Thuật ngữ “văn hóa học đường” xuất hiện chưa lâu, nhưng nội dung của văn hóa học đường thì các trường ở Việt Nam từ xa xưa đã có và trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta như: Tôn[r]
Trang 1BẢN THU HOẠCH
SINH HOẠT CHÍNH TRỊ ĐẦU NĂM HỌC CỦA SINH VIÊN
Họ và tên: Hoàng Văn Tuyến Năm sinh: 1993 Giới tính: Nam
Lớp: Quản lý xây dựng công trình Giao Thông Mã SV: 8812008
Nguyên quán: Thiện Hòa, Bình Gia, Lạng Sơn
Hiện tại ở: số 947 đường La Thành, Ngọc Khánh, Ba Đình, HN
Câu 1:
Trường đại học Giao Thông Vận Tải là trường đầu ngành về giao thông vận tải của Việt Nam
Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) có tiền thân là trương Cao Đẳng Công chính Việt Nam được khai giảng lại dưới chính quyền Cách mạng vào ngày 15/11/1945
- Ngày 13/4/2946, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 50 đổi tên trường Cao đẳng Công chính thành trường đại học công chính
- Tháng 12/1947, Trường ngừng công tác giảng dạy và đào tạo để phục vụ kháng chiến
- Tháng10/1947, Trường tái giảng dạy tại Chùa Viên – Phú Xuyên
- Tháng 4/1948, Trường rời đến địa điểm Yên Mô tỉnh Ninh Bình
- Ngày 1/2/1949, theo sắc lệnh số 02/SL và nghị quyết số 60 ngày 24/2/1949,Trường đại học Công chính đổi tên thành Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật
- Ngày 1/1/1952, Trường được đổi tên thành trương Cao đẳng Giao Thông Công chính
- Tháng 4/1955, Trường trở về Hà Nội và tái xây xựng cơ sở mới tại Cầu Giấy
- Tháng 8/1956, Trường được tách ra thành hai trường Trung cấp Giao thông
và Trung cấp Thủy Lợi – Kiến Trúc
- Tháng 8/1960, Bộ Giao thông Vận tải quyết định thành lập ban xây dựng Trường Đại học Giao thông Vận tải
- Ngày 24/3/1962, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định số 42/CP thành lập trường Đại học Giao thông Vận tải
- Tháng 8/1965, Trường đưa toàn bộ lực lượng đi sơ tán tại Mai Sưu – Bắc Giang
Trang 2- Ngày 23/7/1968, Trường đổi tên thành Đại học Giao thông Đường Sắt và Đường Bộ, đồng thời thành lập phân hiệu Đại Học Giao thông Đường Thủy ở Hải Phòng
- Tháng 9/1969, Trường chuyển từ Mai Sưu về Hà Nội
- Tháng 7/1983, Trường được bàn giao từ Bộ Giao thông Vận tải sang Bộ Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp (Bộ GD ĐT) quản lý toàn diện
- Tháng 11/1985, Trường đổi tên thành trường Đại học Giao thông Vận tải
- Tháng 4/1990, Trường chính thức thành lập cơ sở 2 tại quận 9 thành phố Hồ Chí Minh
- Ngày truyền thống của trường là 15 tháng 11
Trong hơn 60 năm hoạt động trường đã đạt được những thành tích sau:
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2012)
- Anh hùng lao động (2007)
- Huân chương Hồ Chí Minh (2005)
- Huân chương độc lập: hạng ba (1986), hạng nhì (1995), hạng nhất (2000)
- Huân chương lao động: hạng nhất (1982 và 1990), hạng nhì (1977 và 2004), hạng ba (1966 và 1999)
- Huân chương Kháng chiến: hạng nhì (1973)
- Huân chương của Lào: 2 huân chương tự do, 1 huân chương lao động hạng nhất, 1 huân chương hữu nghị
Trường Đại học Giao thông Vận tải được xây dựng trên khuôn viên có tổng diện tích gận 21ha, gồm các khu giảng đường, phòng học, phòng làm việc, hội trường, phòng thí nghiệm, thư viện , nhà văn hóa, sân vận động… Tất cả đều được thiết kế hiện đại và bố trí hợp lý phù hợp với nhu cầu sử dụng
Khu giảng đường có 216 phòng học với diện tích 23,600m2 được xây dựn khang trang, sạch đẹp Đặc biệt, Trường có hệ thống máy vi tính được nối mạng ADLS, 4 phòng học ngoại ngữ chuyên dùng và trung tâm Thông tin Thư viện điện
tử giúp giảng viên, sinh viên có điều kiện tiếp cận và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật công nghiệp tiên tiến, hỗ trợ cho quá trình giảng dạy, học tập nhằm đạt được kết quả cao nhất Ngoài ra, để trang bị cho sinh viên những kiến thức thực tế và bổ ích cũng như nâng cao hoạt động nghiên cứu, Nhà trường đã đầu
