Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tư
Trang 1BỘ QUỐC PHềNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN VINH QUANG
GIáO DụC đạo đức nghề nghiệp cho học viên các tr-ờng cao đẳng, đại học ngành quân y
trong bối cảnh kinh tế thị tr-ờng
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2BỘ QUỐC PHềNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN VINH QUANG
GIáO DụC đạo đức nghề nghiệp cho học viên các tr-ờng cao đẳng, đại học ngành quân y
trong bối cảnh kinh tế thị tr-ờng
Chuyờn ngành: Lý luận và Lịch sử giỏo dục
Mó số : 914 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Mai Văn Húa
2 PGS TS Nguyễn Văn Chung
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố
TÁC GIẢ UẬN ÁN
Nguyễn Vinh Quang
Trang 4bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 29
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH
2.1 Những vấn đề lý luận về đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y
2.2 Những vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh
2.3 Các yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh
Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH
3.1 Khái quát hệ thống các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y 79 3.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 84 3.3 Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 87 3.4 Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 94 3.5 Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học
ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường 104 3.6 Đánh giá chung, nguyên nhân và kinh nghiệm giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành 106
Trang 5Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường
Chương 4 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO
HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 113 4.1 Nâng dần tính hiện đại của nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp
4.2 Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức giáo dục theo hướng tăng cường các hoạt động trải nghiệm, thực hành lâm sàng để rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức nghề nghiệp cho học viên 117 4.3 Phát huy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, các lực lượng trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên 124 4.4 Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục đạo đức nghề
4.5 Xây dựng môi trường sư phạm tích cực trong giáo dục đạo đức
4.6 Gắn đánh giá kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp với đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học viên 137
5.1 Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạm 142
5.3 Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 68 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp GDĐĐNN
10 Khoa học xã hội và nhân văn KHXH&NV
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Khái quát các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người
thầy thuốc cần giáo dục cho học viên 44 Bảng 3.1 Thống kê các trường y trong quân đội 79
Bảng 3.3 Bảng Hopkins phân tích mối quan hệ tương quan 86
Bảng 3.5 Nhận thức của học viên về phẩm chất ĐĐNN ngành
Bảng 3.6 Lý do đồng chí trở thành học viên quân y 91 Bảng 3.7 Thái độ của học viên đối với nghề nghiệp ngành Quân y 92 Bảng 3.8 Mức độ biểu hiện hành vi ĐĐNN của học viên 93
Bảng 3.10 Thực hiện các nội dung GDĐĐNN cho học viên 96 Bảng 3.11 Mức độ sử dụng các phương pháp GDĐĐNN cho học viên 99 Bảng 3.12 Mức độ sử dụng các hình thức GDĐĐNN cho học viên 100 Bảng 3.13 Phối hợp các lực lượng tham gia GDĐĐNN cho học viên 101
Bảng 3.15 Các yếu tố tác động đến GDĐĐNN cho học viên 104 Bảng 5.1 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm 1 147 Bảng 5.2 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm 1 148 Bảng 5.3 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm 1 149 Bảng 5.4 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
bằng T- Test trước thực nghiệm lần 1 150 Bảng 5.5 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 150 Bảng 5.6 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 151 Bảng 5.7 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 152 Bảng 5.8 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
Bảng 5.9 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 153 Bảng 5.10 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 154 Bảng 5.11 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 155
Trang 8Bảng 5.12 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
bằng T- Test trước thực nghiệm lần 2 156 Bảng 5.13 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 156 Bảng 5.14 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 157 Bảng 5.15 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 158 Bảng 5.16 Kết quả kiểm định nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 5.1 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm 1 148 Biểu đồ 5.2 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm 1 148 Biểu đồ 5.3 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm 1 149 Biểu đồ 5.4 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 151 Biểu đồ 5.5 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 151 Biểu đồ 5.6 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 1 152 Biểu đồ 5.7 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 154 Biểu đồ 5.8 Kết quả đo thái độ ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 154 Biểu đồ 5.9 Kết quả đo hành vi ĐĐNN trước thực nghiệm lần 2 155 Biểu đồ 5.10 Kết quả đo nhận thức ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 157 Biểu đồ 5.11 Kết quả đo thái độ ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 157 Biểu đồ 5.12 Kết quả đo hành vi ĐĐNN sau thực nghiệm lần 2 158
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Nghề y là một nghề đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người Do đó, xã hội luôn yêu cầu, đòi hỏi người làm nghề y, bên cạnh trình độ chuyên môn vững vàng, còn phải có lương tâm, đạo đức trong sáng Dù y lý, y thuật có thay đổi theo thời gian, nhưng y đức (ĐĐNN ngành y) luôn bền vững Như vậy, nghề y không đơn thuần chỉ là một nghề nghiệp, một phương tiện kiếm sống đối với người thầy thuốc, mà nghề y còn có một sứ mệnh cao cả hơn, đó là trị bệnh, cứu người Sứ mệnh ấy không chỉ đòi hỏi người thầy thuốc phải tích cực học hỏi để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, mà còn đòi hỏi họ không ngừng rèn luyện, tu dưỡng ĐĐNN; lấy ĐĐNN làm cơ sở
và động lực thực hành chuyên môn, lấy chuyên môn để thể hiện và đảm bảo cho ĐĐNN
Giáo dục ĐĐNN cho học viên đã được các trường CĐ, ĐH ngành Quân y thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất cả về nhận thức
và tổ chức thực hiện Là những y, bác sĩ trong tương lai, lực lượng kế cận, bổ sung trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y, học viên các trường
CĐ, ĐH ngành Quân y ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải thực
sự vững vàng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; đó là tiền đề đối với sự trưởng thành của mỗi học viên trong quá trình học tập, rèn luyện cũng như khi ra trường, là một bảo đảm quan trọng để học viên góp phần vào nhiệm vụ xây dựng ngành Quân y và quân đội theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” Do đó, GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ,
ĐH ngành Quân y có ý nghĩa rất quan trọng
Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ ra thách thức mới liên quan
đến vấn đề đạo đức, lối sống đó là: “…tình trạng suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn” [25, tr.185] Mặt khác, tác động từ mặt trái của KTTT đối với quan niệm về giá trị và lối sống, mà
cụ thể là việc đề cao lối sống thực dụng, coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần, đề cao lợi ích cá nhân, xem nhẹ trách nhiệm xã hội… Tất cả
Trang 10những tác nhân đó và nhiều tác nhân khác nữa đang dẫn đến sự xuống cấp về mặt ĐĐNN ở một bộ phận không nhỏ người thầy thuốc Những biểu hiện của sự xuống cấp về ĐĐNN như: sự vô trách nhiệm trong khám chữa bệnh, thái độ bất lịch sự, cửa quyền đối với bệnh nhân, đặc biệt là hiện tượng gây sức ép đòi lệ phí ngầm trong hành nghề đã gây tốn kém, bức xúc đối với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân cũng như dư luận xã hội
Tác động từ mặt trái của nền KTTT cũng như của xu thế toàn cầu hóa và đặc biệt do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, một bộ phận học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y đã xuất hiện những biểu hiện đáng báo động về đạo đức, lối sống như thái độ thờ ơ với chính trị; giảm sút niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng; đề cao chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, sống thực dụng, buông thả, vi phạm kỷ luật, sùng bái đồng tiền; quay lưng, phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quân đội; tiếp nhận thiếu chọn lọc các giá trị từ bên ngoài
Quá trình GDĐĐNN cho học viên cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả GDĐĐNN cho học viên Mặc dù, các trường đã tích cực đổi mới song nhìn chung nội dung, chương trình vẫn còn nghèo nàn, nhiều khi xa rời thực tế, thiếu cập nhật Phương pháp giáo dục còn đơn điệu, giảng giải một chiều, áp đặt, chưa coi người học là trung tâm, do vậy chưa kích thích được tính tích cực trong hoạt động học tập của học viên Các hình thức hoạt động thực tiễn chưa phong phú để tạo ra môi trường GDĐĐNN lành mạnh, giúp học viên phát huy vai trò của mình trong quan hệ với con người, với xã hội Việc khắc phục tình trạng này, đẩy lùi sự xuống cấp ĐĐNN trong ngành y và đặc biệt với đội ngũ học viên đòi hỏi công tác lý luận phải đẩy mạnh những nghiên cứu về GDĐĐNN cho học viên, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của GDĐĐN ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y hiện nay
Trên phương diện nghiên cứu, đã có những công trình khoa học nghiên cứu về ĐĐNN, GDĐĐNN trên những góc độ, đối tượng khác nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Xuất phát từ đòi hỏi khách quan đó, việc GDĐĐNN cho học viên ngay
từ khi mới vào trường là rất cần thiết, cơ bản, lâu dài Để góp phần vào việc
Trang 11nghiên cứu chuyên sâu nhằm đáp ứng yêu cầu trên, NCS chọn vấn đề “Giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường” làm đề tài Luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất biện pháp GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT, nhằm nâng chất lượng giáo dục y đức cho học viên, góp phần hình thành và phát triển nhân cách người y, bác sĩ quân đội tương lai
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó rút ra những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Xây dựng lý luận của GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Khảo sát, đánh giá thực trạng GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ,
ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Đề xuất các biện pháp GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH
ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của biện pháp được đề xuất
3 Khách thể, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quá trình GD-ĐT ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh
KTTT
Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và
các biện pháp GDĐĐNN cho học viên đang đào tạo chính quy trình độ CĐ,
ĐH ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Trang 12Về thời gian nghiên cứu: Các tư liệu, số liệu thống kê sử dụng trong
thực trạng giới hạn trong 5 năm, từ năm 2015 đến 2020; các số liệu điều tra, khảo sát thực hiện năm 2018, 2019
Về địa bàn nghiên cứu: Tại 3 trường: Học viện Quân y, Trường Cao
đẳng Quân y 1, Trường Cao đẳng Quân y 2
4 Giả thuyết khoa học
Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y là một nhiệm vụ quan trọng trong GD-ĐT Hiện nay, vấn đề GDĐĐNN cho học viên đang còn những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau
Nếu dựa trên cách tiếp cận chủ đạo hoạt động - nhân cách, quá trình GD-ĐT
học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y và áp dụng các biện pháp giáo dục cốt lõi như nâng dần tính hiện đại của nội dung đến đa dạng hóa các phương pháp, hình thức giáo dục theo hướng tăng cường các hoạt động trải nghiệm, thực hành lâm sàng, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục, xây dựng môi trường sư phạm
tích cực thì chất lượng GDĐĐNN cho học viên sẽ được nâng cao, đáp ứng
mục tiêu, yêu cầu đào tạo người thầy thuốc trong bối cảnh KTTT
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân ủy Trung ương về giáo dục đạo đức, nhân cách người cán bộ sĩ quan quân đội về y đức và các quan điểm tiếp cận cụ thể trong nghiên cứu sau:
Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Giáo dục ĐĐNN cho học viên các
trường CĐ, ĐH ngành Quân y là một quá trình gồm nhiều thành tố như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, các chủ thể giáo dục, các yếu tố bảo đảm và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục, do vậy khi xem xét, giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án cần đặt trong hệ thống có quan hệ, chi phối nhau
Trang 13Tiếp cận lịch sử - logic: Giáo dục nói chung và GDĐĐNN nói riêng
luôn gắn với lịch sử, văn hóa của từng quốc gia, vùng miền và phù hợp với
sự phát triển của thời đại Giải quyết những vấn đề GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, xem xét trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để tìm ra quy luật và logic của sự phát triển Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y không tách rời với các giá trị văn hóa dân tộc, yêu cầu đòi hỏi của hoạt động quân sự và xu thế phát triển trong giáo dục
Tiếp cận hoạt động - nhân cách: Nhân cách con người hình thành
thông qua hoạt động Thông qua hoạt động, con người lĩnh hội được các giá trị văn hóa xã hội và thể hiện các giá trị đó trong cuộc sống Giáo dục ĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y chỉ có hiệu quả thông qua hoạt động thực tiễn Do vậy, cần lựa chọn các hoạt động hấp dẫn,
đa dạng, mang tính giáo dục cao phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu, hoạt động học tập của học viên, tổ chức các hoạt động theo một quy trình phù hợp mang lại hiệu quả GDĐĐNN cho học viên
Tiếp cận liên ngành: Quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng quan điểm, tri
thức và phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau để giải quyết vấn đề một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất Đặc biệt, trong đề tài luận án có sử dụng đến kiến thức của Đạo đức học Y học và Kinh tế học để làm
rõ cho các vấn đề về ĐĐNN và GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,
khái quát hoá các tài liệu lý thuyết chuyên ngành, liên ngành, các văn kiện,
nghị quyết, các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội; các tài liệu khoa học là sách chuyên khảo, tham khảo, luận án, bài báo, bài hội thảo khoa học; các báo cáo tổng kết chuyên môn và GD-ĐT có liên quan
để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài luận án
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 14Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát các hoạt động học viên
trong học tập, tiếp xúc với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, với đồng nghiệp
và với xã hội
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Lập phiếu hỏi và tổ chức điều
tra các hoạt động của giảng viên, CBQL và học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y, nhằm thu thông tin về thực trạng GDĐĐNN cho học viên
Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi với một số thầy thuốc, bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân về nhận thức, thái độ, hành vi ĐĐNN của học viên làm
cơ sở cho việc đánh giá kết quả của những biện pháp GDĐĐNN
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Nghiên cứu những hoạt
động thực tiễn giáo dục ở nhà trường của các lớp, khóa, các bệnh viện, nhà trường để rút ra những kinh nghiệm giáo dục trong những năm gần đây
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Phân tích các
sản phẩm hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, các báo cáo tổng kết, kế hoạch tự học, kết quả học tập của học viên ở các trường CĐ, ĐH ngành Quân y
Phương pháp thực nghiệm có đối chứng: Sử dụng các tác động sư
phạm có đối chứng trong thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của một số biện pháp đã đề xuất
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các
nhà sư phạm, nhà quản lý về các vấn đề liên quan đến đề tài
Các phương pháp hỗ trợ
Sử dụng các công thức toán thống kê và phần mềm máy tính để xử lý
các số liệu đã thu thập được từ các phương pháp khảo sát thực tiễn và trình bày kết quả nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu, luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn của ĐĐNN và GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT, như:
Xây dựng và làm rõ một số khái niệm, cấu trúc, hệ thống chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y
Khái quát nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐNN đồng thời chỉ
Trang 15ra các yếu tố tác động tới GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Qua phân tích làm rõ các vấn đề về thực trạng, nguyên nhân của ĐĐNN và GDĐĐNN từ đó xây dựng hệ thống các biện pháp giáo dục đồng
bộ, giúp các chủ thể giáo dục vận dụng trong thực tiễn
Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của biện pháp được đề xuất
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1 Những c ng trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y
1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp ngành y
Với tính nhân đạo sâu sắc, nghề y mạng đậm dấu ấn của đạo đức Trong suốt chiều dài lịch sử, nghề y luôn là sự hội tụ hài hòa của những giá trị y lý, y thuật và y đạo, trong đó y đạo người thầy thuốc được coi là cốt lõi Ở phương Đông, ĐĐNN ngành y có nguồn gốc từ quan niệm cái đức của người thầy thuốc phải rộng như biển cả Nếu có cầu xin là cầu xin tất cả những gì có thể cứu được bệnh nhân từ nước, lửa, cây cỏ Cùng với phương Đông, ở phương Tây thời kỳ cổ đại cũng có nền y học tương đối phát triển Không ít danh y
đã để lại cho đời sau những bài học vô cùng bổ ích cả về y thuật lẫn ĐĐNN Thomas Sydenhan (1624 - 1689), vị bác sĩ tài năng người Anh, cha đẻ của
ngành y học lâm sàng và dịch tễ học, sách Phương pháp điều trị tốt, ông cho
rằng: “Thầy thuốc là công bộc của lòng từ thiện thiêng liêng” [35, tr.34] Theo ông, người thầy thuốc phải phục vụ tận tâm và tạo điều kiện cho người bệnh lạc quan tin tưởng khi chữa bệnh
Đầu thế kỷ XIX những vấn đề về ĐĐNN ngành y đã được nghiên cứu trong các bài giảng của các giáo sư lâm sàng hệ Y khoa Trường Đại học Tổng hợp Moscow Nhà nội khoa lâm sàng lớn nhất ở nửa đầu thế kỷ XIX,
M Lamucdrop giảng dạy rằng: “Thầy thuốc phải khiêm tốn và thận trọng, đối với bệnh nhân phải thương yêu” [35, tr.52], ông đã nhiều lần nói rằng:
“Trong nghệ thuật Y học không thể có những thầy thuốc làm xong công tác khoa học” [35, tr.87]
Tatsuo Kuroyanagi (2014), “Nghiên cứu và đánh giá sự biến đổi lịch sử
của y đức - những thách thức của hội Y học thế giới” [56], tác giả đã chỉ ra
sự biến đổi lịch sử của ĐĐNN ngành y từ thời kỳ đầu của Hội Y học Thế giới Từ tuyên ngôn Geneva cho đến công ước quốc tế về ĐĐNN ngành y đã
Trang 17chỉ ra nghĩa vụ chung của người thầy thuốc trong các mối quan hệ với bệnh nhân và đồng nghiệp Bài báo làm rõ việc chấp nhận các quan điểm ĐĐNN ngành y lẫn nhau của các khu vực, nhất là ở các khu vực có nền văn hóa và cách suy nghĩ khác so với các nước phát triển phương Tây Chính vì thế, bài báo đi vào phân tích các quan điểm khác nhau đó và rút ra kết luận rằng dù thế nào thì sức khỏe của người bệnh vẫn là mối quan tâm hàng đầu
Cùng với sự phát triển của ĐĐNN ngành y trên thế giới, đối với Việt Nam, giá trị nhân văn Việt Nam luôn là cơ sở hình thành, nuôi dưỡng và phát triển ĐĐNN ngành y Với lòng nhân ái cao cả “Thương người như thể thương thân” nhân dân ta rất quý trọng nghề y và tôn vinh những người thầy thuốc hết lòng vì người bệnh mà các bậc danh y như Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh, thế kỷ XIV), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) đều hết sức chú trọng xây dựng và truyền đạt ĐĐNN ngành y tới người thầy thuốc Vào thế kỷ XIX, nhà thơ, đồng thời là người thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu (1812 - 1888) cũng là người rất đề cao ĐĐNN của người thầy thuốc Bàn về lương
tâm, bổn phận của người thầy thuốc, tác phẩm Ngư Tiều vấn đáp y thuật [10], ông
đã đã khái quát một cách cô đọng về ĐĐNN của người thầy thuốc như sau:
“Xưa rằng: thầy thuốc học thông Thề theo trời đất một lòng hiếu sinh Giúp đời chẳng vụ tiếng danh Chẳng màng của lợi, chẳng ganh ghẻ tài,”…
… “Thấy người đau, giống mình đau Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành
Ăn mày cũng đứa trời sinh Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không” [10, tr.74 - 75]
Kế thừa truyền thống ĐĐNN ngành y của ông cha ta, tiếp thu tinh hoa ĐĐNN ngành y nhân loại, trên cương vị là lãnh tụ của dân tộc và một nhà văn hóa, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi và rèn luyện ĐĐNN của người làm nghề y
Hồ Chí Minh là một trong số ít những lãnh tụ cách mạng bàn nhiều nhất về ĐĐNN ngành y thông qua nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thăm
Trang 18các cơ sở y tế để bày tỏ quan điểm của Đảng và Chính phủ về phẩm chất người thầy thuốc Hầu như mỗi lần có dịp tiếp xúc với ngành y điều đầu tiên Hồ Chí Minh nhắc tới vẫn là “thầy thuốc như mẹ hiền” Đây chính là yêu cầu Hồ Chí Minh đặt ra trong phương châm xử thế, phương châm hành động và phục vụ của cán bộ và nhân viên ngành y đối với người bệnh Hồ Chí Minh căn dặn thầy thuốc và nhân viên phục vụ cần coi trọng
chăm sóc cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Thư gửi Hội nghị
quân y (3/1948), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 [68], Người viết: “Người
làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng
đỡ tinh thần của người ốm yếu” “Người ta có câu “Lương y kiêm từ mẫu” nghĩa là một người thầy thuốc phải là một người mẹ hiền” [68, tr.487]
Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Hồ Chí Minh
Toàn tập, tập 8 [69], Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ y tế cần phải
“Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt” “Cần phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân” “Lương y phải kiêm từ mẫu” [69, tr.154]
Tác giả Ngô Gia Hy (1995), sách Nguồn gốc của y đức: Sự đóng góp
của nền y học vào văn hóa Việt Nam [53], tác giả đã làm rõ y đức trong điều
kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với những nảy sinh mới ở Việt Nam, đồng thời đã luận chứng cho sự cần thiết phải nâng cao ĐĐNN ngành y trong điều kiện hiện nay Dựa trên cơ sở nghiên cứu lịch sử và quan niệm về ĐĐNN ngành y của các trường phái y học khác nhau, hay của nhiều quốc gia, tác giả cho rằng: từ cổ chí kim, dù ở nền văn minh nào, qua các lời thề và di huấn, ĐĐNN ngành y cũng có những tính chất chung, nên các thầy thuốc ở bất cứ đâu đều có mối quan hệ về bổn phận, lương tâm và trách nhiệm như nhau
Lê Hữu Trác (1997), sách Hải thượng y tông tâm lĩnh, tập 2 [94], luôn
tự nhắc nhở người thầy thuốc cần “tiến đức, tu nghiệp” Tiến đức là mỗi ngày phải rèn luyện cho toàn diện, toàn mĩ về ĐĐNN ngành y Tu nghiệp là hàng ngày phải chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng tinh thông Đối với ông, đạo làm thuốc không chỉ bó hẹp trong phạm vi chuyên môn nghề nghiệp mà còn bao hàm cả ĐĐNN; nghĩa là y thuật phải gắn liền với ĐĐNN, thấm nhuần lòng thương người, thương dân Ông viết:
Trang 19Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng, thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, họa phúc một tay mình giữ Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh đòi làm cái nghề cao quý đó chăng [94, tr.309]
Lê Hữu Trác luôn nhận thức rằng người thầy thuốc phải biết giữ
phẩm chất của mình, bản thân không được vụ lợi Trong Y huấn cách
ngôn, ông viết: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh
mạng con người Phải lo cái lo của người, vui cái vui của người Chỉ lấy việc cứu mạng sống cho con người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công” [94, tr.134] Chính vì vậy mà ông luôn tự đặt cho mình các mục tiêu phấn đấu để trở thành người thầy thuốc giỏi
Các tác giả Quý Long, Kim Thư (2013), sách Những bậc thầy nổi danh
về y đức [60], đã đánh giá chính xác vai trò, địa vị của người thầy thuốc từ góc
nhìn văn hóa Các tác giả đã đưa ra và làm rõ quan niệm về ngành y, về ĐĐNN của người thầy thuốc Đặc biệt, các tác giả dưới góc nhìn từ truyền thống - suy ngẫm về y đức hiện nay Trên cơ sở khái quát tư tưởng các thầy thuốc nổi danh về ĐĐNN ngành y cổ kim, đông tây, các tác giả đã cho thấy,
sự tương đồng, sự thống nhất trong cách nhìn nhận của họ về thiên chức và trách nhiệm, bổn phận ĐĐNN ngành y, về sự cần thiết phải bồi dưỡng, nâng cao ĐĐNN cho những người làm nghề trị bệnh cứu người Vì vậy, các tác giả khẳng định: “Y thuật phải được gắn liền với y đạo vì người thầy thuốc có trình
độ chuyên môn giỏi chưa đủ mà cần phải có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp”
[60, tr.13]
Tác giả Lê Thị Lý (2016), Đạo đức người thầy thuốc xưa và nay [63] Nội
dung cuốn sách đã chỉ rõ, so với các nghề nghiệp khác, nghề y có một số đặc trưng cơ bản, những đặc trưng này phản ánh khá rõ nét những yêu cầu về đạo đức của người thầy thuốc Thầy thuốc phải làm dịu đi những lo lắng về bệnh tật, lạc quan và hy vọng vào cuộc sống, tin tưởng vào y học Tác giả nhấn mạnh: “Thầy thuốc phải tránh được những thói quen không tốt về tâm lý như
sự dạn dày với đau khổ, bệnh tật, chết chóc, thái độ bình thản, lãnh đạm với
Trang 20nỗi đau của người bệnh và thân nhân của họ, không lạm dụng địa vị và sự tôn kính của bệnh nhân làm những việc trái với đạo đức thông thường, tổn hại đến danh dự của người bệnh” [63, tr.112] Với ý nghĩa đó, cuốn sách là tài liệu quý đối với đội ngũ y, bác sĩ, những người công tác trong ngành y… và tất cả những
ai quan tâm đến sự phát triển của ngành y tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Nguyễn Thị Bích Thủy (2016), sách Tư
tưởng nhân văn và triết lý y đức [73], đã chỉ ra rằng ĐĐNN ngành y chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của tư tưởng nhân văn, của triết lý đạo đức mà mỗi quốc gia, dân tộc đã hình thành nên trong quá trình lịch sử của mình Các tác giả cho rằng: “Tư tưởng nhân văn và triết lý y đức gắn bó chặt chẽ với nhau và gắn bó mật thiết với cuộc sống con người, với quá trình lao động sản xuất, cải tạo xã
hội và phát triển khoa học” [73, tr.7], dù ở thời đại nào, chịu ảnh hưởng của
triết lý nào đi chăng nữa thì nguyên lý bất hủ của các thầy thuốc vẫn phải là chữa bệnh cứu người, luôn đặt tính mạng, sức khỏe của bệnh nhân lên trên hết, trước hết
Tác giả Chu Tuấn Anh (2017), luận án tiến sĩ Triết học Vận dụng mối
quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành
y tế ở Việt Nam hiện nay [1], đã tập trung luận giải mối quan hệ giữa kinh tế
và đạo đức trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, đáng chú ý là tác giả đã làm rõ sự tác động sâu sắc của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa tới đạo đức ngành y Qua đó, tác giả cho rằng: “Y đức giúp người cán bộ y tế đề kháng, đấu tranh với những cám dỗ, tiêu cực của cơ chế thị trường tác động vào” [1, tr.60] Từ việc luận giải mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, tác giả đã vận dụng vào nâng cao ĐĐNN cho cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay và tiến hành nghiên cứu thực trạng, xác định những vấn đề đặt
ra
Tác giảPhạm Công Nhất (1999), “Mâu thuẫn giữa mặt trái của cơ chế thị trường với bản chất nhân đạo của ngành y tế Việt Nam hiện nay” [75], bài báo khoa học đã đề cập đến vấn đề ĐĐNN ngành y trong nền KTTT, chỉ
rõ quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân không còn đơn thuần là các y, bác sĩ với thương, bệnh binh như trước đây mà là quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ
Trang 21khám, chữa bệnh với người bỏ tiền mua dịch vụ Người thầy thuốc nhận tiền công khám chữa bệnh từ bệnh nhân thực ra không phải là mất ĐĐNN ngành
y Vấn đề là ở chỗ đánh giá công lao động bỏ ra như thế nào cho phải đạo để giữ ĐĐNN ngành y và tính giá trị lao động bỏ ra còn cần phải tính đến đối tượng mình phục vụ giàu hay nghèo, đó mới là đạo đức
Tác giảNguyễn Hiền Lương (2013), “Giáo dục và rèn luyện đạo đức người
cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [61], bài báo khoa học đã hệ thống khái
quát quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ĐĐNN ngành y như nhiệm vụ, trách nhiệm của người thầy thuốc, họ không chỉ thực hiện vai trò về chuyên môn,
về y thuật, mà còn phải là người bạn, giúp đỡ, động viên tinh thần người bệnh
Từ đó, Người đã dành sự quan tâm đặc biệt trong giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho người thầy thuốc để có thể xây dựng những chuẩn mực ĐĐNN trong sáng, văn minh, tiến tới xây dựng một nền y tế hiện đại, theo kịp
thế giới
1.1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y
Từ xa xưa đã có nhiều người bàn đến vấn đề GDĐĐNN ngành y ở những mức độ khác nhau Qua các giai đoạn lịch sử, GDĐĐNN được đề cập tới bằng các điều luật áp dụng cho ngành y qua lời thề, qua các tuyên ngôn của tổ chức y tế thế giới
Ở Việt Nam, quan niệm về bổn phận người thầy thuốc của Lê Hữu Trác
được thể hiện ra trong toàn bộ các quan hệ nghề nghiệp tạo thành y đạo: từ
năng lực chuyên môn đến quan niệm về mục đích nghề nghiệp, thái độ đối với người bệnh, với đồng nghiệp, và đặc biệt là bổn phận của người thầy thuốc đối
với người bệnh nghèo, những người thiếu may mắn trong xã hội
Kế thừa truyền thống đạo đức y học của dân tộc và những giá trị đạo đức
của nền y học thế giới, Hồ Chí Minh không chỉ coi Lương y như từ mẫu, mà còn vạch phương hướng để đào tạo ra đội ngũ thầy thuốc Việt Nam Thư gửi Hội
nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8 [69], Hồ Chí
Minh chỉ rõ, những vấn đề mà người cán bộ y tế phải cố gắng thực hiện Đó là:
Về chuyên môn: cần luôn luôn học tập, nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng, phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với
Trang 22hoàn cảnh kháng chiến của ta hiện nay Về chính trị: cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước,
yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác [69,
tr.154]
Sách Quy định về y đức và tiêu chuẩn phấn đấu [96], Lê Ngọc Trọng (1999),
đã đánh giá cao công tác GDĐĐNN ngành y ở cấp vĩ mô, tác giả nhìn nhận những thành tựu trong GDĐĐNN qua việc huy động đội ngũ thầy thuốc tham gia vào các phong trào, các hoạt động vì sức khỏe cộng đồng; chẳng hạn như hiến máu nhân đạo, gây quỹ từ thiện, cấp phát thuốc miễn phí cho bệnh nhân nghèo, các gia đình chính sách, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng… Theo tác giả, việc tham gia những hoạt động đó đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển tình cảm đạo đức
và nâng cao trách nhiệm y đức cho người thầy thuốc đối với cộng đồng
Tác giả Nguyễn Thanh Tịnh (2017), sách Nâng cao y đức bác sĩ quân y
ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay [93], đã chỉ ra rằng nâng cao y đức
người bác sĩ quân y có vai trò quan trọng trong việc phát triển nhận thức, điều chỉnh hành vi, củng cố lý tưởng nghề nghiệp, tăng cường tình cảm, trách nhiệm, lương tâm của người bác sĩ Tác giả đã chỉ ra ba mâu thuẫn cơ bản đặt
ra từ thực trạng của việc nâng cao y đức người bác sĩ quân y trong quân đội hiện nay Từ đó tác giả đưa ra ba nhóm giải pháp cơ bản để nâng cao ĐĐNN người bác sĩ quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, đó là: nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục và tự giáo dục y đức của người bác sĩ quân y; xây dựng môi trường y đức trong sạch, lành mạnh và đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực về y đức ở các đơn vị; làm tốt công tác cán bộ và đảm bảo điều kiện vật chất cần thiết cho việc nâng cao y đức người thầy thuốc quân y
Tác giả Lê Thu Hà và cộng sự (2020), Nghiên cứu giải pháp nâng cao
phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quân y trong chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân thời kỳ mới [39], đề tài cấp nhà nước đã làm rõ phẩm chất
và năng lực của người thầy thuốc quân y là tổng hợp các yếu tố chính trị - tư tưởng, đạo đức, lối sống, trình độ tổ chức chỉ huy quân y và trình độ chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Trên cơ sở nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn, đề tài đã xây dựng 02 bộ tiêu chí về phẩm chất, năng lực
Trang 23của cán bộ quân y Bộ tiêu chí về phẩm chất bao hàm cả phẩm chất chung của cán bộ y tế và phẩm chất riêng của cán bộ quân đội Trong đó những phẩm chất về mặt ĐĐNN được ban đề tài đặc biệt quan tâm và chú trọng Từ
đó đề tài chỉ ra các yêu cầu nâng cao phẩm chất, năng lực của cán bộ quân y
đó là phải tiếp tục củng cố bản lĩnh chính trị, giữ gìn và phát huy ĐĐNN, thúc đẩy tinh thần chủ động học tập, nghiên cứu chiếm lĩnh tri thức, công nghệ y học hiện đại, và phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong quân đội
Tác giả Nguyễn Hồng Giang và cộng sự (2009), Nâng cao chất lượng
công tác Đảng, công tác Chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội trong tình hình mới [36], đề tài cấp Bộ Quốc phòng đã làm
phong phú thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn công tác đảng và công tác chính trị ở các bệnh viện quân đội góp phần bồi dưỡng nhận thức, nâng cao bản lĩnh chính trị, làm chuyển biến ĐĐNN của đội ngũ cán bộ, nhân viên y
tế ở các bệnh viện quân đội Tác giả cho rằng, để xây dựng các bệnh viện quân đội vững mạnh toàn diện, xây dựng ĐĐNN cho cán bộ nhân viên quân y đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và điều trị trong tình hình mới, phải giải quyết đồng bộ nhiều nội dung Một trong những nội dung rất quan trọng là nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị Đây là yêu cầu khách quan, thường xuyên, đồng thời là yêu cầu có ý nghĩa cấp thiết hiện nay
Để nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội cần nắm vững
và thống nhất quan niệm về công tác đảng, công tác chính trị; đặc điểm công tác đảng, công tác chính trị; những thuận lợi trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị; quan niệm y đức và tiêu chuẩn đánh giá y đức của cán bộ nhân viên quân y
ở các bệnh viện quân đội là cơ sở đánh giá đúng thực trạng y đức và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội trong thời kỳ mới [36, tr.54-55]
Trang 24Tác giả Lê Thị Lý (2011), luận án tiến sĩ Triết học Nâng cao đạo đức
người thầy thuốc trong điều kiện hiện nay ở nước ta [62], đã xác định nội dung
những chuẩn mực căn bản của đạo đức người thầy thuốc Từ đó tác giả đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân những biểu hiện tích cực và tiêu cực của người thầy thuốc, đây là nội dung được tác giả tập trung làm rõ, chi tiết và cụ thể, và từ đó đề xuất giải pháp căn bản nhằm nâng cao đạo đức người thầy thuốc ở nước ta hiện nay Qua đó, tác giả đưa ra nhận định:
“Khi các giải pháp nâng cao ĐĐNN cho người thầy thuốc được quan tâm đúng mức của các ban, ngành, đoàn thể, sự tự nguyện và tự giác hành động theo các chuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc, chắc chắn trong thời gian tới, những tiêu cực, suy thoái về y đức sẽ được giải quyết, chất lượng và hiệu quả trong hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân sẽ không ngừng được nâng cao” [62, tr.162]
Tác giả Lâm Văn Đồng (2015), luận án tiến sĩ Triết học Giáo dục đạo
đức cho người thầy thuốc ở Việt Nam trong trong giai đoạn hiện nay [31], đã
chỉ ra việc GDĐĐNN chính là nhằm góp phần hình thành và củng cố nền tảng nhân cách người thầy thuốc; góp phần đẩy lùi tình trạng xuống cấp đạo đức ở người thầy thuốc; đảm bảo cho người thầy thuốc thực hiện được nhiệm vụ trong hoạt động nghề nghiệp Theo tác giả: “Để nâng cao hiệu quả của GDĐĐNN cho người thầy thuốc trong điều kiện hiện nay, cần quán triệt
tư tưởng Hồ Chí Minh về GDĐĐNN ngành y, gắn việc GDĐĐNN với sự phát triển ngành y tế trong giai đoạn hiện nay” [31, tr.147]
Tác giả Vũ Hoài Nam (2015), luận án tiến sĩ Giáo dục học Phát triển y
đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay [71], từ những đặc điểm của
ngành y và đặc trưng của hoạt động khám chữa bệnh của thầy thuốc quân đội, tác giả chỉ ra những nhân tố tác động đến sự phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội; phân tích, đánh giá tình hình phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay, với cả hai mặt ưu điểm và hạn chế trong sự phát triển Tác giả bước đầu nhận dạng và chỉ ra nguyên nhân của những hạn
chế trong phát triển y đức, tổng kết một số kinh nghiệm và dự báo xu hướng
phát triển y đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay Để góp phần phát
Trang 25triển y đức của người thầy thuốc quân đội, tác giả đề xuất các biện pháp cơ bản, chủ yếu, đồng bộ để phát triển y đức trên cả ba mặt ý thức y đức, thái độ
y đức và hành vi y đức của người thầy thuốc quân đội
Tác giả Phạm Mạnh Hùng (2014), bài báo khoa học “Nhân kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam 27 tháng 2 năm 2014: Đổi mới nhận thức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp y tế (y đức) cho phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [51] Tác giả đã đặt ra những câu hỏi như: Tại sao lại phải đề cao ĐĐNN trong thực hành y học? Hiện nay nên quan niệm về nội dung ĐĐNN và y nghiệp như thế nào? Qua việc luận giải những vấn đề trên tác giả đã chỉ ra những
lý do phải đề cao ĐĐNN ngành y cũng như đưa ra kết luận rằng, trong nghề y thời nào ĐĐNN cũng cần được đề cao, nhưng ngày nay khi xây dựng cơ chế KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc đề cao đó lại càng cần thiết
Tác giả Nguyễn Đức Diện (2016), trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội có bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức và ý nghĩa đối
với việc giáo dục y đức cho cán bộ y tế trong tình hình hiện nay” [14], bài
báo đã tập trung làm rõ cơ sở hình thành, vị trí, vai trò của y đức đối với định hướng chiến lược cho ngành y và quan điểm chỉ đạo vấn đề y đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh; từ đó phân tích ý nghĩa của vấn đề, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả GDĐĐNN ngành y cho cán bộ y tế trong bối cảnh KTTT, toàn cầu hóa hiện nay
Tác giả Vũ Hoài Nam (2018), “Tự giáo dục, tự tu dưỡng, tự rèn luyện y
đức của người thầy thuốc quân đội hiện nay” [72], bài báo khoa học nhấn mạnh việc rèn luyện ĐĐNN của người thầy thuốc quân đội diễn ra trong quá
trình tự rèn luyện, tu dưỡng cá nhân, thông qua tác động tích cực của tập thể, của môi trường hoạt động quân y và kỷ luật quân đội Tu dưỡng ĐĐNN ngành
y diễn ra trong quá trình đấu tranh thường xuyên giữa cái mới và cái cũ, cái tốt
và cái xấu, cái tiến bộ và cái lạc hậu trong từng tập thể đơn vị quân y và trong mỗi người thầy thuốc quân đội Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp tích cực hóa tự giáo dục, tự rèn luyện phát triển y đức của người
thầy thuốc quân đội gồm: “Phát huy vai trò của người thầy thuốc quân đội
trong tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức; thường xuyên giáo dục,
Trang 26bồi dưỡng nâng cao năng lực tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người thầy thuốc quân đội; chỉ đạo thường xuyên hoạt động tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện y đức của người thầy thuốc quân đội” [72, tr.87, 106]
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y cho học viên, sinh viên
Nghiên cứu tại nhiều quốc gia cũng cho thấy vấn đề GDĐĐNN ngành y
đã được nhiều tác giả quan tâm, tiêu biểu là: Pappworth M H (1978), Những
lời giáo huấn về y đức, tiền đề của y học [116] Theo các tác giả, người thầy
thuốc phải có đạo đức trong xử lý các tình huống thực hành lâm sàng, phải biết xác định lợi ích hay nguy cơ của bệnh nhân đối với từng loại thuốc, từng phương pháp điều trị mà bác sĩ chỉ định
Tác giả Nigel C H Stott (1983), Vấn đề hàng đầu trong chăm sóc sức
khoẻ [114]; Robet K Mckinly and Pauline A Mc Avoy (1996), Đạo đức trong thực hành y học [117] Các tác giả đã đề cập đến sự cần thiết phải
GDĐĐNN cho sinh viên trong các trường y, vai trò của ĐĐNN trong nghiên cứu khoa học, trong thực hành lâm sàng và chăm sóc sức khoẻ bệnh nhân, những nguyên tắc ĐĐNN của người thầy thuốc
Tác giả Johnston C, Haughton P (2007), Nhận thức của sinh viên y khoa
về chương trình giáo dục y đức [113] Các tác giả cho rằng, hiện nay các
trường cao đẳng, đại học y ở Vương quốc Anh đã đưa vào chương trình giảng dạy môn đạo đức y học, đạo đức và pháp luật, sinh viên năm thứ 5 phải có chứng chỉ về đạo đức của người thầy thuốc
Không chỉ có cá nhân, các tổ chức y tế thế giới cũng hết sức quan tâm
đến GDĐĐNN ngành y, Hội đồng Liên hợp quốc (1982) đã công bố Nguyên
lý của đạo đức y học trong bảo vệ sức khỏe con người “ Kêu gọi tất cả các
quốc gia đưa Nguyên lý của đạo đức y học vào thực hiện cùng với các giải
pháp hiện có, phổ biến rộng rãi, đặc biệt là trong các viện, trường y ” [115]
Tổ chức Y tế Thế giới (1994) đã tuyên bố: “Mục đích chính của giáo dục đạo đức y học là để đảm bảo bác sĩ nhận thức được những tình huống đạo đức trong mọi quyết định trong suốt cuộc đời làm nghề Sinh viên y khoa cần có
Trang 27năng lực phân tích liên quan đến những xung đột và các vấn đề về đạo đức ” [118, tr.21]
Hội Y học Thế giới (2009), tác phẩm Cẩm nang đạo đức y học, đã chỉ ra
ĐĐNN ngành y luôn luôn là một thành phần cần thiết của thực hành y học Nghiên cứu về ĐĐNN ngành y là để chuẩn bị cho học viên, sinh viên nhận thức được các tình huống phức tạp và xử trí theo nguyên lý và lẽ phải Đạo đức nghề nghiệp cũng rất quan trọng trong mối tương tác giữa y, bác sĩ và xã hội, với đồng nghiệp, và trong nghiên cứu khoa học
Tác giả Đỗ Nguyên Phương (1998), sách Một số vấn đề xây dựng ngành
Y tế phát triển ở Việt Nam [81] Ông đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về y
tế và đạo đức người thầy thuốc Việt Nam, phân tích sự cần thiết phải nâng cao ĐĐNN của người thầy thuốc trong giai đoạn hiện nay Trong nghiên cứu của mình ông đã nêu những tấm gương ĐĐNN của Giáo sư Đặng Văn Ngữ, Hoàng Đình Cầu và truyền thống ĐĐNN của nhiều thầy thuốc Việt Nam tiêu biểu khác Ông chỉ rõ, trong nền KTTT, bên cạnh những tác động tích cực, cơ chế thị trường cũng có những tác động tiêu cực đến ĐĐNN ngành y Vì vậy, các nhà quản lý cũng như các nhà trường cần quan tâm đến việc GDĐĐNN cho các
y, bác sĩ đang hành nghề cũng như các học viên, sinh viên đang học ở các trường y
Nghiên cứu về GDĐĐNN ngành y cho học viên, sinh viên, chúng ta không thể không nhắc đến những đóng góp của các tác giả Nguyễn Quốc
Triệu, Nguyễn Đức Hinh (2011), Đạo đức y học [95], đã đưa ra những nội dung
về lịch sử ĐĐNN ngành y, lý tưởng ĐĐNN ngành y thông qua các lời thề y học, nguyên lý cơ bản của ĐĐNN ngành y, quan hệ giữa bác sĩ với bệnh nhân, đồng nghiệp, xã hội và cộng đồng để GDĐĐNN cho sinh viên các trường y Từ
đó yêu cầu các y bác sĩ tương lai phải học tập, rèn luyện, hình thành các phẩm chất của lý tưởng ĐĐNN ngành y như: Thương yêu con người, trung thực, trách nhiệm, bản lĩnh, chăm chỉ
Các tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Nguyễn Thị Bích Thủy (2016), sách
Tư tưởng nhân văn và triết lý y đức [73] Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế hiện nay, đạo đức và ĐĐNN ngành y là vấn đề được cả xã hội
Trang 28quan tâm Chính vị vậy các tác giả đều có chung nhận định rằng: “Việc giáo dục, rèn luyện đạo đức và ĐĐNN ngành y cho những sinh viên học nghề y, cho những người hành nghề y đang hàng ngày, hàng giờ đối mặt với sức khỏe và tính mạng của người bệnh có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhằm góp phần vào công tác đào tạo ĐĐNN cho sinh viên ngành y, dược” [73, tr.6] Tác giả Nguyễn Quang Phúc và cộng sự (2008), đề tài cấp Bộ Quốc
phòng Các giải pháp kết hợp giáo dục y đức thông qua dạy học các môn y học
chuyên ngành [79], qua nghiên cứu đã khẳng định: “Đối với mỗi người bác sĩ, y
đức không tự nhiên mà có, nó chỉ được xây dựng và hình thành thông qua các con đường giáo dục” [79, tr.3] Có nhiều hình thức giáo dục y đức cho học viên nhưng trong đó nổi bật nhất là giáo dục y đức thông qua học các môn y học chuyên ngành Do vậy, cần tránh tình trạng chỉ quan tâm trang bị kiến thức chuyên môn đơn thuần mà bỏ ngỏ việc giáo dục y đức của bác sĩ quân đội Công trình đã đề xuất một số giải pháp mang tính đồng bộ bao gồm: Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ huy đối với giáo dục y đức trong dạy và học các môn y học chuyên ngành; đổi mới chương trình, nội dung, biện pháp giáo dục y đức; phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ giảng viên và tự giáo dục của học viên
Tác giả Phạm Thị Minh Đức và cộng sự (2009), thực hiện đề tài cấp Bộ
Y tế Nghiên cứu thực trạng nhận thức và thực hành y đức của bác sĩ ở ba
tuyến bệnh viện huyện, tỉnh và Trung ương [34], đã nghiên cứu tại 5 trường
Đại học Y với 329 sinh viên chia 2 nhóm: 159 sinh viên năm đầu tiên đi bệnh viện (Nhóm 1 - Y3 hoặc Y2) và 170 sinh viên năm cuối đi học tại bệnh viện (Nhóm 2 - Y6) Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 18,9% sinh viên nhóm 1
và 9,4% sinh viên nhóm 2 được học môn Đạo đức y học tại trường Có 20,7% sinh viên được phỏng vấn chưa được học Đạo đức y học, số còn lại được học
một vài tiết, hình thức dạy học chủ yếu là lồng ghép trong một số môn học khác
Tác giả Lê Thu Hòa (2013), luận án tiến sĩ Y học Nghiên cứu thực
trạng dạy - học môn đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại các trường Đại học Y và đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm [43], đã đưa ra kết quả khảo
sát thực trạng dạy - học đạo đức y học tại tám trường Đại học Y năm học
Trang 292009 - 2010 Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy bên cạnh những thành tích đạt được thì vấn đề GDĐĐNN ngành y cho sinh viên vẫn còn những bất cập nhất định Theo tác giả nếu khắc phục được những bất cập này thì GDĐĐNN ngành cho sinh viên y sẽ đạt hiệu quả cao hơn Qua đó, tác giả cũng đã đề xuất cần có sự thống nhất giữa các trường về chương trình, tài
liệu, phương pháp dạy - học và lượng giá môn Đạo đức y học
Tác giả Phạm Bá Điền (2018), luận án tiến sĩ Triết học Xây dựng y đức
của học viên ở Học viện Quân y Việt Nam hiện nay [29], đã luận giải thực chất
những vấn đề có tính quy luật trong xây dựng y đức của học viên ở HVQY Qua đó tác giả chỉ ra rằng: “Y đức của học viên HVQY có đặc trưng là đang trong quá trình hình thành và phát triển hướng tới mô hình bác sĩ quân y Xây dựng y đức cho học viên là quá trình đi từ không đến có tri thức, phẩm chất, nhân cách và lan tỏa những giá trị y đức tương ứng với mô hình bác sĩ quân y tương lai” [29, tr.43] Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tác giả đưa ra những dự báo xu hướng cơ bản và yêu cầu xây dựng y đức của học viên HVQY hiện nay
Tác giả Nguyễn Ngọc Bích (2019), luận án tiến sĩ Khoa học Giáo dục
Giáo dục y đức trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng Y miền Tây Nam Bộ hiện nay [4], đã chỉ ra việc giáo dục y đức
cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng y có thể thực hiện ở nhiều nội dung, phương pháp, hình thức… nhưng trong đó môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt quan trọng Tác giả cho rằng: “Thông qua môn học này, sinh viên có cơ hội được tiếp cận đến những quan điểm, tư tưởng về y đức cũng như học tập được tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [4, tr.12] Trên cơ sở đánh giá thực trạng dạy học môn Tư tưởng
Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng y cho thấy vấn đề giáo dục y đức cho sinh viên chưa thực sự được coi trọng, chưa đạt được kết quả như mong muốn Từ đó tác giả đề xuất 04 biện pháp thực hiện giáo dục y đức trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó biện pháp “tổ chức các hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượng giáo dục y đức trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng Y” được tiến hành với nhiều hoạt động phong phú, thiết thực, kích thích được tính tích cực trong hoạt động giáo dục, rèn luyện của sinh viên
Trang 30Tác giả Hoàng Thị Kim Oanh (2008), “Y đức và vấn đề nâng cao hiệu
quả giáo dục y đức cho sinh viên ngành y” [76] Bài báo khoa học đã phân
tích và chỉ ra vai trò của ĐĐNN thông qua sự trình bày và phân tích tư tưởng
về y đức của các danh y; của Chủ tịch Hồ Chí Minh; của Bộ y tế Đồng thời bài viết cũng trình bày và chỉ ra những mặt được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác GDĐĐNN trong các trường ngành y Tác giả cho rằng việc GDĐĐNN ngành y cho sinh viên không chỉ thực hiện qua môn giáo dục đạo đức mà còn có thể thông qua các môn học khác nhau trong đó phải kể đến các môn Lý luận chính trị, Tâm lý học Qua đó, tác giả đưa ra đề xuất: “Bộ Y tế nên tổ chức hội thảo khoa học về y đức thường niên để giáo viên giảng dạy môn ĐĐNN trong các trường trong ngành y gặp gỡ và trao đổi thông tin” [76, tr.77], nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐNN ngành y cho sinh viên
Đồng tác giả Nguyễn Thị Ái Liên, Vũ Xuân Bảo, Đỗ Như Long (2013), “Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục y đức cho học sinh,
sinh viên ở các cơ sở đào tạo y tế” [58] Bài báo khoa học đã chỉ ra nhiệm vụ
của các cơ sở đào tạo y tế là đào tạo ra những cán bộ y tế vừa có đức, vừa có
tài, “Một người thầy thuốc có y đức tốt trước hết phải có đạo đức tốt” [58, tr.60] Do vậy, GDĐĐNN cho học viên, sinh viên ở các cơ sở đào tạo y tế là
vấn đề cần được quan tâm sâu sắc thể hiện qua các biện pháp quản lý công tác này Trong đó các tác giả đặc biệt chú trọng và nhấn mạnh biện pháp phối hợp chặt chẽ với các cơ sở thực tập trong rèn luyện tay nghề, hình thành
và rèn luyện ĐĐNN cho học sinh, sinh viên
Các tác giả Nguyễn Lương Bằng, Trần Hạnh (2014), bài báo khoa học
“Giáo dục y đức cho sinh viên trường Cao đẳng y tế Đồng Nai thông qua
hoạt động và phong trào tình nguyện” [3] Trên cơ sở phân tích các giá trị
đạo đức truyền thống trong ĐĐNN ngành y, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu việc GDĐĐNN cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai thông qua những hoạt động thực tiễn và phong trào tình nguyện Để GDĐĐNN được tốt, nhà trường đã tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động từ thiện, ủng
hộ cùng với cán bộ, giáo viên; sinh viên tình nguyện tham gia tích cực cho công tác chăm sóc, tập vật lý trị liệu tại trung tâm trại trẻ mồ côi và khuyết tật mỗi tuần vào thứ bảy và chủ nhật Trong các hoạt động phong trào, để
Trang 31phát huy vai trò của sinh viên, theo các tác giả: “Cần nắm bắt tốt đặc trưng, một số ưu thế của từng ngành học trong trường để phát huy mặt tích cực trong các chuyên ngành đào tạo, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động cũng
như rèn luyện về đạo đức, ĐĐNN cho sinh viên” [3, tr.63] Những hoạt động
xã hội, từ thiện sẽ giúp cho mỗi sinh viên nhà trường rèn luyện ĐĐNN trong sáng
Tác giả Hà Thị Len (2016), bài báo khoa học “Tầm quan trọng và một
số nội dung y đức cơ bản cần giáo dục cho sinh viên ngành y ở Việt Nam
hiện nay” [57] Qua đánh giá tầm quan trọng của giáo dục y đức cho sinh
viên ngành Y ở Việt Nam hiện nay, tác giả cho rằng: “Giáo dục y đức góp phần khắc phục quan điểm đạo đức lạc hậu, ngăn chặn sự xuống cấp về mặt
y đức trong một bộ phận sinh viên ngành Y” [57, tr.11] Trên cơ sở đó tác giả đi sâu luận giải một số nội dung cơ bản cần giáo dục cho sinh viên ngành
Y hiện nay như: giáo dục sự cảm thông với bệnh nhân; giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật; giáo dục ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết; giáo dục tinh thần tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã c ng bố
1.2.1.1 Khái quát những công trình nghiên cứu về đạo đức nghề
nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y
Một là, những nghiên cứu về ĐĐNN ngành y
Các kết quả nghiên cứu đã có những quan niệm về nghề y và người thầy thuốc; khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của ĐĐNN ngành y; đề cao phẩm chất, năng lực, y thuật, phẩm giá của người thầy thuốc Cùng với
đó, người thầy thuốc phải luôn giữ vững hình ảnh trong sáng của mình, phải
có tâm với nghề và luôn luôn cống hiến vì sự phát triển của con người, cộng đồng và xã hội Xã hội coi trọng ngành y bao nhiêu thì người thầy thuốc càng phải tận tụy, cố gắng bấy nhiêu Do đó việc rèn luyện ĐĐNN ngành y phải là việc làm thường xuyên, không ngừng nghỉ
Trang 32Những nghiên cứu về ĐĐNN cho dù là phương Đông hay phương Tây,
cổ đại hay hiện đại thì việc chăm sóc người bệnh là mối quan tâm hàng đầu của người thầy thuốc Người thầy thuốc lấy việc chữa bệnh cứu người không phải vì trách nhiệm, mà còn vì lương tâm nghề nghiệp, vì lòng thương cảm đối với bệnh nhân Đạo đức nghề nghiệp còn là sự thiện tâm, thiện chí, cảm thông, đối xử công bằng, giúp đỡ bệnh nhân vượt qua bệnh tật Ngoài việc hoàn thiện về ĐĐNN, người thầy thuốc còn phải không ngừng nâng cao y lý,
y thuật để trị bệnh cứu người, hoàn thành nhiệm vụ của mình
Hai là, những nghiên cứu về GDĐĐNN ngành y
Qua tổng quan một số công trình khoa học trên cho thấy những vấn đề liên quan đến GDĐĐNN người thầy thuốc đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các công trình đã đề cập làm sáng tỏ ở các góc độ khác nhau của ĐĐNN trong đời sống xã hội nói chung, của người thầy thuốc nói riêng
Giáo dục ĐĐNN về mặt nội dung ở mỗi quốc gia chưa có sự thống nhất xong tựu chung lại đều tuân theo các nguyên lý, chuẩn mực của đạo đức xã hội Tùy theo mỗi quốc gia, dân tộc, tín ngưỡng mà GDĐĐNN có những biểu hiện khác nhau, phong phú, đa dạng Tất cả đều hướng đến con người, sức khỏe và tính mạng của con người luôn được đặt lên hàng đầu
Bên cạnh đó, các công trình đã chỉ ra những hạn chế trong GDĐĐNN ngành y hiện nay như: chậm thay thế những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước thành những quy định cụ thể, kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, nghiêm túc; các hiện tượng vi phạm quy định hành nghề, vi phạm ĐĐNN chưa có những biện pháp xử lý nghiêm minh đủ sức răn đe; công tác GDĐĐNN ngành y trong nhiều trường và bệnh viện còn bất cập; các phong trào hoạt động vì cộng đồng, trong một số trường hợp chưa đi vào thực chất Điều đó dẫn đến sự xuống cấp ĐĐNN ở một bộ phận không nhỏ thầy thuốc Tuy nhiên, số công trình đề cập đến GDĐĐNN ngành y còn quá ít so với thực tế biến đổi của xã hội hiện nay
1.2.1.2 Khái quát những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y cho học viên, sinh viên
Tuy còn nhiều tranh luận, nhưng tất cả các bài viết đều thống nhất ở một
số điểm chung, rằng: ĐĐNN ngành y là một nội dung quan trọng, cần được
Trang 33giáo dục trong chương trình chính khóa cho học viên, sinh viên Giáo dục ĐĐNN ngành y cần kết hợp dạy về kiến thức cũng như về kỹ năng và thái độ
Giáo dục ĐĐNN giúp học viên, sinh viên nhận thức và hiểu biết về tầm quan trọng của ĐĐNN trong thực hành y học, và biết cách làm thế nào để đưa ra quyết định đối với các vấn đề đạo đức trong lâm sàng và nghiên cứu khoa học Qua nghiên cứu, các tác giả cũng đánh giá những hạn chế trong GDĐĐNN ngành y như: nội dung giáo dục ít nhiều mang tính chung chung, chưa gắn kết chặt chẽ với các nhiệm vụ, các hoạt động cụ thể của người thầy thuốc, của học viên, sinh viên; các hình thức giáo dục còn đơn điệu, chưa phong phú; công tác giáo dục chưa được thực hiện thường xuyên; một số đơn vị, một số bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến GDĐĐNN ngành y cho học viên, sinh viên; những biện pháp kỷ luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật và ĐĐNN chưa được thực hiện nghiêm túc Những công trình nghiên cứu trên về cơ bản từ góc độ của những nhà quản lý, nhìn nhận GDĐĐNN ngành y như là một bộ phận của công tác phát triển nhân lực Vì thế, sự đánh giá thực trạng và việc đề xuất giải pháp được thực hiện ở tầm vĩ
mô, thiếu tính thiết thực và khả thi
Giáo dục ĐĐNN ngành y cho học viên, sinh viên là nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành y và cũng là đáp ứng yêu cầu của xã hội Các tác giả đã chỉ ra rằng, với việc chuyển sang KTTT và phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng gia tăng
và đa dạng, học viên, sinh viên ngành y phải có một sự phát triển tương ứng
về chuyên môn và ĐĐNN mới có thể thực hiện được sứ mệnh bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong điều kiện mới Bên cạnh đó, những tác động từ mặt trái của KTTT đang làm xuống cấp ĐĐNN ngành y ở một
bộ phận học viên, sinh viên Giáo dục ĐĐNN ngành y cho học viên, sinh viên là góp phần khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức ở người thầy thuốc tương lai Vì vậy, trong những công trình nghiên cứu về ĐĐNN và GDĐĐNN ngành y được đề cập ở trên, vấn đề GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT chưa được nghiên cứu chuyên sâu như một vấn đề có tính độc lập nhất định
1.2.2 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Trang 34Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án đòi hỏi phải xây dụng khung lý luận của đề tài như: xây dựng và làm rõ một số khái niệm, cấu trúc, hệ thống chuẩn mực ĐĐNN ngành Quân y, làm rõ đặc điểm học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y Xây dựng khái niệm trung tâm GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT, khái quát nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐNN đồng thời chỉ
ra các yếu tố tác động tới GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT
Đề tài cần xây dựng cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu thông qua khảo sát, phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng, nguyên nhân của ĐĐNN và GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT làm căn cứ cho đề xuất các biện pháp GDĐĐNN cho học viên có chất lượng
Nghiên cứu đề xuất những biện pháp GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y nhằm nâng cao chất lượng của GDĐĐNN cho học viên một cách hệ thống và toàn diện hơn
Kiểm chứng kết quả nghiên cứu thông qua thực nghiệm sư phạm một số biện pháp GDĐĐNN cho học viên các trường CĐ, ĐH ngành Quân y trong bối cảnh KTTT đã được đề xuất để bước đầu khẳng định tính đúng đắng, tính khả thi của các biện pháp được đề xuất trong thực tiễn GDĐĐNN cho học viên
Trang 35Kết luận chương 1
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến ĐĐNN và GDĐĐNN ngành y của các tác giả trên thế giới và các tác giả trong nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với đề tài luận án đã chọn
Thông qua tổng quan, cho thấy có nhiều công trình của các tác giả đi sâu nghiên cứu về ĐĐNN và GDĐĐNN ngành y ở nhiều góc độ tiếp cận, phạm vi khác nhau trên các mặt, cả lý luận và thực tiễn Trên nhiều phương diện, các tác giả đều đánh giá cao vai trò của ĐĐNN và tầm quan trọng của GDĐĐNN ngành y đối với hoạt động của người thầy thuốc nói chung, học viên, sinh viên nói riêng Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ rõ tính khó khăn phức tạp của ngành y, sự tác động của các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là KTTT đối với ngành y, đồng thời đã đưa ra nhiều biện pháp để giáo dục, rèn luyện ĐĐNN
ngành y cho học viên, sinh viên
Tuy nhiên, các nghiên cứu về GDĐĐNN ngành y cho đối tượng cụ thể, đối tượng học viên, sinh viên đang theo học nghề y với thiên chức cao cả người thầy thuốc quân đội nói riêng chưa nhiều, chưa hệ thống Do đó,
nghiên cứu Luận án: “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên các
trường cao đẳng, đại học ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường”
là vấn đề vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn với tư cách là đề tài độc lập mà trước đó chưa có công trình nghiên cứu trùng với tên đề tài này
Chương 2
Trang 36CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NGÀNH QUÂN Y
TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 2.1 Những vấn đề lý luận về đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y trong bối cảnh kinh tế thị trường
2.1.1 Khái niệm đạo đức và đạo đức nghề nghiệp
2.1.1.1 Đạo đức
Đạo đức là một vấn đề dành được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học và của nhiều nhà khoa học Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học lại đề cập đến đạo đức ở những khía cạnh với những phạm vi nội dung khác nhau
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Đạo đức là một trong những hình
thái sớm nhất của xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành
vi con người trong quan hệ với toàn xã hội” 97, tr.738 - 739
Theo Từ điển Tâm lý học, “Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của cá nhân hay
nhóm, biểu hiện ở hành vi phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực xã hội” 16, tr.153
Dưới góc độ Giáo dục học, tác giả Phạm Viết Vượng đưa ra định nghĩa:
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người.” 107, tr.300] Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng: “Đạo đức là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống nhân loại, đạo đức định hướng giá trị cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội.” 77, tr.41]
Có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức, nhưng tựu chung lại, có thể
hiểu: Đạo đức là những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, là thành phần cơ
bản của nhân cách đã được xã hội hóa, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong tập thể dựa trên sức mạnh của dư luận xã hội, của tập quán truyền thống
Đạo đức là bộ phận hợp thành và quan trọng nhất của nhân cách, là một thuộc tính chủ yếu của nhân cách, phản ánh bộ mặt xã hội, giá trị xã hội của cá nhân
Đạo đức còn thể hiện ở thái độ và hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện, lao động, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội của cá nhân
Trang 37Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người, người
có đạo đức là người tự giác thực hiện những quy định của pháp luật, của cộng đồng, thực hiện có hiệu quả, có chất lượng cao những nhiệm vụ của bản thân trong học tập, lao động, hoạt động xã hội ở gia đình, ở trong cộng đồng
2.1.1.2 Đạo đức nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một thuật ngữ dùng để chỉ một hình thức lao động trong
xã hội theo sự phân công lao động mà con người sử dụng lao động của mình để tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần đóng góp cho xã hội Theo từ điển Tiếng Việt, “Nghề nghiệp là một công việc mà người ta thực hiện trong suốt cả cuộc đời” [78, tr.698] Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn tôn vinh con người làm việc trong lĩnh vực đó Việc lựa chọn nghề nghiệp là một vấn đề
có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cá nhân mà đối với cả xã hội, đây không chỉ đơn thuần là một công việc để nuôi sống bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội, mà đó là sự lựa chọn một cách sống, lối sống cho tương lai
Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện với tên gọi là Déontologic (Déon: bổn phận, cần phải làm, logos: học thuyết) do nhà Triết học người Anh Bentham
sử dụng có nghĩa là: nghĩa vụ luận, ĐĐNN Đạo đức nghề nghiệp là đạo đức của người lao động trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể, do mục đích, đối tượng phục vụ, các đặc điểm của nghề quy định Đạo đức nghề nghiệp là một
bộ phận quan trọng của đạo đức xã hội, góp phần tạo nên một xã hội văn minh, công bằng và trung thực
Do tính đặc thù của hoạt động nghề nghiệp mà xã hội có những yêu cầu về nghề nghiệp cũng như về đạo đức đối với từng loại hoạt động nghề nghiệp nhất định Những yêu cầu, những chuẩn mực ĐĐNN một mặt, là sự phản ánh những đòi hỏi của xã hội, mặt khác, lại là động lực tinh thần để con người hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình Vì thế, từ lâu, ĐĐNN dưới những hình thức, những mức độ nhất định, đã hình thành như là một lĩnh vực đặc thù của đạo đức xã hội Đúng như Ph.Ăngghen từng viết: “Trong thực tế, mỗi giai cấp, và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [64,
Trang 38tr.425]
Từ sự phân tích trên có thể khái quát: Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống
phẩm chất, giá trị đạo đức xã hội phù hợp với đặc điểm của mỗi loại nghề nghiệp, phản ánh bộ mặt nhân cách của con người, là động lực phát triển nhân cách, phát triển năng lực nghề nghiệp và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp, hoạt động xã hội của mỗi người
Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội phản ánh những nét chung về yêu cầu, giá trị tinh thần của nghề Với tính cách là một dạng của đạo đức xã hội, ĐĐNN có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá nhân và thể hiện thông qua đạo đức cá nhân Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội đều có nét chung, nhưng đạo đức trong lĩnh vực nghề nghiệp có những đặc thù và yêu cầu riêng biệt
Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ chặt chẽ với năng lực nghề nghiệp Đạo đức và năng lực nghề nghiệp thống nhất với nhau, biểu hiện thông qua nhau, tạo nên nhân cách của từng cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ với lòng yêu nghề, say mê với công việc Lòng yêu nghề làm cho mỗi cá nhân dồn hết tâm trí hành nghề, sáng tạo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
2.1.2 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y
Đạo đức nghề nghiệp ngành y (hay còn gọi là y đức) là một trong những lĩnh vực ĐĐNN được hình thành sớm trong lịch sử nhân loại Điều đó được quy định bởi hai nhân tố cơ bản: Có con người là có vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là vấn đề có tính chuyên biệt cao
Từ những cách nhìn nhận và quan điểm của các danh y trong lịch sử đến
tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức, có thể thấy, y đức là một phương diện hữu cơ gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của người thầy thuốc Người thầy thuốc chân chính là người biết ra sức học tập và rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, toàn tâm, toàn lực thực hiện sứ mệnh cao quý là trị bệnh cứu người
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, nên quan niệm về y đức ở nhiều người còn có những điểm khác biệt nhất định Từ góc độ ứng xử đạo đức, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà cho rằng: “Y đức trước hết là lối ứng xử của
Trang 39người thầy thuốc trong mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ của cuộc sống và trong mọi hoàn cảnh, thể hiện trên các mặt trách nhiệm, thái độ và tấm lòng” [38, tr.11-12] Từ góc độ hành vi đạo đức, tác giả Đỗ Nguyên Phương quan niệm: “Y đức là những tiêu chuẩn, quy tắc của đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi xử sự và quan hệ của thầy thuốc với bệnh
nhân cũng như đối với đồng nghiệp” [80, tr.251]
Từ góc độ giá trị đạo đức, tác giả Lê Ngọc Trọng cho rằng: “Y đức là hệ thống những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận, nhằm đảm bảo cho người hành nghề y phục vụ sức khoẻ nhân dân được tốt nhất” [96, tr.59] Xem xét những quan niệm trên cho thấy, tuy về mặt hình thức có sự khác biệt trong luận giải, song về mặt nội dung đều có những điểm chung thống nhất, cùng nói lên được các dấu hiệu bản chất nhất của ĐĐNN ngành
y như: tinh thần và thái độ phục vụ; hành vi đối xử; bổn phận của người thầy thuốc đối với bệnh nhân và những quy tắc xử sự của người thầy thuốc trong các mối quan hệ xã hội
Xuất phát từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Đạo đức nghề nghiệp
ngành y là tổng hòa những phẩm chất, những chuẩn mực mà xã hội, nghề nghiệp đòi hỏi ở những người làm nghề y được hình thành tự giác và tích cực trong hoạt động nghề nghiệp của mình
Trong lĩnh vực quân sự, ĐĐNN ngành Quân y là tổng hoà các phẩm
chất đạo đức của người thầy thuốc và phẩm chất của người quân nhân cách mạng biểu hiện ở thái độ, hành vi của người thầy thuốc phù hợp với yêu cầu của ngành Quân y, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong hoạt động y học quân sự
Đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y vừa mang phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc nói chung, vừa phải có những phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc Quân y, người quân nhân cách mạng Do vậy, ngoài những phẩm chất đạo đức chung của người cách mạng, người thầy thuốc, ở họ còn có những phẩm chất đạo đức của ngành Quân y
Đặc điểm nổi bật trong hoạt động nghề nghiệp của y, bác sĩ, nhân viên y
tế trong quân đội: “Đối tượng phục vụ của họ là thương binh, bệnh binh và những người bệnh Bệnh tật của con người không phải thuần tuý là sự biến đổi
Trang 40về sức khoẻ, sinh lý của cơ thể mà còn bao gồm cả những biến đổi về sức khoẻ tâm lý, tinh thần” [55, tr.12] Do vậy, y, bác sĩ, nhân viên y tế trong quân đội bên cạnh những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, đạo đức người thầy thuốc còn
có phẩm chất đạo đức người quân nhân, phẩm chất ĐĐNN mang tính đặc thù của hoạt động y học quân sự, đó là:
Thứ nhất, hết lòng hết sức cứu chữa, phục vụ thương, bệnh binh và
người bệnh, thực hiện tốt mô hình “Quân dân y kết hợp”
Thứ hai, chịu trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho quân nhân,
cho đơn vị: luôn luôn bảo đảm sức khỏe cho bộ đội, đảm bảo quân số khỏe, sức chiến đấu cho toàn đơn vị
Thứ ba, hoạt động nghề nghiệp quân y diễn ra trong điều kiện thường
xuyên sẵn sàng chiến đấu Đây là đặc điểm nổi bật, là một trong những nhiệm
vụ cơ bản hàng đầu, là trạng thái hoạt động thường xuyên ở mỗi đơn vị Do đó, đòi hỏi người y, bác sĩ, nhân viên quân y không chỉ có sức khỏe, chuyên môn tốt mà còn phải có sự nỗ lực cao về ý chí để vượt qua những khó khăn, trở ngại
Thứ tư, chấp hành nghiêm kỷ luật, sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở những nơi
khó khăn (vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo), tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc theo sự phân công của ngành Quân y, của quân đội
Thứ năm, giữ vững phẩm chất của người quân nhân cách mạng, chấp hành
nghiêm điều lệnh, điều lệ quân đội
2.1.3 Cấu trúc, hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y
2.1.3.1 Cấu trúc đạo đức nghề nghiệp ngành Quân y
Cấu trúc ĐĐNN ngành Quân y có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi cách tiếp cận cho phép chúng ta nhìn ra một cấu trúc ĐĐNN xác định Ở đây luận án tiếp cận vấn đề theo góc độ ĐĐNN là một bộ phận hợp thành của nhân cách Chính cách tiếp cận này cho phép lý giải vì sao lại coi ĐĐNN là tổng hòa các phẩm chất chứ không phải chỉ là một hiện tượng xã hội Theo đó cấu trúc ĐĐNN ngành Quân y bao gồm: ý thức ĐĐNN ngành Quân y, thái độ ĐĐNN ngành Quân y và hành vi ĐĐNN ngành Quân y
Ý thức ĐĐNN ngành Quân y: là một trong ba bộ phận cơ bản hợp
thành ĐĐNN, là hệ thống các quan niệm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, lý