Những tác động tích cực của dịch vụ ngân hàng điện tử đã được nhiều nhà khoa học và kinh tế chứng minh, tuy nhiên vẫn có nhiều nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của dịch vụ ngân hàng điện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Thương mại
Người hướng dẫn khoa học
1 PGS, TS Nguyễn Văn Minh
2 PGS, TS Nguyễn Thị Mùi
Phản biện 1:
………
……… Phản biện 2:
………
……… Phản biện 3:
………
………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Trường họp tại Trường Đại học Thương mại
Vào hồi…… giờ …… ngày ……… tháng ……… năm ………….
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
Thư viện Trường Đại học Thương mại
Trang 3DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Đỗ Thanh Hương (2019), Kinh nghiệm phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của Trung
Quốc và gợi ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 09/2019, số 26, Trang 61-64
2 Đỗ Thanh Hương (2019), Mô hình đánh giá tác động của ngân hàng điện tử tới kết quả
hoạt động ngân hàng, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 08/2019, số 24, Trang 115-119
3 Đỗ Thanh Hương (2020), Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 08/2020, số 22, Trang 39-43
4 Đỗ Thanh Hương (2020), Đánh giá tác động của ngân hàng điện tử tới kết quả hoạt động
của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 11/2020, số 33, Trang 27-32
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang làm thay đổi mạnh mẽ nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế nói chung và ngành tài chính - ngân hàng nói riêng trên toàn thế giới Trong khi các tổ chức tài chính, ngân hàng đang phải nỗ lực vượt qua khó khăn sau cuộc khủng hoảng tài chính để trở lại mức lợi nhuận ban đầu thì sự xuất hiện của các công ty Fintech (công nghệ tài chính), trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng trở thành mộtvấn đề thách thức lớn Trước sự phát triển các dịch vụ tài chính điện tử sáng tạo của Fintech, các ngân hàng thương mại bắt buộc phải đưa ra các mô hình kinh doanh mới đảm bảo tính cạnh tranh, tăng cường kết nối vàcập nhật công nghệ, đáp ứng nhu cầu thanh toán, đầu tư và các dịch vụ tài chính khác của nền kinh tế số.Dich vụ ngân hàng điện tử ra đời bản chất là các dịch vụ tài chính, ngân hàng hiện đại được cung cấp qua phương tiện điện tử cho khách hàng tổ chức và khách hàng cá nhân Những tác động tích cực của dịch vụ ngân hàng điện tử đã được nhiều nhà khoa học và kinh tế chứng minh, tuy nhiên vẫn có nhiều nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của dịch vụ ngân hàng điện tử ở một mức độ nào đó chưa thực sự có tác động lớn đến kết quả hoạt động của ngân hàng, ngược lại còn gia tăng chi phí đầu tư, chi phí đảm bảo an toàn, phòng chống và xử lý rủi ro
Đề tài “Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại Việt Nam” được tôi lựa chọn làm luận án tiến sỹ nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của dịch vụ ngân
hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để xác định tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp thực tiễn phát huy những tác động tích cực và giảm thiểu các hạn chế của dịch vụ ngân hàng điện tử, thúc đẩy hoạt động ngân hàng đạt hiệu quả cao hơn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) tới kết quả hoạt động (KQHĐ) của các ngân hàngthương mai (NHTM) Việt Nam, từ đó gợi ý giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy các tác động tích cực của dịch vụ NHĐT
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tổng quan lý thuyết về dịch vụ NHĐT, đặc điểm dịch vụ NHĐT, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ NHĐT
Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ của các ngân hàng trên các quốc gia trên thế giới và Việt Nam
Lựa chọn và xây dựng mô hình đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT tới KQHĐ của các NHTM Việt Nam.Phân tích, đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ các NHTM Việt Nam bằng các phương pháp định lượng và định tính
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề xuất giải pháp, chiến lược hoạt động cho các NHTM nhằm phát huy tác động tích cực của dịch vụ NHĐT
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Dịch vụ ngân hàng điện tử và tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến KQHĐ các NHTM Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 6Về nội dung: Nghiên cứu tác động của dịch vụ NHĐT đến kết quả tài chính cũng như các kết quả phi tài
chính của các NHTM Việt Nam
Về thời gian: Do điều kiện số liệu về dịch vụ NHĐT còn hạn chế, nghiên cứu sử dụng số liệu của các ngân
hàng trong 05 năm giai đoạn 2014 - 2018 Đây cũng là những năm tình hình kinh tế Việt Nam duy trì tăng trưởng ổn định và ghi nhận sự phát triển dịch vụ NHĐT của các NHTM
Về không gian: Nghiên cứu dựa trên số liệu của 30 NHTM Việt Nam có tính chất đại diện cho hệ thống
NHTM Việt Nam Nghiên cứu không tính đến các NHTM liên doanh, NHTM nước ngoài tại Việt Nam do tính không đồng nhất về đặc điểm, cơ cấu tổ chức hoạt động
4 Hướng tiếp cận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Hướng tiếp cận nghiên cứu:
