1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN của HAI hệ THỐNG NGÂN HÀNG

40 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Hai Hệ Thống Ngân Hàng
Tác giả Phạm Thị Ngọc Hương
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 595,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI (5)
    • 1.1 Lịch sử ra đời của Ngân hàng (5)
    • 1.2 Quá trình phát triển hệ thống Ngân hàng (5)
    • 1.3 Vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế (6)
  • CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB) (8)
    • 2.1 Lược sử hình thành (8)
    • 2.2 Quá trình phát triển (9)
      • 2.2.1 Giai đoạn 1929-1944 (9)
      • 2.2.2 Giai đoạn 1944-1968 (10)
      • 2.2.3 Giai đoạn 1968-1980 (10)
      • 2.2.4 Giai đoạn 1980-1989 (11)
      • 2.2.5 Giai đoạn 1989 đến nay (11)
    • 2.3 Cơ cấu tổ chức (13)
    • 2.4 Hoạt động của WB (13)
      • 2.4.1 Hoạt động chung (13)
      • 2.4.2 Hoạt động của các cơ quan thành viên (15)
      • 2.4.3 Hoạt động của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (20)
  • CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (THE STATE BANK OF VIET NAM-SBV) (26)
    • 3.1 Sự hình thành (26)
    • 3.2 Sự phát triển (27)
      • 3.2.1 Thời kỳ 1951-1954 (27)
      • 3.2.2 Thời kỳ 1955-1975 (27)
      • 3.2.3 Thời kỳ 1975-1985 (27)
      • 3.2.4 Thời kỳ 1986 đến nay (28)
    • 3.3 Hoạt động của SBV (29)
      • 3.3.1 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (29)
      • 3.3.2 Phát hành tiền (29)
      • 3.3.3 Hoạt động tín dụng (30)
      • 3.3.4 Mở tài khoản, hoạt động thanh toán và ngân quỹ (30)
      • 3.3.5 Quản lí ngoại hối và hoạt động ngoại hối (30)
      • 3.3.6 Thanh tra ngân hàng (31)
  • CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ (32)
    • 4.1 Giải pháp cho WB (32)
      • 4.1.1 Các giải pháp chính sách của WB (32)
      • 4.1.2 Kiến nghị (33)
    • 4.2 Giải pháp cho SBV (34)
  • KẾT LUẬN (38)

Nội dung

KHÁT QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI

Lịch sử ra đời của Ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất, hoạt động như một tổ chức trung gian tài chính Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính liên quan trong nền kinh tế quốc dân.

Ngân hàng, như một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, có lịch sử phát triển gắn liền với sự tiến bộ của nền sản xuất hàng hóa Các nghiệp vụ hiện đại của ngân hàng bắt nguồn từ nghề đổi tiền và đúc tiền của thợ vàng, nơi mà việc kinh doanh tiền tệ diễn ra thông qua việc trao đổi ngoại tệ với bản tệ Lợi nhuận của họ đến từ sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán.

Do nhu cầu cất trữ tiền của lãnh chúa và các nhà buôn, nhiều người làm nghề đổi tiền đã thực hiện dịch vụ cất trữ hộ Nhờ uy tín và việc tích lũy tiền bạc, họ dần kiêm luôn nghề cho vay Qua thời gian, nghề đổi tiền đã phát triển thành nghề Ngân hàng, với các nghiệp vụ đơn giản như đổi tiền, nhận tiền gửi, bảo quản tiền, thanh toán và cho vay Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, nghiệp vụ cho vay chủ yếu mang tính chất cho vay nặng lãi, nên được gọi là Ngân hàng cho vay nặng lãi.

Nghề Ngân hàng đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử phát triển, bắt đầu từ thời thượng cổ và bị đình trệ trong thời kỳ trung cổ do sự sụp đổ của đế quốc La Mã Tuy nhiên, vào thời kỳ phục hưng, nghề này đã được phục hồi và phát triển mạnh mẽ với sự gia tăng số lượng tổ chức kinh doanh tiền và áp dụng nhiều nghiệp vụ mới như thanh toán bằng thương phiếu và bảo lãnh cho vay Một số ngân hàng hiện đại đầu tiên xuất hiện trong giai đoạn này bao gồm Banco di Barcelona (1401) và Banco di Valencia (1409) ở Tây Ban Nha, cùng với Banco di Rialto (1587) ở Vêneto, Italia.

Ngân hàng hiện đại bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 17, với sự ra đời của Ngân hàng Amxtécđam năm 1609 tại Hà Lan, Ngân hàng Hamburg năm 1619 ở Đức, và Ngân hàng Anh quốc năm 1694.

Quá trình phát triển hệ thống Ngân hàng

Từ thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 18, các nước Tây Âu chứng kiến sự ra đời của ngân hàng hiện đại, được hình thành từ các ngân hàng cho vay nặng lãi hoặc thông qua việc thành lập mới.

Các ngân hàng đa năng hoạt động tương tự nhau, thực hiện các nghiệp vụ như tiền gửi, chiết khấu, cho vay, phát hành giấy bạc, đổi tiền và chuyển tiền Tuy nhiên, mỗi ngân hàng hoạt động như một "vương quốc" riêng lẻ, chưa hình thành một hệ thống liên kết chặt chẽ.

Vào thế kỷ 18 và 19, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế hàng hóa tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ đã dẫn đến việc hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp.

Ngân hàng phát hành tiền thống nhất cho cả nước được hình thành nhằm xoá bỏ tình trạng phát hành tiền phân tán Để thực hiện điều này, các đạo luật đã được ban hành nhằm hạn chế số lượng ngân hàng có quyền phát hành tiền, chỉ cho phép một số ngân hàng lớn thực hiện quyền này Qua thời gian, vào thế kỷ 19, các nước Tây Âu đã quyết định trao quyền phát hành tiền cho một ngân hàng duy nhất.

Ngày càng nhiều tổ chức kinh doanh tiền tệ xuất hiện tại các nước này, bao gồm ngân hàng thương mại, công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng, với nhiều tính năng, tên gọi và quy mô hoạt động đa dạng.

Vào đầu thế kỷ 20, nền kinh tế của các nước Âu-Mỹ trải qua khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến nhu cầu can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế - xã hội Sự điều tiết vĩ mô được coi là cần thiết để khắc phục khủng hoảng và duy trì sự ổn định của chủ nghĩa tư bản.

Ngân hàng trung ương là một trong những công cụ điều chỉnh vĩ mô quan trọng mà Nhà nước phải quản lý, đóng vai trò là cơ quan điều hành các hoạt động tiền tệ, tín dụng và thanh toán Sự chuyển đổi từ ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương không chỉ thay đổi chức năng mà còn nâng cao khả năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, đảm bảo ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong bối cảnh này, các ngân hàng kinh doanh phát triển mạnh mẽ ở Âu Mỹ cùng với các quốc gia thuộc địa và bán thuộc địa tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.

Sau Thế chiến thứ hai, xu hướng quốc tế hóa và hội nhập kinh tế - tài chính đã thúc đẩy sự hoàn thiện hệ thống ngân hàng tại mỗi quốc gia Trên quy mô khu vực và toàn cầu, các tổ chức ngân hàng quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển khu vực đã ra đời, cùng với sự phát triển của các ngân hàng thương mại siêu quốc gia Những ngân hàng này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp chính sách tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế.

Vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thực hiện nhiều chức năng để duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội Các vai trò cơ bản của ngân hàng bao gồm việc cung cấp dịch vụ tài chính, quản lý rủi ro, và hỗ trợ phát triển kinh tế.

Vai trò trung gian của các tổ chức tài chính là chuyển đổi các khoản tiết kiệm từ hộ gia đình thành tín dụng cho doanh nghiệp và các thành phần khác, nhằm đầu tư vào nhà ở, thiết bị và tài sản khác.

Vai trò của thanh toán là đại diện cho khách hàng trong việc thực hiện giao dịch mua sắm hàng hóa và dịch vụ Điều này bao gồm việc phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ, cũng như phân phối tiền giấy và tiền đúc.

Vai trò bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán (chẳng hạn phát hành thư tín dụng).

Đại lý đóng vai trò quan trọng trong việc đại diện cho khách hàng, quản lý và bảo vệ tài sản của họ Nhiệm vụ chính của đại lý là phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán, thường được thực hiện tại phòng ủy thác.

Vai trò thực hiện chính sách là rất quan trọng trong việc triển khai các chính sách kinh tế của chính phủ, giúp điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và hướng tới các mục tiêu xã hội.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)

Lược sử hình thành

1944 Thành lập Ngân hàng tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) và Quỹ tiền tệ uốc tế (IMF) tại Bretton Woods

1946 Eugene Meyer được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch Ngân hàng và từ chức cũng trong năm này Ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động

Năm 1947, John McCloy từ chức chủ tịch Ngân hàng Thế giới, và Eugene R Black được bổ nhiệm thay thế Ông Black là người giữ vị trí chủ tịch lâu nhất trong lịch sử của Ngân hàng Thế giới.

1952 Nhật bản và Cộng hòa Liên bang Đức gia nhập Ngân hàng thế giới

1956 Thành lập Công ty tài chính Quốc tế (IFC)

1960 Thành lập Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA)

1962 Khoản vay đầu tiên dành cho giáo dục đã được cấp cho Tunisie để xây dựng các trường học

1966 Thành lập Trung tâm Quốc tế Giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID)

1980 Khoản tín dụng đầu tiên để điều chỉnh cơ cấu đã được cấp cho Thổ Nhĩ Kì

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa gia nhập Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế cùng Hiệp hội Phát triển Quốc tế, nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia có mức nợ cao Vốn hoạt động của Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển đã tăng từ 44 triệu đô la lên 85 triệu đô la.

1982 Ngân hàng cung với Quỹ tiền tệ Quốc tế can thiệp giúp đỡ Mexico khi quốc gia này lâm vào khủng hoảng nợ

1988 Thành lập tổ chức bão lãnh đầu tư Đa phương (hay MIGA)

1991 Trung Quốc trở thành con nợ lớn nhất của Hiệp hội phát triển Quốc tế, vượt qua cả Ấn độ

1992 Liên bang Nga và 12 nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ trở thành thành viên của IBRD và IDA

1996 Ngân hàng, Quỹ tiền tệ Quốc tế và các nhà tài trợ khác đã khởi xướng sáng kiến dành cho các nước nghèo nợ ần chồng chất (HIPC)

Năm 1997, Ngân hàng đã hợp tác chặt chẽ với Quỹ Tiền tệ Quốc tế để thực hiện các biện pháp can thiệp mạnh mẽ, nhằm cứu trợ các quốc gia Châu Á bị ảnh hưởng nặng nề sau cuộc khủng hoảng tài chính.

1999 Ngân hàng và Quỹ tiền tệ Quốc tế đưa ra các chiến lược chống đói nghèo

Sáng kiếm HIPC được đẩy mạnh để thức đấy việc giảm nợ cho các nghèo

2000 Đây là lần đầu tiên sau gần 20 năm, tỷ lệ thành công các dự án của Ngân hàngđạt 75% (trong khi năm 1996 con số này chỉ là 60%).

2001 Ngân hàng liên kết với các tổ chức khác kêu gọi giảm trợ cấp nông nghiệp trong các nước phát triển.

Năm 2006, 42 quốc gia tại châu Phi cận Sahara và châu Mỹ Latinh đang đối mặt với khoản nợ lớn từ Ngân hàng Thế giới, IMF và Ngân hàng Phát triển châu Phi Những quốc gia này có khả năng được hưởng lợi từ chương trình sáng kiến xóa nợ Đa phương (MDRI).

Vào năm 2007, Ngân hàng Thế giới và Liên hợp quốc đã khởi xướng chiến dịch StAR nhằm thu hồi các khoản tiền tham nhũng của các lãnh đạo ở các nước đang phát triển, với mục tiêu khôi phục tài sản bị đánh cắp.

Quá trình phát triển

Ngân hàng thế giới thành lập năm 1994, trụ sở chính đặt tại Washington D.C Mĩ

Từ năm 1929 đến 1933, khủng hoảng kinh tế ở phương Tây bùng nổ, trong bối cảnh mâu thuẫn giữa các quốc gia phát triển gia tăng sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Sự bành trướng của các quốc gia dẫn đến sự trỗi dậy của phát xít Đức và sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai Trong giai đoạn này, nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng, trở thành cường quốc hàng đầu thế giới.

Mỹ bắt đầu lập ra các tổ chức tài chính quốc tế.

Vào năm 1943, Mỹ đề xuất thành lập Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Liên hợp quốc nhằm khuyến khích các quốc gia phát triển tham gia cung cấp vốn cho việc phục hồi và xây dựng kinh tế sau chiến tranh Đề xuất này cho phép Mỹ đầu tư vào các quốc gia thông qua Ngân hàng Tái thiết và Phát triển dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc.

Vào năm 1944, tuyên bố chung về việc thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã được đưa ra, xác định tôn chỉ và chính sách hoạt động của tổ chức này Tuyên ngôn này dựa trên kiến nghị của Mỹ về "Quỹ bình ổn quốc tế" làm nền tảng cho sự hình thành của IMF.

Năm 1944, Liên hợp quốc tổ chức hội nghị tài chính tiền tệ tại Bretton Woods, New Hampshire, Hoa Kỳ, dẫn đến việc thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế, mà sau này trở thành Ngân hàng Thế giới.

Năm 1945, Ngân hàng Thế giới chính thức ra mắt với 36 thành viên ban đầu Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều là thành viên của tổ chức này.

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, John McCloy, đã chọn Pháp làm quốc gia đầu tiên nhận viện trợ, trong khi các đơn xin từ Ba Lan và Chile bị từ chối Khoản vay 250 triệu USD đi kèm với các điều kiện nghiêm ngặt, bao gồm việc theo dõi sử dụng quỹ để đảm bảo chính phủ Pháp duy trì ngân sách cân bằng và ưu tiên trả nợ cho Ngân hàng Thế giới Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu chính phủ Pháp loại bỏ các phần tử cộng sản trong nội các, và sau khi tuân thủ điều kiện này, Pháp nhanh chóng được phê duyệt khoản vay.

Kế hoạch Marshall năm 1947 đã làm thay đổi hoạt động cho vay của ngân hàng khi nhiều nước châu Âu nhận được viện trợ từ Mỹ, cạnh tranh với các khoản vay của Ngân hàng Thế giới Các khoản tín dụng của Ngân hàng Thế giới được chuyển giao cho các quốc gia ngoài châu Âu, và đến năm 1968, các khoản vay này chủ yếu được dành cho những dự án giúp quốc gia vay trả nợ, như cảng, hệ thống đường cao tốc và nhà máy điện.

Từ năm 1968 đến 1980, các ngân hàng đã chú trọng vào việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân ở các nước đang phát triển, với quy mô và số lượng khoản vay cho khách hàng tăng đáng kể Mục tiêu cho vay không chỉ dừng lại ở cơ sở hạ tầng mà còn mở rộng sang các dịch vụ xã hội và nhiều ngành khác.

Robert McNamara, người được bổ nhiệm làm chủ tịch Ngân hàng vào năm 1968 bởi Lyndon B Johnson, đã áp dụng phong cách quản lý chặt chẽ tương tự như khi ông làm Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và chủ tịch tập đoàn Ford Motor Ông đã thay đổi chính sách ngân hàng, tập trung vào xây dựng trường học, bệnh viện, cải thiện giáo dục và cải cách nông nghiệp McNamara cũng đã tạo ra một hệ thống thông tin mới để thu thập dữ liệu từ các quốc gia vay tiềm năng, giúp quy trình cho vay trở nên nhanh chóng hơn Để tài trợ cho các khoản vay, ông đã chỉ đạo thủ quỹ ngân hàng Eugene Rotberg tìm kiếm nguồn vốn từ các ngân hàng phía Bắc và tận dụng thị trường trái phiếu toàn cầu Tuy nhiên, giai đoạn cho vay nhằm xóa đói giảm nghèo đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của nợ thế giới thứ ba, với mức tăng trung bình hàng năm 20% từ 1976 đến 1980.

Năm 1980, Tòa án hành chính Ngân hàng Thế giới được thành lập nhằm giải quyết các tranh chấp giữa Ngân hàng Thế giới và nhân viên, đặc biệt liên quan đến các cáo buộc vi phạm hợp đồng lao động và các điều khoản bổ nhiệm chưa được công khai.

Năm 1980, AW Clausen thay thế McNamara sau khi được Tổng thống

Mỹ Jimmy Carter đã đề cử Clausen, người đã thay thế một số lượng lớn nhân viên ngân hàng từ thời McNamara và thiết lập một hệ tư tưởng tập trung tại ngân hàng Việc thay thế kinh tế trưởng Hollis B Chenery bằng Anne Krueger vào năm 1982 đánh dấu một sự thay đổi chính sách quan trọng Krueger nổi tiếng với những chỉ trích từ các nước phát triển cũng như các chính phủ thế giới thứ ba trong việc tìm kiếm các quốc gia thuê.

Cho vay tín dụng cho các nước thế giới thứ ba phản ánh sự điều chỉnh trong chính sách nhằm tinh giản kinh tế các quốc gia phát triển, đồng thời là một phần quan trọng trong chiến lược của Ngân hàng Thế giới Theo báo cáo của UNICEF vào cuối thập niên 1980, các chương trình điều chỉnh cấu trúc của Ngân hàng Thế giới đã dẫn đến sự suy giảm sức khỏe, mức độ dinh dưỡng và giáo dục cho hàng chục triệu trẻ em ở châu Á, châu Mỹ Latinh và châu Phi.

Kể từ năm 1989, Ngân hàng Thế giới đã điều chỉnh chính sách của mình nhằm phản hồi những chỉ trích từ các nhóm môi trường và tổ chức phi chính phủ, qua đó tạo điều kiện cho việc cho vay nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ những lời chỉ trích này.

Theo truyền thống, Mỹ luôn đảm nhận vị trí Chủ tịch Ngân hàng Thế giới nhờ thỏa thuận ngầm với Châu Âu Tuy nhiên, vào năm 2012, lần đầu tiên có hai ứng cử viên không phải từ Hoa Kỳ được đề cử cho vị trí này.

Ngày 23 tháng ba năm 2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố rằng Hoa

Kỳ sẽ đề cử Jim Yong Kim là Chủ tịch tiếp theo của Ngân hàng

Ngân hàng Thế Giới (WB) hiện có hơn 184 quốc gia thành viên và khoảng 10.020 nhân viên, trong đó khoảng 7.000 người làm việc tại trụ sở chính ở Washington D.C Đội ngũ nhân viên đến từ hơn 160 quốc gia, bao gồm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, môi trường, y tế, và kỹ thuật WB hoạt động thông qua 5 tổ chức độc lập và kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ Khách hàng đánh giá cao sự cải thiện trong dịch vụ và sự tham gia của ngân hàng vào hoạt động của họ WB giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế, hỗ trợ các đối tác trong các tình huống khẩn cấp như tái thiết sau xung đột và cứu trợ thiên tai Với 187 nước thành viên, WB đang thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mới (Millennium Development Goals) cho đến năm 2015, tập trung vào giáo dục, sức khỏe và vệ sinh.

Cơ cấu tổ chức

Tính đến tháng 8/2011, Ngân hàng Thế giới (WB) có 187 nước thành viên, đồng thời cũng là các cổ đông góp vốn Hội đồng Thống đốc đại diện cho các cổ đông này và chịu trách nhiệm hoạch định chính sách của WB, họp hàng năm cùng với IMF Hội đồng Thống đốc ủy quyền cho Ban Giám đốc Điều hành gồm 25 thành viên làm việc tại trụ sở WB để điều hành các công việc cụ thể Năm cổ đông lớn nhất của WB bao gồm Pháp, Đức, Nhật, Anh và Mỹ.

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) hiện nay là Robert B Zoellick, người cũng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Thống đốc và đảm nhiệm vai trò quản lý chung của tổ chức này Thông thường, chủ tịch WB là người mang quốc tịch Mỹ, quốc gia có cổ phần lớn nhất trong tổ chức Nhiệm kỳ của Chủ tịch Hội đồng Thống đốc kéo dài 5 năm.

Hội đồng Thống đốc bầu Ban Giám đốc điều hành để hỗ trợ công việc của mình tại Ngân hàng Thế giới (WB) Ban Giám đốc Điều hành tổ chức họp ít nhất hai lần mỗi tuần nhằm giám sát các hoạt động của WB, bao gồm việc phê duyệt các khoản vay, bảo lãnh, chính sách mới, ngân sách quản trị, chiến lược hỗ trợ quốc gia, và các quyết định liên quan đến tài chính và vay vốn.

Các hoạt động hàng ngày của WB được điều hành và quản lý bởi Chủ tịch, Ban Giám đốc Điều hành và các Phó Chủ tịch phụ trách từng khu vực.

Hoạt động của WB

Ngân hàng Thế giới (WB) nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời nâng cao mức sống của người dân ở các quốc gia thành viên đang phát triển thông qua việc cải thiện năng suất lao động tại các quốc gia này.

Hoạt động của Ngân hàng Thế giới (WB) rất đa dạng, bao gồm hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, cũng như phát triển nông thôn, cơ sở hạ tầng, năng lượng và giao thông vận tải WB cung cấp các khoản vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách tại các quốc gia đang phát triển thông qua các tổ chức thành viên.

Ngân hàng Thế giới là một trong những nguồn hỗ trợ phát triển lớn nhất toàn cầu, cung cấp khoảng 20 tỷ USD mỗi năm cho các chính phủ nước đang phát triển nhằm hỗ trợ hơn 220 dự án Ngoài việc cho vay, Ngân hàng Thế giới còn cung cấp hỗ trợ phát triển và tư vấn chính sách cho các chính phủ, tập trung vào các lĩnh vực như cung cấp nước sạch, xây dựng trường học, tăng năng suất nông nghiệp, xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng, quản lý tài nguyên thiên nhiên, giảm ô nhiễm môi trường, mở rộng viễn thông, phát triển năng lượng, và cải thiện mạng lưới y tế cho phụ nữ và trẻ em Sứ mệnh của Ngân hàng Thế giới là chống đói nghèo toàn cầu thông qua việc cung cấp vốn và kiến thức chuyên môn cho các quốc gia.

Chống đói nghèolà mục tiêu của WB

Ngân hàng Thế giới (WB) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xã hội tại các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp trợ giúp kỹ thuật và cho vay vốn dự án cho các chính phủ WB huy động vốn từ các thị trường tài chính quốc tế và sử dụng nguồn lực này cho các dự án phát triển Tuy nhiên, tất cả các khoản vay của WB đều yêu cầu hoàn trả với lãi suất cao hơn so với lãi suất thị trường.

WB có năm thể thức cho vay chủ yếu:

1) Vay vốn đầu tư: dựa trên những dự án của chính phủ các nước tiếp nhận Khoản vốn này có lãi suất cao hơn lãi suất thị trường với thời hạn 15 - 20 năm; thời gian ân hạn tới 5 năm

2) Vay vốn điều chỉnh: trợ giúp chương trình cải cách kinh tế của các nước tiếp nhận nhằm khôi phục tăng trưởng kinh tế và cán cân thanh toán của nước đi vay Kể từ khi có suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 1980, WB mở rộng phạm vi hoạt động cho vay tới những khoản vay điều chỉnh ngành và cơ cấu.

3) Đồng tài trợ: WB phối hợp với khu vực tư nhân, tổ chức song phương hoặc đa phương, và các tổ chức chính phủ tài trợ cho một số chương trình của mình.

4) Quỹ tín thác: được đóng góp từ những quốc gia tài trợ, tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ, quỹ và tổ chức tư nhân khác tập trung vào những dự án trợ giúp kĩ thuật ở các nước đang phát triển Hiện nay, IBRD có trên 850 quỹ tín thác

5) Trợ giúp kĩ thuật: cung cấp nguồn lực và chuyên gia cho các nước đang phát triển để xây dựng những thể chế cần thiết cho quá trình phát triển Những chương trình này tập trung vào phát triển khu vực tư nhân, bảo vệ môi trường và xoá đói giảm nghèo Trợ giúp kĩ thuật chiếm khoảng 10% các khoản cho vay Chỉ cho vay đối với các nước thành viên; nếu là tư nhân vay thì phải được nhà nước bảo lãnh, vv Mục đích cho vay không chỉ nhằm thăng bằng cán cân thanh toán và phát triển kinh tế, mà còn nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế về tiền tệ Việc xây dựng hệ thống thanh toán nhiều bên, tạo sự ổn định của ngân hàng căn cứ vào số cổ phần của mỗi nước thành viên Lợi dụng đa số phiếu, các nước phương Tây thường lái các hoạt động của tổ chức này theo hướng có lợi cho họ cả về kinh tế và chính trị.

2.4.2 Hoạt động của các cơ quan thành viên

2.4.2.1 Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD)

IBRD, được thành lập vào năm 1945, là tổ chức đầu tiên trong nhóm ngân hàng thế giới và nổi bật với vai trò là nguồn cho vay chính của nhóm Đây cũng là tổ chức có số lượng quốc gia tham gia đông đảo nhất, với nhiệm vụ rộng lớn và đội ngũ nhân viên đông đảo.

Khi IBRD được thành lập, nhiệm vụ chính là hỗ trợ châu Âu phục hồi sau Thế chiến thứ hai Hiện nay, IBRD đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, cung cấp vốn vay cho các quốc gia có thu nhập trung bình và các quốc gia nghèo có uy tín tín dụng Ngoài ra, IBRD còn bảo lãnh, cung cấp dịch vụ tư vấn và phân tích, giúp khách hàng tiếp cận nguồn vốn với điều khoản thuận lợi, số lượng lớn hơn, và thời hạn dài hơn, đồng thời ổn định hơn so với nguồn vốn vay trên thị trường.

- Hỗ trợ những nhu cầu lâu dài về phát triển xã hội và con người mà những nhà đầu tư tư nhân không tài trợ;

- Duy trì sức mạnh tại chính các nước vay thông qua việc hỗ trợ các nước ở thời kì khủng hoảng khi các nước nghèo bị ảnh hưởng tiêu cực;

Sử dụng đòn bẩy tài chính có thể thúc đẩy các cải cách chính sách và thể chế quan trọng, chẳng hạn như phát triển mạng lưới an ninh xã hội và triển khai các biện pháp chống tham nhũng hiệu quả.

- Tạo môi trường đầu tư thuận lợi để làm chất xúc tác cho nguồn vốn tư nhân

- Hỗ trợ tài chính là lĩnh vực quan trọng đối với cuộc sống của người nghèo ở các nước.

Các quốc gia vay vốn từ IBRD thường là những nước có thu nhập trung bình và khả năng tiếp cận thị trường tiền tệ tư nhân Một số quốc gia có thu nhập thấp vẫn đủ điều kiện vay từ IBRD do có uy tín tín dụng tốt, mặc dù chúng cũng đủ điều kiện nhận hỗ trợ từ IDA.

Các nước vay hỗn hợp từ IBRD chiếm 75% dân số thế giới sống dưới mức 1 USD/ngày Ngay cả khi tính đến các khoản vay của các nước này, vẫn còn 25% dân số ở các nước vay IBRD khác sống dưới ngưỡng 1 USD/ngày.

Các nước được xem là thoát khỏi tình trạng vay mượn của IBRD khi thu nhập bình quân của người dân vượt qua mức quy định của ngân hàng Mặc dù IBRD không tối đa hóa lợi ích, ngân hàng vẫn đạt được mức thu nhập ròng dương hàng năm từ năm 1948, từ đó tạo ra nguồn vốn cho các hoạt động phát triển và duy trì sức mạnh tài chính Điều này cho phép ngân hàng cung cấp khoản vay với chi phí thấp và điều kiện thuận lợi cho các nước vay Quyền bỏ phiếu của các quốc gia thành viên IBRD được xác định dựa trên tỷ lệ vốn đóng góp, phản ánh sức mạnh kinh tế tương đối của từng nước.

2.4.2.2 Hiệp hội quốc tế (IDA)

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (THE STATE BANK OF VIET NAM-SBV)

GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 05/07/2021, 22:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w