tư mới và nâng cấp 36 phòng thí nghiệm và xưởng thực tập, thực hành với những thiết bị hiện đại Khu ký túc xã có diện tích 20,411m2 gồm 230 phòng và hiện có khoảng 1800 sinh viên đang cư trú Khu ký túc xã biệt lập với khuôn viên trường nhưng vẫn được giám sát và quản lý chăt chẽ, đảm bảo an ninh trật tự và việc di
Trang 3chuyển không gây ảnh hưởng đến học tập sinh viên Bên cạnh đó, Nhà trường có hội lớn với diện tích 2,197m2 và 3.129m2 sân vận động phụ vụ nhu cầu sinh hoạt ngoại khóa, văn nghệ và thể dục thể thao
Các phòng thí nghiệm: Vật lý, Hóa học, Điện kỹ thuật, Cơ thủy, Sức bền vật liệu, Cơ học đất, Điều khiển học, Phòng máy tính, Phòng học tính… đáp ứng cho sinh viên thực hiện những bài tập thí nghiệm cần thiết theo quy dịnh của chương trình đào tạo
Trường Đại học Giao thông Vận tải có xứ mạng đào tạo cho ngành Giao thông vận tải và những cán bộ khoa học kỹ thuật có năng lực và lòng yêu nghề,có khả năng sáng tạo và tính nhân văn Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và các hoạt động khác của nhà trường nhằm mang lại những lợi ích với chất lượng tốt nhất cho cộng đồng và xã hội Nhà trường đã đào tạo cho đất nước hàng vạn kỹ sư, hàng ngàn thạc sỹ và tiến sỹ Phần lớn cán bộ lãnh đạo, quản lý của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp thuộc ngành GTVT đều tốt nghiệp từ nhà Trường
Đọi ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý của Nhà trường hiện có 1068 người,trong
đó có 792 Giảng viên với 50 Giáo sư và Phó Giáo sư, 139 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, 356 thạc sỹ Nhà trường hiện đang đào tạo 15 ngành với 69 chuyên ngành bậc đại học, 16 chuyên ngành bậc thạc sỹ và 17 chuyên ngành bậc tiến sỹ Quy mô đào tạo của Nhà trường có trên 32 ngàn sinh viên các hệ (trong đó có 200000 sinh viên
hệ chính quy), trên 2300 học viên cao học và gần 120 nghiên cứu sinh Hàng năm, các nhà khoa học các nhà khoa học của trường tiến hành nghiên cứu khoảng 30 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trong nước và ngoài nước Nhiều cán bộ của trường là các chuyên gia đầu hàng đầu trong lĩnh vực giao thông vận tải, góp phần thúc đẩy
sự phát triển của ngành Nhà trường cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong các hoạt động xã hội, tích cực hưởng ứng các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước và của ngành Giáo dục Đào Tạo; đóng góp quan trong cho sự xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trường Đại học Giao thông Vận tải hướng tới mô hình Đại học đa ngành về
kỹ thuật, công nghệ và kinh tế; trở thành Đại học trọng điểm, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững ngành giao thông vận tải đất nước; là trung tâm nghiên cứu khoa học có uy tín về Giao thông vận tải và một
số lĩnh vực khác; có năng lực hội nhập khu vực và quốc tế; là địa chỉ tin cậy của người học, nhà đầu tư và toàn xã hội
Trang 4Ngoài địa điểm chính tại Tp Hồ Chí Minh, do nhu cầu của các địa phương, Nhà đã và đang mở các lớp đào tạo hệ không tập chung tại các tỉnh khu vực miền trung, các tỉnh lân cận khu vực tp HCM, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, Đòng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Trà Vinh, Long An, Tiền Giang, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Bạc Liêu, Đắc Lắc
Câu 2:
Sự khác nhau trong cách giảng dạy ở bậc phổ thông và đại học:
Đối với cấp học phổ thông, phương pháp thường thấy chủ yếu là giáo viên giảng cho học sinh ghi chép, ít có giờ thảo luận và trao đổi trong giờ học Ở đại học: các thầy cô giáo đóng vai trò là người hướng dẫn sinh viên tìm kiếm tài liệu
và nghiên cứu, những lời giảng của thầy cô chỉ mang tính chất gợi ý, hướng dẫn sinh viên thảo luận, tự nghiên cứu viết tiểu luận… còn chủ yếu dựa vào khả năng
