Luật Đất đai 2013 Chương II còn quy định cụ thể về 08 quyền của Nhà nước đại diện chủ sở hữu về đất đai như:quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, quyết định mục đích
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KIỂM SOÁT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
HUẾ - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KIỂM SOÁT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, tài liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng
để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Bình
Trang 4- UBND quận Hải Châu, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Hải Châu; Văn phòng Đăng ký Đất đai Hải Châu; Các phòng, ban và UBND các phường của quận Hải Châu
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cá nhân, tập thể, cơ quan nêu trên và các đồng nghiệp đã giúp đỡ, khích lệ và tạo những điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Bình
Trang 5Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá việc thực hiện các quyền
sử dụng đất trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng”.Nhằm đánh giá tình
hình thực hiện các QSDĐtừ đó đề xuất giải pháp đảm bảo việc thực hiện các
QSDĐcủa người sử dụng đất tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.Thực hiện đề tài
tôi đã sử dụng các phương pháp sau:Điều tra thu thập số liệu; Sử dụng bản đồ để minh
họa và Xử lý thống kê
* Đánh giá tình hình thực hiện các quyền chung Được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:Nhìn chung, việc cấp GCNQSDĐ trên địa bàn quận Hải Châu cho tất cả
các loại đất cơ bản hoàn thành, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý hồ sơ địa
chính
Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:Trong công tác bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư, quận Hải Châu đã thực hiện công khai, dân chủ, minh bạch trên cơ
sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước và lợi ích chính đáng của người dân
Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm QSDĐhợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai:Để giải quyết có hiệu
quả khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai, các cơ quan chức năng cần
phải tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp
* Đánh giá tình hình thực hiện các quyền giao dịch QSDĐ
Qua quá trình khảo sát tại quận Hải Châu, các giao dịch đất đai chỉ xảy ra ở các nội dung: quyền chuyển nhượng QSDĐ, quyền thừa kế, tặng cho QSDĐ, quyền thế chấp, bảo
lãnh bằng QSDĐ Những hoạt động như quyền chuyển đổi QSDĐ,quyền cho thuê, cho
thuê lại QSDĐ chưa được thể hiện trong công tác quản lý
Tình hình thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất:Qua điều tra
khảo sát một số người dân, đa số đề nghị thay vì công chứng, chứng thực hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ tại Văn phòng Công chứng thì việc này nên giao trách nhiệm
cho VPĐK đất đai đảm nhiệm
Tình hình thực hiện quyền thừa kế, tặng cho QSDĐ: Do tính chất pháp lý
đặc thù của loại tài sản này khi xem xét về thừa kế QSDĐ phải kết hợp vận dụng các
quy định của Luật Đất đai và Luật Dân sự để việc giải quyết
Trang 6Tình hình thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh bằng QSDĐ: Đa số người sử
dụng đất nhận thức được tầm quan trọng của việc thế chấp QSDĐ Điều này phản ánh
xu thế hiện nay, người sử dụng đất thiếu vốn, cần vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC vii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1
3.1 Ý nghĩa khoa học 1
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quyền sử dụng đất 3
1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 8
1.1.3 Quyền sở hữu, sử dụng đất ở một số nước trên thế giới 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển quyền sử dụng đất ở Việt Nam 19
1.2.2 Những đổi mới cơ bản của Luật Đất đai 2013 so với Luật Đất đai 2003 22
1.2.3 Thực tiễn việc thực hiện quyền sử dụng đất ở Việt Nam 27
1.3 Những nghiên cứu có liên quan 30
1.3.1 Mô hình Văn Phòng Đăng ký quyền sử dụng đất so với mô hình hai cấp…… 30
1.3.2 Đánh giá tình hình đăng ký đất đai và việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ……… 31
1.3.3 Đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất khi tham gia thị trường bất động sản tại thành phố Đà Nẵng ……… 34
1.3.4 Đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình ……… 35
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG 38
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đối tượng nghiên cứu 38
2.2 Phạm vi, thời gian nghiên cứu của đề tài 38
2.3 Nội dung nghiên cứu 38
Trang 82.4 Phương pháp nghiên cứu 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
3.1.3 Nhận xét, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 49
3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai tại quận Hải Châu 50
3.2.1 Công tác quản lý nhà nước về đất đai 50
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai 58
3.3 Đánh giá tình hình thực hiện các quyền chung 66
3.3.1 Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 66
3.3.2 Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật 2013 68
3.3.3 Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai 69
3.4 Đánh giá tình hình thực hiện các quyền giao dịch QSDĐ 73
3.4.1 Tình hình thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất 74
3.4.2 Tình hình thực hiện quyền thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất 75
3.4.3 Tình hình thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất 76
3.4.4 Tình hình thực hiện quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất 77
3.4.5 Tình hình thực hiện quyền cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất 77
3.5 Đề xuất các giải pháp cho việc thực hiện các quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Hải Châu 77
3.4.1 Giải pháp về đầu tư cho con người và cơ sở vật chất 78
3.4.2 Giải pháp về tổ chức quản lý hoạt động thực hiện các quyền sử dụng đất 79
3.4.3 Giải pháp về chính sách 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận……… 80
2 Kiến nghị……….80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Vị trí hành chính quận Hải Châu 40
Hình 3.2: Phương án Quy hoạch tổng thể quận Hải Châu đến năm 2020 52
Hình 3.3: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn quận Hải Châu năm 2014 61
Hình 3.4: Đơn kiếu nại trong lĩnh vực đất đai so với các lĩnh vực khác 71
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Tình hình dân số quận Hải Châu 44
Bảng 3.2: Diện tích sử dụng đất quận Hải Châu 59
Bảng 3.3: Diện tích đất năm 2014 so với năm 2010 65
Bảng 3.4: Kết quả Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2010 - 2015 67
Bảng 3.5: Kết quả thu hồi đất trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn 2009-2015 69
Bảng 3.6: Tổng hợp số đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tại quận Hải Châu 70
Bảng 3.7: Kết quả Chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ năm 2010 - 2014 74
Bảng 3.8: Tình hình thế chấp quyền sử dụng đất giai đoạn 2010-2014 76
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đất nước ta
đang trong quá trình hội nhập và phát triển, đất đai có vai trò đặt biệt quan trọng và to
lớn Nhận thức được tầm quan trọng đó Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến
công tác quản lý nhà nước về đất đai Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước
được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các
quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm
Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất còn nhiều hạn chế, bởi lẽ công tác tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai và các
chính sách, pháp luật có liên quan chưa nghiêm, nhận thức của người dân chưa đầy đủ
Trong bối cảnh chung đó, quận Hải Châu - Quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, là nơi tập trung chủ yếu các cơ quan ban ngành, là trung tâm kinh tế, văn hóa,
chính trị và giáo dục của thành phố Đà Nẵng Do đó việc thực hiện các quyền sử dụng
đất trên địa bàn quận khá nghiêm túc, minh bạch mang lại hiệu quả cao trong công tác
quản lý nhà nước về đất đại Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một số vấn đề bất cập
trong công tác thực hiện các quyền của người sử dụng đất như không kê khai cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng, thế chấp hay cho thuê không qua cơ
quan quản lý vẫn còn diễn ra dẫn đến tranh chấp, khiếu nại về đất đai
Vì vậy, nghiên cứu đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai của Nhà nước, đồng thời bảo vệ tốt hơn
quyền lợi của người sử dụng đất
Xuất phát từ thực tế trên, tôi xin chọn đề tài “Đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng”
Trang 123.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua việc đánh giá công tác thực hiện các quyền sử dụng đất tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác thực hiện
các quyền sử dụng đất nói riêng của quận Hải Châu; từ đó đề xuất các giải pháp khắc
phục những tồn tại, nâng cao hiệu quả việc thực hiện các quyền sử dụng đất
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quyền sử dụng đất
phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sở hữu tài sản (nhà vắng chủ)
- Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Chủ sở hữu được quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của mình
bằng những cách thức khác nhau Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử
dụng tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu giao quyền sử dụng, điều này thấy rõ
trong việc Nhà nước giao QSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
- Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Chủ sở hữu thực hiện quyền
định đoạt tài sản của mình theo hai phương thức:
+ Định đoạt số phận pháp lý của tài sản, tức là chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác thông qua các giao dịch dân sự như bán, đổi, tặng cho, để thừa kế;
+ Định đoạt số phận thực tế của tài sản, tức là làm cho tài sản không còn trong thực tế Ví dụ: tiêu dùng hết, tiêu huỷ, từ bỏ quyền sở hữu [5]
1.1.1.2 Quyền sở hữu toàn dân về đất đai
Ở Việt Nam, chế độ sở hữu về đất đai được được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn lịch sử nhất định, mang dấu ấn và chịu sự chi phối của những hình thái
kinh tế - xã hội nhất định trong lịch sử
Nghiên cứu quá trình hình thành chế độ và các hình thức sở hữu đất đai ở Việt Nam cho thấy, chế độ sở hữu công về đất đai ở Việt Nam đất đã được xác lập từ thời
phong kiến ở các hình thức và mức độ khác nhau Tuy nhiên, quyền sở hữu toàn dân
về đất đai chỉ được hình thành theo Hiến pháp 1959 và được khẳng định một cách
tuyệt đối và duy nhất từ Hiến pháp 1980 và sau đó được tiếp tục khẳng định và củng
cố trong Hiến pháp 1992 [18] Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đất đai, rừng
núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục
địa và vùng trời mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”,
Trang 14Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật (Điều 18, Hiến pháp
1992) [8] Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001) cũng đã thể chế
hóa chính sách đất đai của Đảng và cụ thể hoá các quy định về đất đai của Hiến pháp
Luật Đất đai (1993, 1998, 2001) quy định các nguyên tắc quản lý và sử dụng đất đai:
đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch,
pháp luật, sử dụng đất đai hợp lý hiệu quả và tiết kiệm, bảo vệ cải tạo bồi dưỡng đất,
bảo vệ môi trường để phát triển bền vững [8]
Luật Đất đai 2003 đã quy định cụ thể hơn về chế độ “Sở hữu đất đai” (Điều 5),
“Quản lý Nhà nước về đất đai” (Điều 6), “Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở
hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai” (Điều 7) Với tư
cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện việc thống nhất
quản lý về đất đai trong phạm vi cả nước nhằm bảo đảm cho đất đai được sử dụng theo
đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo lợi ích của Nhà nước cũng như của
người sử dụng Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sở hữu, đó là: quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
Tại chương I (Điều 4) Luật Đất đai 2013 đã quán triệt tư tưởng xuyên suốt, nhất quán về sở hữu đất đai trong Luật, phù hợp với Hiến pháp, đó là đất đai thuộc sở hữu
toàn do do Nhà nước là đại điện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
Luật Đất đai 2013 (Chương II) còn quy định cụ thể về 08 quyền của Nhà nước đại diện chủ sở hữu về đất đai như:quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử
dụng đất, quyết định mục đích sử dụng đất, quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử
dụng đất, quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất, quyết định giá đất, quyết định trao
quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, quyết định chính sách tài chính về đất đai,
quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (từ Điều 13 đến Điều 20); việc thực
hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai (Điều 21)[16]
Về quyền chiếm hữu về đất đai: Nhà nước các cấp chiếm hữu đất đai thuộc
phạm vi lãnh thổ của mình tuyệt đối và không điều kiện, không giới hạn Nhà nước
cho phép người sử dụng được quyền chiếm hữu trên những khu đất, thửa đất cụ thể với
thời gian có hạn chế, có thể là lâu dài nhưng không phải là vĩnh viễn, sự chiếm hữu
này chỉ là để sử dụng rất đúng mục đích, dưới các hình thức giao đất không thu tiền,
giao đất có thu tiền và cho thuê đất; trong những trường hợp cụ thể này, quyền sử dụng
đất của Nhà nước được trao cho người sử dụng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) trên
những thửa đất cụ thể QSDĐ của Nhà nước và QSDĐ cụ thể của người sử dụng tuy
có ý nghĩa khác nhau về cấp độ nhưng đều thống nhất trên từng thửa đất về mục đích
sử dụng và mức độ hưởng lợi Về nguyên tắc, Nhà nước điều tiết các nguồn thu từ đất
theo quy định của pháp luật để phục vụ cho nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế, xã
hội, đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, đồng thời đảm bảo cho người trực
tiếp sử dụng đất được hưởng lợi ích từ đất do chính mình đầu tư mang lại [5]
Trang 15Về quyền sử dụng đất đai: Nhà nước khai thác công dụng, hưởng hoa lợi từ tài
sản, tài nguyên đất đai; đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Nhà nước thực hiện
quyền sở hữu đất đai về mặt kinh tế Trong nền kinh tế còn nhiều thành phần, Nhà
nước không thể tự mình trực tiếp sử dụng toàn bộ đất đai mà phải tổ chức cho toàn xã
hội, trong đó có cả tổ chức của Nhà nước sử dụng đất vào mọi mục đích Như vậy,
QSDĐ lại được trích ra để giao về cho người sử dụng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân)
trên những thửa đất cụ thể; quyền sử dụng đất đai của Nhà nước trong trường hợp này
được thể hiện trong quy hoạch sử dụng đất, trong việc hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất do
đầu tư của Nhà nước mang lại [5]
Về quyền định đoạt đất đai: Quyền định đoạt của Nhà nước là cơ bản và tuyệt
đối, gắn liền với quyền quản lý về đất đai với các quyền năng: giao đất, cho thuê đất,
thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Việc định đoạt số phận pháp lý
của từng thửa đất cụ thể liên quan đến QSDĐ, thể hiện qua việc chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn QSDĐ; những quyền này là hạn chế theo
từng mục đích sử dụng, phương thức nhận đất và đối tượng nhận đất theo quy định cụ
thể của pháp luật [5]
1.1.1.3 Quyền sử dụng đất
Như vậy, Nhà nước là người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về đất đai theo
quy hoạch, kế hoạch và trên cơ sở những quy định của pháp luật Tuy nhiên, với các
quyền năng đó, cũng không được hiểu rằng Nhà nước có quyền sở hữu về đất đai mà
chỉ là đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu đó trên thực tế [14]
QSDĐ của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất bao gồm:
“Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ;
quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ; quyền được bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất” (Điều 106 Luật Đất đai 2003) [15] Đây không phải là quyền sở hữu
nhưng là một quyền năng khá rộng và so với quyền sở hữu thì không khác nhau là mấy
nếu xét trên phương diện thực tế sử dụng đất Mặt khác Nhà nước giao đất cho các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước chỉ thu hồi đất vì
những lý do đặc biệt, đáp ứng lợi ích quốc gia và công cộng, hết thời hạn giao đất
không có nghĩa là Nhà nước thu hồi đất mà Nhà nước sẽ tiếp tục giao đất cho người sử
dụng Trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước sẽ giao đất khác cho người sử
dụng hoặc sẽ “đền bù” (Luật Đất đai 1993), “bồi thường” (Luật Đất đai 2003) Như
vậy, trên thực tế người được giao quyền sử dụng các loại đất này thực hiện các quyền
chiếm hữu và sử dụng tương đối toàn diện, còn quyền định đoạt tuy có hạn chế trong
một số quyền năng cụ thể, song đó chỉ là trên phương diện lý thuyết xét trên góc độ
pháp lý, còn trên thực tế các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế
chấp QSDĐ cũng rất gần với khái niệm quyền định đoạt
Trang 16So với quy định của Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai năm 2013 quy định thu hẹp các trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu
tiền sử dụng đất và chuyển sang thuê đất Quy định này nhằm đảm bảo sự bình đẳng
hơn trong việc tiếp cận đất đai của các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa nhà đầu tư
trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, cụ thể:
+ Về giao đất không thu tiền sử dụng đất: Đáng chú ý là trường hợp các tổ chức
sự nghiệp công lập tự chủ về mặt tài chính không được thực hiện giao đất không thu
tiền sử dụng đất như Luật Đất đai năm 2003 mà phải chuyển sang thuê đất Đối chiếu
với quy định này thì các đơn vị sự nghiệp như của sở sẽ phải chuyển sang thuê đất, các
trường học, bệnh viện tự chủ về mặt tài chính… đều phải chuyển sang thuê đất
+ Về giao đất có thu tiền sử dụng đất: Trước đây các dự án sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của các tổ chức, hộ gia đình cá nhân trong nước được lựa chọn giao
đất có thu tiền sử dụng đất thì nay không còn được thực hiện phương thức này
Đối với các dự án nhà ở để bán, cho thuê, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất.Đồng thời bổ sung quy định tổ
chức kinh tế được Nhà nước giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa
địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng thì thuộc trường hợp giao đất
cả thời gian thuê
Như trên đã nêu, bổ sung quy định tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập
tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đều thuộc đối tượng được Nhà nước cho thuê đất để xây dựng công trình
sự nghiệp [16]
Luật Đất đai 2013 bổ sung quy định quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất (khoản 2 Điều 167).Trong đó nhóm người sử dụng
đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ
gia đình, cá nhân Trường hợp trong nhóm có thành viên là tổ chức kinh tế thì có
quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế
Trường hợp quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền
Trang 17sử dụng đất của mình thì phải thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định, làm thủ tục
cấp Giấy chứng nhận và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo
quy định Trường hợp không chia được theo phần thì ủy quyền cho người đại diện để
trừ trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao
dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản
Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài
sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động
kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên
Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật dân sự
Luật cũng quy định rõ việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn [16]
Sau đây là nội dung cụ thể của từng quyền:
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất là hành vi chuyển QSDĐ trong các trường
hợp: nông dân cùng một địa phương (cùng 1 xã, phường, thị trấn) đổi đất (nông
nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản) cho nhau để tổ
chức lại sản xuất, hợp thửa, chỉnh trang đồng ruộng, tiện canh tiện cư, giải toả xâm
phụ canh hoặc khắc phục sự manh mún khi phân phối đất đai công bằng theo kiểu “có
tốt, có xấu, có gần, có xa”; những người có đất ở trong cùng một địa phương (cùng 1
xã, phường, thị trấn) có cùng nguyện vọng thay đổi chỗ ở Việc chuyển đổi QSDĐ là
không có mục đích thương mại [5] [21]
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hành vi chuyển QSDĐ, trong trường
hợp người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không có khả
năng sử dụng hoặc để thực hiện quy hoạch sử dụng đất mà pháp luật cho phép,
Trong trường hợp này, người nhận đất phải trả cho người chuyển QSDĐ một khoản
tiền tương ứng với mọi chi phí họ phải bỏ ra để có được quyền sử dụng đó và số đầu tư
làm tăng giá trị đất đai Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ: đất đai vẫn
thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới hạn của thời gian
Trang 18giao đất; Nhà nước có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua việc thu thuế
chuyển QSDĐ, thuế sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà nước có thể quy định một số
trường hợp không được chuyển QSDĐ; mọi cuộc chuyển nhượng QSDĐ đều phải
đăng ký biến động về đất đai, nếu không, sẽ bị xem là hành vi phạm pháp.[5] [21]
- Cho, tặng, thừa kế quyền sử dụng đất là hành vi chuyển QSDĐ trong tình
huống đặc biệt, người nhận QSDĐ không phải trả tiền nhưng có thể phải nộp thuế Do
nhu cầu của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, việc chuyển
QSDĐ không chỉ dừng lại trong quan hệ dân sự mà có thể phát triển thành các quan hệ
thương mại, dịch vụ; giá trị chuyển nhượng QSDĐ chiếm một tỉ trọng rất có ý nghĩa
trong các giao dịch trên thị trường bất động sản.[5] [21]
- Thế chấp quyền sử dụng đất là một hình thức chuyển QSDĐ (không đầy đủ)
trong quan hệ tín dụng Người làm thế chấp vay nợ, lấy đất đai làm vật thế chấp để thi
hành trách nhiệm vay nợ với người cho vay; đất đai dùng làm vật thế chấp không được
chuyển dịch vẫn do người thế chấp chiếm hữu sử dụng và dùng nó đảm bảo có một giá
trị nhất định; khi người thế chấp đến kỳ không thể trả nợ được, người nhận thế chấp có
quyền đem đất đai phát mại và ưu tiên thanh toán để thu hồi vốn Thế chấp đất đai là
cơ sở của thế chấp tài sản trong thị trường bất động sản, trong thế chấp bất động sản
thì phần lớn giá trị là nằm trong giá trị QSDĐ Trong trường hợp người vay tiền không
có QSDĐ để thế chấp thì có thể dùng phương thức bảo lãnh để huy động vốn, đó là
dựa vào một cá nhân hay tổ chức cam kết dùng QSDĐ của họ để chịu trách nhiệm thay
cho khoản vay của mình.[5] [21]
- Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đấtlà hành vi mà người có QSDĐ có
thể dùng đất đai làm cổ phần để tham gia kinh doanh, sản xuất, xây dựng xí nghiệp
Phương thức góp vốn bằng QSDĐ là cách phát huy tiềm năng đất đai trong việc điều
chỉnh cơ cấu kinh tế địa phương trong các trường hợp phải chuyển hàng loạt đất nông
nghiệp thành đất phi nông nghiệp, phát triển xí nghiệp, dịch vụ, thương mại, mà vẫn
đảm bảo được việc làm và thu nhập cho nông dân - là một trong những lựa chọn phù
hợp với con đường hiện đại hóa và công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn.[5] [21]
1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 1.1.2.1.Cơ sở pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Theo quan niệm về sở hữu tài sản truyền thống trong dân luật được các nước Châu Âu lục địa thừa nhận, quyền sở hữu bao gồm 3 nhóm quyền năng: Nhóm quyền
chiếm hữu, nhóm quyền sử dụng và nhóm quyền định đoạt Như vậy nhóm quyền sử
dụng chỉ là một trong những quyền năng của chủ sở hữu tài sản Ở Việt Nam, do tính
chất đặc thù của chế độ sở hữu đất đai: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại
diện chủ sở hữu song trên thực tế Nhà nước lại không chiếm hữu, sử dụng đất đai mà
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng của tổ chức, hộ gia
Trang 19đình, cá nhân (sau đây gọi chung là người sử dụng đất) sử dụng ổn định lâu dài Người
sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất Lý luận về
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta hình thành và phát triển dựa trên
quan điểm xác định quyền lợi của người lao động là động lực trực tiếp phát triển xã
hội của Đảng trong lĩnh vực đất đai; theo đó, hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự
chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn
định lâu dài và được chuyển QSDĐ Việc công nhận quyền sở hữu tài sản quyền sử
dụng đất của người lao động đã đưa lại hiệu quả kinh tế rõ rệt: nước ta từ chỗ là nước
thiếu lương thực đã tự túc được vấn đề lương thực và trở thành nước xuất khẩu gạo lớn
thứ 2 trên thế giới Như vậy, quyền sử dụng đất phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu toàn
dân về đất đai thông qua việc Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu giao đất, cho
thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng ổn định Tuy nhiên,
quyền sử dụng đất lại tách khỏi quyền sở hữu đất đai và trở thành một loại quyền có
tính độc lập tương đối [23]
1.1.2.2 Mối quan hệ giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất
Mối quan hệ giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất được biểu hiện
trên các khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta
nên quyền sử dụng đất được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai
Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài Tuy nhiên, do pháp luật cho phép người sử
dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất (bao gồm các quyền năng: quyền chuyển đổi,
quyền tặng cho, quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền
thừa kế quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, quyền bảo lãnh và quyền góp vốn bằng
quyền sử dụng đất) nên quyền sử dụng đất tách khỏi quyền sở hữu đất đai và trở thành
một loại quyền tương đối độc lập so với quyền sở hữu;
Thứ hai, mặc dù, quyền sử dụng đất được tham gia vào các giao dịch chuyển
nhượng trên thị trường song giữa quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử dụng
đất vẫn có sự khác nhau và chúng ta không thể đồng nhất giữa hai loại quyền này; bởi
lẽ, giữa chúng có sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa, cụ thể:
- Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước) còn quyền sử dụng đất đai là quyền phát sinh (có sau) xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho
phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất;
- Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ còn quyền sử dụng đất đai là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ;
Trang 20Tính không trọn vẹn, không đầy đủ của quyền sử dụng đất thể hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, người sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như Nhà nước với
tính cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai;
Hai là, không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp cũng có
quyền chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, cho thuê lại, thế chấp,
bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đai;
Điều 174 Luật Đất đai 2013 quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả
thời gian thuê được quy định theo hướng bỏ quy định về bảo lãnh bằng quyền sử dụng
đất, mở rộng mục đích của việc thế chấp quyền sử dụng đất không chỉ để vay vốn sản
xuất kinh doanh như quy định hiện hành; bổ sung quy định về quyền của tổ chức sự
nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê mà tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; quyền của tổ
chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng được miễn, giảm tiền sử dụng đất,
tiền thuê đất (khoản 4)
Hơn nữa, không phải đối với bất cứ đối tượng sử dụng đất nào cũng có đầy đủ
các quyền năng của chuyển quyền sử dụng đất do pháp luật đất đai quy định Luật Đất
đai 2013 đã quy định về điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất cụ thể
như sau:
- Điều 188 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn
bằng quyền sử dụng đất Cụ thể: người sử dụng đất được thực hiện các quyền nêu trên
khi có Giấy chứng nhận, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên
để bảo đảm thi hành án và phải ở trong thời hạn sử dụng đất; khi thực hiện các quyền
thì phải đăng ký tại văn phòng đăng ký và giao dịch thực hiện có hiệu lực kể từ ngày
đăng ký vào sổ địa chính.[16]
- Điều 189 quy định về điều kiện được bán tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm Tài sản gắn liền với đất thuê phải được tạo
lập hợp pháp theo quy định của pháp luật và đã hoàn thành việc xây dựng theo đúng
quy hoạch xây dựng chi tiết và dự án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận Người
mua tài sản gắn liền với đất thuê phải có năng lực tài chính để thực hiện dự án đầu tư;
có ngành nghề kinh doanh phù hợp với dự án đầu tư; không vi phạm các quy định của
pháp luật đất đai đối với trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực
hiện dự án trước đó Người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất trong thời
hạn còn lại theo giá đất được xác định lại, sử dụng đất đúng mục đích đã được xác
định trong dự án.[16]
Trang 21- Điều 190 quy định về điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp
Quyền này áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà
nước giao đất hoặc do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho
quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác và chỉ được thực hiện chuyển đổi quyền sử
dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn để
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển
quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ.[16]
- Điều 191 quy định về những trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất Theo quy định này, tổ chức kinh tế không được
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng của hộ gia đình, cá nhân (trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt); hộ gia đình, cá nhân không trực
tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử
dụng đất trồng lúa; hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng
cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân
khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng; trong khu vực rừng phòng hộ nếu không
sinh sống trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đó.[16]
- Điều 192 quy định về các trường hợp hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện Theo quy định này, hộ gia đình, cá nhân
đang sinh sống xen kẽ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái
thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa có điều kiện chuyển ra khỏi phân khu đó thì chỉ được
chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất rừng kết hợp sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong phân khu đó
Nếu được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ
thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp
cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó Đối với hộ
gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng đất do Nhà nước giao đất theo
chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất
sau 10 năm kể từ ngày có quyết định giao đất theo quy định của Chính phủ [16]
Ba là, quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập còn quyền sử dụng đất
lại là một loại quyền phụ thuộc Tính phụ thuộc của quyền sử dụng đất thể hiện ở chỗ
người sử dụng đất không được tự mình quyết định mọi vấn đề phát sinh trong quá trình sử
dụng đất mà chỉ được quyết định một số vấn đề, còn cơ bản họ vẫn phải hành động theo ý
chí của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu đối với đất được giao;
Cụ thể sau khi làm xong các thủ tục pháp luật để chuyển nhượng hoặc chuyển đổi quyền sử dụng đất thì người nhận chuyển quyền sử dụng đất phải sử dụng đất
theo đúng mục đích ban đầu trước khi chuyển giao, không được tùy tiện thay đổi mục
Trang 22đích sử dụng Nếu làm trái quy định này được coi như là một hành vi vi phạm nghiêm
trọng pháp luật về đất đai và hậu quả của nó là có thể Nhà nước sẽ thu hồi đất [23]
1.1.3 Quyền sở hữu, sử dụng đất ở một số nước trên thế giới
1.1.3.1 Các nước phát triển
a) Thụy Điển Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai cơ bản dựa trên việc sở hữu tư nhân về đất đai
và nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất
nhiều lĩnh vực, ví dụ như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường Hoạt động giám sát
là hoạt động phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật
về chi tiết được hình thành khác nhau
Hệ thống pháp luật về đất đai của Thụy Điển bao gồm rất nhiều các đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý đất đai Các
hoạt động cụ thể như địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản
và việc xây dựng ngân hàng dữ liệu đất đai đều được luật hoá Dưới đây là một số
điểm nổi bật của pháp luật, chính sách đất đai của Thụy Điển:
- Việc đăng ký quyền sở hữu: Việc đăng ký quyền sở hữu khi thực hiện chuyển
nhượng đất đai: Toà án thực hiện đăng ký quyền sở hữu khi có các chuyển nhượng đất
đai Người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi mua
Bên mua nộp hợp đồng chuyển nhượng để xin đăng ký Toà án sẽ xem xét, đối chiếu
với sổ đăng ký đất Nếu xét thấy hợp pháp, sẽ tiến hành đăng ký quyền sở hữu để
người mua là chủ sở hữu mới Các bản sao của hợp đồng chuyển nhượng sẽ lưu tại toà
án, bản gốc được trả lại cho người mua Toà án cũng xem xét các hạn chế về chuyển
nhượng của bên bán
Đăng ký đất là bắt buộc nhưng hệ quả pháp lý quan trọng lại xuất phát từ hợp đồng chứ không phải từ việc đăng ký Vì việc chuyển nhượng là một hợp đồng cá
nhân (không có sự làm chứng về mặt pháp lý và không có xác nhận của cơ quan công
chứng) nên rất khó kiểm soát việc đăng ký Tuy nhiên, ở Thụy Điển hầu như tất cả các
chuyển nhượng đều được đăng ký Vì việc đăng ký sẽ tăng thêm sự vững chắc về
quyền sở hữu của chủ mới, tạo cho chủ sở hữu mới quyền được ưu tiên khi có tranh
chấp với một bên thứ ba nào đó và quan trọng hơn, quyền sở hữu được đăng ký rất cần
thiết khi thế chấp
- Vấn đề thế chấp: Quyền sở hữu được đăng ký sau khi hợp đồng được ký kết
nhưng thế chấp lại được thực hiện theo một cách khác Theo quy định của pháp luật về
thế chấp, có 3 thủ tục để thực hiện thế chấp: (1) Trước tiên người sở hữu đất đai phải
làm đơn xin thế chấp để vay một khoản tiền nhất định Nếu đơn được duyệt thì thế
chấp đó sẽ được đăng ký và toà án sẽ cấp cho chủ sở hữu một văn bản xác nhận đủ
Trang 23điều kiện thế chấp Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp này sẽ được sử dụng cho
một cam kết thế chấp thực tế được thực hiện sau khi đăng ký Văn bản xác nhận đủ
điều kiện thế chấp dường như chỉ có ở Thụy Điển (2) Văn bản xác nhận đủ điều kiện
thế chấp được gửi cho bên cho vay Khi thực hiện bước (1), toà án không kiểm tra, xác
minh các yêu cầu đối với thế chấp Yêu cầu đối với thế chấp chỉ được xét đến khi thực
sự sử dụng bất động sản để vay vốn (tức là chỉ được xem xét đến ở bước 2) Các yêu
cầu đặt ra khi thế chấp là: bên đi vay phải là chủ sở hữu bất động sản; bên cho vay cần
đặt ra các điều kiện cho người đi vay; bên đi vay phải cam kết việc thực hiện thế chấp
và bên cho vay sẽ giữ văn bản thế chấp Khi không đáp ứng các yêu cầu này thì thế
chấp sẽ không hợp pháp Đó là trình tự thế chấp theo quy định của pháp luật nhưng
trên thực tế hầu hết các thế chấp đều do ngân hàng và các tổ chức tín dụng thực hiện
Tại ngân hàng, bên đi vay sẽ ký ba văn bản: hợp đồng vay (nêu rõ lượng tiền vay), hợp
đồng thế chấp (thế chấp bất động sản) và một đơn gửi toà án để xin đăng ký thế chấp
Ngân hàng sẽ giữ hai tài liệu đầu tiên và gửi đơn xin thế chấp đến toà án Sau khi được
xử lý, đơn xin thế chấp lại được chuyển lại ngân hàng và lưu trong hồ sơ thế chấp
Thông thường ngân hàng đợi đến khi có quyết định phê duyệt của toà án mới chuyển
tiền cho người đi vay Khi nợ thế chấp được thanh toán hết, văn bản xác nhận đủ điều
kiện thế chấp sẽ được trả lại cho bên đi vay Bước (3) được áp dụng khi hợp đồng thế
chấp bị vi phạm Khi không được thanh toán theo đúng hợp đồng, bên cho vay sẽ làm
đơn xin tịch thu tài sản để thế nợ Việc này sẽ do một cơ quan có thẩm quyền đặc biệt
thực hiện, đó là: Cơ quan thi hành pháp luật Nếu yêu cầu không được chấp thuận, tài
sản sẽ được bán đấu giá và bên cho thế chấp sẽ được thanh toán khoản tiền đã cho thế
chấp Thủ tục này được tiến hành khá nhanh chóng Vụ việc sẽ được xử lý trong vòng
6 tháng kể từ khi có đơn xin bán đấu giá
- Về vấn đề bồi thường: Khi nhà nước thu hồi đất, giá trị bồi thường được tính
dựa trên giá thị trường Người sở hữu còn được bồi thường các thiệt hại khác Chủ đất
được hưởng các lợi ích kinh tế từ tài sản của mình (nếu trong trường hợp tài sản đó
phải nộp thuế thì chủ đất phải nộp thuế) Chủ đất có thể bán tài sản và được hưởng lợi
nhuận nếu bán được với giá cao hơn khi mua nhưng phải nộp thuế cho chuyển dịch đó
Chủ đất được quyền giữ lại tài sản của mình, tuy nhiên chủ đất cũng có thể bị buộc
phải bán tài sản khi đất đó cần cho các mục đích chung của xã hội Trong trường hợp
đó sẽ là bắt buộc thu hồi và chủ đất được quyền đòi bồi thường dựa trên giá trị thị
trường của tài sản [10]
b) Cộng hoà Liên bang Đức Đối với Cộng hoà Liên bang Đức, mục tiêu chuyển đổi sang thị trường đối với lĩnh vực bất động sản được xác định rất rõ ràng, Chính phủ thực hiện sự cam kết với
chương trình hành động cụ thể, cũng như việc hình thành khung pháp lý bảo đảm cho
quá trình chuyển đổi
Trang 24Ở Đức, quyền có nhà ở của công dân được quy định trong Liên bang Theo đó, đất và nhà không tách rời, nhà đất được mua - bán theo nguyên tắc của thị trường
Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức (Điều XIV) quy định quyền sở hữu đất và quyền thừa kế xây dựng được Nhà nước bảo đảm, tuy nhiên, chủ sở hữu có nghĩa vụ sử
dụng không đi ngược với lợi ích của toàn xã hội Khái niệm về sở hữu đất và nhà ở Đức
là thống nhất với ngoại lệ là: thứ nhất, quyền thừa kế xây dựng - với quyền này người
được hưởng quyền thừa kế xây dựng có thể xây dựng và sử dụng công trình trên mảnh
đất của chủ khác - bên giao quyền thừa kế xây dựng - theo hợp đồng được phép ký cho
một thời hạn tối đa là 99 năm Người mua quyền có nghĩa vụ phải trả hàng năm cho chủ
đất khoản tiền bằng 6 - 7% giá trị của mảnh đất Quyền thừa kế xây dựng được thế chấp
và hết hạn hợp đồng thì chủ đất mua lại nhà; hai là, sở hữu từng phần - áp dụng trong
trường hợp một người mua căn hộ trong một toà nhà thì được quyền sở hữu căn hộ và
một phần đất trong khuôn viên toà nhà Phần đất này được quy định theo tỷ lệ phần trăm
của toàn bộ diện tích đất, mặc dù không chỉ rõ ở vị trí cụ thể nào Tỷ lệ này phụ thuộc
vào diện tích và vị trí không gian của căn hộ trong toà nhà [1]
c) Ôxtrâylia Ôxtrâylia có cơ sở pháp luật về quản lý, sở hữu và sử dụng đất đai rất sớm Thời gian trước 01/01/1875, luật pháp Ôxtrâylia quy định 2 loại là đất thuộc sở hữu của Nhà
nước (đất Nhà nước) và đất thuộc sở hữu tư nhân (đất tư nhân) Đất Nhà nước là đất
do Nhà nước làm chủ, cho thuê và dự trữ Đất tư nhân là đất do Nhà nước chuyển
nhượng lại cho tư nhân (đất có đăng ký bằng khoán thời gian sau 01/01/1875)
Như vậy, về hình thức sở hữu, luật pháp Ôxtrâylia quy định Nhà nước và tư nhân đều có quyền sở hữu bất động sản trên mặt đất, không phân chia giữa nhà và đất
Về phạm vi không gian, người sở hữu có quyền sở hữu khoảng không và độ sâu được
quyền sử dụng có thể từ 12 đến 60 mét (theo quy định cụ thể của pháp luật) Toàn bộ
khoáng sản tồn tại trong lòng đất như: vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, sắt, ngọc, dầu mỏ,
than đá, phốt phát, đều thuộc sở hữu Nhà nước (Sắc lệnh về đất đai 1933); nếu Nhà
nước thực hiện khai thác khoáng sản phải ký hợp đồng thuê đất với chủ đất và đền bù
thiệt hại tài sản trên đất
Về quyền lợi và nghĩa vụ, luật pháp Ôxtrâylia thừa nhận quyền sở hữu tuyệt đối, không bắt buộc phải sử dụng đất Chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng, thế chấp, cho
thuê hoặc chuyển quyền theo di chúc mà không chịu sự ràng buộc hoặc ngăn trở nào
Nhà nước có quyền trưng dụng đất để xây dựng hoặc thiết lập các công trình công cộng phục vụ quốc kế dân sinh (Điều 10, Sắc lệnh về đất đai 1902) và Nhà nước phải bồi
thường cho chủ sở hữu Việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch và phân vùng và đất
phải được đăng ký chủ sở hữu, khi chuyển nhượng phải nộp phí trước bạ và đăng ký tại
cơ quan có thẩm quyền [7][21]
Trang 251.1.3.2 Các nước trong khu vực
a) Trung Quốc Điều 10 Hiến pháp 1982 của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quy định, đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu Nhà nước (đối với đất đô thị) hoặc sở hữu tập thể (đối với
đất thuộc khu vực nông thôn) Vì đất đai ở nông thôn cũng là đối tượng quản lý của
chính quyền địa phương và Trung ương, nên quyền sở hữu đối với toàn bộ đất đai ở
Trung Quốc đều “dưới sự làm chủ” của Nhà nước Trung Quốc Mặc dù không thừa
nhận chế độ tư hữu đất đai nhưng theo Điều 2 của Hiến pháp được sửa đổi năm 1988,
QSDĐ được phép chuyển nhượng tại Trung Quốc Trong điều kiện này, QSDĐ đã
được tách rời khỏi quyền sở hữu đất đai
Hiện nay ở Trung Quốc QSDĐ có thể chia làm hai loại: QSDĐ được “cấp” và QSDĐ được “giao” QSDĐ được "cấp" là loại QSDĐ được áp dụng cho các doanh
nghiệp nhà nước Nhà nước cấp đất cho các doanh nghiệp mà không thu tiền hoặc thu
rất ít và có thể thu hồi bất cứ lúc nào Đối với trường hợp này, QSDĐ không thể
chuyển nhượng, cho thuê hay thế chấp
Vào cuối những năm 1980, việc thiết lập hệ thống kinh tế thị trường ở Trung Quốc đã làm xuất hiện hình thức QSDĐ “giao” Các doanh nghiệp, người sử dụng đất
được phép mua QSDĐ giao đối với một thửa đất nhất định nào đó từ Nhà nước với
một khoảng thời gian sử dụng cụ thể (thông thường từ 40 - 70 năm tuỳ thuộc vào mục
đích sử dụng) Việc mua bán này có thể được thực hiện thông qua thoả thuận, đấu thầu
hoặc đấu giá Khi đã có được QSDĐ người sử dụng đất có thể thực hiện giao dịch đất
đai qua các hình thức sau:
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất:Về điều kiện: Về mặt lý thuyết, chuyển
nhượng QSDĐ là hoạt động dân sự, cho nên chính quyền chỉ đóng vai trò giám sát mà
không can thiệp bằng biện pháp hành chính, trừ những trường hợp thực sự cần thiết
Nhìn chung, có ba điều kiện cơ bản để được chuyển nhượng, đó là: đã hoàn thành
nghĩa vụ tài chính để có QSDĐ; có giấy chứng nhận QSDĐ và đã bỏ vốn thực hiện
hoạt động đầu tư ở một mức độ nhất định, thông thường là ít nhất 25% tổng số vốn
đầu tư cho việc sử dụng theo dự án
Như vậy, các điều kiện chuyển nhượng QSDĐ ở Trung Quốc có điểm giống với điều kiện chuyển nhượng QSDĐ theo pháp luật Việt Nam ở hai điều kiện đầu Về điều
kiện thứ ba, pháp luật Trung Quốc quy định rõ ràng và cụ thể hơn quy định của pháp
luật Việt Nam Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền của người sử
dụng đất và việc quản lý nhà nước về đất đai
Về thủ tục: Theo pháp luật Trung Quốc, giấy tờ về chuyển nhượng QSDĐ không nhất thiết phải qua công chứng nhà nước Thông thường trong 15 ngày kể từ
Trang 26ngày ký hợp đồng, người nhận chuyển nhượng QSDĐ phải đăng ký QSDĐ tại Phòng
quản lý Nhà nước về đất đai, kèm với việc nộp phí chuyển nhượng tương ứng
Về giá cả: Thông thường, Nhà nước không can thiệp vào giá cả chuyển nhượng
Không có quy định nào của pháp luật nhằm xác định giá chuyển nhượng này, mà nó
do bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng thoả thuận Tuy nhiên, trong
trường hợp giá cả chuyển nhượng “thấp một cách đáng nghi ngờ”, chính quyền địa
phương có thể có quyền ưu tiên mua QSDĐ trong trường hợp này Quy định này nhằm
tránh những tiêu cực, gian dối trong chuyển nhượng QSDĐ
- Cho thuê quyền sử dụng đất:Người sử dụng đất có thể cho thuê QSDĐ để
nhận tiền cho thuê Giao dịch này phải được thực hiện thông qua hợp đồng Hai bên
trong giao dịch phải đến cơ quan quản lý nhà nước về đất đai để đăng ký việc cho thuê
trong thời hạn 20 ngày sau khi hợp đồng có hiệu lực Nội dung chính của hợp đồng là
bên thuê phải sử dụng đất đúng theo thời hạn, điều kiện mà bên cho thuê đã cam kết
trước đây để có được QSDĐ
- Thế chấp quyền sử dụng đất:Người sử dụng đất có thể thế chấp QSDĐ thông
qua giấy chứng nhận QSDĐ tại các tổ chức tín dụng ở địa phương để vay vốn Giao
dịch thế chấp phải được thực hiện thông qua hợp đồng giữa người sử dụng đất và chủ
thể cho vay Nếu đến hạn thanh toán mà người thế chấp không trả được nợ, bên cho
vay có thể phải đăng ký quyền sử dụng với tư cách là người sử dụng đất mới
Đối với người sử dụng đất nước ngoài, việc thế chấp QSDĐ để vay vốn từ các tổ chức tín dụng địa phương vẫn còn khó khăn, bởi họ thường được coi là nguồn cấp vốn
cho thị trường trong nước, chứ không phải là người đi vay tiền của Trung Quốc [19]
- Bồi thường, giải phóng mặt bằng: Trung Quốc xây dựng chính sách và các thủ
tục rất chi tiết ràng buộc hoạt động tái định cư với nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó
mục tiêu của chính sách này là cung cấp cơ hội cho tái định cư thông qua cách tiếp cận
cơ bản nơi ở ổn định, tạo nguồn lực sản xuất cho người thuộc diện bồi thường và tái
định cư Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết
trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn
các hình thức bồi thường, bằng tiền hoặc nhà tại khu ở mới Giá bồi thường theo tiêu
chuẩn giá thị trường Nhưng đồng thời được Nhà nước quy định cho từng khu vực và
chất lượng nhà, điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với thực tế, được Nhà nước tác
động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với các dự án phải bồi thường giải phóng mặt
bằng, kế hoạch tái định cư chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự án cùng với
việc dàn xếp kinh tế, khôi phục cho từng địa phương, từng hộ gia đình và từng người
bị ảnh hưởng [24]
Trang 27b) Malaixia Theo Bộ Luật Đất đai của Malaixia, cá nhân, tổ chức muốn được công nhận là người sở hữu đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai của liên bang để có một văn
bản chứng nhận gọi là bằng khoán Văn bản bằng khoán điền thổ chính là bằng chứng
để kết luận cá nhân hoặc tổ chức đã đăng ký trong đó chính là chủ sở hữu được mô tả
trong bằng khoán Trước khi đăng ký vào bằng khoán, đất đai vẫn là đất của bang Mọi
giao dịch (chuyển nhượng, trả tiền, cho thuê, ) đều phải đăng ký, nếu không thì đó chỉ
là hợp đồng giữa các bên liên quan Nó sẽ không được Chính phủ công nhận là vĩnh
viễn cho đến khi được đăng ký hợp pháp
Các loại bằng khoán mà bang có thể chuyển nhượng là:
- Bằng khoán đăng ký và Bằng khoán Phòng đất đai (là loại bằng khoán hoàn chỉnh) có nghĩa là đất đã được đo đạc xong Chủ sở hữu đất có Bằng khoán hoàn chỉnh
sẽ có những quyền sau:
+ Bằng khoán được cấp là vĩnh viễn
+ Có quyền chia, ngăn hoặc hợp nhất đất đai
+ Có quyền tiến hành các giao dịch (chuyển nhượng, cho thuê, đóng tiền, ) trên đất đai của mình
+ Có quyền ngăn chia ngôi nhà nào có từ 2 tầng trở lên để có được các bằng khoán riêng cho các phần diện tích riêng trong ngôi nhà
+ Có quyền để lại đất hoặc phần tài sản không phân chia nào khác trên đó theo
di chúc
- Bằng khoán hạn chế có nghĩa là đất chưa được đo hoàn chỉnh Ranh giới thửa đất còn đang là tạm thời Chủ sở hữu đất có Bằng khoán hạn chế có những quyền như
Bằng khoán hoàn chỉnh ngoại trừ:
+ Ranh giới đất còn là tạm thời
+ Trừ khi có quy định thêm trong Bộ Luật Đất đai, chủ sở hữu không được chia, ngăn hoặc hợp nhất đất đai và không được ngăn chia các ngôi nhà nhiều tầng trên đất
của mình
Chính phủ có thể thu hồi lại đất đã được giao cấp bằng biện pháp thu hồi bắt buộc hoặc mua lại từ các chủ sở hữu Khi bị thu hồi đất các chủ sở hữu được đền bù thỏa
đáng Bất kỳ cá nhân nào có yêu sách đối với đất bị thu hồi có thể phản đối về việc đo
đạc diện tích đất, số tiền đền bù, người được đền bù hoặc việc chia tiền đền bù Những
phản đối này chỉ được đưa ra nếu như cá nhân đó đã khiếu nại với Cơ quan quản lý đất
đai khi được thẩm vấn và vụ việc sẽ được chuyển sang Tòa án Sau khi trả tiền đền bù,
cơ quan tổ chức sẽ có được đất đai hợp pháp cho dù còn có các phản đối [22]
Trang 28c) Thái Lan
Ở Thái Lan hiện nay tồn tại 2 hình thức sở hữu đất đai là sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân Các chủ sở hữu, sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận về đất đai Ở
Thái Lan có nhiều loại giấy chứng nhận về đất đai khác nhau Mỗi loại giấy chứng
nhận có qui định riêng nhằm hạn chế một số quyền về đất đai đối với chủ sở hữu, sử
dụng đất, cụ thể:
- Giấy chứng nhận sở hữu đất là giấy chứng nhận quyền sở hữu về đất được cấp sau khi đo đạc xác định các góc thửa trên bản đồ tỷ lệ 1:1000 hoặc 1:2000 hoặc
chuyển đổi từ bản đồ ảnh tỷ lệ 1:4000 Các quyền của chủ sở hữu loại giấy này là:
chuyển nhượng (phải đăng ký chuyển nhượng), thế chấp, chia nhỏ thửa đất, thừa kế
Nếu 10 năm đất không sử dụng, toà án có quyền huỷ bỏ hiệu lực của giấy chứng nhận
Nếu giấy chứng nhận NS4 được cấp từ loại giấy chứng nhận NS2 thì trong vòng 10
năm hạn chế việc chuyển nhượng, nếu được cấp mà không có giấy tờ pháp lý thì trong
vòng 10 năm không được chuyển nhượng
- Giấy chứng nhận sử dụng là giấy chứng QSDĐ (không phải sở hữu) Có hai loại giấy chứng nhận được cấp tuỳ thuộc vào việc sử dụng phương pháp nào để đo
ranh giới thửa đất
+ Giấy chứng nhận loại NS3K: Được cấp cho thửa đất khi ranh giới thửa đất đó được xác định trên bản đồ được thành lập từ bản đồ ảnh chưa nắn Loại giấy này có
quyền chuyển nhượng (phải đăng ký chuyển nhượng) Nếu 5 năm đất không được sử
dụng, toà án có quyền huỷ bỏ hiệu lực của giấy chứng nhận Nếu giấy chứng nhận
NS3K được cấp từ loại giấy NS2 thì trong vòng 10 năm hạn chế việc chuyển nhượng
+ Giấy chứng nhận loại NS3: Được cấp cho thửa đất khi ranh giới thửa đất đó được đo độc lập bằng phương pháp tam giác (đo mặt đất), sau 30 ngày thông báo loại
giấy này mới được chuyển nhượng (phải đăng ký chuyển nhượng) Đất không được để
không sử dụng trên 5 năm
- Giấy chứng nhận chiếm hữu trước xác nhận việc chiếm hữu tạm thời về đất
Loại giấy này được cấp cho loại đất được chiếm hữu trước năm 1954 sau khi có đơn
xin cấp giấy hoặc đất được chiếm hữu sau năm 1954 nhưng không thuộc vùng đất mà
Uỷ ban Cấp đất Quốc gia thông báo là Khu vực Địa chính Loại giấy này có quyền
thừa kế, không có quyền chuyển nhượng trừ phi có dấu "Được sử dụng" Có thể
chuyển thành giấy chứng nhận quyền sử dụng NS3K sau khi cấp ít nhất 3 quý, hoặc
chuyển thành giấy sở hữu NS4 nếu đủ mọi điều kiện Đất không được để không sử
dụng quá 10 năm
Trang 29- Giấy chứng nhận đã khai báo SK1 cấp cho người đã khai báo chiếm hữu và sử dụng đất trước năm 1954 Sau khi được chấp nhận và đăng ký, giấy chứng nhận này có
thể chuyển nhượng Giấy chứng nhận SK1 có thể chuyển thành giấy chứng nhận sở
nhượng, chỉ có thể được thừa kế
- Giấy chứng nhận PBT6: Là tờ biên lai công nhận việc sử dụng đất thông qua việc trả tiền thuế sử dụng đất cho Văn phòng Đất đai cấp huyện Giấy này không
chuyển nhượng được
- Giấy chứng nhận SPK-01: Do Văn phòng Cải cách Đất đai Nông nghiệp cấp dựa theo Luật Cải cách đất Nông nghiệp năm 1975 cho vùng đất Lâm nghiệp bị thoái
hoá Các thửa đất này không được phép chia nhỏ, không được chuyển nhượng chỉ
được thừa kế Từ năm 1993 - 1995 Chính phủ cho phép người dân có giấy chứng nhận
SPK-01 thuộc vùng đất dự trữ cho lâm nghiệp được đổi thành giấy NS4
- Đất chưa có giấy chứng nhận: là các loại đất thuộc sở hữu tư nhân nhưng chưa
cấp được giấy chứng nhận NS4 hoặc NS3 hoặc NS3K [2]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển quyền sử dụng đất ở Việt Nam
Pháp luật quy định về đất đai của nước Việt Nam được đánh dấu bằng Luật cải cách ruộng đất năm 1953 Ngày 29/12/1987 Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai đầu
tiên nhằm điều chỉnh các quan hệ về quản lý, sử dụng đất Luật Đất đai đã thể chế hoá
đường lối, chính sách của Đại hội lần thứ VI của Đảng và Hiến pháp 1980 (Điều 19 và
20) khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Luật
Đất đai được ban hành đúng vào thời kỳ đất nước ta bước đầu bước vào giai đoạn đổi
mới về kinh tế, đặc biệt thời kỳ này có nhiều chính sách mở cửa Nội dung về QSDĐ
của Luật Đất đai 1988 là: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với mọi
loại đất, người được giao đất chỉ được hưởng những kết quả đầu tư trên đất Họ không
có quyền chuyển QSDĐ đai dưới mọi hình thức khác nhau Luật quy định: “Nghiêm
cấm mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được
giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông
nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai” [12]
Trang 30Sau 4 năm thi hành Luật Đất đai năm 1988 cho thấy thực tế đã nảy sinh những bất cập, đó là người sử dụng đất thực sự không có quyền đối với mảnh đất mình được
giao, kể cả quyền thừa kế, chuyển nhượng, họ chỉ được chuyển QSDĐ trong các
trường hợp: khi hộ nông dân vào hoặc ra hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp; khi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và cá thể thỏa thuận đổi đất
cho nhau để tổ chức lại sản xuất; khi người được giao đất chuyển đi nơi khác hoặc đã
chết mà thành viên trong hộ của người đó vẫn tiếp tục sử dụng đất đó Luật chỉ cho
phép được thừa kế nhà ở hoặc mua nhà ở đồng thời được QSDĐ ở có ngôi nhà đó, sau
khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở [17]
Theo quy định trên cho thấy, Luật còn gò bó, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất
của các chủ sử dụng đất Cho nên thực tế vẫn xảy ra hiện tượng mua bán đất đai trá
hình theo cách xây dựng một túp lều trên đất để bán, nhưng thực chất là bán đất Luật
điều chỉnh các quan hệ đất đai ở trạng thái tĩnh Nhà nước chỉ quản lý về mặt pháp luật
hành chính đơn thuần, chưa thể hiện đầy đủ quản lý Nhà nước về mặt kinh tế đối với
đất đai [17] Ngoài những lý do bất cập về mặt pháp luật nêu trên, trong thời gian này
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách mở cửa nhằm thu hút vốn đầu tư không chỉ
đối với đầu tư trong nước mà cả đối với nước ngoài Đặc biệt, Quốc hội thông qua
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Nghị quyết số 05-NQ/HNTW ngày 10/06/1993
của Ban chấp hành Trung ương khoá VII: “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã
hội nông thôn đã khẳng định cho người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ”
Hiến pháp 1992 còn quy định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật” [8] Do đó, Quốc hội đã đưa việc
sửa đổi Luật Đất đai vào chương trình xây dựng pháp luật năm 1993 Luật Đất đai năm
1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/07/1993 và có hiệu lực ngày 15/10/1993 về cơ
bản kế thừa Luật Đất đai 1988 và bổ sung một nội dung mới như một số quyền của
người sử dụng đất Cụ thể Luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện 5 quyền:
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ Như vậy, luật đưa ra
những quy định theo xu hướng ngày càng mở rộng quyền của người sử dụng, cho họ
định đoạt hạn chế QSDĐ của mình Nghĩa là chuyển QSDĐ phải tuân theo điều kiện,
nội dung, hình thức do Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai quy định
Sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội, qua thực tế cuộc sống với tác động của cơ chế kinh tế thị trường làm cho quan hệ đất đai càng trở nên phức
tạp, nhiều vấn đề lịch sử còn chưa được xử lý thì các vấn đề mới lại nảy sinh mà Luật
Đất đai 1993 chưa có quy định Vì vậy, năm 1998 Luật Đất đai được sửa đổi, bổ sung
Luật bổ sung thêm một số quyền của người sử dụng đất như quyền góp vốn bằng giá
trị QSDĐ, quyền cho thuê lại QSDĐ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước
cho thuê đất đã trả tiền sử dụng đất cho cả thời gian đầu tư hoặc tiền thuê đất đã trả
Trang 31trước còn lại là 05 năm cũng được thực hiện các QSDĐ như chuyển nhượng, thế chấp,
góp vốn, cho thuê lại QSDĐ Riêng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mới trả tiền thuê đất
hàng năm thì chỉ được chuyển nhượng, thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn
liền với QSDĐ [14] Để triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về cải cách hành
chính và để đồng bộ với một số Luật mà Quốc hội mới thông qua trong thời gian qua
như Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thì
Luật Đất đai cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Trong chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội năm 2000 Luật Đất
đai lại được đưa vào chương trình sửa đổi, bổ sung Ngày 29/06/2001 Quốc hội khoá
X, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai Tuy
nhiên, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tình hình quản lý và sử
dụng đất sau 3 năm thực hiện Luật Đất đai sửa đổi 2001 đã cho thấy còn bộc lộ những
thiếu sót, yếu kém Vì vậy, việc tiếp tục sửa đổi Luật Đất đai 1993 (Luật sửa đổi bổ sung
1998, 2001) là cần thiết và tất yếu nhằm mục đích tháo gỡ những vướng mắc trong công
tác quản lý, sử dụng đất, bảo đảm tính ổn định của pháp luật, đồng thời, thế chế hóa kịp
thời đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai trong thời kỳ mới
Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực từ ngày
01/07/2004 Về QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân: Luật Đất đai năm 2003 đã kế thừa quy
định của Luật Đất đai năm 1993 đồng thời bổ sung quyền tặng, cho QSDĐ của hộ gia
đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê; không quy định các điều kiện hạn chế
khi thực hiện quyền chuyển nhượng và bổ sung quyền thừa kế QSDĐ đất nông nghiệp
trồng cây hàng năm nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong thực hiện các quyền của người
sử dụng đất, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển và tích tụ đất đai theo định
hướng của Nhà nước Cụ thể nội dung của QSDĐ như sau: “Quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp
vốn bằng QSDĐ; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” (Điều 106) [16]
Luật Đất đai là công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý, điều tiết các mối quan hệ về đất đai Qua 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 2003 đã phát huy khá tốt vai
trò ổn định các mối quan hệ về đất đai Tuy nhiên, nó cũng đã bộc lộ những hạn chế
nhất định, dẫn đến việc thực thi pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, hạn chế Do
vậy, Luật Đất đai năm 2013 ra đời trong bối cảnh thực sự hết sức cần thiết
Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành kể từ 01/7/2014 Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về
chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và bảo đảm giữ vững ổn định chính trị-xã
hội của đất nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân So với
Trang 32Luật Đất đai năm 2003 có 7 chương và 146 Điều ; Luật Đất đai năm 2013 có 14
chương với 212 điều (tăng 7 chương và 66 điều), đã khắc phục, giải quyết được những
tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003 Đây là đạo
luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu
hút được sự quan tâm rộng rãi của nhân dân
Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa
đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất
đai năm 2003
Luật Đất đai năm 2013, được chuẩn bị khá công phu, nghiêm túc trên cơ sở kết quả tổng kết đánh giá thực tiễn quá trình thi hành Luật Đất đai năm 2003 trên toàn
quốc, nghiên cứu những kinh nghiệm quốc tế phù hợp; đồng thời đã thể chế hóa đầy
đủ quan điểm, định hướng đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai theo tinh thần Nghị
quyết số 19-NQ/TW Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI); thể hiện được ý chí,
nguyện vọng của đa số tầng lớp nhân dân
Theo Luật Đất đai qua từng thời kỳ cho thấy, Luật đang dần đưa ra những quy định phù hợp với cuộc sống hơn và chấp nhận những thực tế của cuộc sống đòi hỏi; mở
rộng dần quyền của người sử dụng đất nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc đất đai
thuộc sở hữu toàn dân
1.2.2 Những đổi mới cơ bản của Luật Đất đai 2013 so với Luật Đất đai 2003
1.2.2.1 Các quyền của Nhà nước đối với đất đai
Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều so với luật hiện hành, các chương tăng mới là các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
trước đây thuộc chương II Luật Đất đai năm 2003 tách ra (có 6 mục chuyển thành
chương và bổ sung thêm một chương có nội dung mới) Luật Đất đai năm 2013 đã
cụ thể hóa các quyền của Nhà nước đối với đất đai như: Quy định rõ quyền của đại
diện chủ sở hữu; quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quy định hạn mức sử dụng
đất, thời hạn sử dụng đất; quyền quyết định thu hồi, trưng dụng đất đai; quyền quyết
định giá đất; quyết định chính sách tài chính về đất đai… Quy định rõ trách nhiệm của
Nhà nước đối với đất đai trong đó quy định rõ 15 nội dung quản lý của Nhà nước đối
Trang 333 Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
6 Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
7 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
8 Thống kê, kiểm kê đất đai
9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
10 Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
12 Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
14 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và
sử dụng đất đai
15 Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai
Đồng thời, quy định trách nhiệm cụ thể của Nhà nước về quản lý đất đai; những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước về đất ở,
đất sản xuất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số; trách nhiệm của Nhà nước
trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai và trách nhiệm của công chức địa
chính tại xã, phường [16]
1.2.2.2 Điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai
Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung những nội dung cơ bản trong việc điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai, nhằm khắc phục bất cập hiện nay mà Luật Đất đai năm
2003 chưa có quy định cụ thể; bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhằm khắc phục khó khăn khi lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất; bổ sung và quy định rõ quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của người
dân trong vùng quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, nhằm
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.[16]
1.2.2.3 Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Luật Đất đia 2013 quy định cụ thể, rõ ràng từ nguyên tắc đến nội dung và mở rộng dân chủ, công khai trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định
Trang 34về đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch như: Việc lấy ý
kiến của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở cấp quốc gia và cấp tỉnh và
cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử theo quy định
Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định chi tiết đến từng giai đoạn như: Căn cứ lập quy hoạch, trách nhiệm của cơ quan tổ chức, thẩm quyền thẩm định
quy hoạch, thẩm quyền quyết định điều chỉnh quy hoạch, tư vấn lập quy hoạch, công
bố công khai, thực hiện và báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ngoài ra, Luật thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong và nước ngoài; quy định cụ thể điều kiện được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất để thực hiện dự án đầu tư nhằm lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực thực
hiện dự án Đặc biệt, Luật đã bổ sung quy định về điều kiện được giao đất, cho thuê
đất để thực hiện các dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng, dự án đầu tư tại khu
vực biên giới, ven biển và hải đảo.[16]
1.2.2.4 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2013 vừa được Quốc hội thông qua là những quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Luật bổ sung quy định về các
trường hợp đăng ký lần đầu, đăng ký biến động, đăng ký đất đai trên mạng điện tử; bổ
sung quy định trường hợp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất là tài sản chung của nhiều người thì cấp mỗi người một giấy chứng nhận,
hoặc cấp chung một sổ đỏ và trao cho người đại diện Tuy nhiên, giấy chứng nhận phải
ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, nhà ở hay tài sản gắn
liền với đất
Trường hợp đất là tài sản chung của vợ chồng thì giấy chứng nhận ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng (trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận ghi tên một người)
Nếu giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang
giấy chứng nhận mới để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có nhu cầu
Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định cụ thể hơn những trường hợp sử dụng đất được cấp sổ đỏ; cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang
sử dụng đất có và không có các giấy tờ về quyền sử dụng đất Mặc dù Luật mới quy
định “cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất được cấp theo từng thửa đất” nhưng nếu người sử dụng đất đang sử dụng
nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được
cấp một giấy chứng nhận chung cho các thửa đất đó
Trang 35Một điểm mới khác liên quan đến đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng dân cư,
thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất
Luật cũng quy định những trường hợp có thể cấp giấy chứng nhận ngay cả khi không có giấy tờ về quyền sử dụng đất Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
không có các giấy tờ theo quy định nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày
1/7/2014 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã
xác nhận là đất phù hợp với quy hoạch sử dụng sẽ được cấp giấy chứng nhận Ngoài
ra, Luật đã giao cho Chính phủ quy định các loại giấy tờ khác được xác lập trước
ngày 15/10/1993 được xét cấp giấy chứng nhận nhằm giải quyết những vướng mắc
trên thực tiễn [16]
1.2.2.5 Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư
Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định
cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu
hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những
trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận
xấu trong xã hội
Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, luật quy định: "Nhà nước chỉ thu hồi đất với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ
tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh xem xét qua chủ trương thu hồi đất"
Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định chế tài mạnh để xử lý đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào
sử dụng; quy định đầy đủ, rõ ràng về những trường hợp thật cần thiết mà Nhà
nước phải thu hồi; quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà áp
dụng giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định
thu hồi đất.[16]
1.2.2.6 Định giá đất
Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ nguyên tắc định giá đất phải theo mục
đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá, theo thời hạn sử dụng đất; bổ sung quy
định về cơ quan xây dựng, cơ quan thẩm định giá đất, vị trí của tư vấn giá đất trong việc
xác định giá đất, thẩm định giá đất và việc thuê tư vấn để xác định giá đất cụ thể Luật
quy định khung giá đất do Chính phủ ban hành, định kỳ 05 năm một lần đối với từng
loại đất, theo từng vùng; bỏ quy định việc công bố bảng giá đất vào ngày 01/01 hàng
Trang 36năm, thay vào đó, bảng giá đất được xây dựng định kỳ 5 năm một lần và công bố công
khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ Bảng giá đất chỉ áp dụng đối với một số trường
hợp thay cho việc áp dụng cho tất cả các mục đích như quy định hiện hành
Luật đã tiếp cận và thể hiện đầy đủ về vấn đề tài chính đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đảm bảo
quyền lợi của người sử dụng đất, quyền lợi của Nhà nước, chủ đầu tư và đảm bảo ổn
định xã hội; phù hợp với quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.[16]
1.2.2.7 Giao đất, cho thuê đất
Quy định rõ ràng các đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và điều kiện để triển khai thực hiện các dự án đầu tư để Nhà nước giao đất, cho thuê đất Qua
đó, có thể khắc phục một cách có hiệu quả việc giao đất, cho thuê đất một cách tràn
lan, chưa tính đến năng lực của các chủ đầu tư trong việc triển khai các dự án gây nên
tình trạng sử dụng đất lãng phí, kém hiệu quả như trong thời gian vừa qua
Luật Đất đai năm 2013 cũng được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của cá nhân, hộ gia đình và tổ chức sử dụng đất phù hợp với từng hình
thức như giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê
đất, công nhận quyền sử dụng đất và quy định các điều kiện khi người sử dụng đất
thực hiện các quyền của mình Bên cạnh đó, Luật quy định bình đẳng hơn về quyền và
nghĩa vụ về đất giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, tạo cơ chế thu
hút cho đầu tư phát triển kinh tế của tổ chức nước ngoài.[16]
1.2.2.8 Chính sách về đất đai
Quy định hoàn chỉnh hơn các chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp;
hoàn thiện hơn quy định về chế độ sử dụng đất đối với sử dụng cho khu công nghiệp,
khu công nghệ cao và khu kinh tế; bổ sung quy định việc sử dụng đất để xây dựng
công trình ngầm, đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.[16]
1.2.2.9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Luật đã dành một chương để quy định về việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai, hệ thống giám sát, theo dõi, đánh giá đối với quản lý và sử
dụng đất đai được công khai, minh bạch và đảm bảo dân chủ trong điều kiện đất đai
thuộc sở hữu toàn dân và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đất đai của mọi người
dân Theo đó, công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực
hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai Hình
thức giám sát là trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn
Trang 37kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết; Hoặc gửi đơn kiến nghị
đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc
giám sát.[16]
1.2.2.10 Thời hạn giao đất nông nghiệp
Luật mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản suất nông nghiệp; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình,
cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện
đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn Cụ thể: Nâng thời hạn
giao đất nông nghiệp trong hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50
năm, thống nhất cho các loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây
lâu năm, đất lâm nghiệp); cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ với diện tích lớn hơn
(không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp)
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã
hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện được ý
chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân Để các quy định đổi mới của Luật sớm đi
vào cuộc sống, các bộ, ngành và địa phương vẫn đang khẩn trương phối hợp triển khai
xây dựng các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu
lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai.[16]
1.2.3 Thực tiễn việc thực hiện quyền sử dụng đất ở Việt Nam
1.2.3.1 Về tình hình chuyển đổi quyền sử dụng đất
Từ khi thực hiện quyền chuyển đổi QSDĐ, thực tế cho thấy việc chuyển đổi QSDĐ đối với đất ở, đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng ít xảy ra mà chủ yếu là việc
chuyển đổi QSDĐ nông nghiệp trồng lúa nhằm hạn chế tình trạng “manh mún” ruộng
đất Thực hiện Nghị định số 64/CP về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài, hầu hết các địa phương đều thực hiện giao đất theo phương thức
có ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng xa, ruộng gần Do đó, dẫn đến tình trạng đất nông
nghiệp "manh mún", nhất là ở các tỉnh phía Bắc, có những thửa ruộng chỉ dưới 100
m2 Việc chuyển đổi ruộng đất giữa các hộ nông dân với nhau để chuyển những thửa
nhỏ thành thửa lớn hơn là một nhu cầu thực tiễn Trên cơ sở quy định của pháp luật,
nhiều địa phương đã tổ chức cho hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển đổi QSDĐ
thông qua chương trình “dồn điền, đổi thửa” giữa các hộ nông dân, đã giảm đáng kể số
thửa đất của mỗi hộ Sau khi chuyển đổi, năng suất tăng, tiết kiệm lao động và đầu tư
của nông dân [4]
Trang 381.2.3.2 Về tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Chuyển nhượng QSDĐ đã thực sự đáp ứng được nhu cầu của đại đa số người dân khi có nhu cầu về đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất kinh doanh Người sử
dụng đất chủ động đầu tư, năng động hơn trong sử dụng đất đồng thời cũng tăng
được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Chỉ tính riêng đối với đất ở tại nông thôn,
mỗi năm có khoảng 200.000 đến 300.000 hộ gia đình nông thôn dọn đến nơi ở mới,
chủ yếu thông qua con đường chuyển nhượng QSDĐ Trong quá trình tổ chức thực
hiện, còn một số tồn tại như chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp chỉ được thực hiện
có điều kiện đã không hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động tại nông thôn,
có đến trên 50% số vụ chuyển nhượng QSDĐ không đăng ký với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, thủ tục chuyển nhượng còn quá phức tạp [4]
1.2.3.3 Về tình hình cho thuê đất, cho thuê lại đất
Quy định của pháp luật về quyền cho thuê đất, cho thuê lại đất đã có tác dụng tích cực trong việc đầu tư trên đất Tuy nhiên, việc thực hiện quyền cho thuê, cho thuê
lại đất còn có tồn tại: nhiều tổ chức lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo từ phía các cơ quan
nhà nước đã áp dụng trái pháp luật quyền cho thuê, cho thuê lại, cụ thể như nhiều cơ
quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang cho thuê đất làm văn phòng, nhà
xưởng, cơ sở kinh doanh dịch vụ trên đất được Nhà nước giao theo chế độ không thu
tiền sử dụng đất; nhiều hộ gia đình, cá nhân dành đất, mặt bằng, nhà ở cho thuê để làm
cửa hàng, cơ sở dịch vụ môi giới, văn phòng hoặc cho sinh viên, người lao động,
người nước ngoài thuê để ở mà không đăng ký với cơ quan nhà nước [4]
1.2.3.4 Về tình hình thừa kế quyền sử dụng đất
Thừa kế QSDĐ diễn ra thường xuyên, tuy nhiên, phần lớn là không khai báo, đăng ký tại cơ quan Nhà nước Qua một số kết quả điều tra cho thấy hầu hết người
dân đều cho rằng việc thừa kế QSDĐ là công việc nội bộ gia đình theo truyền thống
“cha truyền con nối”, khi phải chia thừa kế thì anh, em tự thoả thuận với nhau và có
sự chứng kiến của họ hàng, không cần phải khai báo với cơ quan nhà nước, do đó đã
xảy ra nhiều tranh chấp giữa những người được thừa kế QSDĐ [4]
1.2.3.5 Về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất
Việc thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh bằng QSDĐ thực sự đã phát huy được nguồn vốn đầu tư đất đai, góp phần đáng kể vào quá trình phát triển sản xuất, kinh
doanh Người sử dụng đất sử dụng quyền này ngày càng nhiều hơn Trình tự, thủ tục
để thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh đã được cải cách nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho cả người đi vay và người cho vay Việc thế chấp, bảo lãnh QSDĐ để vay vốn tăng
dần qua các năm (dư nợ cho vay có bảo đảm bằng QSDĐ năm 1998 tăng 7,3 lần so với
năm 1993, năm 2001 tăng 3,1 lần so với năm 1998) Tuy nhiên, việc thực hiện các
Trang 39quyền này cũng đã bộc lộ một số bất cập: pháp luật quy định tính giá đất cao hơn
nhiều lần, vì vậy số tiền được vay không tương xứng với giá trị thực của QSDĐ;
GCNQSDĐ được cấp chưa nhiều; chưa có cơ quan đăng ký thế chấp phù hợp; chưa có
hệ thống dữ liệu thông tin đất đai [4]
1.2.3.6 Về tình hình góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Sự phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô của các cơ sở sản xuất kinh doanh
từ các thành phần kinh tế và sự gia tăng của đầu tư nước ngoài vào nước ta dẫn đến sự
liên doanh, liên kết trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là thông qua việc
góp vốn bằng QSDĐ, đặc biệt là trong liên doanh với nước ngoài (tổng giá trị góp vốn
bằng QSDĐ đã lên tới 3 tỷ USD) Tuy nhiên, hiện nay nhiều vấn để nảy sinh trong quá
trình liên doanh, liên kết nhưng chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết như QSDĐ khi cổ
phần hóa doanh nghiệp, khi doanh nghiệp liên doanh chuyển sang doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài, khi doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể [4]
1.2.3.7 Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Nhìn chung, diện tích đất được thu hồi đã đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương; các quy định về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư từng bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý
kinh tế thị trường, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất Việc
tổ chức thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung tâm phát triển
quỹ đất bước đầu đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để
thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án đầu tư nhằm mục đích công cộng [5]
1.2.3.8 Những tồn tại của việc thực hiện các quyền sử dụng đất ở Việt Nam
Việc thực hiện các QSDĐ tuy đã được pháp luật quy định song những quy định còn chặt, chưa mở hoặc các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn thực hiện chưa
đồng bộ, trong đó có thủ tục kê khai đăng ký, cơ quan chuyên môn và cơ quan dịch vụ
chưa có kế hoạch và còn yếu kém về năng lực, đồng thời về giá đất tuy đã có nhiều
văn bản quy định nhưng vẫn còn bất cập hạn chế cho việc xác định giá trị đất đai để
chuyển nhượng; chuyển đổi; cho thuê; cho thuê lại hay góp vốn bằng QSDĐ Do
những tồn tại nêu trên, các hoạt động chuyển QSDĐ phi chính quy vẫn diễn ra ở nhiều
nơi tác động xấu đến thị trường bất động sản mới hoạt động, ảnh hưởng xấu đến việc
quản lý, sử dụng đất đai, gây lãng phí cho Nhà nước và nhân dân [4]
Trang 401.3 Những nghiên cứu có liên quan
1.3.1 Mô hình Văn Phòng Đăng ký quyền sử dụng đất so với mô hình hai cấp
Nội dung này được thể hiện và phân tích khá cụ thể trong đề tại luận văn
“Phân tích hiệu quả mô hình thí điểm Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất một cấp
hiện nay so với mô hình hai cấp tại thành phố Đà Nẵng” của tác giả Trần Thị Kim
Hiền
Đề tài được được tiến hành nghiên cứu trên 06 quận (Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ, Liên Chiểu) và huyện Hòa Vang của thành phố Đà
Nẵng, nhằm mục đích phân tích và so sánh hiệu quả của mô hình thí điểm Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất một cấp với mô hình Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất hai cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình thí điểm
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 7 năm 2013
Số liệu trong đề tài được thu thập từ năm 2007 đến tháng 7 năm 2012 và từ tháng 8
năm 2012 đến tháng 7 năm 2013
Qua kết quả nghiên cứu: "Phân tích hiệu qủa của mô hình thí điểm Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất một cấp hiện nay so với mô hình hai cấp tại thành phố Đà
Nẵng", tác giả rút ra một số kết luận như sau:
Sau 1 năm thực hiện đề án, đến nay Thành phố Đà Nẵng đã hoàn thành việc kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng thành một cấp trên phạm vi toàn
thành phố
Việc luân chuyển, điều động, bổ nhiệm viên chức lãnh đạo, quản lý đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ chuyên môn Bảo đảm việc vận hành và hoạt động của Văn
phòng đăng ký một cấp được liên tục trên cơ sở kế thừa nhân lực và các điều kiện làm
việc của Văn phòng đăng ký 02 cấp trước đây để giảm thiểu chi phí
Những kết quả ban đầu có thể khẳng định rằng từ khi thực hiện thí điểm Văn phòng đăng ký thành một cấp đã thống nhất cao về mặt chuyên môn và đúng quy định
của pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ tại Chi nhánh các quận, huyện
Cán bộ, viên chức của các Chi nhánh được tập huấn, hướng dẫn thống nhất về chuyên
môn, nghiệp vụ đăng ký, đo vẽ, lập hồ sơ địa chính và hướng dẫn lập hồ sơ công việc,
chỉnh lý hồ sơ lưu trữ Hồ sơ được kiểm tra chặt chẽ về tính pháp lý, cơ sở dữ liệu địa
chính; quản lý tốt việc tách thửa đất, không để xảy ra tình trạng chia cắt manh mún,
không đúng quy định gây khó khăn, phức tạp trong công tác giải tỏa đền bù, chỉnh
trang đô thị của thành phố Hạn chế được mầm móng dẫn đến tranh chấp, khiếu nại
trong cấp giấy chứng nhận do việc thực hiện trước đây không thống nhất giữa các
quận, huyện
Do bước đầu đề án thí điểm chỉ tập trung kiện toàn bộ máy đảm bảo việc cấp giấy chứng nhận và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính được duy trì liên tục