Đối với đề tài “Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, số lượng các nghiên cứu liên quan trên thế giới cả về lý thuyết và thực nghiệm
đã có cơ bản, vì vậy nghiên cứu sinh sử dụng hướng tiếp cận diễn giải nhằm kiểm định lý thuyết dựa trên
các nghiên cứu sẵn có ở trong nước và nước ngoài
- Phương pháp nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài tác giả sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính để trả lời câu hỏi nghiên cứu Phương pháp phân tích định lượng được tiến hành với nguồn số liệu nghiên cứu sinh thu thập vàtính toán, với mục đích đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT đến kết quả kinh doanh ngân hàng thông qua
mô hình hồi quy dữ liệu bảng
Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng để phân tích các dữ liệu định tính thu thập được sau quá trình phỏng vấn chuyên gia Nhằm đảm bảo sự thống nhất về hướng tiếp cận nghiên cứu, các dữ liệu định tính được phân tích theo hướng diễn giải, thông qua hai quá trình xử lý dữ liệu tóm tắt và phân nhóm với mục đích giải thích cho kết quả nghiên cứu định lượng và giải quyết những câu hỏi định tính khác mà nghiêncứu định lượng chưa xử lý được
5 Đóng góp của luận án
- Về lý thuyết:
Xây dựng khung lý thuyết về dịch vụ NHĐT và tác động của dịch vụ NHĐT tới kết quả hoạt động của ngân hàng; Xây dựng mô hình định lượng đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT tới kết quả hoạt động của ngân hàng
Tổng hợp bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới, cùng với kết quả nghiên cứu đưa các giải pháp
và kiến nghị phát triển dịch vụ NHĐT, góp phần nâng cao kết quả hoạt động ngân hàng
6 Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án được chia làm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử tới kết quả hoạt động của ngân hàng
Trang 7Chương 3: Kết quả hoạt động và thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Chương 4: Đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 5: Một số giải pháp và kiến nghị
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả tài chính của ngân hàng
Nghiên cứu ở các nước phát triển
Các nghiên cứu của Hasan et al (2002), Kagan et al (2005), DeYoung (2005, 2007), Hernando, I và Nieto,
M J., (2007), Onay, Ozsoz và Helvacioglu (2008), Delgado et al (2004, 2007), Onay và Ozsoz (2013) cho thấy ứng dụng NHĐT có ảnh hưởng tốt đến lợi nhuận của NH với một độ trễ thời gian nhất định, đối với các nước Châu Âu và Hoa Kỳ Một số nghiên cứu khác của Egland et al (1998), Sullivan (2000), Sathye (2005) cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể của dịch vụ NHĐT, ở đây cụ thể là dịch vụ ngân hàng qua mạng (internet banking) đến hiệu quả hoạt động của các NH Hoa Kỳ và Úc
Nghiên cứu ở các nước đang phát triển
Kết quả nghiên cứu khác nhau ở các nước đang phát triển như Jordan, Pakistan, Bangladesh, Iran, Ả rập Saudi, Keyna cho thấy dịch vụ NHĐT, hay ngân hàng qua mạng đem lại ảnh hưởng nhưng chưa thực sự rõ rệt đối với KQHĐ, NHĐT cải thiện hiệu suất hoạt động ngân hàng ở một mức độ, khía cạnh nhất định: Nghiên cứu của Rahman (2007); Malhotra và Singh (2009); Nader (2011); Josiah và Nancy (2012); Oyewole
et al (2013) và Rauf và Qiang (2014) Kết quả nghiên cứu Siam (2006), Khrawish, A.H và Al-Sa'di, N.M (2011) và Akhisar et al (2015) cùng cho thấy chi phí cơ sở hạ tầng cao của việc phát triển dịch vụ NHĐT cùng với số lượng KH chưa tương xứng, tác động đến lợi nhuận của các NH trong các nước đang phát triển.Kết quả này có thể lý giải bởi có sự khác biệt trong cơ sở hạ tầng phát triển NHĐT và đặc điểm kinh tế chínhtrị, văn hóa xã hội có liên quan tới hành vi của KH tại mỗi quốc gia Hầu như ở mỗi quốc gia, KH quen thuộc nhất với các ứng dụng dịch vụ NHĐT như máy ATM và từ đó giảm chi phí hoạt động đối với chi nhánh văn phòng Thực tế chco thấy thực trạng hoạt động dịch vụ NHĐT ở mức độ nào, sơ khai hay phát triển và đều có ảnh hưởng đến hiệu suất ngân hàng đáng kể khi xét đến kết quả chung có được
Bảng 1.1 Tổng quan một số kết quả nghiên cứu chính
STTKết quả nghiên cứuCác nghiên cứu của tác giả1Dịch vụ NHĐT có tác động tích cực đến kết quả hoạt
động ngân hàng sau một thời gian áp dụngHasan et al (2002), Kagan et al (2005), DeYoung (2005, 2007), Delgado et al (2004, 2007); Agboola (2006); Hernando, I và Nieto, M J., (2007); Rahman (2007); Onay, Ozsoz và Helvacioglu (2008); Nader (2011); Josiah và Nancy (2012); Oyewole et al (2013); Onay và Ozsoz (2013); Rauf và Qiang (2014); Karimzadeh và cộng sự (2014); Dinh Van (2015); Siddik và cộng sự (2016);
Yang và Li (2018).2Dịch vụ NHĐT không có tác động đáng kể đến kết quả hoạt động ngân hàngEgland et
al (1998), Sullivan (2000); Sathye (2005); Malhotra và Singh (2009); Mohammad và Saad (2011);
Khrawish, A.H và Al-Sa'di, N.M (2011).3Dịch vụ NHĐT có tác động tiêu cực đến kết quả hoạt động ngân
hàng khi mới áp dụngSiam (2006); Onay, Ozsoz và Helvacioglu (2008); Al-Smadi và Al-Wabel (2011); Sadr
(2013); Oyewole et al (2013); Akhisar et al (2015); Siddik và cộng sự (2016)Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 81.1.2 Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả phi tài chính của ngân hàng
Từ những nghiên cứu của Summa et al (2011), Okiro và Ndungu (2013), DeYoung et al (2007), Bello và Dogarawa (2005) có thể thấy, dịch vụ ngân hàng điện tử không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lợi nhuận của ngân hàng mà còn giúp ngân hàng tăng năng suất lao động, phát triển được mạng lưới khách hàng không chỉ ở đô thị mà còn trải rộng đến các vùng nông thôn, từ đó quảng bá thương hiệu của ngân hàng Tuy nhiên đi đôi với phát triển CNTT, ngân hàng cần chú trọng về cải thiện chất lượng dịch vụ NHĐT cung cấp
để gia tăng trải nghiệm hài lòng cho khách hàng
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Số lượng các nghiên cứu về dịch vụ NHĐT tại Việt Nam còn hạn chế so với các nghiên cứu về vấn đề khác trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đặc biệt có rất ít nghiên cứu nghiên cứu tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ của ngân hàng
Nghiên cứu điển hình nhất và cũng là duy nhất cho đến hiện tại mà nghiên cứu sinh tìm hiểu được có cùng
chủ đề nghiên cứu đó là bài báo khoa học của Dinh Van (2015), “Measuring the Impacts of Internet banking
to Bank performance: Evidence from Vietnam” trên Tạp chí thương mại điện tử và Internet banking Nghiên
cứu đã sử dụng mô hình định lượng để đánh giá tác động của dịch vụ Internet banking tới kết quả hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam, trong các năm từ 2009 đến 2014 Một số nghiên cứu khác có cùng đối tượng nghiên cứu là dịch vụ NHĐT, dịch vụ thanh toán thẻ, TTKDTM như: Luận án tiến sỹ của NCS Phạm Thu
Hương (2012) “Phát triển dịch vụ NHĐT tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế 2012”, Đại học ngoại thương; Nghiên cứu của Phạm Long (2012): “Xây dựng mô hình về chất lượng dịch vụ NHĐT tại Việt Nam”
trong Kỷ yếu Hội thảo Kinh doanh hàng năm lần 2, Đại học Sam Houston State; Nghiên cứu của Trương Thị
Vân Anh và Lê Văn Huy (2008): “Mô hình nghiên cứu chấp nhận E-Banking tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế, Số 362, 07/2008 Nhìn chung, các nghiên cứu về dịch vụ NHĐT ở Việt Nam đã hệ thống được
cơ sở lý luận về dịch vụ NHĐT, đặc điểm và phân loại sản phẩm dịch vụ NHĐT Các nghiên cứu chủ yếu đánh giá sự phát triển và phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển của dịch vụ NHĐT tại Việt Nam, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận dịch vụ NHĐT của khách hàng tại các ngân hàng Việt Nam.1.3 Khoảng trống nghiên cứu:
Cho đến thời điểm hiện tại, trong phạm vi tìm hiểu của nghiên cứu sinh, rất ít tài liệu nghiên cứu và phân tíchtác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ của NHTM tại Việt Nam Trong các nghiên cứu trên thế giới cũng như Việt Nam, không có nhiều các nghiên cứu kết hợp đầy đủ phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính mà chủ yếu là nghiên cứu định lượng hoặc nghiên cứu định tính Bên cạnh đó, các nghiên cứu với các kết quả khác nhau khi đánh giá tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ các ngân hàng Phụ thuộc vào đặc điểm từng ngân hàng, lịch sử và sự phát triển dịch vụ NHĐT cùng với môi trường chính trị kinh tế của mỗi quốc gia mà tác động của dịch vụ NHĐT đến KQHĐ ngân hàng được xác định tích cực hay tiêu cực, có hay không có tác động Vì vậy, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp kết hợp song song định lượng và định tính
với mong muốn trả lời câu hỏi có hay không ảnh hưởng của dịch vụ NHĐT đến các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của ngân hàng, dịch vụ NHĐT tác động tích cực hay tiêu cực đến kết quả hoạt động của các NHTMViệt Nam trong giai đoạn dịch vụ NHĐT đã bước đầu có những sự phát triển nhất định ở Việt Nam
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
2.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử
2.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử
IMF (2002) đã định nghĩa: “Dịch vụ ngân hàng điện tử (electronic banking) được hiểu là sử dụng các kênh
phân phối điện tử đối với sản phẩm dịch vụ ngân hàng, và là một tập con của tài chính điện tử (electronic finance)” Tương tự, Allen và cộng sự (2002) định nghĩa dịch vụ NHĐT là phương thức cung cấp dịch vụ tài
Trang 9chính bằng cách sử dụng phương tiện điện tử; ngày nay các NH bán lẻ đang chuyển sang phân phối dịch vụ tài chính đa kênh trong nền tảng kỹ thuật số, cung cấp dịch vụ truyền thống của các ngân hàng thông qua Internet Nghiên cứu của Shah and Clarke (2009) định nghĩa dịch vụ NHĐT đơn giản là việc cung cấp dịch
vụ tài chính qua kênh phân phối điện tử (e-channels) của một tổ chức cho KH của mình, có thể là một cá nhân hoặc một doanh nghiệp khác
Tổng quát lại có thể hiểu: “Dịch vụ ngân hàng điện tử là việc sử dụng các kênh phân phối điện tử để đưa
sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới khách hàng” Trong đó các kênh phân phối điện tử là hệ thống các
phương tiện điện tử tương tác cùng với quy trình tự động hóa được các ngân hàng sử dụng để giao tiếp với
KH và cung ứng sản phẩm dịch vụ cho KH Các kênh phân phối điện tử phổ biến có thể kể đến đó là giao dịch qua ATMs, POS, Internet banking, Mobile banking Khái niệm này sẽ được tác giả sử dụng xuyên suốt trong luận án
Ngân hàng điện tử và ngân hàng số
Phát triển hơn nữa của “ngân hàng điện tử” là một mô hình kinh doanh mới hoàn toàn khác với mô hình
truyền thống, đó là mô hình ngân hàng không có chi nhánh, hay còn gọi là “ngân hàng số” Chris (2014) đã
mô tả ngân hàng số là một mô hình ngân hàng mà ở đó hoạt động và cơ cấu tổ chức ngân hàng hoàn toàn dựavào “nguồn lực số”, và “mạng lưới số” là giá trị cốt lõi của ngân hàng Ngân hàng số có ý nghĩa bao quát hơnngân hàng điện tử hay ngân hàng trực tuyến, thể hiện một mô hình kinh doanh được số hóa toàn phần, khôngchỉ ở dịch vụ cung cấp mà cả ở cơ cấu tổ chức, quy trình hoạt động của ngân hàng Ngân hàng điện tử là mộtcấu phần quan trọng, là nội dung cơ bản nhất của ngân hàng số, tạo nên bước chuyển để các ngân hàng thay đổi cách thức hoạt động từ ngân hàng chi nhánh sang ngân hàng không chi nhánh
2.1.2 Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử
Đối với Ngân hàng, dịch vụ NHĐT chính là phương thức kinh doanh hiệu quả, giúp cải thiện hình ảnh ngân
hàng, làm giàu mối quan hệ với KH bằng cách cung cấp dịch vụ cao cấp và các sản phẩm sáng tạo tùy chỉnh theo nhu cầu cá nhân Furst và cộng sự (2000) đã xem dịch vụ NHĐT đóng vai trò một kênh phân phối từ xa trong việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng Ngân hàng còn có cơ hội nâng cao cơ sở KH của họ từ đó gia tăng lợi nhuận trông thấy (Okibo, Wario 2014)
Đối với khách hàng, dịch vụ NHĐT đưa ra nhiều sự lựa chọn về các kênh họ có thể sử dụng để tiến hành
giao dịch, kinh doanh, thuận tiện về thời gian và địa điểm hơn rất nhiều dịch vụ NH truyền thống Dịch vụ NHĐT đóng vai trò là các kênh tương tác tự động, ở đó khách hàng (KH) thỏa mãn nhu cầu giao dịch NH của mình bằng phương tiện điện tử mà không cần đến chi nhánh NH (Simpson, 2002) Nghiên cứu khác của Sumra và Manzoor (2011) cũng chỉ ra rằng, dịch vụ NHĐT không chỉ cung cấp cho KH các giao dịch phù hợp và nhanh hơn mà còn được hưởng lợi từ lãi suất cao hơn do tiết kiệm chi phí của các NH
Đối với nền kinh tế, dịch vụ NHĐT nói riêng và công nghệ tài chính nói chung được khẳng định đóng vai
trò tích cực trong thúc đẩy tài chính toàn diện, gắn với tăng trưởng kinh tế (theo nghiên cứu mới nhất của World Bank do Murthy và cộng sự thực hiện, 2019) Công nghệ tài chính mở rộng khả năng tiếp cận tài chính của người thu nhập thấp và các hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ Có thể thấy các dịch vụ tài chính số nhanh hơn, hiệu quả hơn và thường rẻ hơn so với các dịch vụ tài chính truyền thống và do đó, ngày càng vươn tới các hộ gia đình có thu nhập thấp hơn và các DNVVN
2.1.3 Ưu điểm và hạn chế của dịch vụ ngân hàng điện tử
2.1.3.1 Ưu điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử
- Nhanh chóng, thuận tiện, chính xác: Một ưu điểm vượt trội của dịch vụ NHĐT so với hoạt động
ngân hàng truyền thống đó là không bị gián đoạn về không gian và thời gian Sự thuận tiện mà dịch vụ NHĐT mang lại đó chính là việc KH có thể thực hiện giao dịch ngay khi cần thiết (24h/ngày,7ngày/tuần) và
ở bất kỳ địa điểm nào (ở nhà, văn phòng hay khi đi công tác), tiết kiệm thời gian và đáp ứng nhu cầu linh hoạt của KH
Trang 10An toàn giao dịch không dùng tiền mặt: Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) đang là xu
thế của xã hội phát triển, đặc biệt được Chính phủ các quốc gia quan tâm, nhằm thúc đẩy một hạ tầng kỹ thuật số, tạo điều kiện cho kinh doanh hiện đại Ưu điểm thấy rõ của sử dụng dịch vụ NHĐT trong TTKDTM đó là tính an toàn cao đối với các giao dịch, đặc biệt là giao dịch thanh toán giá trị lớn KH sẽ không phải mang tiền mặt trực tiếp đến NH như giao dịch truyền thống nên hạn chế được rủi ro trong quá trình vận chuyển
Tiết kiệm chi phí và chất lượng đồng đều: Có thể khẳng định giao dịch NHĐT có chi phí thấp
nhất so với các giao dịch truyền thống, đặc biệt ở các nước phát triển Số lượng chi nhánh của các NH là rất ít do sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ NHĐT và thói quen TTKDTM của người dân, từ đó góp phần giảm đáng kể chi phí hoạt động của NH như chi phí văn phòng, điện nước, nhân công
Thân thiện với môi trường: Cùng với mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của nhiều quốc gia
trên thế giới, ngành ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng góp phần thực hiện chiến lược xanh hóa nền kinh tế Các hoạt động của NH cần được xanh hóa cả về sản phẩm đưa ra và cách thức phân phối sảnphẩm Quy mô các chi nhánh, sở giao dịch NH ngày càng tăng sẽ làm tăng lượng khí thải CO2 ra môi trường khi dùng nhiều thiết bị như máy in, photo, điều hòa và các thiết bị điện khác
2.1.3.2 Hạn chế của dịch vụ ngân hàng điện tử
Chi phí đầu tư công nghệ và hạ tầng cao : Đối với ngân hàng, để xây dựng hạ tầng phát triển
dịch vụ NHĐT, các NH phải bỏ ra khá nhiều vốn đầu tư cho hệ thống, hạ tầng kỹ thuật đồng thời điliền với nó là việc xây dựng và phát triển hệ thống phần mềm, đào tạo nhân lực chất lượng cao Quá trình này phụ thuộc lớn vào tiềm lực tài chính của các NH
Chất lượng phụ thuộc vào công nghệ, kỹ thuật và hạ tầng thanh toán: Một hạn chế của dịch
vụ NHĐT có thể kể đến đó là chất lượng của dịch vụ NHĐT phụ thuộc nhiều vào công nghệ và kỹ thuật Những ảnh hưởng bên ngoài có thể làm thay đổi chất lượng của dịch vụ NHĐT như: lỗi kỹ thuật của các thiết bị điện tử như máy ATM, POS, chất lượng mạng internet, tốc độ đường
truyền…Ngoài ra KH gặp phải những bất tiện nhất định khi thanh toán do vấn đề hạ tầng thanh toán và công nghệ của các NH khác nhau Các ngân hàng dẫn gặp nhiều khó khăn khi kết nối với nhau để cung cấp các sản phẩm ngân hàng nhất quán đến với khách hàng
- Tiềm tàng nhiều rủi ro và phát sinh chi phí phòng ngừa rủi ro : IMF (2002) đã nhận định dịch vụ NHĐT
có đầy đủ các rủi ro tương tự dịch vụ ngân hàng truyền thống, thậm chí còn nghiêm trọng hơn cụ thể như rủi ro
hoạt động (operational risk), rủi ro danh tiếng (reputional risk) và rủi ro pháp lý (legal risk) do đặc tính phụ
thuộc nhiều vào CNTT và các giao dịch diễn ra xuyên biên giới Rủi ro đáng ngại trong hoạt động NHĐT chính là rủi ro hệ thống bị xâm phạm, gian lận, lừa đảo (Pennathur, 2001) Một số rủi ro thường thấy trên thế giới có thể kể đến như : Trộm cắp danh tính, tiếp quản tài khoản, mối đe dọa tự động của phần mềm độc hại
2.1.4 Các kênh phân phối dịch vụ ngân hàng điện tử
Dịch vụ NHĐT được phân phối chủ yếu qua các kênh như: ATM (Máy rút tiền tự động); EFTPOS/POS (Máythanh toán tại các điểm bán hàng); Internet Banking (Ngân hàng qua mạng); Phone Banking (Ngân hàng qua điện thoại), Mobile Banking (Ứng dụng ngân hàng trên ĐTDĐ) và Email Banking (Ứng dụng Ngân hàng qua thư điện tử)
2.1.5 Một số dịch vụ ngân hàng điện tử
Các dịch vụ NHĐT phổ biến nhất đang cung cấp tại các ngân hàng có thể kể đến: Truy cập tài khoản trực tuyến; Thanh toán trực tuyến; Tiết kiệm trực tuyến; Báo cáo chi tiêu; Cho vay trực tuyến, Các dịch vụ ngân hàng “business”; Bán chéo và Dịch vụ khách hàng trực tuyến
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử
Các nhân tố này có thể chia thành 3 nhóm: Ngân hàng, Khách hàng và Môi trường kinh doanh (Phạm Thu Hương, 2012) Cụ thể trong đó:
Trang 11- Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng: Quan điểm chiến lược của ban lãnh đạo ngân hàng; Văn hóa tổ
chức; Khả năng tương thích của hệ thống ngân hàng lõi; Nguồn lực tài chính; Khả năng kết nối CNTT; Trình
độ kỹ năng của nhân viên ngân hàng; An ninh bảo mật của ngân hàng là những yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ NHĐT tại các NHTM
- Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng: Thói quen sử dụng tiền mặt và khả năng chấp nhận công nghệ chính
là hai nhân tố chính thuộc về KH có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển dịch vụ NHĐT ở các quốc gia Nghiên cứu của David, Bagozzi và Warshaw (1989) được coi là nền tảng của các nghiên cứu sau này khi tác giả đã đưa ra lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận của KH đối với các sản phẩm và dịch vụ ứng dụng CNTT, trong đó haih yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi của người sử dụng công nghệ đó là nhận thức được tính hữu ích (Perceived usefulness- PU) và cảm nhận dễ sử dụng (Perceived ease of use - PEOU)
- Nhóm nhân tố môi trường kinh doanh: Hệ thống TTĐT quốc gia; Hạ tầng CNTT của doanh nghiệp và
xã hội; Chính sách và pháp luật về TMĐT, NHĐT của Nhà nước; Cạnh tranh giữa các NH trong nước và quốc tế là những yếu tố thuộc nhóm môi trường kinh doanh có ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ NHĐT
2.2 Đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng
2.2.1 Khung xếp hạng hoạt động ngân hàng CAMELS
Trong những năm gần đây, một trong những mô hình được sử dụng nhiều nhất để ước tính hiệu suất hoạt động của ngân hàng là khung xếp hạng CAMELS Trên thực tế, khung phân tích dựa trên hệ thống xếp hạngCAMELS, là một hệ thống đánh giá được tạo bởi các nhà quản lý ngân hàng liên bang để đánh giá hiệu suất tổng thể của các NH Hoa Kỳ (Rose & Hudgins, 2012)
Từ viết tắt CAMELS là viết tắt của: “Capital adequacy”- Mức độ an toàn vốn; “Asset quality”- Chất lượng tài sản có; “Management”- Khả năng quản lý; “Earning”- Khả năng sinh lời, và “”Liquidity” -Thanh khoản Các nhà điều hành đã bổ sung yếu tố “Sensitivity” - Độ nhạy cảm, để đánh giá rủi ro thị trường liên quan đếnthay đổi lãi suất và các yếu tố khác, nhất là trong cuộc khủng hoảng của thị trường tài chính (Kandrac, 2014)
2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng
2.2.2.1 Đánh giá kết quả hoạt động tài chính (financial performance) của ngân hàng
Piyu (1992) chỉ ra rằng, hiện nay, các chỉ tiêu chính thường dùng để đánh giá mức độ vững chắc về tài chính của một NHTM cũng như chất lượng quản lý của nó Thước đo phổ biến nhất để đánh giá hoạt động của ngân hàng là khả năng sinh lời Khả năng sinh lời là được đo lường bằng các tiêu chí cơ bản như Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản (ROA), Lợi nhuận sau thuế trên Vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi ròng (NIM)
và các chỉ tiêu về lợi nhuận khác (Mabwe Kumbirai và Robert Webb, 2010; Bikker, 2010) Một số chỉ tiêu khác đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng ở các khía cạnh cụ thể có thể kể đến như: Quy mô và tăng trưởng tài sản, vốn chủ sở hữu ngân hàng; Quy mô và tăng trưởng tiền gửi khách hàng; Quy mô và tăng trưởng cho vay khách hàng; Thu nhập lãi và thu nhập từ hoạt động dịch vụ ngân hàng; Nợ quá hạn, nợ xấu ngân hàng (Phan Thị Thu Hà, 2009)
2.2.2.2 Đánh giá kết quả hoạt động phi tài chính (non-financial performance) của ngân hàng
Việc đánh giá kết quả tài chính truyền thống thường tập trung vào kết quả ngắn hạn đi trước kết quả dài hạn, phản ánh hiệu suất trong quá khứ, do đó ít hiệu quả trong việc dự đoán tương lai và chưa phải là một
bộ công cụ đầy đủ tin cậy để đo lường hiệu suất tổng thể của ngân hàng hoặc đưa ra các quyết định chiến lược Kaplan và Norton (1996) đề nghị rằng các kết quả hoạt động phi tài chính là "một công cụ dự đoán tốt hơn về hiệu suất dài hạn của công ty" và giúp các tổ chức theo dõi tốt hơn tiến trình đạt được các mục tiêu
chiến lược Các phép đo lường hiệu quả phi tài chính (non-financial performance) cố gắng nắm bắt các các
khía cạnh của hiệu quả hoạt động ngân hàng như sự hài lòng của khách hàng, chất lượng sản phẩm và dịch
vụ, tăng trưởng quy mô, uy tín thương hiệu, hiệu suất hoạt động, tính đổi mới trong kinh doanh (Kaplan và
Trang 12Norton, 1996) Nhiều thước đo trong các khía cạnh phi tài chính được sử dụng như tính bền vững, tăng trưởng, những đổi mới kinh doanh phản ánh đúng hơn hiệu suất trong tương lai (Otley, 1999)
2.3 Tác động của dịch vụ ngân hàng điện tử đến kết quả hoạt động ngân hàng
2.3.1 Tác động đến kết quả tài chính của ngân hàng
- Dịch vụ NHĐT góp phần tăng doanh thu, giảm chi phí hoạt động ngân hàng: Dịch vụ
NHĐT được kỳ vọng sẽ giúp tăng doanh thu dịch vụ, cắt giảm chi phí nhân công và mạng lưới chi nhánh NH đắt đỏ nhờ sự hỗ trợ của công nghệ và mạng không dây (Shah and Clarke, 2009)
- Dịch vụ NHĐT tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng trong dài hạn: Dịch vụ
NHĐT có tác động mạnh mẽ và đáng kể đến lợi nhuận của các NHTM sau một thời gian nhất định (Merenzi, Hichman và Dehler, 2000; Siam, 2006; Ongare, 2013) Dich vụ NHĐT không chỉ đem đến các doanh thu về dịch vụ mà còn góp phần mở rông quy mô hoạt động ngân hàng, bù đắp chi phí đầu tư, từ đó về dài hạn gia tăng lợi nhuận hoạt động cho ngân hàng
- Dịch vụ NHĐT tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng: Các
nghiên cứu cho thấy dịch vụ NHĐT là một chiến lược hiệu quả tiết kiệm chi phí để cạnh tranh với các NH trong và ngoài nước nếu có thể kiểm soát tốt các rủi ro liên quan Dịch vụ NHĐT tạo nên những tác động tích cực đến KQHĐ của ngân hàng thể hiện ở các chỉ tiêu tài chính như: tỷ suất lợi nhuận/ VCSH (ROE), tỷ suất lợi nhuận/tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận /vốn đầu tư (ROI), thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ thu nhập lãi ròng (NIM)
2.3.2 Tác động đến kết quả phi tài chính của ngân hàng
- Dịch vụ NHĐT thu hút mở rộng mạng lưới KH mới, KH giá trị: Sự xuất hiện của dịch vụ
NHĐT, bên cạnh việc mở rộng mạng lưới KH theo chiều rộng mà còn giúp NH thu hút được đối tượng KH có mức thu nhập và trình độ học vấn cao hơn, giúp tăng quy mô doanh thu, đặc biệt là doanh thu bán lẻ của NH (Shah and Clarke, 2009)
- Dịch vụ NHĐT còn là kênh tiếp thị điện tử (e-marketing), cải thiện đáng kể hình ảnh của
một ngân hàng: Dịch vụ NHĐT giúp nâng cao hình ảnh của một NH, điều này đặc biệt đúng trong
những ngày đầu khi chỉ có các NH tư duy sáng tạo triển khai kênh này Danh mục sản phẩm dịch
vụ NHĐT được giới thiệu rộng rãi trên website NH khiến NH có sức hút hơn với các KH tri thức, hiện đại, vẫn giữ vai trò là một kênh marketing phổ biến của NH
- Dịch vụ NHĐT góp phần tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Nhiều nghiên cứu cũng
cho thấy dịch vụ NHĐT góp phần tái thiết kế lại tổ chức, quy trình kinh doanh của NH, thúc đẩy thực hành làm việc hiệu quả hơn, tốc độ cao hơn Dịch vụ NHĐT còn giúp NH dễ dàng mở rộng thị trường, không giới hạn về không gian, không cần sự hiện diện vật lý của chi nhánh đại lý NH, ví
dụ chính là các “Ngân hàng ảo” hiện nay
- Dịch vụ NHĐT cải thiện mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng:
Trong công cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM vừa và nhỏ hiện nay, việc cung cấp trải nghiệm độc đáo, sản phẩm sáng tạo tiện dụng, chi phí hợp lý là yếu tố hấp dẫn sẽ giữ chân KH,
nâng cao sự hài lòng của KH đối với dịch vụ NH Phương châm “customer first”- khách hàng là ưu
tiên số một, là kim chỉ nam để thành công trong phát triển dịch vụ NHĐT (Shah and Clarke, 2009)
- Dịch vụ ngân hàng điện tử góp phần đổi mới mô hình kinh doanh và sản phẩm của ngân hàng
Dịch vụ NHĐT đã thay đổi mô hình kinh doanh NH bán lẻ truyền thống theo nhiều cách, nhưng về
cơ bản đó là việc ứng dụng công nghệ vào việc cung cấp dịch vụ ngân hàng truyền thống và các dịch vụ ngânhàng hiện đại cho khách hàng Ngoài ra thông qua dịch vụ NHĐT, các NH có thể phân phối các dịch vụ tài chính được bán chéo giữa các NH Điều này có nghĩa là các NH có thể bán và quản lý các dịch vụ được cungcấp bởi các NH khác (thường là các NH nước ngoài) để tăng doanh thu của họ Đây là một khả năng đặc biệthấp dẫn đối với các NH nhỏ với phạm vi sản phẩm hạn chế
Trang 13- Dịch vụ NHĐT có thể “biến đổi” các rủi ro hoạt động của ngân hàng và yêu cầu các biện pháp phòng chống rủi ro.
Ủy ban Basel (2000) đã phát hành Báo cáo của “Electronic Banking Group- EBG” về quản
lý và giám sát rủi ro các vấn đề phát sinh từ sự phát triển của ngân hàng điện tử trong tháng 10 năm 2000 Báo cáo này đã kiểm kê và đã đánh giá các rủi ro chính liên quan đến ngân hàng điện
tử, đó là rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro hoạt động (bao gồm rủi ro an ninh và pháp lý) vàrủi ro tín dụng, thị trường và thanh khoản EBG kết luận rằng hoạt động ngân hàng điện tử không làm phát sinh các rủi ro hoạt động vốn có Tuy nhiên, báo cáo lưu ý rằng ngân hàng điện tử có thể làm tăng và sửa đổi một số rủi ro truyền thống này, do đó ảnh hưởng đến rủi ro tổng thể hồ sơ củangân hàng Cụ thể, rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động và rủi ro danh tiếng là chắc chắn tăng cao bởi sự ra đời nhanh chóng và sự phức tạp cơ bản về công nghệ của các dịch vụ NHĐT
2.4 Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử hướng tới mô hình ngân hàng
số nhằm nâng cao kết quả hoạt động ngân hàng
2.4.1 Về định danh số và xây dựng hệ sinh thái số
Kinh nghiệm của Ấn Độ
Có thể thấy định danh số là cốt lõi của quá trình chuyển đổi số hóa các dịch vụ tài chính ngân hàng Đây thực
sự là thách thức với những nước đang phát triển do người dân thiếu dữ liệu lưu trữ định danh chính thống Kinh nghiệm từ Ấn Độ đã áp dụng thành công xây dựng định danh số - Chương trình quốc gia India Stack đột phá trong hệ sinh thái kỹ thuật số và khởi nghiệp Ấn Độ Chương trình quốc gia India Stack không chỉ giải quyết các thách thức lớn mà Chính phủ Ấn Độ gặp phải, đồng thời mở ra cơ hội phát triển của hệ sinh thái kỹ thuật số Quá trình xây dựng và phát triển hệ sinh thái kỹ thuật số ở Ấn Độ gợi mở nhiều kinh nghiệm
mà các nước đang phát triển như Việt Nam có thể học hỏi Ngoài ra, các khoản vay, giải ngân, thuế, trợ cấp
sẽ đến trực tiếp người thụ hưởng thông qua công cụ UPI Điều này đặc biệt hữu ích đối với những người sống ở nông thôn, vốn vẫn chưa được kết nối với internet, không biết chữ và không sở hữu điện thoại thông minh Đây sẽ là một kinh nghiệm quý giá đối với những quốc gia như Việt Nam, vốn đang hướng tới hệ thống dịch vụ công ngày càng hoàn thiện và một hệ sinh thái kỹ thuật số
2.4.2 Về đảm bảo an toàn bảo mật
Kinh nghiệm của Malaysia
Chính phủ Malaysia đưa ra những yêu cầu nhằm đảm bảo an toàn hoạt động NHĐT Ví dụ như các tổ chức
NH phải có sự tương tác trực diện với KH trước khi mở tài khoản hoặc gia hạn TD Các tổ chức NH cũng được yêu cầu thiết lập các biện pháp phù hợp để xác định KH tiếp cận các trang web của bên thứ ba và quy trình nghiêm ngặt khi xác minh KH như đối với KH trực tiếp Khi cung cấp dịch vụ NHĐT, các tổ chức NH cũng được yêu cầu thực hiện các cơ chế giám sát và báo cáo để xác định các hoạt động rửa tiền tiềm tàng Điều này cho phép NH Trung ương đảm bảo rằng ngành NH, trong khi theo kịp sự phát triển của CNTT, truyền thông và công nghệ, sẽ duy trì tính toàn vẹn của hệ thống tài chính và ngăn chặn việc lạm dụng bởi những kẻ rửa tiền
2.4.3 Về tăng cường nguồn lực tài chính ngân hàng
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Ở Trung Quốc, các NH cỡ trung không có khả năng phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thanh toán có tốc độ tương thích với nhu cầu của KH Để giải quyết vấn đề này, các NH và các công ty Fintech với mong muốn tìm kiếm thêm nguồn khách cá nhân đã gia tăng hợp tác với nhau Thực tế trong mấy năm qua các NH vừa
và nhỏ ở Trung Quốc đã hợp tác với nhiều tập đoàn công nghệ lớn như Alibaba, Tencent và Baidu… Đây là một xu thế kinh doanh hiệu quả, đem đến lợi ích cho cả NH và các công ty công nghệ khi các hãng công nghệ Trung Quốc có lợi thế thu thập khối lượng dữ liệu khổng lồ của người tiêu dùng (Alipay, được điều hành bởi Ant Financial, chi nhánh của Alibab trong vòng chưa đầy 15 năm đã đạt 51% người dùng điện thoại
Trang 14di động ở Trung Quốc) So sánh dữ liệu cho thấy các ứng dụng của ba NH lớn nhất của Trung Quốc chỉ có mức thâm nhập khoảng 7% đến 11%, kém xa so với các công ty công nghệ (CNBC, 2018).
2.4.4 Về đổi mới hệ thống ngân hàng
Kinh nghiệm của Úc
Khi nền kinh tế ở Úc rơi vào suy thoái những năm 1991 dẫn đến các NH ở Úc phải nỗ lực tìm cách duy trì hoạt động và gia tăng lợi nhuận trở lại cho NH Giải pháp được các NH Úc sử dụng đó là cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, đóng cửa các chi nhánh hoạt động không hiệu quả, cắt giảm số lượng nhân viên đang làm việc tạicác NH và thay thế bằng các kênh phân phối điện tử với chi phí đầu tư rẻ hơn Các NH tại Úc khuyến khích người dân sử dụng các kênh giao dịch tự động như: Phone banking, Internet banking thay cho giao dịch trực tiếp tại các chi nhánh Ở các vùng nông thôn chưa có nhiều sự hiện diện của các NH, nhiều ngân hàng đã mởthêm các kiot nhỏ hoặc các trung tâm giao dịch nông thôn đặt tại các cửa hàng siêu thị, hiệu thuốc lớn, hoặc liên kết với tập đoàn viễn thông, điện lực Với những thay đổi trên, đến nay việc sử dụng các dịch vụ tài chính bằng phương tiện điện tử đã trở nên phổ biến cả ở đô thị và nông thôn, góp phần gia tăng tiện ích cho khách hàng và đưa hệ thống ngân hàng Úc phát triển mạnh
Kinh nghiệm của Vương quốc Anh
Vương quốc Anh đã chứng tỏ là quốc gia hàng đầu trong việc thúc đẩy sự đổi mới trong lĩnh vực dịch vụ TC-NH, với thành phố London đặc biệt đi đầu trong việc xây dựng các công ty công nghệ tài chính hàng đầu Đầu tư vào các giải pháp công nghệ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, khi thế giới chuyển sang làm việc từ xa và các kênh trực tuyến Làn sóng số hóa ngân hàng đầu tiên đến từ nhóm KH trẻ tuổi với sự bùng phát của thương mại điện tử Làn sóng thứ hai của việc áp dụng kỹ thuật số hiện đang xảy ra ở nhóm "Mid-Life Social Renters", "Asset-Rich Greys" và "Road to Retirement" - tất cả thường từ 50 tuổi trở lên – với tiềm năng tăng trưởng trong 5 năm tới (CACI, 2019) Thế hệ này ngày càng trở nên thoải mái hơn với công nghệ và hơn nữa là nhóm KH có khả năng giữ tiết kiệm giá trị cao Sự tiện lợi và nhanh chóng đặc biệt của việc chuyển tiền vào tài khoản tiết kiệm bằng ứng dụng qua điện thoại đã khiến các giao dịch tại các chi nhánh và kể cả giao dịch qua Internet banking thông qua máy tính không còn được ưa chuộng
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1 Một số chính sách và quy định pháp luật của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng điện tử
Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11; Thông tư 35/2006/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên internet;
Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 12/11/2012 của Chính phủ về TTKDTM; Quyết định 2545/QĐ-TTg
2016 phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020; Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 10/01/2017 về về tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn trong TTĐT và thẻ
Thông tư số 18/2018/TT-NHNN ngày 21/8/2018, quy định về an toàn hệ thống thông tin trong hoạt động NH; Nghị định 87/2019/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền
3.2 Kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014-2018
3.2.1 Một số kết quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam
3.2.1.1 Về quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu
Bảng 3.1: Quy mô tổng tài sản của 30 NHTM Việt Nam
Trang 15Năm20142015201620172018Tổng tài sản5.140.4736.015.4647.105.1228.457.5599.342.017Tăng trưởng
tuyệt đối (tỷ đồng)-874.9911.089.6581.352.437884.458Tăng trưởng tương đối
(%)-17,02%18,11%19,03%10,46%Nguồn: Tính toán từ BCTC của các ngân hàng
Tính đến cuối năm 2018, tổng TS của 30 NHTM Việt Nam đã đạt gần 9.342.017 tỷ đồng, tăng gần 10,46 %
so với năm 2017 Mức tăng trưởng tài sản của các NHTM Việt Nam giữ ở 2 con số từ năm 2015 đến nay chothấy sự phát triển về quy mô tương đối nhanh của các NHTM Việt Nam (17,02%; 18,11%; 19,03%; 10,46% lần lượt qua các năm 2015, 2016, 2017, 2018)
3.2.1.2 Về tăng trưởng cho vay khách hàng và tiền gửi khách hàng
Do ảnh hưởng từ chính sách thắt chặt tín dụng (TD) của Nhà nước, hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam năm 2018 đạt mức tăng trưởng thấp nhất trong những năm gần đây Dư nợ TD của nhóm 30 NHTM Việt Nam năm 2018 đạt 6.245 nghìn tỷ đồng, mức tăng trưởng khoảng 13,97% so với năm 2017, giảm khá nhiều so với mức tăng trưởng của các năm trước (2017 đạt 19,65%; 2016 đạt 21.89%, 2015 đạt 23,89%).Tuy nhiên, sự đóng góp của nguồn vốn NH vào tăng trưởng GDP khá tích cực, theo số liệu NH nhà nước: dư
nợ TD tính đến cuối năm 2018 toàn ngành NH đạt 7.211 nghìn tỷ đồng, bằng 130,28% GDP 2018 (5.535 nghìn tỷ đồng)
Hình 3.1: Số liệu quy mô (VNĐ) và tăng trưởng cho vay KH (%) của 30 NHTM VN
Hình 3.2: Số liệu quy mô ( tỷ đồng) và tăng trưởng tiền gửi KH(%) của 30 NHTM VN Nguồn: Tổng
hợp từ BCTC của các NH
3.2.1.3 Về thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất sinh lời của ngân hàng
Có thể thấy trong cơ cấu tổng lợi nhuận sau thuế của các NHTM VN, tỷ lệ thu nhập từ lãi thuần chiếm trên 80% tổng thu nhập Mặc dù vậy, đang có một sụt giảm nhẹ tỷ lệ này qua các năm, một phần do chính sách thắt chặt tín dụng của NN nhưng một phần là do các nguồn thu ngoài lãi tăng lên đáng kể khi NH chuyển hướng dịch vụ bán lẻ Trong đó, các phí liên quan đến dịch vụ NHĐT được các chuyên gia đánh giá đang có tiềm năng đóng góp một phần tích cực trong thu nhập của NH Năm 2017, 2018, thu nhập từ hoạt động dịch
vụ tăng cao với tốc độ tăng trưởng lần lượt là 50,91% và 24,93% cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của các hoạt động này vào thu nhập của NH
Tỷ lệ ROE bình quân của 30 NHTM Việt Nam đã tăng từ 5,77% năm 2014 lên đến 10,61% năm 2018 Tỷ lệ ROA bình quân cũng tăng gấp đôi từ 0,46% năm 2014 lên 0,82% năm 2018 Đây là dấu hiệu đáng mừng của