tự tiếp thu, tự nghiên cứu và sử lý kiến thức đố của sinh viên đối với bài học đó Chính vì sự khác nhau đó mà làm cho nhiều bạn sinh viên bỡ ngỡ trong việc xác định và tìm kiếm một phương pháp học hiệu quả nhất cho mình
Phương pháp học tập ở đại học:
Khối lượng kiến thức học ở bậc đại học là vô cùng lớn, phương pháp giảng dạy và học tập cũng khác xa bậc học phổ thông Vì vậy, các bạn sinh viên cần có được phương pháp học tập thích hợp để có thể tiếp thu hết khối kiến thức đồ sộ đó, Bước vào ĐH không ít các bạn tân sinh viên bỡ ngỡ vì cách học, cách dạy mới Do
SV được coi là những người đã trưởng thành, việc học và dạy ở ĐH nhấn mạnh ddến sự tự giác và tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mỗi cá nhân, vì vậy cách học ĐH luôn xoay quanh vấn đề: làm sao tự nỗ lực và đạt kết quả học tập cao nhất
Cách học ở ĐH:
Đầu tiên, tân SV cần hiểu rõ được cách dạy của thầy cô bậc ĐH Mặc dù cách dạy ĐH ở VN vẫn mang nhiều yếu diểm đè bẹp sự năng động của SV như cách dạy đọc chép của một số gingr viên, nhưng xu thế dạy của các thầy cô đang dần thay đổi theo sự phát triển của giáo dục Thầy cô bậc ĐH đóng vai trò là người hướng dẫn, giải đáp thác mác, người đi trước trong ngành nghề truyền đạt lại kiến thức, kinh nghiệm cho người đi sau Khối lượng kiến thức của mỗi môn học là không hề nhỏ, bạn có thể dễ dàng thấy rõ điều này qua độ dài của những cuốn sách trong chương trình ĐH
Trang 5Vì vậy, thời gian lên lớp của thầy cô chủ yếu là giải đáp thác mắc và hướng dẫn các tài liệu, các phần nên học trong học phần của môn học Cần chú ý, vẫn biết cách học ở ĐH chủ yếu là tự học, tự tìm hiểu, nhưng với số lượng tài liệu vô vô cùng lớn, khó mà SV có thể tự mò mẫm chính xác tài liệu thích hợp cho môn học
Vì vậy, cần có hướng dãn của thầy cô trong việc học của SV
Dạy học truyền thống Các mô hình dạy học mới Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và lĩnh
hội, qua đó hình thành kiến thức
kĩ năng, tư tưởng tình cảm
Học là quá trình kiến tạo; SV tự tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và sử dụng thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho
SV Dạy cho SV cách tìm ra chân lí
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo Học để đối phó với thi cử Sauk hi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dung đến
Chú trọng hình thành cac năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện đại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân SV và sự phát triển của
xã hội
Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,
GV, các nguồn tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảng tàng, thực tế,… gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm
và nhu cầu của SV
- Tình huống thực tế, bối cảnh và nhu cầu địa phương
- Những vấn đề SV quan tâm
Phương
pháp
Các phương thức diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tim tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác
Hình thức tổ
chức
Cố định: Giới hạn trong bốn bức tường của lớp học, giáo
Cơ động linh hoạt: học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường,
Trang 6viên đối diện với cả lớp trong thực tế…, học cá nhân, đôi
bạn học, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên
Câu 3:
Văn hóa học đường, một cụm từ xuất hiện cách đây chưa lâu và cũng chủ yếu trên các phương tiện thông tin đại chúng Hiện nay, các nhà nghiên cứu, tùy theo góc độ, mục đích nghiên cứu cụ thể đã đưa ra khá nhiều khái niêm về văn hóa và văn hóa học đường Theo giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc “Văn hóa học đường là
hệ thống các chuẩn mực, giá trị các cán bộ quản lý nhà trường, các thầy cô, các vị phụ huynh và cacsem học sinh, sinh viên có cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp” Mục tiêu chung nhất của văn hóa học đường là xây dựng trường học lành mạnh – cơ sở quan trọng để đảm bảo chất lượng thật
Nội dung của văn hóa học đường hiện nay của chúng ta rất phong phú, song
có thể tóm tắt thành ba vấn đề cơ bản đó là: xây dựng cơ sở vật trường học khang trang, đạt chuẩn; xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường, trong kí túc xã
và nhà trọ, ở gia đình, nơi công cộng; xây dựng “văn hóa ứng xử”, “văn hóa giao tiếp”
Khi phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào Tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nói rõ: phong trào này nhằm thiết lập “thiết lập lại môi trường sư phạm với 6 đặc trưng là trật tự kỷ cương, trung trực, khách quan, công bằng, tình thương
và khuyến khích sáng tạo, hiệu quả” Đây là nội dung rất cơ bản của văn hóa học đường Tác dụng tích cực của văn hóa học đường là xây dựng nhân cách cho học sinh, sinh viên chống lại lối sống tiêu cực Chính vì thế, mỗi nhà trường cần phải xây dựng văn hóa học đường của mình
Thuật ngữ “văn hóa học đường” xuất hiện chưa lâu, nhưng nội dung của văn hóa học đường thì các trường ở Việt Nam từ xa xưa đã có và trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta như: Tôn sư trọng đạo, kính thầy yêu bạn, nhất tự vi
sư bán tự vi sư, kính trên nhường dưới,…; Ngày nay các nhà trường của chúng ta
từ cấp học mẫu giáo, phổ thông đến bậc đại học đa số đều kiện trì xây dựng từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác và thực tế đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc giáo dục nhân cách cho sinh viên
Tuy nhiên, thực tế biểu hiện của văn hóa học đường ở một số trường học đang còn nhiều vấn đề bức xúc cần phải suy ngẫm Chưa nói đến việc xây dựng cơ sở
Trang 7vật chất trong trường học khanh trang, đạt chuẩn do điều kiện kinh tế hoặc diện tích xây dựng trường học của chúng ta ở một số địa phương còn nhiều khó khăn
mà ta chỉ tạm bàn tới hai vấn đề: Xây dựng môi trường giáo dục và xây dựng văn hóa ứng xử, giao tiếp – những nội dung này không cần nhiều tiền cũng có thể làm tốt được Bất cứ ai quan tâm đến giáo dục cũng có thể chỉ ngay ra được những nơi chưa tốt về môi trường giáo dục, chúng ta cũng có thể thấy rất nhiều điều không phu hợp, thậm chí ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục, cụ thể như hiện tượng: nói xấu người khác; dối trá, nói tục, chửi thề; cãi vã với cha mẹ, người trên; vô lễ với thầy cô giáo,… diễn ra hàng ngày và ngày càng phổ biến trong các nhà trường
Có thể nói, bộ phận học sinh, sinh vieencos những biểu hiện thiếu văn hóa dường như ngày càng tăng dần
Văn hóa học đường là môi trường rất quan trọng để rèn nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ là những chủ nhân tương lai của đất nước trở thàh những con người sống
có hoài bão, có lý tưởng, nhân cách tốt đẹp,có đủ tri thức trở thành công dan tốt, đóng góp vào sự việc xây dựng đất nước phồn vinh Vì vậy vấn đề xây dựng văn hóa học đường phải được coi là có tính sống còn, tính cấp bách và thiết thực đối với từng nhừ trường, vì nếu học đường mà thiếu văn hóa học đường thì không thể làm tốt được chức năng truyền tải có giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ Nói thì dễ nhưng để làm được điều này thì chẳng đơn giản chút nào, trước tiên các thầy cô giáo phải mẫu mực, các phụ huynh phải làm tấm gườn trong cách giao tiếp hàng ngày và cùng kết hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giáo dục con em mình trong lối sống, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, người lớn chúng ta không mẫu mực sao có thể bắt con em mẫu mực được; Bước thứ hai là nhà trường cần phải thực hiện tốt việc giám sát quản lý học sinh, sinh viên tại trường để các em tự giác thực hiện nội quy, quy định của nhà trường, quy chế của Bộ GD & ĐT Đối với các cấp học phổ thông