần: còn được gọi là bạo lực tâm lý là những hành vi đối
xử tồi tệ gây áp lực về mặt tâm lý, tạo tổn thương tức thời hay tiềm ẩn về mặt tâm lý, sức khỏe tâm thần cho nạn nhân bạo lực Loại bạo lực này rất phổ biến nhưng lại khó nhận dạng so với bạo lực thể xác Một số hành vi bạo lực tinh thần như: chửi mắng, lăng mạ, chì chiết; Xúc phạm nhân phẩm, uy tín (như tiết
lộ đời tư, phát tán tờ rơi làm ảnh hưởng đến danh dự, cưỡng ép, lột bỏ quần áo trước mặt người khác…); Cấm đoán (quyền được chăm sóc con cái, người thân, được làm việc, được tham gia các hoạt động xã hội, quyền giao tiếp với người khác, quyền được quyết định…); Cô lập không cho tiếp xúc với người khác;
Đe dọa, gây áp lực tâm lý; Nhốt; Xua đuổi, quấy rối hoặc gây áp lực thường xuyên về mặt tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; Buộc tội nghi ngờ, theo dõi; Cưỡng ép hôn nhân, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Do ghen tuông, tổ chức theo dõi, ngăn cấm các mối quan hệ giao tiếp; Phớt lờ cảm xúc, không quan tâm, đối xử lạnh nhạt; Chê bai, chế nhạo
+ Bạo lực tình dục: là hành vi sử dụng vũ lực để ép buộc người kia có quan
hệ tình dục (dù là hành vi có thực hiện được hay không), hoặc hành vi (đã thực hiện được hay mới dự định) có lôi kéo họ vào hoạt động tình dục ngay cả khi
họ không có khả năng từ chối bởi các lý do như sức khỏe, bị ảnh hưởng của chất kích thích, chưa đủ năng lực hiểu biết về hậu quả của quan hệ tình dục đó, hoặc sự hăm dọa, quấy rối tình dục Một số hành vi bạo lực tình dục như: Cưỡng
ép quan hệ tình dục; Sử dụng những hình thức quan hệ tình dục gây đau đớn,
Sử dụng những lời lẽ liên quan tới dục tính gây khó chịu về tâm lý; Bắt phải chứng kiến cảnh sinh hoạt tình dục, bộ phận sinh dục; Buộc ở một nhà hay ngủ một giường với người tình; Cưỡng ép kết hôn hay ly hôn
Trang 15- Bạo lực kinh tế: là hành vi kiểm soát về tài chính, bắt phụ thuộc vào tài chính đối với các thành viên trong gia đình Loại bạo lực này thường xảy ra đối với phụ nữ/người vợ trong gia đình Hành vi bạo lực kinh tế bao gồm: Tịch thu tiền, của cải và khi cần phải cầu xin; Kiểm soát mọi tài sản, tiền bạc tư nhân; Không cho sử dụng tài sản chung; Kiểm soát thu nhập tạo ra sự phụ thuộc; Chiếm đoạt hoặc phá hủy tài sản; Buộc đóng góp tài chính vượt quá khả năng; Kiểm soát tiền bạc, tài sản bố mẹ
- Sao nhãng: Được định nghĩa như bất cứ hành động đối xử tồi tệ như bỏ qua, không quan tâm chăm sóc, không cung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại, sự phát triển về tình cảm, thể chất của thành viên trong gia đình đặc biệt là trẻ em và người già Các hành vi cụ thể được xem như sao nhãng thuộc BLGĐ bao gồm: Những hành vi đối xử có khả năng dẫn đến việc gây hại sức khỏe hoặc sự thay đổi về mặt tâm lý của nạn nhân; Không cho ăn uống đầy đủ; Không cung cấp chỗ trú ngụ an toàn, đảm bảo vệ sinh môi trường; Không giám sát hay bảo vệ (đặc biệt là trẻ em, người già) khỏi những nguy cơ gây thương tích; Bỏ mặc không chăm sóc
Tuy nhiên, sự “sao nhãng” suy cho cùng vẫn là một loại hành vi gây ảnh hưởng đến tinh thần của người phụ nữ, chính vì thế chúng ta có thể coi sao nhẵng thuộc bạo lực tinh thần Từ đó, BLGĐ được chia thành bốn loại là: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế
Như vậy, bạo lực trong gia đình có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và giữa các thành viên khác nhau trong gia đình nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này tôi xin đề cập đến hiện tượng bạo lực gia đình của người chồng đối với người vợ Đây được coi là dạng bạo lực gia đình điển hình và nhận được sự quan tâm và lo lắng của mọi thành viên trong xã hội
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến BLGĐ, sau đây là một số nguyên nhân hay gặp:
Trang 16- Bất bình đẳng giới và quan hệ giới: Nhìn chung nghiên cứu đều đưa ra kết luận gốc rễ của BLGĐ là bất bình đẳng giới và quan hệ giới [41]
+ Do nhận thức về giới, bình đẳng giới, do kiến thức pháp luật còn hạn chế Một nghiên cứu tại Indonesia cho kết quả: Những thay đổi về văn hóa và
xã hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi mối quan hệ giữa nam và
nữ Ba vị trí khác nhau của nam giới với niềm tin nhất định về trật tự giới tính
và chấp nhận bạo lực trong hôn nhân được xác định: người theo chủ nghĩa truyền thống, người thực dụng, người bình đẳng Người theo chủ nghĩa truyền thống có sự chấp nhận bạo lực cao nhất như một công cụ để duy trì vị thế vượt trội của đàn ông trong hôn nhân, trong khi người theo chủ nghĩa thực dụng coi bạo lực là điều không mong muốn nhưng đôi khi cần để điều chỉnh hành vi của người vợ Người bình đẳng không thấy bất kỳ lý do bạo lực nào vì họ tin rằng đàn ông và phụ nữ là bình đẳng và bổ sung cho nhau [36]
- Do nhận thức của chính bản thân của người phụ nữ bị bạo lực: Phụ nữ quyết định giữ im lặng vì sợ rằng sự bạo lực đó sẽ còn lặp lại hoặc việc đáp trả
sẽ không giúp ích gì cho họ Mặt khác họ sợ sự kỳ thị từ xã hội [42] Chính vì vậy, bạo lực sẽ nối tiếp bạo lực tạo thành một chuỗi những ám ảnh trong cuộc sống gia đình
- Do bản thân người phụ nữ có trình độ học vấn thấp, không có công việc
ổn định, thu nhập thấp [33] Đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến BLGĐ, khi mà người phụ nữ phải phụ thuộc vào kinh tế của đàn ông trong gia đình, họ sẽ không có tiếng nói riêng và buộc phải chịu đựng trong mọi sự mâu thuẫn
Ngoài ra, những nguyên nhân khác dẫn đến BLGĐ như sau:
+ Trình độ học vấn, năng lực nghề nghiệp, đặc biệt là tình trạng chênh lệch về nghề nghiệp giữa vợ và chồng là một trong những yếu tố khách quan gây nên nạn bạo lực trong gia đình [72]
Trang 17+ Nguyên nhân kinh tế: Do khó khăn về kinh tế nên các cặp vợ chồng rất
dễ xung đột, cãi cọ người này đổ lỗi cho người khác làm nảy sinh bạo lực Đây cũng là nguyên nhân gây nên nạn BLGĐ đối với người phụ nữ Những cặp vợ chồng phải bươn chải vất vả để kiếm sống thường có sự căng thẳng về thần kinh hơn và do đó dễ nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến tranh cãi trong gia đình và cuối cùng nam giới thường sử dụng quyền và sức mạnh của mình để gây ra bạo lực với vợ [72]
+ Tác động của các chất kích thích như rượu, bia, ma túy…: là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến BLGĐ [33], [72]
+ Các chuẩn mực xã hội, cấu trúc gia đình và tập quán văn hóa là một trong những tác nhân chính của bạo lực đối với phụ nữ Cộng đồng với tập quán văn hóa đó quy định địa vị cao hơn đối với nam giới và địa vị thấp hơn đối với phụ nữ [72], [57]
+ Địa vị xã hội: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữ BLGĐ đối với phụ nữ ngoài các biến số như tuổi tác, học vấn, tình trạng việc làm, bảo hiểm xã hội, tình trạng nhập cư, nơi cư trú, tuổi kết hôn, năm kết hôn của phụ nữ; tuổi, tình trạng học vấn, tình trạng việc làm của chồng; và mối quan hệ bất chính với người thứ 3 (p <0,05) thì yếu tố quan trọng nhất dẫn đến tình trạng này là địa vị xã hội [54]
+ Nguyên nhân về ý thức và thói quen bạo lực của người chồng: Sự ảnh hưởng của nền văn hóa phong kiến với những quan niệm mang đậm màu sắc định kiến giới thể hiện trong đời sống xã hội như tư tưởng trọng nam khinh nữ, chồng chúa vợ tôi, tính gia trưởng của người đàn ông Những quan niệm này khiến nhiều người chồng cho rằng họ đóng vai trò là trụ cột trong gia đình, có quyền quyết định mọi việc quan trọng Họ luôn có tư tưởng mình là “tiếng nói” trong gia đình nên có quyền “dạy vợ”, coi đánh vợ như là một sự giáo dục và thể hiện quyền lực của kẻ bề trên đối với kẻ bề dưới Ngoài ra, để thể hiện mình
là người nắm quyền lãnh đạo, thể hiện uy quyền đối với vợ con, rất nhiều người
Trang 18chồng đã sử dụng bạo lực đối với vợ của mình ở nhiều mức độ khác nhau khi xảy ra mâu thuẫn trong gia đình Việc người chồng thường xuyên sử dụng bạo lực đối với người vợ khi hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn hoặc không hòa hợp
về một vấn đề nào đó, nếu không được can thiệp và xử lý kịp thời, sẽ dễ hình thành ở người chồng một thói quen sử dụng bạo lực đối với vợ và mức độ sẽ ngày càng tăng, dẫn đến rất nhiều hậu quả mà chúng ta không lường trước được [11]
+ Nguyên nhân về ý thức và thói quen cam chịu của người vợ: Nhận thức của chính bản thân người vợ bị chồng bạo hành còn hạn chế, thiếu thẳng thắn, còn cam chịu Những người phụ nữ này luôn mang tư tưởng: “xấu chàng hổ ai”, “vạch áo cho người xem lưng” hay sợ hàng xóm, bạn bè chê cười, ảnh hưởng tới con cái, danh dự gia đình… Chính những suy nghĩ này của người vợ dẫn đến việc rất nhiều vụ bạo lực mà chính họ là nạn nhân khi được cộng đồng
xã hội phát hiện ra thì đã rất muộn màng Một điều rất quan trọng nữa chính sự cam chịu, không tố giác, đấu tranh chống lại sự bạo lực của người vợ lại là sự tiếp tay cho nạn bạo lực có cơ hội cơ hội tồn tại và gia tăng [11]
+ Nguyên nhân về mặt xã hội: Có thể nói, một nguyên nhân khác của nạn BLGĐ là do tình trạng bất bình đẳng giới còn tồn tại trong gia đình và ngoài xã hội Chính sự bất bình đẳng sâu sắc trong quan hệ giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ là nguyên nhân sâu xa và xuyên suốt các vụ bạo lực trong gia đình Trong rất nhiều gia đình, sự phân công vị thế và vai trò của người phụ nữ vẫn còn mang tính truyền thống Người phụ nữ không có quyền quyết định và tiếng nói trong gia đình, vì vậy, họ luôn là nạn nhân của nạn BLGĐ do người chồng gây ra khi có mâu thuẫn hay xung đột [11]
+ Nguyên nhân về mặt quản lý nhà nước: Có thể nói các cấp chính quyền
từ trung ương đến địa phương do chưa xây dựng được phương án điều tra thực trạng bạo lực gia đình một cách đồng bộ và sâu rộng nên chưa có các kế hoạch
và giải pháp cụ thể Hình thức đưa ra để giảm bớt BLGĐ hiện nay chủ yếu tập
Trang 19trung vào công tác tuyên truyền giáo dục Tại các cơ sở địa phương nơi có hành
vi BLGĐ diễn ra, việc thiết lập và vận hành cơ chế phòng chống BLGĐ chưa hiệu quả, còn rất nhiều hành vi BLGĐ đang diễn ra trong cộng đồng xã hội chưa bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên rất nhiều hành vi khi đã phát hiện thì hậu quả xảy ra đã rất nghiêm trọng và muộn màng Tại Việt Nam, Luật PC
- BLGĐ đã được Quốc hội thông qua năm 2007, có hiệu lực từ ngày 01/07/2008, nhưng việc thực hiện vẫn còn khó khăn, việc tuyên truyền, giáo dục chưa đạt được nhiều thành công Ngoài ra, còn rất nhiều thành viên trong
xã hội quan niệm BLGĐ là chuyện riêng của từng gia đình, vì vậy mà việc xử
lý và phát hiện nhằm ngăn chặn bạo lực xảy ra vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn
và bất cập [11]
+ Công tác TT - GDSK về luật PCBLGĐ: Một nghiên cứu ở huyện Mộc
Châu tỉnh Sơn La “Vấn đề BLGĐ ở vùng dân tộc thiểu số Miền núi phía Bắc
Việt Nam”, có tới 63,3% người chưa được nghe về Luật PC - BLGĐ và 36,8%
đã được nghe nói nhưng còn rất mơ hồ [4] Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới thực trạng BLGĐ tại nơi đây
+ WHO còn đưa ra nhiều nguyên nhân khác dẫn đến BLGĐ đó là: Tiền
sử tiếp xúc hoặc bị chứng kiến BLGĐ; Do người đàn ông bị rối loạn nhân cách chống đối xã hội; Do người phụ nữ bị nghi ngờ về sự không chung thủy; Do bất hòa và không hài lòng trong hôn nhân dẫn đến khó khăn trong giao tiếp giữa các đối tác; Phụ nữ có hành vi kiểm soát chồng; Niềm tin vào danh dự gia đình và sự thuần khiết trong tình dục của nam giới; Hệ tư tưởng về quyền lợi trong tình dục của nam giới; Xử phạt pháp lý yếu đối với bạo lực tình dục Trong
đó bất bình đẳng giới và các chuẩn mực về khả năng chấp nhận bạo lực đối với phụ nữ là nguyên nhân gốc rễ của bạo lực đối với phụ nữ [72]
Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến BLGĐ đối với phụ nữ song nguyên nhân sâu xa chính là do yếu tố nhận thức Nhận thức về bình đẳng giới,
về nạn phân biệt đối xử, trọng nam khinh nữ, quan niệm gia trưởng vẫn còn tồn
Trang 20tại trong xã hội của chúng ta, rất khó để xóa bỏ dược vấn nạn này Nhận thức
về pháp luật của một bộ phận người dân đang còn hạn chế Vì vậy, để giải quyết được triệt để vấn đề BLGĐ, chúng ta cần chú ý giải quyết yếu tố nhận thức của nam giới, phụ nữ và của cả cộng đồng
1.1.4 Hậu quả bạo lực gia đình
Theo WHO, BLGĐ gây ra rất nhiều các hậu quả nghiêm trọng như sau:
- Đối với phụ nữ:
+ Dẫn đến thương tích: với 42% phụ nữ năm 2017 trên thế giới bị bạo lực tình dục báo cáo thương tích do hậu quả của bạo lực này [72] Bên cạnh đó, bạo lực thể xác cũng gây ra những thương tích ví dụ như vết bầm tím, vết thương
do dao, xương gãy, đau đầu, đau lưng hoặc đau vùng chậu và có thể dẫn đến tử vong hoặc tự sát [60]
+ Dẫn đến mang thai và phá thai ngoài ý muốn, gây ra các vấn đề phụ khoa và nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV: Phân tích năm 2013 cho thấy những phụ nữ bị bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục có nguy cơ bị nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục cao gấp 1,5 lần so với những phụ nữ không bị bạo lực Họ cũng có khả năng phá thai cao gấp đôi [72], [43], [49] Tại Ấn Độ tỷ lệ BLGĐ và phá thai rất cao, nghiên cứu cho kết quả rằng phụ nữ bị bạo lực thể xác có tỷ lệ báo cáo phá thai cao hơn đáng kể, trong khi những phụ nữ phá thai có tỷ lệ báo cáo do bạo lực tình dục và bạo lực tinh thần cao hơn đáng kể Không có mối quan hệ đáng kể giữa BLGĐ và phá thai
Trang 21những phụ nữ đã trải qua bạo lực tình dục gần như tăng gấp đôi khả năng bị trầm cảm và dẫn tới hành vi uống rượu [72] Theo nghiên cứu của Knight L, BLGĐ gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và cả thể chất lẫn tinh thần [37] Bạo lực đối với phụ nữ thường tạo ra nhiều hậu quả không mong muốn và bất lợi Phụ nữ bị bạo lực có nguy cơ trầm cảm, lo lắng, rối loạn căng thẳng sau chấn thương và có thể dẫn đến tự tử, cũng như các vấn đề về thể chất khác [68], [74], [44], [61], [50]
+ Bên cạnh đó, BLGĐ cũng dẫn đến việc tăng các kết quả bất lợi về tâm
lý và hành vi, như hút thuốc, uống rượu, dùng ma túy (tức là lạm dụng chất gây nghiện) hoặc quan hệ tình dục không an toàn và các hậu quả tiêu cực về sức khỏe thể chất và tinh thần khác [60] Do vậy, BLGĐ đã trở thành một vấn đề
xã hội ảnh hưởng nghiêm trọng tới tâm lý của nạn nhân Tsirigotis đã sử dụng
"Thang đo khả năng phục hồi" (ERS) được sử dụng để nghiên cứu nhóm phụ
nữ bị BLGĐ cho kết quả khả năng phục hồi của phụ nữ nghiên cứu bị BLGĐ thấp hơn khả năng phục hồi của những cá nhân khác không gặp phải BLGĐ [64] Điều đó ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống sau này của những người phụ nữ đó
+ BLGĐ đối với phụ nữ là trở ngại lớn cho tiến trình đạt được các mục tiêu phát triển Họ thường không muốn giải quyết nó, dẫn đến có rất ít cơ hội đạt được các mục tiêu phát triển [53] Bên cạnh đó, những người phụ nữ bị BLGĐ thường có xu hướng thụ động, bỏ bê các vấn đề xã hội và sức khỏe cá nhân kém, tương lai gián tiếp bị hủy hoại [63]
+ Nặng nề hơn, trí tuệ - cảm xúc của phụ nữ bị BLGĐ thấp hơn trí tuệ - cảm xúc của phụ nữ không bị BLGĐ Khả năng và kỹ năng của họ tạo nên trí tuệ - cảm xúc cũng kém phát triển Cấu trúc bên trong của trí tuệ - cảm xúc của phụ nữ bị BLGĐ khác với trí tuệ - cảm xúc của phụ nữ không gặp BLGĐ [65] + Với phụ nữ mang thai: có nhiều khả năng sinh con sớm hơn dự kiến sinh
so với phụ nữ ở khu vực BLGĐ thấp (OR = 1,04, CI:95%) [30]
Trang 22- Đối với trẻ em:
+ Trẻ em lớn lên trong các gia đình có bạo lực có thể phải chịu một loạt các rối loạn về hành vi và cảm xúc Những điều này cũng có thể được liên kết với việc duy trì hoặc trải qua bạo lực sau này trong cuộc sống [72] Trẻ em chứng kiến BLGĐ có liên quan đáng kể với mức độ tâm lý chung, đặc biệt tác động mạnh mẽ tình cảm cá nhân/tình cảm của bệnh lý tâm thần sau này [28], [52] Có thể nói trẻ em tiếp xúc với BLGĐ là một loại ngược đãi trẻ em [40] + Bạo lực tình dục cũng có liên quan đến tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở trẻ sơ sinh và trẻ em cao hơn (ví dụ như bệnh tiêu chảy hoặc suy dinh dưỡng) [72]
- Đối với xã hội:
+ Các chi phí kinh tế và xã hội của bạo lực tình dục là rất lớn và có hiệu ứng gợn sóng trong toàn xã hội Phụ nữ có thể bị cô lập, không có khả năng làm việc, mất tiền lương, thiếu sự tham gia vào các hoạt động thường xuyên và khả năng chăm sóc bản thân và con cái bị hạn chế [72]
+ Chất thêm gánh nặng cho hệ thống giáo dục: Bởi lẽ, trẻ em là những thành viên sống chung trong gia đình nếu thường xuyên chứng kiến cảnh bố hành hạ, đánh đập mẹ sẽ có những rối loạn tâm lý và sa sút trong học tập Trẻ thường có các biểu hiện như trầm cảm, buông xuôi mọi thứ và trong một số trường hợp trẻ có những hành vi tiêu cực để chống lại sự BLGĐ đó BLGĐ tác động rất xấu tới sự phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức, ảnh hưởng nặng nề đến việc học tập, kỹ năng sống, hòa nhập xã hội của trẻ em Ở một số nước trên thế giới, nhà trường phải tuyển dụng thêm những giáo viên hoặc chuyên gia tâm lý để hỗ trợ những học sinh là nạn nhân hoặc phải sống trong môi trường BLGĐ Nếu những đứa trẻ này không được quan tâm và giáo dục đúng mức thì các em có thể trở thành những đứa trẻ hư làm gia tăng tỷ lệ tội phạm vị thành niên, tệ nạn xã hội, chất thêm gánh nặng lên vai các nhà quản lý xã hội [11] + Chất thêm gánh nặng lên vai các cơ quan tư pháp: Điều này thể hiện qua việc pháp luật của hầu hết các quốc gia hiện đã xếp các hình thức BLGĐ ở
Trang 23những mức độ khác nhau là những hành vi vi phạm pháp luật Chính vì vậy, khi có hành vi bạo lực xảy ra, các cơ quan pháp luật phải vào cuộc điều tra, xét
xử Có rất nhiều vụ án là hậu quả của BLGĐ tốn rất nhiều công sức, thời gian, nhân lực của nhà nước Ngoài ra, việc giáo dục, giam giữ các đối tượng gây ra BLGĐ cũng là gánh nặng cho các cơ quan tư pháp [11]
Như vậy, hậu quả ngắn hạn và dài hạn của BLGĐ đối với sức khỏe và hạnh phúc của phụ nữ là rất nghiêm trọng Ngoài những chấn thương tức thời, phụ nữ có thể phải đối mặt với các vấn đề sức khỏe khác bao gồm mang thai ngoài ý muốn, các vấn đề về sức khỏe tâm thần, nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục như HIV Trong nhiều cơ sở y tế đã cho kết quả rằng: khả năng đối phó với BLGĐ của những người phụ nữ còn sống sót sau bạo lực là không thể hoặc bị hạn chế Ngoài ra, họ còn không thể tìm kiếm sự chăm sóc
và do đó phải chịu hậu quả nghiệm trọng của sức khỏe nhiều hơn Phụ nữ cũng thường phải đối mặt với sự kỳ thị và từ chối sau đó từ gia đình hoặc cộng đồng của họ Và cứ như vậy trong một vòng luẩn quẩn, người phụ nữ lại càng
dễ bị bạo lực hơn nữa [70]
1.2 Tình hình bạo lực gia đình trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình bạo lực gia đình trên thế giới
Bạo lực đối với phụ nữ, hay BLGĐ, là cả một vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần đang lan tràn trong nhiều xã hội Nó làm suy yếu sức khỏe cá nhân của những người liên quan bằng cách gây ra thiệt hại về thể chất, tình dục và tâm lý [35] Theo thống kê của WHO ngày 23 tháng 11 năm 2018: ước tính rằng cứ 3 phụ nữ trên toàn thế giới thì có 1 người đã trải qua bạo lực thể xác và/hoặc bạo lực tình dục, chủ yếu bởi chồng/bạn tình Tuy nhiên có sự khác biệt về tỷ lệ bạo lực giữa các cộng đồng, quốc gia và khu vực, và con số này ngoài thực tế thậm chí còn lớn hơn [70]
Tại Iran, các tác giả ước tính tỷ lệ BLGĐ là 66% Phân loại địa lý cho thấy
tỷ lệ BLGĐ là 70% ở phía đông của đất nước, 70% ở phía nam, 75% ở phía
Trang 24tây, 62% ở phía bắc và 59% ở trung tâm (với CI: 95%) [35] Tại Brazil, phần lớn các vụ BLGĐ thường gặp ở phụ nữ hoặc cao tuổi hoặc là độ tuổi trẻ hơn (18-29 tuổi) và thường xảy ra vào cuối tuần hoặc sáng sớm hay đêm muộn, nơi xảy ra bạo lực nhiều nhất chính là nơi cư trú của họ [33] Nghiên cứu của Borah
ở Đông Bắc Ấn Độ có 26,4% số người tham gia nghiên cứu bị BLGĐ và bạo lực tinh thần là chủ yếu [26] Tương tự như vậy, Trung Quốc cũng là một quốc gia có tỷ lệ phụ nữ bị BLGĐ cao [62]
Đối với phụ nữ nói chung và phụ nữ mang thai nói riêng cũng không phải
là trường hợp ngoại lệ của BLGĐ [59] Một nghiên cứu khác đối với phụ nữ mang thai tại các vùng nông thôn ở Bangladesh, tỷ lệ BLGĐ chung là 57% và bạo lực tinh thần là 35% chủ yếu do các hành vi bị kiểm soát gây nên những rối loạn tâm thần và căng thẳng ở phụ nữ mang thai [76]
Trong số những người phụ nữ bị bạo lực, nghiên cứu của Boivin cho kết quả gần ba phần tư các vụ bạo lực đã được báo cáo bởi chính nạn nhân (72%),
và hơn một nửa số nạn nhân báo cáo muốn buộc tội (55%) chồng của mình với cảnh sát và mong muốn báo chí vào cuộc [25] Đây cũng chính là một yếu tố rất quan trọng để làm giảm các nguy cơ bạo lực cho những người phụ nữ khác
Tại Ethiopia năm 2015 cho thấy: tỷ lệ BLGĐ đối với phụ nữ trong số 10 nghiên cứu gần đây nằm trong khoảng từ 20% đến 78% Bạo lực tinh thần dao động từ 31 đến 76,5%; bạo lực tình dục dao động từ 19,2 đến 59% Tỷ lệ bạo lực trung bình là 51,7% Và một số lượng đáng kể phụ nữ khác đã trải qua bạo lực trong thời kỳ mang thai của họ [53] Và cũng tương tự, BLGĐ là một vấn
đề phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ [46]
Mặc dù BLGĐ là vấn đề phổ biến trên thế giới hiện nay, nhưng không phải người phụ nữ nào cũng thẳng thắn thừa nhận việc mình bị BLGĐ, các rào cản cản trở phụ nữ tiết lộ rất phức tạp và đa dạng giữa những người tham gia Phụ nữ không phải lúc nào cũng thừa nhận hoặc nhận ra mối quan hệ của
họ là bấp bênh và thường phủ nhận hoặc giảm thiểu việc bị bạo lực để đối phó
Trang 25với việc tiếp tục bị BLGĐ Nghiên cứu của Ozpinar cho kết quả là có đến 79,5% số phụ nữ tham gia nghiên cứu bị BLGĐ thì đều không thông báo với chính quyền địa phương về vấn đề này [47] Điều này làm trì hoãn việc cung cấp các dịch vụ phù hợp hỗ trợ phụ nữ trong các mối quan hệ bạo lực [32]
1.2.2 Tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam
Cũng như trên thế giới, Việt Nam có tỷ lệ BLGĐ khá cao Từ 2012 đến hết 2017, cả nước xảy ra 139.395 vụ BLGĐ Trong đó bạo lực thể xác: 69.133
vụ, bạo lực tinh thần: 51.227 vụ, bạo lực kinh tế: 14.331 vụ, bạo lực tình dục: 4.338 vụ [5] Và tỷ lệ ấy có sự khác nhau giữa mọi miền của đất nước cụ thể như sau:
Trong hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Luật PC-BLGĐ tại tỉnh Hậu Giang ngày 26/9/2018 cho kết quả là: Tổng số vụ BLGĐ trong 10 năm (2008-2018) là 269 vụ thì 9 tháng đầu năm 2018 xảy ra 11 vụ [10] Cũng Trong giai đoạn 2008 - 2018, trên địa bàn huyện Cẩm Khê-Phú Thọ xảy ra 235 vụ việc liên quan đến BLGĐ, trong đó những đối tượng bị BLGĐ chủ yếu là phụ nữ và trẻ em [19] Tại tỉnh Tuyên Quang, 6 tháng đầu năm 2018 xảy ra 19 vụ BLGĐ [16] Tại Vĩnh Phúc, theo thống kê, trong 10 năm (2008-2018), toàn tỉnh phát hiện 3.423 vụ BLGĐ; trong đó, 2.005 vụ bạo lực thể xác, 998 vụ bạo lực tinh thần, 344 vụ bạo lực kinh tế và 76 vụ bạo lực tình dục Các vụ BLGĐ thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nạn nhân BLGĐ chủ yếu là phụ nữ và trẻ em
Cơ quan công an đã thụ lý giải quyết 175 vụ BLGĐ; đã khởi tố 48 vụ, xử lý vi phạm hành chính 127 vụ [17] Tại Quảng Nam, qua thống kê năm 2009 toàn tỉnh có 715 vụ BLGĐ, đến năm 2017 giảm còn 327 vụ BLGĐ Công an tỉnh đã khởi tố điều tra 13 vụ, 13 bị can Ngoài ra, xử lý hành chính 140 vụ, 168 đối tượng vi phạm với số tiền hơn 102 triệu đồng Hội liên hiệp phụ nữ các cấp tiếp nhận 624 đơn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đất đai, dân sự… trong đó,
có 70% đơn về hôn nhân và gia đình có liên quan đến BLGĐ, tư vấn hỗ trợ 1.504 nạn nhân bị bạo lực, mâu thuẩn gia đình Từ năm 2008 đến nay, có từ
Trang 26150 đến 200 lượt nạn nhân BLGĐ đến cơ sở y tế khám và điều trị, 100% người bệnh là nạn nhân BLGĐ được khám, chữa bệnh, tư vấn về cách chăm sóc, phục hồi sức khỏe và phòng bệnh…[15] Theo thống kê chưa đầy đủ của tỉnh Lạng Sơn, từ năm 2008 đến nay toàn tỉnh đã phát hiện, điều tra, xử lý 128 vụ với 128 đối tượng liên quan đến BLGĐ, xử lý hình sự 66 đối tượng, xử lý hành chính
62 trường hợp, kiểm điểm, nhắc nhở 57 trường hợp… [14]
Tương tự như vậy với các tỉnh thành khác trong hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Luật PC-BLGĐ ta nhận thấy, mặc dù công tác phòng chống bạo lực gia đình có những thành tựu đáng kể, song số vụ bạo lực vẫn còn tồn tại làm ảnh hưởng tới rất nhiều mặt trong cuộc sống của người bị bạo lực cũng như cộng đồng có BLGĐ diễn ra Đây được coi là một vấn đề cấp thiết cần phải được giải quyết
1.3 Một số yếu tố liên quan tới bạo lực gia đình
Trên thế giới cũng như Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra được các yếu tố liên quan đến BLGĐ cụ thể như sau:
- Tuổi: Theo nghiễn cứu của Garcia tại Brazil năm 2016 cho thấy: tuổi có liên quan đến BLGĐ, cụ thể là tuổi càng trẻ thì tỷ lệ bạo lực thể xác thấp hơn ở phụ nữ trong độ tuổi cao [33], [39] Tuy nhiên trong các nghiên cứu khác được thực hiện ở Brazil, tuổi không liên quan đến sự xuất hiện bạo lực của người phụ
nữ với chồng/bạn tình [27], [67] Ngược lại nghiên cứu của Borah lại cho rằng tuổi phụ nữ càng cao thì tỷ lệ bạo lực càng nhiều [26] Mặc dù vậy, phần lớn các nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa BLGĐ với lứa tuổi và cho rằng phụ
nữ trẻ tuổi hơn sẽ có tỷ lệ bị BLGĐ nhiều hơn phụ nữ lớn tuổi Một giả thuyết được đưa ra để giải thích những điều này là phụ nữ lớn tuổi hơn thường có điều kiện hơn về mặt kinh tế và xã hội, mặt khác phụ nữ lớn tuổi có thể đã có cơ hội
từ bỏ tình trạng này từ khi còn trẻ Do đó ít có khả năng bị bạo lực gần đây hơn phụ nữ trẻ tuổi [33], [45] Cụ thể hơn, nghiên cứu của Zarei cho rằng những phụ nữ ít chênh lệch tuổi tác với chồng thì ít bị bạo lực hơn Sự chênh lệch tuổi
Trang 27tác của các cặp vợ chồng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ BLGĐ [75]
- Trình độ học vấn: Tại Brazil, nghiên cứu của Garcia cũng đã cho kết quả
là trình độ học vấn của người phụ nữ có liên quan đến BLGĐ: trình độ học vấn càng thấp thì tỷ lệ BLGĐ càng cao [33] Nghiên cứu của Leite còn chỉ ra cụ thể rằng: trung bình, bạo lực tinh thần xảy ra thường xuyên hơn 45% ở những người
có trình độ học vấn thấp [39] Kết quả tương tự như vậy là nghiên cứu của Borah [26] tại Đông Bắc Ấn Độ, nghiên cứu của Almeida [22], nghiên cứu của Ozpinar [47]
- Khả năng tham gia vào hoạt động kiếm tiền: Garcia cho rằng đây là một yếu tố có liên quan đến BLGĐ, những phụ nữ không có khả năng tham gia vào các hoạt động kiếm tiền sẽ bị bạo lực nhiều hơn những phụ nữ khác [33] Tương
tự như vậy đối với phụ nữ có thai ở Tây Bắc Ethiopia [29] d'Oliveira cũng cho rằng tình trạng kinh tế thấp và không có các công việc được trả thù lao sẽ làm tăng tỷ lệ bị bạo lực hơn những phụ nữ tự mình kiếm ra tiền [27] Tương tự vậy, Almeida cũng cho rằng phụ nữ thất nghiệp và thu nhập hàng tháng <1000 euro có tỷ lệ bị bạo lực cao hơn phụ nữ có việc làm và thu nhập cao [22]
- Sử dụng rượu bia: Trình trạng sử dụng rượu bia của bản thân người phụ
nữ và chồng của họ vừa là nguyên nhân vừa là yếu tố liên quan tới BLGĐ, tỷ
lệ bạo lực tăng lên ở những gia đình có người phụ nữ thường xuyên sử dụng rượu bia Và nghiên cứu chỉ ra rằng đây cũng chính là yếu tố có liên quan nhiều nhất tới tình trạng BLGĐ vì gia đình của họ luôn có ý thức chống lại hành vi này của người phụ nữ [33], [55] Theo Sharps cho rằng việc sử dụng rượu bia của cả nạn nhân và cả người gây ra bạo lực đã làm tăng tỷ lệ bạo lực lên 8,24 lần so với việc không sử dụng rượu bia [55] Mối quan hệ giữa lạm dụng rượu bia và BLGĐ được biết đến rộng rãi và được ghi nhận ở nhiều nghiên cứu khác [23], [27], [67] Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại đô thị Paulista
Trang 28cho thấy người phụ nữ báo cáo đã sử dụng rượu có rủi ro cao gấp hai lần phải chịu đựng bạo lực do chồng/bạn tình gây ra [67]
- Nghiện ma túy: Leite cho rằng những gia đình có chồng nghiện ma túy thì tỷ lệ bạo lực cao hơn những gia đình khác 1,35 lần Và bản thân phụ nữ có tiền sử sử dụng ma túy có tỷ lệ bị bạo lực thể xác cao hơn 2,4 lần bởi chồng/bạn tình [39]
- Kinh tế gia đình: những gia đình có kinh tế thấp thì tỷ lệ bạo lực cao hơn gia đình có thu nhập cao [26] Theo nghiên cứu của Leite thì phụ nữ có thu nhập gia đình thấp chính là nạn nhân của bạo lực tình dục bởi chồng của họ nhiều gấp ba lần so với phụ nữ có thu nhập gia đình cao [39] Nghiên cứu của Ozpinar cũng cho kết quả tương tự như vậy [47]
- Nghề nghiệp: Nghiên cứu của Zarei cho kết quả rằng hầu hết phụ nữ bị BLGĐ là những bà nội trợ, nhưng bạo lực với mức độ vừa phải khi ở cùng những người đàn ông thất nghiệp, mức độ bạo lực tăng lên đối với những phụ
nữ làm nội trợ ở cùng đàn ông có việc làm [75] Rasoulian thấy rằng nghề nghiệp của người chồng có liên quan chặt chẽ với mức độ bạo lực cụ thể cho thấy những người chồng ít học hành có hành vi bạo lực hơn những người chồng
có học thức [51]
- Số con trong gia đình: Borah cho rằng gia đình không có con hay số con nhiều hơn 2 thường có tỷ lệ bạo lực nhiều hơn những gia đình có từ một đến hai con [26] Một nghiên cứu khác tại Iran lại cho rằng có mối tương quan có
ý nghĩa thống kê giữa bạo lực và việc có bé trai trong gia đình: những phụ nữ không có con trai bị bạo lực nhiều hơn, nhưng không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa số lượng con gái trong gia đình và bạo lực đối với phụ nữ [75]
- Tiền sử bị bạo lực của cha mẹ trong thời thơ ấu: những gia đình có cả vợ
và chồng đều có tiền sử bị BLGĐ thời thơ ấu thì tỷ lệ xảy ra bạo lực hiện tại cao hơn những gia đình khác không có tiền sử trên [47] Nghiên cứu của Leite cũng cho kết quả: tỷ lệ bạo lực tinh thần cao hơn 70% ở những phụ nữ có mẹ
Trang 29bị bạo lực bởi chồng/bạn tình hoặc bản thân bị bạo lực tình dục trong thời thơ
ý rằng bạo lực không nên được tha thứ hoặc chấp nhận trong xã hội Phần lớn
số người được hỏi (93%) phụ nữ cũng đồng ý rằng nạn nhân BLGĐ nên có quyền truy cập dịch vụ và sự hỗ trợ của cơ quan/chính phủ/nhà nước/một hoặc
cơ quan phi nhà nước Ngoài ra, hầu hết tất cả những người được hỏi đều sẵn sàng hỗ trợ cho một người bị BLGĐ [56]
- Màu da: nghiên cứu của Garcia tại Brazil năm 2016 chưa cho thấy có
sự liên quan giữa BLGĐ và màu da của người phụ nữ [33] Tương tự như vậy trong nghiên cứu của Leite cũng cho rằng không có mối liên hệ của bất kỳ loại bạo lực nào với màu da hoặc tôn giáo của người phụ nữ Ngược lại Almeida lại cho rằng: phụ nữ không phải người da trắng sẽ có tỷ lệ BLGĐ cao hơn phụ nữ
Trang 300,001) [51] Những gia đình có chồng ham mê cờ bạc thì tỷ lệ bạo lực cao hơn những gia đình khác, hay thời gian kết hôn càng dài thì tỷ lệ bạo lực càng cao [26], phụ nữ kết hôn < 18 tuổi có tỷ lệ BLGĐ cao hơn những phụ nữ kết hôn sau 18 tuổi [34]
Tóm lại, có nhiều yếu tố liên quan đến BLGĐ đã được chứng minh ở nhiều nghiên cứu khác nhau Đó sẽ là cơ sở để chúng ta thực hiện tốt các can thiệp nhằm giảm bớt tỷ lệ BLGĐ trong tương lai
1.4 Vài nét về địa điểm nghiên cứu của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Trong số 7 huyện của tỉnh Thái Nguyên thì Định Hóa là một trong hai huyện vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn nhất Định Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, phía Tây - Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, Đông - Bắc giáp tỉnh Bắc Cạn, Đông - Nam giáp huyện Đại Từ, Phú Lương, trung tâm huyện là thị trấn Chợ Chu cách trung tâm thành phố 50 km về phía Tây Bắc Toàn huyện có 24 đơn vị hành chính gồm thị trấn Chợ Chu và 23 xã (Linh Thông, Lam Vĩ, Quy Kỳ, Kim Sơn, Kim Phượng, Tân Thịnh, Bảo Linh, Trung Lương, Trung Hội, Phú Tiến, Bộc Nhiêu, Sơn Phú, Điềm Mặc, Bình Thành, Phú Đình, Định Biên, Phượng Tiến, Phúc Chu, Linh Thông, Đồng Thịnh, Tân Dương, Bảo Cường, Bình Yên) Địa hình trải dài, khá phức tạp và chia thành hai vùng: Vùng núi cao và vùng núi thấp do đó vẫn còn những khu vực cách xa khu trung tâm gây khó khăn trong việc đi lại, thông thương giữa các vùng Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và thương mại - du lịch còn rất nhỏ bé Đây là nơi sinh sống của 8 dân tộc anh em: Tày, Kinh, Cao Lan-Sán Chí, Nùng, Dao, Hoa, Sán Dìu, Mông, Mường trong đó chủ yếu là dân tộc Tày (49,23%) [20] Theo báo cáo Dân số - Kế hoạch hóa gia đình quý 2 năm 2020 của Trung tâm Y tế huyện Định Hóa: Tổng số nhân khẩu thực tế thường trú tính đến cuối quý là 100362 người, trong đó số phụ nữ từ 15-49 tuổi là 25285 người chiếm khoảng 25%, số phụ nữ từ 15-49 tuổi có chồng 17725 người [13]
Trang 31Trong vài năm trở lại đây, cùng với sự phát triển chung, nền kinh tế của huyện cũng có nhiều thay đổi tích cực kéo theo những thay đổi của văn hóa, giáo dục Tuy nhiên, ở một số nơi, đặc biệt là những xã vùng sâu vùng xa, trình
độ cũng như nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt người dân ở đây còn thiếu kiến thức về bình đẳng giới, tình trạng trọng nam khinh nữ còn khá nặng nề Chính vì vậy, thực trạng và một số yếu tố liên quan đến BLGĐ của phụ nữ dân tộc thiểu số tại các xã này cần được làm rõ hơn Đây chính là căn cứ giúp chúng ta đề xuất được một số giải pháp hoặc xây dựng được một
số biện pháp can thiệp hiệu quả trong tương lai nhằm giảm bớt hậu quả do BLGĐ gây ra
Trang 32Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Định Hóa
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
* Nghiên cứu định lượng
- Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:
- Một số phụ nữ đã từng bị bạo lực gia đình tại các xã
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
2.4.2 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang
Trang 342.4.3 Mẫu nghiên cứu
2.4.3.1 Cỡ mẫu
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng
Công thức dưới đây được áp dụng cho nghiên cứu mô tả [3], tính cỡ mẫu như sau:
2
2 2 / 1
.
d
q p Z
n
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần có;
- p: Tỷ lệ ước lượng phụ nữ bị bạo lực gia đình Chọn p = 0,58 (Theo
Nghiên cứu Quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ ở Việt Nam của Tổng cục Thống
kê năm 2010, có tới 58% phụ nữ bị bạo hành dưới ít nhất một hình thức) [12];
- Z1 - α/2 : Hệ số giới hạn tin cậy, Z1 - α/2 = 1,96;
(Với = 0,05 tương ứng với độ tin cậy là 95%)
- d: Độ chính xác mong muốn, ấn định d = 0,038;
Thay vào công thức tính được cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 648 Để đảm bảo độ tin cậy, số cỡ mẫu được tính thêm 5% là 680
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu: 02 cuộc phỏng vấn sâu/xã
Trưởng ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ (01 người/xã): 03 người
Chủ tịch hội phụ nữ xã (01 người/xã): 03 người Tổng số đối tượng tham gia phỏng vấn sâu của 3 xã: 06 người
- Thảo luận nhóm: 01 cuộc thảo luận nhóm/xã
Trạm trưởng trạm y tế (01 người/xã): 03 người
Chi hội trưởng chi hội phụ nữ các thôn (03 người/xã): 09 người
Trưởng thôn (03 người/xã): 09 người
Cán bộ dân số tại trạm y tế (01 người/xã): 03 người
Trang 35 Một số phụ nữ đã từng bị BLGĐ (03 người/xã): 09 người
Tổng số đối tượng tham gia thảo luận nhóm của 3 xã: 33 người
2.4.3.1 Phương pháp chọn mẫu
* Đối với nghiên cứu định lượng
- Chọn huyện nghiên cứu: chọn chủ đích là huyện Định Hóa vì đây là một trong hai huyện vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn nhất trong tỉnh Thái Nguyên
- Chọn xã: huyện Định Hóa chia thành 3 khu vực: trung tâm, gần khu trung tâm và xa khu trung tâm [18] Chia như vậy vì địa hình của huyện rất phức tạp, không đồng nhất nên vị trí cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới điều kiện kinh tế
và văn hóa Mỗi khu vực chọn các xã như sau:
+ Khu vực trung tâm: có 6 xã chọn ngẫu nhiên lấy 2 xã: Thị trấn Chợ Chu, Kim Sơn
+ Khu vực gần trung tâm có 9 xã chọn ngẫu nhiên lấy 3 xã: Bảo Cường, Phúc Chu, Quy Kỳ
+ Khu vực xa trung tâm có 9 xã chọn ngẫu nhiên lấy 3 xã: Trung Hội, Linh Thông, Phú Tiến
(Ta chọn như vậy vì Định Hóa có tổng 24 đơn vị hành chính cấp xã phường trong
đó có 1 thị trấn và 23 xã thì đã có 20 xã đặc biệt khó khăn và 1 số xã vùng sâu vùng xa tập trung nhiều ở khu vực xa trung tâm và gần trung tâm)
Như vậy ta chọn được 8 xã với tổng số phụ nữ 15-49 tuổi có chồng là 5633 phụ nữ như bảng dưới đây
Bảng 2.1 Danh sách số phụ nữ tại 08 xã nghiên cứu
STT Tên xã Số phụ nữ STT Tên xã Số phụ nữ
Trang 36- Chọn đối tượng người phụ nữ cho mẫu nghiên cứu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo các bước sau:
+ Bước 1: Lập danh sách tất cả những những người phụ nữ đạt đủ tiêu chuẩn Như vậy ta lập được danh sách tất cả có 5633 phụ nữ
+ Bước 2: Tìm khoảng cách mẫu k (k = N/n), nếu k tính được là số thập phân chỉ lấy phần nguyên
Lấy tổng số người phụ nữ trong danh sách chọn chia cho cỡ mẫu (n = 680), ta được khoảng cách k = 5633/680 = 8,28 Lấy k = 8
+ Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cứu:
Chọn đối tượng thứ nhất: Chọn ngẫu nhiên một người phụ nữ nằm trong khoảng từ 01 đến khoảng cách k, đó là đối tượng thứ nhất
Chọn đối tượng thứ hai: là số thứ tự của đối tượng thứ nhất cộng với khoảng cách chọn k = 8
Chọn đối tượng tiếp theo: là số thứ tự của đối tượng kế trước cộng với khoảng cách chọn (k) Làm như vậy đến khi chọn đủ 680 đối tượng
* Đối với nghiên cứu định tính
2.5 Chỉ số nghiên cứu
2.5.1 Nhóm chỉ số theo mục tiêu 1: Thực trạng bạo lực gia đình
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
- Nhóm tuổi
Trang 37- Tuổi kết hôn lần đầu của phụ nữ
- Tỉ lệ chung bạo lực gia đình
- Tần suất bạo lực gia đình
- Tỉ lệ bạo lực thể xác
- Tỉ lệ bạo lực tinh thần
- Tỉ lệ bạo lực tình dục
- Tỉ lệ bạo lực kinh tế
- Ý kiến của đối tượng nghiên cứu về bạo lực gia đình
2.5.3 Nhóm chỉ số theo mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến bạo lực gia đình
- Mối liên quan giữa tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi kết hôn lần đầu của phụ nữ với BLGĐ;
- Mối liên quan giữa tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, sử dụng rượu/bia,
sử dụng ma túy/chất gây nghiện của chồng với BLGĐ;
- Mối liên quan giữa thái độ của người phụ nữ về BLGĐ với BLGĐ;
- Mối liên quan giữa công tác phổ biến Luật PC-BLGĐ với BLGĐ;
- Các ý kiến về một số yếu tố liên quan tới BLGĐ
2.6 Định nghĩa một số biến số nghiên cứu
TT Biến số, chỉ số Định nghĩa Loại biến Phương pháp
thu thập
1 Tuổi Xác định từ lúc sinh đến thời
điểm nghiên cứu theo năm dương lịch
Biến liên tục Phỏng vấn
trực tiếp
Trang 382 Tuổi kết hôn
lần đầu
Tuổi của người phụ nữ tại thời điểm lần đầu đăng kí kết hôn
4 Dân tộc Dân tộc được xác định bởi cơ
quan có thẩm quyền
Biến định danh
Phỏng vấn trực tiếp
5 Tôn giáo Thuộc tính tôn giáo do đối
tượng cung cấp
Biến định danh
Phỏng vấn trực tiếp
6 Trình độ học
vấn
trực tiếp
7 Nghề nghiệp Là công việc chính của đối
tượng làm trong thời gian dài nhất, được chia thành nông dân và nghề khác
Biến định danh
Phỏng vấn trực tiếp
8 Thái độ Là quan điểm của người phụ
nữ về BLGĐ và vai trò giới
Biến thứ hạng
Phỏng vấn trực tiếp
9 Thực trạng
BLGĐ
Là những hình thức BLGĐ theo luật phòng chống BLGĐ mà phụ nữ đã gặp phải trong cuộc sống gia đình
Biến định danh
Phỏng vấn trực tiếp
10 Hành vi Là hành vi của người phụ
nữ tìm kiếm sự giúp đỡ từ gia đình, xã hội khi bị BLGĐ
Biến định danh
Phỏng vấn trực tiếp
Biến định danh
Phỏng vấn trực tiếp
Trang 392.7 Kỹ thuật thu thập số liệu
* Với số liệu định lượng
- Thu thập thông tin theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp người phụ nữ theo tiêu chuẩn đã lựa chọn
- Phỏng vấn viên: trình độ bác sĩ, hiện đang là học viên cao học trong nhà trong nhà trường, được tập huấn đầy đủ trước khi thu thập số liệu
- Do tính nhạy cảm của vấn đề, để đảm bảo tính riêng tư, bí mật và đảm bảo tính chính xác của thông tin mà đối tượng cung cấp, tạo ra sự tự tin, an tâm cho đối tượng Đối tượng được mời đến nhà văn hóa xóm để phỏng vấn riêng, không có sự tham gia của người chồng
* Với số liệu định tính
- Sử dụng Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu để phỏng vấn trưởng ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, chủ tịch hội phụ nữ Kết quả phỏng vấn sâu (PVS) được ghi chép đồng thời sử dụng máy ghi âm ghi lại cuộc phỏng vấn
- Sử dụng Bảng hướng dẫn thảo luận để tiến hành thảo luận nhóm có trọng tâm Kết quả thảo luận nhóm (TLN) được thư ký ghi chép đồng thời sử dụng máy ghi âm để ghi lại nội dung
2.8 Cách khống chế sai số
- Thiết kế các phiếu phỏng vấn: Phiếu phỏng vấn được xây dựng với ngôn ngữ dễ hiểu, các mức đánh giá phù hợp, được tiến hành điều tra thử, sau đó chỉnh lý lại trước khi điều tra chính thức
- Đội ngũ điều tra viên được tập huấn, hướng dẫn nội dung điều tra trước khi tiến hành thực hiện
- Lựa chọn đối tượng phỏng vấn theo tiêu chuẩn, tuân thủ chặt chẽ phương pháp chọn mẫu để đảm bảo tính ngẫu nhiên của nghiên cứu
Trang 40- Nghiên cứu viên giám sát chặt chẽ quá trình thu thập số liệu, đảm bảo các thông tin thu thập đầy đủ, các phiếu điều tra được các giám sát viên kiểm tra và xác nhận
- Đối với nghiên cứu định tính: Nghiên cứu viên giải thích rõ mục đích nghiên cứu, thể hiện thái độ chân thành, cầu thị, trong quá trình PVS, TLN khuyến khích đối tượng nghiên cứu trả lời, trình bày chính kiến, quan điểm của mình
2.9 Công cụ thu thập số liệu
* Đối với nghiên cứu định lượng:
- Bảng câu hỏi phỏng vấn (Phụ lục 01) có các phần chính như sau:
+ Phần I: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, bao gồm 14 câu hỏi (a1 - a13);
+ Phần II: Thái độ vai trò giới, bao gồm 8 câu hỏi (b1 - b8);
+ Phần II: Thực trạng BLGĐ ở phụ nữ, bao gồm 13 câu hỏi (c1 – c11); + Phần IV: Phổ biến luật PC-BLGĐ và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp, bao gồm 06 câu hỏi (d1- d6)
* Đối với nghiên cứu định tính
- Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 02)
- Biên bản phỏng vấn sâu (Phụ lục 03)
- Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm (Phụ lục 04)
- Biên bản thảo luận nhóm (Phụ lục 05)
2.10 Đo lường và đánh giá
- Để đo lường và đánh giá thái độ của phụ nữ về vai trò của giới, mỗi câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (1 rất không đồng ý; 2 không đồng ý; 3 chưa rõ ràng; 4 đồng ý; và 5 rất đồng ý) Mỗi câu hỏi được cho điểm như sau: