Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai, Luận văn đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1i
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được
Trang 2Trước hết cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người hướng dẫn Khoa học, T.S Nguyễn Văn Hà, đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình tôi, bạn bè tôi, những người thường xuyên hỏi thăm, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Có được kết quả nghiên cứu này tôi đã nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong trường Đại học Lâm Nghiệp, sự tận tình cung cấp thông tin của các anh, chị cán bộ, công chức Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là phòng Kê khai và phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân Tôi xin được ghi nhận
và cảm ơn những sự giúp đỡ này
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhưng luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy,
cô giáo và tất cả bạn bè
Đồng Nai, tháng 9 năm 2017
Trang 3iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ vii
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Nội dung nghiên cứu 2
5 Bố cục của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN 3 1.1 Cơ sở lý luận về thuế TNCN, quản lý thuế TNCN 4
1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của thuế TNCN 4
1.1.2 Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 7
1.1.3 Ý nghĩa của quản lý thuế thu nhập cá nhân 20
1.1.4 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý thuế TNCN 23
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thuế TNCN 26
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN của một số quốc gia ngoài nước 26
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN ở một số Cục thuế trong nước 29
1.2.3 Bài học rút ra cho việc quản lý thuế TNCN của Cục thuế Tỉnh Đồng Nai 31
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai 35
2.1.1 Đặc điểm về kinh tế 35
2.1.2 Đặc điểm về văn hóa xã hội 41
Trang 4iv
2.2 Một số thông tin cơ bản về Cục thuế, tỉnh Đồng Nai 42
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 42
2.2.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức 43
2.2.3 Điều kiện nguồn nhân lực; điều kiện trang thiết bị phục hoạt động của Cục thuế 49
2.3 Phương pháp nghiên cứu 50
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 50
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 50
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 53
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57
3.1 Thực trạng về công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai 57
3.1.1 Thực trạng thực hiện dự toán thu thuế TNCN từ năm 2012 đến 2016 57 3.1.2 Đánh giá công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai 62
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế thu nhập cá nhân 79
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 79
3.2.2 Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa biến độc lập và các biến phụ thuộc 80
3.2.3 Đánh giá sơ bộ thang đo qua kiểm tra hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 83
3.2.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 85
3.2.5 Phân tích hồi quy 86
3.3 Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai 89
3.3.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế Đồng Nai 89
3.3.2 Một số kiến nghị 93
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5v
DANH MỤC VIẾT TẮT
APEC Asia Pacific Economic Cooperration
(Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương) ASEAN Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) ASEM AsiaEurope Meeting (Diễn đàn hợp tác Á – Âu)
CQCT Cơ quan chi trả
HĐND Hội đồng nhân dân
IMF International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ Quốc tế)
UBMTTQ Ủy ban Mặt trận tổ quốc
WB World Bank (Ngân hàng Thế giới)
WTO World Trade Organization (Tổ chức Thương mại thế giới)
Trang 6vi
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy ngành Thuế tỉnh Đồng Nai 43
Đồ thị 3.1 Kết quả thực hiện dự toán thu thuế TNCN Cục Thuế Đồng Nai từ 2012 –
2016 60
Trang 7vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện thu ngân sách của Cục thuế Đồng Nai qua các năm
2012 2016 60
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả khai thuế TNCN giai đoạn 2012 2016 64
Bảng 3.3 Dữ liệu đánh giá công tác quản lý nợ thuế TNCN từ năm 2012 2016 68
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra về thuế TNCN giai đoạn 2012 2016 69
Bảng 3.5 Kết quả hoàn thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai năm 20122016 71
Bảng 3.6 Kết quả hoạt động tuyên truyền Cục Thuế Đồng Nai 72
Bảng 3.7 Kết quả Cronbach’s Alpha của các nhân tố 80
Bảng 3.8 Thống kê số lượng biến và hệ số Cronbach's Alpha 81
Bảng 3.9 Cronbach’s Alpha của các thang đo chất lượng quản lý thuế 81
Bảng 3.10 Các hệ số xác định mô hình 83
Bảng 3.11 Kết quả hồi quy từng phần về chất lượng quản lý thuế 83
Bảng 3.12 Tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết về chất lượng quản lý thuế 83
Bảng 3.13 Vị trí quan trọng của các yếu tố 85
Trang 81
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một loại thuế trực thu tính trên phần thu nhập thực tế mà các cá nhân nhận được trong từng năm, từng tháng, từng lần phát sinh thu nhập, thuế thu nhập cá nhân đã trở thành loại thuế phổ biến trên thế giới và hiện nay đã có khoảng 180 nước áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009, tạo thêm một bước hoàn thiện trong hệ thống thuế của Việt Nam
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đã góp phần đảm bảo công bằng trong việc điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội, từng bước góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư đồng thời đảm bảo huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước Bên cạnh những kết quả đạt được, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật Thuế TNCN đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, một số quy định còn phức tạp, phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế và khó khăn cho công tác quản lý thuế
Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam thuộc Vùng Đông Nam Bộ đã và đang ngày càng thu hút vốn đầu tư nước ngoài góp phần đẩy mạnh kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với tình hình kinh tế hiện nay và những thách thức trong giai đoạn hội nhập sắp tới, Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng đều phải có biện pháp tăng thu ngân sách nhà nước, đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế theo định hướng của chính phủ, đồng thời để phù hợp với cam kết quốc tế, khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh với định hướng thay đổi chính sách thuế theo hướng giảm thuế thì nguồn thu ngân sách từ thuế TNCN càng đóng vai trò quan trọng
Tình hình quản lý thuế TNCN cả nước nói chung và cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai còn nhiều hạn chế như chính sách thuế chưa rõ ràng, chưa quản lý hiệu quả đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều
Trang 92
bất cập Vậy, thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai hiện nay như thế nào? Công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai gặp khó khăn và có những hạn chế gì? Cần những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả chất lượng công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai trong thời gian tới?
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai” được lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai, Luận văn đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Để hoàn thành mục tiêu chung đề tài có các mục tiêu cụ thể như sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế TNCN;
Phân tích thực trạng của công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
Xác định được các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thuế TNCN tỉnh Đồng Nai 3.2 Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Đồng Nai
+ Về thời gian: Tài liệu tổng quan thu thập trong khoảng thời gian từ những tài liệu được công bố từ năm 2012 đến nay; số liệu điều tra thực trạng về thuế TNCN chủ yếu trong 5 năm 2012 đến năm 2016
4 Nội dung nghiên cứu
Trang 103
Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế
Thực trạng về công tác quản lý thuế thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý thuế thuế thu nhập
cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai
Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Đồng Nai
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, nội dung chính của đề tài được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế TNCN
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai
Trang 114
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN
1.1 Cơ sở lý luận về thuế TNCN, quản lý thuế TNCN
1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của thuế TNCN
1.1.1.1 Khái niệm
Trên thế giới hiện nay tồn tại khá nhiều khái niệm về thuế thu nhập trong các công trình nghiên cứu, trong số các định nghĩa đó, mặc dù chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh của thu nhập nhưng tổng hợp lại cho thấy thu nhập có một số đặc điểm chung: thu nhập thuộc về một chủ thể trong xã hội – tính sở hữu của thu nhập, được xác định trong một khoảng thời gian nhất định, được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và được hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại do thị trường và nhà nước thực hiện Qua nhận biết những đặc điểm trên, có thể đưa một khái niệm tổng quát về thu nhập: “Thu nhập là tổng các giá trị nhận được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định” Từ khái niệm chung thu nhập, có thể định nghĩa thu nhập cá nhân như sau: “Thu nhập cá nhân là tổng giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà một cá nhân tạo ra và nhận được, không phân biệt nguồn hình thành”
Trong xã hội mà nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì sự bất bình đẳng về thu nhập là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến cần được nghiên cứu để nhà nước với chức năng tác động và điều chỉnh cần can thiệp ở mức độ hợp lý nhằm thiết lập công bằng xã hội Mỗi nhà nước cần thiết phải can thiệp vào nền kinh tế để giảm thiểu sự bình đẳng về thu nhập Một công cụ rất quan trọng và mang lại hiệu quả cao để giải quyết vấn đề này là thuế thu nhập cá nhân Các chính phủ sử dụng thuế thu nhập cá nhân để phân bổ gánh nặng thuế giữa các tầng lớp, nhóm dân cư khác nhau trong xã hội theo khả năng chi trả của họ để thiết lập sự bình đẳng về thu nhập và tạo nguồn để chính phủ thực hiện các chương trình công cộng khác
Vậy ta có khái niệm về thuế thu nhập cá nhân như sau: “Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân
Trang 125
trong một năm, từng tháng hoặc từng lần”
1.1.1.2 Bản chất của thuế TNCN
Phạm vi áp dụng thuế TNCN là rất rộng bao gồm mọi cá nhân ở trong nước
và ở nước ngoài có thu nhập tại một nước mà cá nhân đã có thời gian sinh sống và làm việc, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển
Thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Khi tính thuế có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được giảm trừ trước khi tính thuế
Thuế TNCN thường gắn liền với gia tăng thu nhập Do vậy, thuế TNCN được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần, vì xuất phát từ tính công bằng của việc động viên vào NSNN từ nguồn thuế TNCN, là điều tiết phù hợp với khả năng của từng người nộp thuế, người có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều, người có thu nhập
ít thì nộp thuế ít, người có thu nhập chưa đến mức phải nộp thuế thì không phải nộp thuế
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế, người nộp thuế cũng chính người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế của người nộp thuế sang cho người khác
Thuế TNCN là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của NNT và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội, vì vậy thuế TNCN có độ nhạy cảm cao
Thu thập thông thường được xác định mỗi năm một lần, do đó thuế TN cũng được tính toán xác định chung cho cả năm theo năm dương lịch Tuy nhiên, thuế
TN cũng có thể xác định hàng quý, sáu tháng một lần hoặc từng lần phát sinh thu nhập
1.1.1.3 Vai trò của thuế TNCN
Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là công cụ góp phần thực hiện công bằng
xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội
Trang 136
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia Mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng trong thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một sô chính sách xã hội Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế lũy tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều
Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước
Thuế TNCN là một loại thuế có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên, thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn Do sự ổn định trong mức huy động thuế đã tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêu đầu tư kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
có hiệu quả, thu được lợi nhuận nhiều, tạo ra mức thu nhập ngày càng cao từ đó tạo
ra nguồn thu ngày càng tăng trưởng cho ngân sách nhà nước
Kinh tế xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng tăng Thêm vào
đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích lũy trong nước được tăng dần, và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước Thuế TNCN cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ ba, thuế TNCN có vai trò điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu ngân sách nhà nước, thực hiện công bằng xã hội, mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua mức thuế TNCN và chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm
Trang 147
Thu nhập xã hội thường được sử dụng chủ yếu vào ba nội dung: tiêu dùng, đầu tư, tiết kiệm Nếu ký hiệu Y là thu nhập, C là tiêu dùng, I là đầu tư, S là tiết kiệm, ta có công thức: Y = C + S + I Những nội dung này có mối quan hệ mật thiết với nhau
Thuế TNCN động viên trực thiếp vào thu nhập của các nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế” Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người trong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về luật pháp thể chế, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự , đồng thời cũng có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập bản thân cho xã hội thông qua việc nộp thuế Nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộp thuế” thể hiện ở chỗ: người có thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau đều được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế; người có thu nhập thấp chưa phải nộp thuế
Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân góp phần quản lý thu nhập dân cư
Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, CQT có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp
xử ký phù hợp Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp cho Chính phủ có thêm cơ
sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để
đề ra các chính sách kinh tế xã hội phù hợp
Qua thời gian thực hiện thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam, bước đầu đã tạo cho mọi người dân làm quen với việc kê khai thu nhập và nhận thức được trách nhiệm đóng thuế thu nhập, một loại thuế phổ biến trên thế giới
và cũng là tiền đề trong quá trình hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
1.1.2 Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.2.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân
Trang 158
Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước và cơ bản nhất là cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương nhằm thu đúng và thu đủ số tiền thuế thu nhập cá nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra
1.1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Tổ chức bộ máy thu thuế
Để thống nhất quản lý thuế theo mô hình chức năng của từng phòng Tổng cục thuế đã ban hành quyết định 502/QĐTCT ngày 29/3/2010 về việc quy định chức năng nhiệm vụ các phòng thuộc Cục thuế trong đó quy định chức năng nhiệm
vụ cụ thể của Phòng quản lý thuế Thu nhập cá nhân
Xây dựng nội dung chương trình kế hoạch triển khai thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân; hướng dẫn người nộp thuế thực hiện chính sách thuế, các thủ tục hành chính thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn;
Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch và trực tiếp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với người nộp thuế là các cơ quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể, các tổ chức quốc tế (trừ người nộp thuế là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh do phòng Kiểm tra thực hiện) Cụ thể:
Khai thác dữ liệu hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế, thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, so sánh với các dữ liệu thông tin của cơ quan thuế; kiểm tra tính trung thực, chính xác của hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân; phát hiện những nghi vấn, bất thường trong kê khai thuế thu nhập cá nhân, yêu cầu người nộp thuế giải trình hoặc điều chỉnh kịp thời;
Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, kiểm tra các tổ chức được ủy nhiệm thu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật Quản lý thuế;
Trang 169
Kiểm tra hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân, hồ sơ đề nghị hoàn thuế, hồ
sơ miễn thuế, giảm thuế của người nộp thuế thu nhập cá nhân trình Lãnh đạo Cục Thuế ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thu nhập cá nhân;
Chuyển các trường hợp kê khai thuế thu nhập cá nhân có dấu hiệu trốn lậu thuế và các hồ sơ, tài liệu liên quan cho bộ phận thanh tra để tiến hành thanh tra thuế khi có đủ điều kiện tổ chức thanh tra thuế;
Kiểm tra các trường hợp người nộp thuế thu nhập cá nhân thuộc đối tượng Cục thuế quản lý ngừng kê khai, bỏ trốn, mất tích ;
Xử lý hoặc kiến nghị xử lý những trường hợp người nộp thuế thu nhập cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về thuế phát hiện được thông qua kiểm tra;
Phối hợp với các phòng Kiểm tra thực hiện kiểm tra, giám sát việc kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân đối với người nộp thuế do các phòng Kiểm tra được Cục thuế phân công phụ trách;
Phối hợp với các phòng Thanh tra thực hiện thanh tra việc chấp hành chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với người nộp thuế do Cục Thuế quản lý;
Đề xuất các giải pháp và chỉ đạo thực hiện nhằm hoàn thành vượt mức dự toán thu thuế thu nhập cá nhân được giao trên địa bàn; trực tiếp chịu trách nhiệm triển khai thực hiện các giải pháp để thực hiện dự toán thu thuế thu nhập cá nhân đối với người nộp thuế thuộc phạm vi được Cục Thuế phân công quản lý;
Tổng hợp, phân tích, đánh giá, báo cáo kết quả triển khai chính sách thuế thu nhập cá nhân; công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn; nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế thu nhập cá nhân;
Biên soạn tài liệu và tham gia đào tạo cán bộ, công chức thuế thuộc lĩnh vực được giao;
Thực hiện việc bảo quản và lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ, tài liệu và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của phòng theo quy định;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.tổ chức thu thuế Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thu thuế để quản lý thuế TNCN cũng như các
Trang 1710
sắc thuế khác
Quản lý người nộp thuế
Đây là khâu đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý thuế TNCN Quản
lý tốt NNT sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN bởi chúng ta chưa biết chính xác ai là những đối tượng phải nộp thuế trước khi kê khai thu nhập của họ Do đó, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động, từ
đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu
Cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký NNT Phương thức đăng ký NNT thường được áp dụng là phương thức thủ công và quản lý bằng máy vi tính Tuy nhiên, phương thức quản lý bằng mạng vi tính thích hợp với công tác quản lý thuế TNCN vì đối tượng nộp thuế TNCN ở đây nhiều và không tập trung Phương thức này thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế và cơ quan chi trả thu nhập thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi NNT được gắn với một mã số thuế duy nhất Mọi thông tin cần thiết về NNT được lưu trữ vào cơ sở dữ liệu với một file riêng mà tên file là mã số của NNT Khi cần kiểm tra thông tin NNT, cơ quan quản lý thuế chỉ cần mở file theo mã số của đối tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các NNT đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế
Quản lý kê khai nộp thuế
Có hai hình thức kê khai, đăng ký, nộp thuế TNCN:
Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập tính thuế cho các NNT có thu nhập do đơn vị mình chi trả Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế của NNT, cơ quan chi trả thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trước thuế của NNT để đem nộp NSNN Cơ quan chi trả thu nhập được hưởng một khoản tiền theo tỷ lệ trên số thuế thu được và nộp vào NSNN
NNT sẽ trực tiếp kê khai thu nhập và tự tính mức thuế mình phải nộp Sau đó
sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan thuế và tiến hành nộp thuế vào NSNN Cơ quan thuế
sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các NNT phải nộp để từ đó có thể
Trang 1811
giám sát và kiểm tra khi cần thiết Đồng thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp cả cho NNT và cơ quan thuế cũng như cơ quan ủy nhiệm thu thuế
Quản lý quyết toán thuế, hoàn thuế
Việc quyết toán thuế cho NNT là cần thiết Việc này sẽ giúp cơ quan thuế biết được tình hình thu nhập và nộp thuế của từng đối tượng, qua đó có thể cung cấp cho các cơ quan khác, các nhà lập chính sách hoặc chính cơ quan thuế cũng có thể
sử dụng trong phân tích và đánh giá về chính sách thuế khả năng nộp thuế của dân
cư Quyết toán thuế hàng năm cũng sẽ giúp cơ quan thuế có thể phát hiện ra các trường hợp sai phạm thông qua so sánh mức thu nhập nộp giữa các năm với nhau
Để tạo thuận lợi cho công tác hoàn thuế, cần tăng cường phổ biến việc ủy quyền quyết toán thuế thay khi cá nhân có duy nhất thu nhập từ lương tại một nơi, qua đó sẽ giảm đáng kể số lượng hồ sơ hoàn thuế gởi đến cơ quan thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế
Đây là nội dung quan trọng của công tác quản lý thuế TNCN Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện bởi bộ phận cán bộ chuyên ngành Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN cho nhà nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế Mục tiêu thanh tra, kiểm tra thuế TNCN là phát hiện và xử lý các trường hợp sai phạm nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời cũng qua quá trình thanh tra, kiểm tra thuế cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau
Các hình thức thanh tra, kiểm tra xét theo thời gian tiến hành thanh tra, kiểm tra:
Hình thức thanh tra, kiểm tra thường xuyên được thực hiện mang tính định
kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các NNT và cơ
Trang 1912
quan quản lý thuế
Thanh tra, kiểm tra đột xuất là hình thức thanh tra, kiểm tra mang tính bất thường và đối tượng tranh tra, kiểm tra không được biết Hình thức này được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía các NNT hoặc trong các cơ quan thuế để
có biện pháp xử lý
Các hình thức thanh tra, kiểm tra xét theo phạm vi và nội dung gồm:
Thanh tra, kiểm tra toàn diện: Được tiến hành với tất cả các nội dung thanh tra, kiểm tra, hoặc với tất cả đối tượng thanh tra, kiểm tra Hình thức này thường được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế
Thanh tra, kiểm tra có trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội dung, một số đối tượng Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và tổ chức thanh tra, kiểm tra từ đó rút ra kết luận chung cho toàn hệ thống
Trên thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này trong trường hợp cần thiết
Thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
Công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế thực hiện nhiệm vụ thu tiền nợ thuế, tiền phạt đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của mình Thu thập thông tin về người nộp thuế còn nợ tiền thuế, đề xuất biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
Cán bộ được giao nhiệm vụ này phải nắm vững nghiệp vụ quản lý nợ thuế,
để giúp cho lãnh đạo có biện pháp thu hồi nợ thuế kịp thời vào ngân sách Việc xử
lý nợ thuế phải đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, bất kỳ vi phạm nào về chậm nộp tiền thuế đều phải lập đúng thủ tục để xử phạt theo quy định của pháp luật, tránh trường hợp người bị xử lý, người không, gây thiếu công bằng và bức xúc giữa những người nộp thuế với nhau như đã đề cập ở trên Hơn nữa cơ quan thuế cần giao chỉ tiêu thu nợ thuế cụ thể cho các bộ phận quản lý để đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ thuế định kỳ như hạ thấp số nợ cũ (số nợ cũ thu được phải đạt một mức nhất định), không để phát sinh số nợ mới, tổng nợ thuế đến cuối kỳ đánh giá phải thấp hơn kỳ trước đó Có biện pháp khen thưởng kịp thời các đơn vị
Trang 2013
thu nợ hiệu quả
Cán bộ công chức quản lý nợ thuế phải có kiến thức về thuế Thu nhập cá nhân, nắm rõ các mẫu biểu về thuế TNCN, các tiểu mục của các khoản thu thuế TNCN, tiền phạt chậm nộp và tiền phạt liên quan về thuế TNCN để có thể thực hiện tốt công tác đối chiếu nợ thuế TNCN
Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì sự thành công trong việc thực hiện các chính sách thuế còn phụ thuộc rất lớn vào
sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế cũng như NNT Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi người dân trong xã hội, cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế Công tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, sau đó tới mọi người dân
Để thành công trong tuyên truyên, phổ biến thuế TNCN thì các cơ quan thuế
có thể sử dụng các phương thức như thông qua các lớp tập huấn, phương tiện thông tin đại chúng, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các buổi đối thoại, các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN…
Đối với cán bộ thuế việc tập huấn nghiệp vụ về một chính sách thuế nào đó cho các cán bộ ngành thuế, nhất là cán bộ cơ sở thường được tiến hành ngay sau khi Nhà nước ban hành một chính sách thuế mới hoặc sửa đổi, bổ sung một chính sách thuế đã có Qua đó, cán bộ thuế có thể nắm chắc được chính sách thuế từ mục đích,
ý nghĩa đến nội dung cụ thể, đủ khả năng chuyên môn và làm tròn nhiệm vụ như một tuyên truyền viên giỏi về thuế
Đối với mọi người dân trong xã hội NNT là người trực tiếp tính số thuế phải nộp vào NSNN, do đó phải có một kiến thức cơ bản để hiểu được các quy định của các luật thuế Cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao, ý thức tuân thủ pháp luật của NNT Do vậy, công tác tuyên truyền phổ biến về nghĩa vụ thuế và nội dung của chính sách thuế đến mọi tầng lớp dân cư cần phải được tiến hành đều đặn, thường xuyên, luôn đổi mới và nâng cao hiệu quả
Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế TNCN
Trang 2114
Nói đến quản lý trong thế giới hiện đại như hiện nay thì không thể không nói đến ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Đặc biệt trong quản lý thuế và nhất là thuế TNCN là một nhu cầu vô cùng cần thiết và bức bách nhất hiện nay Sự thành công trong quản lý thuế nói chung cũng như trong quản lý thuế TNCN nói riêng phụ thuộc rất lớn vào ứng dụng công nghệ thông tin
Quản lý thuế TNCN ngoài quản lý thông tin của người nộp thuế còn phải quản lý được thu nhập thực tế của người nộp thuế trong cả nước Trong năm 01 người lao động có làm ở nhiều nơi, được nhiều cơ quan chi trả thu nhập thì cơ quan thuế phải tra cứu nắm được tất cả các thông tin thu nhập của người lao động thì mới quyết toán được tiền thuế phải nộp cả năm của người lao động được chính xác, ngoài ra còn phải tra cứu quản lý được số thuế khấu trừ, số thuế đã nộp và thông tin đăng ký giảm trừ gia cảnh của người nộp thuế ở các nơi làm việc này Mỗi người phụ thuộc chỉ được giảm trừ tại một nơi trong cùng một thời điểm Nếu không có công nghệ thông tin hỗ trợ thì ngành thuế không thể kiểm soát nổi các khoản thu nhập của người lao động có trong cả nước và kê khai giảm trừ cho người phụ thuộc nhiều lần ở nhiều nơi nhằm mục đích tránh gian lận trốn thuế
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN Mỗi nhân tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu:
Quan điểm của những người lãnh đạo nhà nước
Để đảm bảo cho pháp luật thuế được thực hiện một cách triệt để, tập trung đúng, đủ, kịp thời nguồn thu vào NSNN chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi quan điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong công tác quản lý thuế Quan điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng trước hết tới các chính sách thuế TNCN, sau là tới quá trình tổ chức thực hiện và các công việc khác thuộc phạm vi quản lý Một hệ thống chính sách
Trang 2215
thuế và cơ cấu thuế suất hợp lý nhưng tổ chức và cơ chế quản lý thu thuế kém sẽ không đạt được hiệu quả cao Các cấp lãnh đạo cần phải có biện pháp phù hợp, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu về công tác quản lý thu thuế, tạo được niềm tin cho NNT, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách vững chắc, ổn định
Quan điểm của lãnh đạo ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn thu, công tác tổ chức bộ máy nhân sự, trang bị cơ sở vật chất, kế hoạch triển khai công tác thu Người lãnh đạo phải biết phân công giao việc một cách hợp lý, khoa học nhằm thực thi công việc một cách tốt nhất Như vậy, người lãnh đạo không chỉ phải có cách nhìn bao quát công việc, mà còn phải biết phân quyền, ủy quyền một cách hợp lý cho cấp dưới, cho những người thực thi nhằm khai thác các ý tưởng sáng tạo mới của tập thể cán bộ trong quản lý, tạo điều kiện để cho mọi cán bộ đều có cơ hội thăng tiến, phát huy khả năng làm việc cũng như học tập để nâng cao kiến thức và trau dồi kỹ năng quản lý thu thuế Theo đó là các chế độ thưởng đột xuất, thường xuyên đối với cán bộ thuế nói chung và cán bộ thuế có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý thu thuế nói riêng Đồng thời có những biện pháp xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm quy chế làm việc, có hành vi tham ô, nhận hối lộ
Khai thác các yếu tố tâm lý giữ vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thu thuế Cán bộ lãnh đạo phải thực sự song hành cùng cán bộ thuế Sự công tâm, tâm lý trong công tác chỉ đạo, quản lý tác động tích cực rất lớn đến tính tự giác và thái độ làm việc của cán bộ thuế
Quan điểm của lãnh đạo ảnh hưởng đến các biện pháp xử lý đối với NNT tìm cách trốn thuế, dây dưa, chây ì trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và hợp tác với cơ quan thuế Đối với những đối tượng có hành vi gian lận thuế, trốn thuế cần có những hình thức xử phạt thích đáng, đảm bảo tính công bằng, làm cho mọi người tin tưởng vào pháp luật, tích cực đấu tranh chống các hành vi vi phạm
Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế…phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành
Trang 2316
thuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Cũng như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời
và tiết kiệm chi phí Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu
sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này
sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công
Trình độ và phẩm chất đạo đức đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là thuế TNCN Nhân tố này tác động vào tất cả các khâu của công tác quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra, kiểm tra thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế
Để ban hành chính sách đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế ở tầm hoạch địch chính sách cần phải có trình độ cao về vấn
đề thực tế cũng như lý thuyết liên quan đến thuế, kinh tế vĩ mô và quản lý nhà nước… và phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với công việc Nếu nhà hoạch định chính sách có trình độ thấp và phẩm chất đạo đức kém sẽ đưa ra các chính sách chứa đựng nhiều sai sót không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản lý thuế TNCN mà tới cả hệ thống thuế
Quá trình thực hiện chính sách thuế cũng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ thuế Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạt động của công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức thuế cũng như quản lý thu thuế Một đội ngũ có trình độ và phẩm chất đạo đức tốt mới có đủ khả năng làm một tuyên truyền viên giỏi và nhiệt huyết về thuế, đồng thời không phạm phải sai lầm trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ cụ thể về tính thuế, quyết toán thuế,… cũng như không có các hành vi tiêu cực thông đồng với NNT khai man thuế hay cố tình tính sai tiền thuế phải nộp Ngược lại, đội ngũ cán bộ thuế thiếu trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức sẽ tạo nên những sai sót trong quá trình quản lý, làm giảm hiệu quả công tác quản lý thu thuế
Trang 2417
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng cần một đội ngũ có trình độ cao về phẩm chất đạo đức tốt đủ khả năng phát hiện những sai phạm và giữ thái độ công minh, chính trực trong quá trình thanh tra, kiểm tra Nhờ đó thanh tra, kiểm tra mới đạt hiệu quả mong muốn
Đội ngũ lãnh đạo làm công tác tổ chức thiết lập nên bộ máy quản lý thuế phải có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng một bộ máy phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội và có hiệu quả cao
Việc thực hiện công tác tuyên truyền
Để người nộp thuế nghiêm túc thực hiện pháp luật thuế thì trước hết họ phải nắm bắt được các quy định của pháp luật thuế Vấn đề này phụ thuộc vào hai yếu tố
đó Người nộp thuếcó chịu tìm hiểu hay không và yếu tố thứ hai là việc tìm hiểu có đơn giản không Nếu nhà nước thực hiện công tác tuyên truyền tốt cũng có nghĩa là khuyến khích người nộp thuế tìm hiểu pháp luật thuế và tạo điều kiện để đối tượng
có hiểu biết về thuế khi đó họ có điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt hơn
Việc thanh tra, kiểm tra
Bên cạnh việc xây dựng các chính sách, thì công tác kiểm tra thanh tra việc thực hiện các chính sách đó có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý thuế Công tác kiểm tra, thanh tra có vai trò đảm bảo công bằng trong xã hội
và công minh của pháp luật Nó làm tăng nghĩa vụ chấp hành nộp thuế của Người nộp thuếcũng như ý thức trách nhiệm của cán bộ của cán bộ thuế, ngăn chặn tình trạng tiêu cực, gian lận Tuy nhiên, sau khi kiểm tra phát hiện các trường hợp phát hiện các trường hợp vi phạm mà không xử lý kịp thời, nghiêm minh thì cũng không
có tác dụng răn đe, giáo dục các đối tượng vi phạm Do đó, việc có quy định xử lý
vi phạm và chế độ thi đua, khen thưởng thích hợp sẽ góp phần tích cực nâng cao
chất lượng công tác quản lý thuế
1.1.3 Ý nghĩa của quản lý thuế thu nhập cá nhân
Tăng cường công tác quản lý đối với thuế TNCN nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách thuế TNCN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tếxã hội: Có thể nói thuế TNCN không chỉ là nguồn thu của NSNN mà còn là công cụ quan trọng điều tiết
Trang 2518
thu nhập của cá nhân có thu nhập theo hướng người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều, người không có thu nhập hoặc thu nhập thấp không phải nộp thuế hoặc nộp thuế ít, tạo ra môi trường bình đẳng về pháp luật cho người Việt Nam cũng như người nước ngoài, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nước ta phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành các cuộc cải cách thuế nói chung và hệ thống chính sách thuế TNCN nói riêng, không ngừng hoàn thiện và kiện toàn hệ thống thuế nhằm đảm bảo tính hiệu lực của Luật thuế TNCN trong cả nước và tính hiệu quả của công tác quản lý thu thuế Nhờ vậy, chính sách thuế TNCN đã góp phần tích cực vào nguồn thu NSNN và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, trước những yêu cầu đặt ra của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, công tác quản lý thuế đối với thuế TNCN hiện nay đã bộc lộ những hạn chế Để tạo bộ khung pháp lý về quản lý thuế hoàn chỉnh, phù hợp với những thay đổi của sự phát triển kinh tế quốc tế thì việc hoạch định, cải cách chính sách về quản lý thuế nhằm nâng cao công tác quản lý của Nhà nước đối với thuế TNCN là rất cần thiết vì:
Công tác quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN nhằm góp phần tăng nguồn thu cho NSNN để phát triển đất nước: Kinh tế xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục,
y tế cũng ngày càng gia tăng Do đó, hệ thống chính sách thuế TNCN phải bao quát được hết mọi nguồn thu nhập cần thiết, các khoản thu nhập phát sinh cùng với
sự phát triển của kinh tế thị trường, cơ cấu thuế suất không quá cao, quá phức tạp, quá khả năng đóng góp, thực hiện của người nộp thuế, bảo đảm tăng thu vào tổng
số thu NSNN Qua đó, đáp ứng được mọi nhu cầu chi tiêu thường xuyên, vừa góp phần tích luỹ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và trả nợ, góp phần giảm bội chi ngân sách, kiềm chế lạm phát
Quản lý thuế của Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện thuế TNCN được nghiêm minh: Do đặc điểm của Thuế TNCN là một loại thuế trực thu điều tiết vào
Trang 2619
thu nhập của cá nhân, do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế vào NSNN, nên nó rất
có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các những người dân cư Tuy nhiên, thuế TNCN lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn thuế nếu quy định mức thuế suất cao Hơn nữa, thuế TNCN có diện thu thuế rộng và phân tán, việc theo dõi, tính toán và thu thuế rất phức tạp Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN, do đó phải có quản lý thuế của Nhà nước để đảm bảo việc thu thuế được nghiêm chỉnh, đúng pháp luật
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN để đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội: Thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc "lợi ích", "công bằng" và "khả năng nộp thuế" Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người trong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về luật pháp thể chế, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự đồng thời cũng có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế Nguyên tắc "công bằng" và “khả năng nộp thuế” thể hiện ở chỗ: người có thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ các nguồn khác nhau đều được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế Ở nước ta hiện nay cùng với
sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các những người dân cư cũng tăng lên, nhưng khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng, thu nhập của các những người nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một
số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Mặc dù thuế TNCN chưa mang lại số thu lớn cho NSNN, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế TNCN có vị trí cực kỳ quan
Trang 27Quá trình hội nhập Việt Nam đã có nhiều cam kết về chính sách cắt giảm thuế,đồng nghĩa với việc NSNN sẽ bị giảm một phần Tuy nhiên bên cạnh việc thực hiện cắt giảm một số sắc thuế trong đó có thuế TNCN với phạm vi điều chỉnh rộng liên quan đến mọi những người dân cư, hiện nay chúng ta đã hội nhập đầy đủ toàn diện với kinh tế quốc tế do đó để đảm bảo yêu cầu đòi hỏi về tính phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế về chính sách tài chính; đồng thời tạo điều kiện tối đa cho cho người nộp thuế trong việc kê khai nộp thuế thì đòi hỏi việc quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN phải được nâng cao
1.1.4 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý thuế TNCN
Ngày 22/4/2013, Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định số 688/QĐTCT đưa vào áp dụng hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động quản lý thuế Hệ thống chỉ số được xây dựng dựa trên 4 nguyên tắc
Thứ nhất, được thực hiện theo phương pháp luận khoa học, thống nhất, phù hợp với đặc thù của ngành thuế, không chấp nhận việc đưa ra các chỉ số mà việc thực hiện có thể bị các nhân tố không kiểm soát được cản trở
Thứ hai, hệ thống chỉ số phản ánh được đầy đủ các chức năng, các mặt hoạt động, mục tiêu, tầm nhìn của cơ quan thuế Bởi hoạt động quản lý thuế có phạm vi rộng, tính chất phức tạp, do vậy có nhiều khía cạnh nhìn nhận khác nhau, điều quan trọng là phải tìm được những vấn đề trọng tâm, cốt lõi nhất để đánh giá Bên cạnh
đó, việc đánh giá không chỉ dừng ở thời điểm hiện tại mà được thực hiện thường
Trang 2821
xuyên, liên tục gắn liền với quá trình thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thuế
Thứ ba, việc xây dựng chỉ số đánh giá hoạt động quản lý thuế giúp lãnh đạo
cơ quan thuế các cấp đánh giá được kết quả, hiệu quả hoạt động của đơn vị mình quản lý Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế không chỉ thể hiện ở mức độ hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN hàng năm mà còn được thể hiện thông qua cảm nhận của NNT về chất lượng, hiệu quả của các dịch vụ do cơ quan thuế cung cấp, tinh thần, thái độ của cán bộ công chức thuế khi thực thi công vụ
Thứ tư, hệ thống chỉ số phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện Khi đưa ra thực hiện chỉ số nào thì phải có hướng dẫn cụ thể về nội dung phương pháp lập, quy trình thu thập thông tin, tính toán chỉ số đó và quan trọng là khi áp dụng vào thực tế thì không tạo thêm áp lực công việc cho cán bộ thuế và cơ quan thuế
Nhằm đánh giá đầy đủ, toàn diện hoạt động quản lý của ngành thuế, hệ thống chỉ số được xây dựng theo hai lĩnh vực bao gồm nhóm chỉ số đánh giá cấp độ chiến lược và nhóm chỉ số đánh giá cấp độ hoạt động
Việc đánh giá cấp độ chiến lược có 4 chỉ số: phản ánh về việc thực hiện nhiệm
vụ thu NSNN, hiệu quả sử dụng chi phí, sự tuân thủ của NNT và sự hài lòng của NNT Các chỉ số này không phản ánh kết quả tại từng vị trí công việc cụ thể mà có tác dụng đánh giá quá trình hoạt động, để thấy được sự phát triển chung của ngành thuế Đây cũng chính là những chỉ số tiêu biểu mà cơ quan thuế các nước thường sử dụng Những nội dung mà các chỉ số trên phản ánh cũng là các nội dung thường được nêu trong báo cáo tổng kết công tác hàng năm của ngành thuế
Việc đánh giá cấp độ hoạt động gồm 6 chỉ số phản ánh tình hình hoạt động chung, hoạt động tuyên truyền hỗ trợ; thanh tra kiểm tra; quản lý nợ và cưỡng chế
nợ thuế; khai thuế, hoàn thuế; phát triển nguồn nhân lực Đây chính là các chức năng, lĩnh vực hoạt động chủ yếu của CQT Với nhóm chỉ số này, lãnh đạo cơ quan thuế các cấp không những thấy được kết quả hoạt động của đơn vị mình thông qua các con số cụ thể mà còn nhận diện các nguyên nhân, tác động để từ đó có các biện pháp chỉ đạo phát huy yếu tố tích cực, hạn chế những tồn tại, thiếu sót và điều chỉnh hợp lý các nguồn lực
Trang 2922
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung phân tích các chỉ số đánh giá cấp độ hoạt động của địa phương để phân tích tình trạng quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế Đồng Nai Căn cứ vào nội dung danh mục chỉ số đánh giá hoạt động quản
lý thuế ban hành kèm theo Quyết định số 688/QĐTCT và định hướng nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng hai nhóm chỉ tiêu chính để đánh giá công tác quản lý thuế TNCN
1.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả và chất lượng công tác quản lý thuế TNCN
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả của công tác quản lý thuế TNCN: Tổng
số tiền thuế thu được qua các năm (theo địa bàn, theo đối tượng nộp thuế); tốc độ phát triển, tốc độ tăng thuế thu nhập quốc dân…
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế TNCN: Tỷ lệ NNT đúng hạn, tỷ lệ đối tượng trốn thuế, khai sai thuế so với tổng NNT, chi phí cho công tác quản lý thuế tính trên một đồng thuế thu được cụ thể
1.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ pháp luật chất lượng quản lý thuế
TNCN
Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ đăng ký thuế: Số lượng cá nhân đề nghị cấp mã
số thuế TNCN: Là chỉ tiêu số tuyệt đối thời kỳ, phản ánh số lượng NNT đã đăng ký
mã số thuế trong năm.Chỉ tiêu cho thấy ý thức chấp hành của NNT đăng ký MST
Tỷ lệ đăng ký thuế (%): Là chỉ tiêu số tương đối phản ánh tỷ lệ NNT đã thực hiện nghĩa vụ đăng ký mã số thuế trong năm so với tổng số NNT phải đăng ký cấp
mã số thuế.Chỉ tiêu càng tiến đến 100 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
Chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ nghĩa vụ khai thuế TNCN :
+ Tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế (%): Là chỉ tiêu số tương đối phản ánh tỷ lệ hồ
sơ khai thuế đã được NNT nộp trong một năm so với tổng số hồ sơ khai thuế phải nộp
Chỉ tiêu càng tiến đến 100 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
Trang 3023
+ Số hồ sơ khai thuế đã nộp: Là chỉ tiêu số tuyệt đối thời kỳ phản ánh tổng
số hồ sơ khai thuế đã nhận được trong một năm Chỉ tiêu cho thấy ý thức chấp hành người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ khai thuế
+ Tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế quá hạn (%): Là chỉ tiêu số tương đối phản ánh
tỷ lệ hồ sơ khai thuế đã được người nộp thuế nộp trong một năm so với tổng số hồ
sơ khai thuế phải nộp Chỉ tiêu càng tiến đến 0 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
+ Số hồ sơ khai thuế nộp quá hạn: Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số hồ
sơ khai thuế người nộp thuế nộp hồ sơ quá hạn trong một năm so với tổng số hồ sơ khai thuế phải nộp Chỉ tiêu phản ánh qui mô ý thức chấp hành của người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế quá hạn quy định
Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ nộp thuế
+ Tỷ lệ nợ thuế (%): Là chỉ tiêu số tương đối so sánh, phản ánh tỷ lệ số tiền thuế còn nợ đến 31/12 hàng năm so với tổng số tiền thuế đã nộp trong năm Chỉ tiêu càng tiến đến 0 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với kết quả thanh tra kiểm tra: Là số thuế truy thu bình quân qua hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế: Số thuế truy thu càng thấp thì tính tuân thủ càng tốt Chỉ tiêu được tính theo phương pháp tính bình quân số học giản đơn
Chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ hồ sơ phải điều chỉnh( %): là tỷ lệ so sánh giữa số hồ
sơ khai thuế phải điều chỉnh số liệu với tổng số hồ sơ khai thuế đã nộp trong
Trang 3124
năm.Tỷ lệ điều chỉnh càng thấp thì tính tuân thủ càng tốt
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thuế TNCN
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN của một số quốc gia ngoài nước
Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm nay Đến nay đã có hơn 180 nước áp dụng Thuế TNCN Trong đó, quốc gia đầu tiên
áp dụng thuế thu nhập cá nhân là Hà Lan năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808 Mỹ bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm trong thời kỳ nội chiến nhưng bị gián đoạn vào năm 1872 Các nước Châu Âu khác, cũng như Úc, Newzealand và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19 Các nước Châu Á áp dụng muộn hơn: Thái lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippines năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung quốc năm 1984; Các nước Đông Âu sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mới áp dụng lại như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992
Thời kỳ mới ban hành, các Chính phủ thường đánh thuế vào đối tượng dễ đo lường được như đánh trên đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình, các hàng hoá và tàu biển, hoặc số lượng cửa sổ hoặc lò sưởi trong một toà nhà Tuy nhiên cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế, những chế định quan trọng trong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi
Thuế TNCN có diện điều chỉnh tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhân trong nước mà cả cá nhân người nước ngoài nếu đến nước sở tại làm việc và có thu nhập Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập của cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng, luật thuế TNCN của nhiều nước quy định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế Cụ
Trang 32Theo nguyên tắc cư trú, một cá nhân được coi là đối tượng cư trú tại một nước sẽ phải chịu Thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập nhận được, không phân biệt nguồn thu nhập phát sinh là ở trong nước hay nước ngoài Còn một cá nhân được coi là đối tượng không cư trú chỉ phải chịu nghĩa vụ thuế đối với phần thu nhập có nguồn gốc tại nước đó Nguyên tắc đánh thuế theo tiêu thức cư trú được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế đối với các đối tượng được coi là cư trú tại nước đó Đa
số các nước quy định, đối tượng cư trú là những người có thời gian sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc trên 183 ngày trong năm tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoảng 12 tháng liên tục Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không cư trú Các nước áp dụng nguyên tắc này là Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Nga, Thụy Điển Ví
dụ cụ thể của một số nước quy định về người nộp thuế TNCN theo nguyên tắc cư trú như:
Nhật Bản: Người nộp thuế thu nhập cá nhân là những cá nhân cư trú và
không cư trú tại Nhật Bản Trong đó, cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từ lâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ một năm trở lên Cá nhân không cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tại Nhật dưới một năm
+ Các khoản thu nhập chịu thuế gồm: Thu nhập từ lao động, hoạt động kinh doanh, buôn bán bất động sản, tiền lãi cổ phần, lợi tức, các khoảnhưu trí, buôn bán
gỗ, các khoản vốn, thu nhập bất thường và thu nhập khác
+ Biểu thuế luỹ tiến từng phần chia làm 3 mức, mức thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 37%
Trang 3326
Philippin: Người nộp thuế thu nhập cá nhân tại Philippin bao gồm cả các cá
nhân cư trú và không cư trú Trong đó công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập trên thu nhập toàn cầu (bao gồm cả thu nhập có nguồn gốc tại Philippin và thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài) Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philippin
+ Thu nhập chịu thuế gồm: Phí dịch vụ, thu nhập từ kinh doanh, lãi buôn bán tài sản, lãi tiền cho vay, tiền cho thuê, tiền bản quyền, cổ tức, tiền trợ cấp hàng năm, phần thưởng và tiền thưởng, tiền lương hưu, khoản phân chia từ thu nhập ròng của công ty hợp danh chuyên nghiệp chung cho người vay vốn
+ Biểu thuế luỹ tiến từng phần chia làm 7 bậc với mức lãi suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 32%
Trung Quốc: người nộp thuế thu nhập cá nhân là các cá nhân có chỗ ở hoặc
không có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc
+ Thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm các khoản: Thu nhập từ tiền công, tiền lương, sản xuất kinh doanh, cho thuê tài sản, chuyển nhượng tài sản, kinh doanh chứng khoán, dịch vụ, nhuận bút, sử dụng quyền đặc biệt, lãi cho vay, cổ tức, hoa hồng, thu nhập ngẫu nhiên và thu nhập khác
+ Các khoản thu nhập không phải chịu thuế TNCN đó là: Tiền thưởng, lợi tức tiền gửi tiết kiệm, lợi tức trái phiếu do Bộ Tài chính cho phép phát hành và trái phiếu tín dụng do Quốc vụ viện cho phép phát hành; tiền phụ cấp, trợ cấp, tiền phúc lợi, tiền dưỡng lão, tiền cứu tế, bồi thường bảo hiểm, tiền chuyển ngành, tiền phục viên của quân nhân; tiền thôi việc, lương hưu
+ Biểu thuế luỹ tiến từng phần (biểu tháng) chia làm 9 bậc với mức thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 45%
Mỹ: Người nộp thuế thu nhập cá nhân là những cá nhân cư trú và không cư
Trang 3427
trú Người nước ngoài được coi là cư trú tại Mỹ nếu họ cư trú thường xuyên hợp pháp tại Mỹ (được cấp thẻ xanh) hoặc nếu họ có mặt ở Mỹ trong một khoảng thời gian dài đủ để được cấp một thẻ lưu trú
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN ở một số Cục thuế trong nước
Cục thuế Thành Phố Hồ Chí Minh
Về công tác tuyên truyền hỗ trợ: Tại Cục thuế TP.HCM đã tổ chức những
buổi tọa đàm, những buổi tiếp xức với doanh nghiệp, người nộp thuế như Buổi đối thoại với người nộp thuế, triển khai Tuần lễ hỗ trợ người nộp thuế để hỗ trợ, trả lời những vướng mắc cho người nộp thuế về các chính sách thuế Qua đó đã nhận được nhiều sự quan tâm của người nộp thuế Họ đã cùng nêu lên những khó khăn gặp phải trong quá trình kinh doanh có mâu thuẫn liên quan đến chính sách thuế cần đề xuất chỉnh sửa, những vướng mắc chưa hiểu trong vấn đề kê khai, nộp thuế, … Từ
đó Cục thuế TP.HCM nắm rõ và có chính sách hỗ trợ, giải đáp thỏa đáng cho người nộp thuế và thông qua tiếp xúc lắng nghe người nộp thuế, Cục thuế TPHCM cũng
đã nhìn được mặt sai về chính sách, về quản lý để từ đó có sự điều chỉnh hợp lý và
có những ý kiến kiến nghị lên Tổng Cục thuế xem xét điều chỉnh chính sách để phù hợp với với điều kiện của nền kinh tế, đem lại sự hài lòng cho người nộp thuế, và được người nộp thuế đánh giá cao chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước và sự quan tâm của cơ quan thuế Từ đó đem lại niềm tin cho NNT, giúp họ hiểu chính sách hơn, kê khai nộp thuế tốt hơn
Về chống thất thu: Trong năm 2013, mặc dù ảnh hưởng chung của khủng
hoảng kinh tế dẫn đến nhiều trường hợp chủ doanh nghiệp bỏ trốn hoặc dùng nhiều chiêu thức tinh vi để né thuế Tuy nhiên, bằng nhiều giải pháp chống thất thu, ngành thuế TP.HCM không chỉ đạt mà còn vượt nguồn thu ngân sách nhà nước hơn 2% so với dự toán Đó là trong năm 2013 Cục thuế TPHCM đã áp dụng những biện pháp chống chuyển giá của các công ty khối FDI; những doanh nghiệp kê khai doanh thu thấp hơn so với thực tế, nhất là đối với các khách sạn, nhà hàng
Trang 3528
Phối kết hợp tốt với các sở ngành: Phối hợp với Sở Kế hoạch Đầu tư khi
anh nghiệp đến Sở Kế hoạch Đầu tư để xin cấp bổ sung lại giấy đăng ký kinh anh do thay đổi thành phần góp vốn, để xác định thu thuế thu nhập từ chuyển nhượng vốn Đây là khoản thuế mà nhiều năm nay ngành thuế đã để thất thu do chưa làm được đã được Cục thuế TP.HCM áp dụng
do-1.2.3 Bài học rút ra cho việc quản lý thuế TNCN của Cục thuế Tỉnh Đồng Nai
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý Thuế TNCN trong và ngoài nước, bài học rút ra cần áp dụng và thực hiện cho Cục thuế Đồng Nai gồm:
+ Tích cực tăng cường công tác tuyên truyền, tổ chức nhiều cuộc đối thoại với người nộp thuế Lắng nghe ý kiến đóng góp từ phía người nộp thuế và nghiên cứu điều chỉnh cách quản lý phù hợp với nguyện vọng của người nộp thuế và đúng pháp luật quy định, đồng thời xem xét đề xuất của người nộp thuế, nếu thấy cần thiết phải sửa đổi chính sách thì kịp thời kiến nghị Tổng Cục thuế xem xét chỉnh sửa kịp thời
+ Đào tạo nhân lực đội ngũ cán bộ thuế cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn đạo đức Giáo dục cán bộ thuế phải biết tôn trọng và lắng nghe người nộp thuế Xây dựng hình ảnh nụ cười công sở cho người nộp thuế khi tiếp xúc với người nộp thuế
+ Phối kết hợp với sở ban ngành trong tỉnh để chống thất thu thuế, như phối hợp với Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Đồng Nai để kiểm tra việc kê khai nộp thuế thu nhập của các doanh nghiệp FDI có chuyển nhượng vốn giúp làm tăng thu ngân sách
+ Tăng cường công tác kiểm tra, xác minh hóa đơn của các cơ sở kinh doanh
có khả năng kê khai doanh thu thấp hơn thực tế do không xuất hóa đơn, hoặc xuất hóa đơn liên 1 (để kê khai) thấp hơn liên 2 (đưa cho khách hàng) hoặc do mục đích chuyển giá
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến chủ
đề thuế thu nhập cá nhân như một số nghiên cứu, đánh giá việc quản lý thuế thu
Trang 36Đề tài “Chính sách Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, luận văn thạc sỹ kinh tế của Mai Thị Mai Hoa, năm 2004 Luận văn đã làm rõ lý luận, thực trạng có tham khảo việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân ở một số nước và từ đó đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện và xây dựng hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Các đề tài trên đều nghiên cứu trước khi Luật thuế thu nhập cá nhân được ban hành năm 2007 và đều tập trung một số giải pháp để hoàn thiện Chính sách thuế
mà chưa nghiên cứu công tác quản lý thuế TNCN
Sau khi Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 một
số đề tài tập trung nghiên cứu như sau:
Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay” của nhóm sinh viên tham gia “giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2009”
Đỗ Tuyết Minh Thanh tra, kiểm tra Thuế TNCN ở Chi cục Thuế quận Ba Đình, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, năm 2009;
Nguyễn Ngọc Tú Quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ kinh doanh và quản lý, trường Đại học Thương Mại, năm 2009
Đề tài “Vai trò thuế thu nhập cá nhân trong phân phối thu nhập ở nước ta hiện nay” – Thạc sỹ Nguyễn Thị Thùy Linh– Chuyên viên Vụ quản lý thuế thu nhập
cá nhân – Tổng cục thuế, trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2010
Văn Công Tuân, luận văn thạc sỹ, năm 2012, nghiên cứu: Các nhân tố ảnh
Trang 3730
hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (tình huống nghiên cứu tại Chi cục Thuế Quận 1 TP.HCM), qua phương pháp phân tích nhân tố và hồi quy đa biến, tác giả đã tìm ra 6 yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của DN trên địa bàn: Nhóm yếu tố chính sách thuế, quản lý thuế: Tính đồng bộ, chặt chẽ, đơn giản của chính sách thuế, Sự công bằng chính sách thuế, Tuyên truyền hỗ trợ; Nhóm yếu tố kinh tế: Thuế suất; Kiểm tra, xử phạt; Nhóm yếu tố đặc điểm DN; Ngành nghề kinh doanh, Nhóm yếu Tâm lý; Pháp luật xã hội;
Trong luận án tiến sỹ do Nguyễn Thị Lệ Thúy thực hiện năm 2009 với đề tài: Hoàn thiện quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (tình huống nghiên cứu tại Hà Nội) Nghiên cứu đã phân tích hành vi
và đặc diểm tuân thủ thuế của các doanh nghiệp đồng thời khảo sát các doanh nghiệp về thực trạng quản lý thuế trên địa bàn Hà Nội, làm cơ sở thông tin tham khảo để đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế trên địa bàn Đề tài là nghiên cứu định tính nên chưa chỉ ra rõ mức độ tác động của từng yếu tố đến tuân thủ thuế của DN, nhưng đề tài cũng đã nêu ra được 6 nhóm yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của DN: đặc điểm DN, ngành nghề kinh doanh, yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội, yếu tố pháp luật từ đó đề ra được các giải pháp quản lý nhà nước nhằm tăng cường mức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn Hà Nội
Trong luận văn thạc sỹ do Đào Mộng Long thực hiện năm 2014, nghiên cứu:
“Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN tại thành phố Hồ Chí Minh“, tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích nhân tố và hồi quy đã tìm được
5 yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế TNCN tại thành phố Hồ Chí Minh: Yếu
tố xã hội, Nghề nghiệp và đặc thù thu nhập, yếu tố kinh tế và Nơi làm việc; yếu tố nhận thức về thuế, và yếu tố hệ thống thuế
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu những biện pháp
và định hướng hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam nhằm nâng cao vai trò của thuế thu nhập cá nhân, hoặc nghiên cứu về công tác quản lý thuế nhưng còn chung chung, số liệu cũ hay các đề tài mới chỉ mang tính chất định hướng chứ không thật cụ thể và rõ ràng trong việc tổ chức, quản lý thuế thu nhập cá
Trang 3831
nhân tại Việt Nam, đặc biệt chưa có đề tài nào nghiên cứu, đánh giá vai trò Tổng cục thuế (đơn vị với vai trò là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ tài chính quản lý nhà nước đối với nhiều sắc thuế trong đó có thuế thu nhập cá nhân) trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn trên cơ sở sử dụng một số các lý thuyết đã được nghiên cứu ở trên và một số mô hình lý thuyết liên quan để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, mang tính cụ thể và thực tiễn về công tác tổ chức quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Tổng cục thuế và từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm để hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế Đồng Nai
Trang 3932
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TỈNH ĐỒNG NAI, CỤC THUẾ ĐỒNG NAI VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Đặc điểm về kinh tế
Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam Đây là tỉnh có dân số đông thứ nhì miền nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích lớn thứ nhì ở miền đông (sau tỉnh Bình Phước) và thứ ba ở miền nam (sau Tỉnh Bình Phước và Tỉnh Kiên Giang)
Tỉnh lỵ của Đồng Nai hiện nay là thành phố Biên Hòa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km, cách Hà Nội 1.684 km theo đường Quốc lộ 1A Tỉnh được xem là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước Đồng thời, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh Bình Dương Đồng Nai
Đồng Nai là tỉnh phát triển khu công nghiệp đầu tiên và hiện là một trong các địa phương dẫn đầu phát triển công nghiệp tại Việt Nam, là một trong những địa phương quy hoạch phát triển các KCN sớm nhất cả nước Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai, ngay từ đầu những năm 1990, Đồng Nai
đã quy hoạch 17 KCN, nhưng qua quy hoạch chi tiết thực tế đã chuẩn bị cho việc hình thành 23 KCN (do KCN Nhơn Trạch 2.700 ha chia thành nhiều KCN nhỏ) Trong quá trình phát triển, Đồng Nai đã quy hoạch bổ sung KCN và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2016 phát triển 36 KCN với tổng diện tích khoảng 12.057,77 ha
Đến nay, tỉnh Đồng Nai đã có 31 KCN được thành lập với tổng diện tích 9.559,35 ha Các KCN đã đầu tư hệ thống hạ tầng tương đối hoàn chỉnh với giá trị đạt 380 triệu USD và 6.637 tỷ đồng, đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu dài và tác động mạnh đến quá trình đô thị hóa Hiện có 28 trong tổng số 31 KCN đã hoàn thiện hệ thống hạ tầng với chất lượng tốt, đảm bảo
Trang 4033
theo đúng quy hoạch và đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, 03 KCN đang trong quá trình hoàn thiện hạ tầng Các KCN của tỉnh đều đảm bảo ưu tiên đầu tư hệ thống hạ tầng xử lý môi trường của KCN, hiện nay các KCN khi đi vào hoạt động đều đã hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi tiếp nhận dự án đầu tư Đặc biệt, Đồng Nai là tỉnh đầu tiên trên cả nước ban hành bộ tiêu chí đánh giá xếp hạng các KCN theo Quyết định số 2047/QĐUBND ngày 06/7/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai Đề tài xếp hạng KCN được hội đồng thẩm định là các chuyên gia kinh tế đánh giá cao, xếp loại xuất sắc vì tính cần thiết và là vấn đề mới trong quá trình phát triển ngày càng nhiều KCN, nhất là khi yếu tố cạnh tranh được tính đến như là một lợi thế để thu hút đầu tư
Trong hơn 20 năm qua, nhờ vận dụng linh hoạt những chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và điều kiện thực tế của địa phương, các KCN Đồng Nai đạt được những kết quả quan trọng trong việc tăng nhanh tốc độ thu hút vốn đầu tư vào Đồng Nai Những năm gần đây, Đồng Nai đã đạt kết quả cao trong việc thu hút vốn FDI cho công nghiệp, đặc biệt là trong các KCN Đến tháng 10/2014, các KCN Đồng Nai có 964 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn 16.940,35 triệu USD, có 362 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư 43.019 tỷ đồng Với tiềm lực đầu tư lớn, khu vực FDI đã phát triển thêm nhiều ngành sản xuất mới và tạo ra bước chuyển biến đáng kể về trình độ công nghệ và quản lý Hiện có 40 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào các KCN Đồng Nai, một số tập đoàn lớn và các công ty có thương hiệu lớn trên thế giới đã chọn Đồng Nai là điểm đến đầu tư như: Pouchen,
CP, Nestle’, Hyosung, Formosa, Fujitsu, Philip, Ajinomoto, Zamil Steel, Shell, Syngenta… Các dự án đầu tư vào các KCN Đồng Nai có ngành nghề đa dạng, với qui mô và trình độ công nghệ khác nhau, theo đúng định hướng như ngành dịch vụ, công nghiệp phụ trợ, sản xuất chi tiết máy móc thiết bị Các dự án đầu tư vào các KCN có tính chất gia công sử dụng nhiều lao động giảm dần, thay vào đó là những
dự án công nghệ cao, sử dụng ít lao động, ít tác động đến môi trường
Theo số liệu báo cáo đến cuối năm 2016, tổng số lao động Việt Nam tại các KCN Đồng Nai là 441.948 người, trong đó lao động nữ là 278.733 người Xét về cơ