GVCN và nhà trường cần có quy chế chấm điểm thi đua theo các lớp theo hàng ngày và hàng tuần, thưởng phạt học sinh phân minh nhưng không nên nặng nề và căng thẳng tạo tâm lý chống đối Chúng ta cần giáo dục cho học sinh có nề nếp trong lối sống, có văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp ngay từ khi còn nhỏ tuổi, nếu để các em lớn lên rồi mới ép vào nề nếp thì quả là việc khó khăn đối với các em, bởi vì khi đến tuổi vị thành niên trong độ tuổi từ 16 – 19 thì cuộc sống đã tôi luyện hình thành trong các em thói quen, tính cách, có cả tốt và xấu, muốn thay đổi không phải dễ Hơn nữa lứa tuổi này các em chưa phải người lớn nhưng cũng không phỉa trẻ con, do đó phải tìm được phương thức giáo dục thích hợp hơn
Trang 8Đối với bậc giáo dục ĐH thì các em đã trưởng thành và tự ý thức được việc mình đang làm đung hay sai, tốt hay xấu Tuy nhiên nhà trường và đoàn thanh niên cũng rất nên quan tâm đến việc xây dựng văn hóa học đường để giáo dục và hướng các em đến chân, thiện, mỹ, giúp các em hoàn thiện bản thân mình Đoàn thnh niên, GVCN, Ban quản lý KTX cần đề ra các tiêu chí cụ thể, việc làm thiết thực, tăng cường tuyên truyền và khuyến khích sinh viên tẹ giác rèn luyện lối sống lành mạnh, xây dựng môi trường có lối sống văn hóa trong ứng xử và giao tiếp Thí dụ như: không nói tục chửi thề, ăn mặc phù hợp, không uống say rượu,… đối với các nội quy, quy định cần có chế tài xử phạt để sinh viên tự giác thực hiện, đồng thời giúp các em hình thành thói quen tốt
Câu 4:
1 Chấp hành nghiêm túc mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và Nhà nước với tư cách là một công dân, chấp hành nghiêm chỉnh các nội quy, quy chế của ĐH GTVT và đơn vị đào tạo
2 Có ý thức xây dựng, giữ gìn, bảo vệ và phát huy truyền thống của trường
ĐH GTVT và các đơn vị đào tạo
3 Tôn trọng giảng viên, cán bộ, nhân viên trong và ngoài nhà trường ĐH GTVT Đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập và ren luyện, thực hiện nếp sống văn minh Tích cực tham gia phong trào, các cuộc vận động về chính trị,
tư tưởng đạo đức của ngành giáo dục và ĐH GTVT
4 Có trách nhiệm khai báo đầy đủ thông tin liên quan đến cá nhân khi vào trường, cập nhật dữ liệu ngay khi có những thay đổi ngay trong quá trình học tập tại trường và khi tốt nghiệp bằng các hình thức theo quy định của ĐH GTVT
5 Có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ tài sản công và của cá nhân
6 Đóng học phí đầy đủ và đúng quy định, hoàn trả vốn vay quỹ tín dụng đào tạo đúng thời hạn
7 Nghiêm chỉnh chấp hành Luật nghĩa vụ quân sự
8 Thực hiện đầy đủ việc khám sức khỏe khi mới nhập học và khám sức khỏe định kì trong thời gian học tập theo quy định của trường ĐH GTVT
9 Tham gia lao động và hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, chống lại những biến đổi khí hậu theo yêu cầu của ĐH GTVT và cơ quan có liên quan
10.Chấp hành nghĩa vụ làm việc có thời hanjtheo cam kết đối với SV được hưởng học bổng, chi phí đào tạo do Nhà nước cấp nếu không chấp hành thì phải bồi hoàn toàn học bổng, chi phí đào tạo theo quy định
Trang 911 Tích cực tham gia phòng choonsgcacs hành vi tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử; kịp thời phát hiện và báo cáo với cơ quancos thẩm quyền khi phát hiện những hành vi tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử và các hoạy động khác của SV
12.Thực hiện thủ tục đăng kí thường trú hoặc tạm trú với công an phường theo quy định hiện hành của chính phủ khi có sự thay đổi về nơi cư trú và báo cáo với nhà trường về nơi cư trú mới Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của địa phương Đối với SV ngoại trú phải nộp giấy nhận xét của công an phường nơi cư trú cho nhà trường trước khi kết thúc học kì 15 ngày
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI