- Đề tài đã vận dụng tiếp cận sinh kế bền vững để phân tích những thay đổi về sinh kế và các nguồn tài nguyên trên địa bàn, qua đó đánh giá hiệu quả trước và sau khi giao đất lâm nghiệp,
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc, xuất xứ
Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về nội dung đề tài của mình
Huế, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Nhất Sinh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
luận văn này
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc sự chỉ bảo, giúp đỡ rất tận tình của thầy giáo PGS.TS Hồ Kiệt, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện
hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên và những ý kiến đóng góp của tập thể giáo viên và cán bộ trong Khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông nghiệp -
Đại học Nông lâm Huế
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, UBND huyện Trà Bồng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động-Thương Binh và Xã hội, Chi
cục Thống kê huyện, Hạt Kiểm lâm huyện, Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện,
UBND các xã và nhân dân trong huyện Trà Bồng đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số
liệu, cung cấp những thông tin cần thiết, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận
văn này
Cảm ơn gia đình, các anh chị, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn./
Huế, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Nhất Sinh
Trang 32 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các
cơ quan nhà nước, các phòng, ban trong huyện, các thư viện, trung tâm nghiên cứu
2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn: Phát phiếu khảo sát chuẩn bị sẵn theo nguyên tắc ngẫu nhiên tại
09 xã theo công thức sau: n= N/(1 + ε2 N) = 6580/(1 + 0,072 x 6.580) = 198 mẫu
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Gồm người dân, già làng, cán bộ thôn, cán bộ quản lý đất đai, chính quyền địa phương cấp xã, huyện
- Quan sát thực địa
2.2 Phương pháp xử lý số liệu
2.2.1 Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thống kê, tổng hợp số liệu, tài liệu, các kết
quả theo phiếu khảo sát và xử lý bằng phần mềm Excel Các thông tin từ phỏng vấn,
phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát thực địa
2.2.2 Phương pháp so sánh
- So sánh trước và sau khi giao đất
- So sánh theo chuẩn sinh kế
Trang 4đất và giao đất lâm nghiệp để trồng rừng) cho hộ gia đình, cá nhân tại huyện Trà
Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
- Đề tài đã vận dụng tiếp cận sinh kế bền vững để phân tích những thay đổi về sinh kế và các nguồn tài nguyên trên địa bàn, qua đó đánh giá hiệu quả trước và sau
khi giao đất lâm nghiệp, cũng như nêu lên được những thuận lợi, khó khăn và tồn tại
trong công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Trà Bồng
- Đề tài đã dựa trên cơ sở thực tiễn của địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp và cải thiện sinh kế cho
người dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Chính sách đất đai của một số nước trên thế giới 6
1.1.3 Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ 13
1.2 Cơ sở thực tiễn các vấn đề nghiên cứu 17
1.2.1 Tổng quan về chủ trương giao đất lâm nghiệp ở nước ta 17
1.2.2 Thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp ở nước ta 18
1.2.3 Kết quả giao đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp ở nước ta 19
1.2.4 Những tác động tích cực của chủ trương giao đất lâm nghiệp ở nước ta 20
1.2.5 Những tác động chưa tích cực của chủ trương giao đất lâm nghiệp ở nước ta 21
1.2.6 Nguyên nhân của các tồn tại trong công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp ở nước ta 23
1.2.7 Tình hình sử dụng đất sau khi giao đất lâm nghiệp ở nước ta 24
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
2.1 Đối tượng và phạm vụ nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
3.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Trà Bồng 41
3.2 Thực trạng và kết quả thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 45
3.2.1 Thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện 45
3.2.2 Thực trạng việc giao rừng tự nhiên gắn với giao đất cho người dân quản lý 46
3.2.3 Thực trạng việc giao đất lâm nghiệp để trồng rừng 50
3.3 Đánh giá tác động của việc thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp đến sinh kế của người dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 54
3.3.1 Tác động của việc thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp đến các nguồn vốn sinh kế của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Trà Bồng 54
3.3.2 Tác động của việc thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp đến các hoạt động sinh kế của người dân huyện Trà Bồng 67
3.3.3 Tác động của việc thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp đến các nguồn tài nguyên và hệ sinh thái địa phương 70
3.3.4 Đánh giá hiệu quả trước và sau khi giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 72
3.3.5 Những thuận lợi, khó khăn và tồn tại trong giao đất và cấp GCNQSDĐ ở huyện Trà Bồng 74
Trang 73.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp và cải
thiện sinh kế cho người dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 76
3.4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 76
3.4.2 Giải pháp hoàn thiện về chính sách giao đất lâm nghiệp 76
3.4.3 Giải pháp về công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp 77
3.4.4 Giải pháp thúc đẩy phát triển nghề rừng 77
3.4.5 Giải pháp kỹ thuật 77
3.4.6 Giải pháp về chính sách đầu tư, vốn 78
3.4.7 Giải pháp về sinh kế của người dân 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CFSA Bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội
13 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
14 QL,BV&PTR Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
15 TN&MT Tài nguyên và Môi trường
16 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp cả nước tính đến 31/12/2015 18
Bảng 1.2 Kết quả cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp của Việt Nam, năm 2012 20
Bảng 2.1 Một số thông tin cơ bản về các xã khảo sát 28
Bảng 2.2 Cơ cấu mẫu khảo sát 30
Bảng 3.1 Dân số huyện Trà Bồng năm 2015 chia theo thành phần dân tộc 39
Bảng 3.2 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp huyện Trà Bồng năm 2016 43
Bảng 3.3 Kết quả giao đất và cấp GCNQSDĐ huyện Trà Bồng 44
Bảng 3.4 Kết quả giao đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp huyện Trà Bồng đến ngày 31/12/2016 45
Bảng 3.5 Tham gia quản lý bảo vệ rừng tự nhiên huyện Trà Bồng tính đến 31/12/2016 46
Bảng 3.6 Sự hiểu biết của người dân về chính sách giao rừng, giao đất (tỷ lệ %) 48
Bảng 3.7 Giao đất lâm nghiệp để trồng rừng tại địa bàn điều tra 51
Bảng 3.8 So sánh một số chỉ tiêu về tài sản của hộ trước và sau khi giao đất 56
Bảng 3.9 Các loại tài sản chính trong gia đình hiện nay 58
Bảng 3.10 Số tháng thiếu ăn theo nhóm hộ 62
Bảng 3.11 Mức độ khó khăn về nguồn vốn đầu tư theo nhóm hộ 64
Bảng 3.12 Tình hình vay vốn ngân hàng để đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp ở các hộ điều tra 66
Bảng 3.13 Hướng ưu tiên đầu tư ở các hộ điều tra 67
Bảng 3.14 Số lượng đàn bò của Trà Bồng qua các năm 70
Bảng 3.15 So sánh cơ cấu sử dụng các loại đất trước và sau khi giao đất 73
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Khung phân tích sinh kế của DFID 6
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Trà Bồng trong bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi 32
Hình 3.2 Sơ đồ địa bàn nghiên cứu 33
Hình 3.3 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Trà Bồng năm 2016 41
Hình 3.4 Các loại tài sản chính trong gia đình hiện nay 59
Hình 3.5 Tình hình an ninh lương thực của hộ gia đình được khảo sát 61
Hình 3.6 Đánh giá của người dân về sự thay đổi tài nguyên tại địa phương 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nơi phân bố dân cư, là địa bàn quy hoạch,
xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên hơn 33,1 triệu ha Trong đó diện tích đất đồi núi là 23,9 triệu ha chiếm 72,2% diện tích tự nhiên của cả nước; diện tích rừng
và đất rừng toàn quốc khoảng 14 triệu ha (chiếm 42,3 % diện tích của cả nước), độ che
phủ rừng là 40,84,7%, trong đó rừng tự nhiên còn khoảng 10,3 triệu ha và hơn 1 triệu
ha là đất trống, đồi núi trọc Cùng với sự phát triển của xã hội vai trò của tài nguyên
đất, tài nguyên rừng cũng trở nên quan trọng hơn và đòi hỏi phải có sự quản lý, sử
dụng một cách hiệu quả bền vững Với hơn 80% dân số sống ở miền núi, trung du (chủ
yếu là đồng bào các dân tộc) lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp
Vì thế việc bảo vệ và sử dụng bền vững đất nông, lâm nghiệp giữ một vai trò vô cùng
quan trọng [3]
Trước tình hình chặt phá rừng, đốt rừng lấy củi, làm nương rẫy, môi trường sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có
nhiều chủ trương và biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, trong
đó công tác giao đất lâm nghiệp là một trong những chủ trương và biện pháp có ý
nghĩa chiến lược lâu dài Giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một
chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện đường lối phát triển lâm
nghiệp dựa vào sức dân, sử dụng có hiệu quả đất đai tài nguyên rừng, tạo công ăn việc
làm cho nông thôn, tăng thêm sản phẩm xã hội, góp phần quan trọng bảo vệ môi
trường sinh thái Có thể nói giao đất sản xuất lâm nghiệp là một trong những biện pháp
then chốt để tổ chức lại sản xuất nhằm đổi mới lâm trường quốc doanh và phát triển
kinh tế hộ gia đình, cá nhân gắn với định canh, định cư Giao đất lâm nghiệp đã
khuyến khích người dân yên tâm nhận đất rừng để thúc đẩy kinh doanh, kinh tế hộ gia
đình có điều kiện phát triển hơn Vì thế, mọi người dân nói chung và đặc biệt người
dân miền núi rất phấn khởi thực hiện chính sách này Giao đất lâm nghiệp đã thực sự
đi vào cuộc sống của người dân miền núi đã bao đời nay gắn bó với rừng, đã chuyển
họ từ những người phá rừng trở thành những người bảo vệ và phát triển rừng Vì thế,
rừng ở nước ta hiện nay đang trên đà phục hồi trở lại, kinh tế - xã hội ở các vùng đồi
núi, trung du đang dần phát triển
Thực tiễn cho thấy đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất và công tác giao đất lâm nghiệp đáp ứng được nguyện vọng của người dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu
nhập và cải thiện đời sống Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng triển khai thực hiện
Trang 12công tác giao đất lâm nghiệp ở mỗi địa phương lại có những thuận lợi và khó khăn
riêng, chính vì vậy mà tác động của công tác này tới sự phát triển kinh tế - xã hội ở
mỗi địa phương cũng có sự khác nhau và mang đặc thù của mỗi vùng
Huyện Trà Bồng có diện tích đất lâm nghiệp là 32.488,57 ha, chiếm 77,1% diện tích tự nhiên của huyện Điều này đòi hỏi Nhà nước có biện pháp quản lý chặt chẽ và
sử dụng có hiệu quả quỹ đất này, tránh tình trạng đất bị hủy hoại hoặc sử dụng sai mục
đích theo quy định của Nhà nước Trong những năm qua, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế dựa trên lợi thế sẵn có, chính quyền và nhân dân huyện Trà Bồng đã triển
khai phát triển lâm nghiệp theo hướng tăng cường công tác chăm sóc, quản lý, bảo vệ
rừng đã có, đầu tư tập trung trồng mới ở những nơi đất trống, đồi núi trọc [21]
Theo kết quả khảo sát tại các xã trên địa bàn huyện Trà Bồng cho thấy kể từ khi triển khai công tác giao đất lâm nghiệp đến nay, đời sống của người dân huyện Trà
Bồng đã có sự chuyển biến rõ rệt Công tác này đã góp phần đem lại sự thành công về
phát triển đất lâm nghiệp và có tác động rất lớn đến đời sống của người dân trên địa
bàn, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với các nguồn sinh kế mới, các dịch vụ
xã hội cơ bản Tuy nhiên bên cạnh đó, người dân cũng đang phải đối mặt với nhiều thách
thức mới như diện tích và chất lượng đất canh tác ngày càng suy giảm, tình trạng bất
bình đẳng trong tiếp cận đất ngày càng gia tăng Việc thiếu đất canh tác, thiếu việc làm
và bất bình đẳng trong tiếp cận đất canh tác dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực
nghiêm trọng, gia tăng đói nghèo và bất ổn xã hội; các giá trị văn hóa truyền thống của
cộng đồng đang bị xói mòn; tệ nạn xã hội nảy sinh gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống
của người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Thực trạng trên cho thấy nhu cầu cần thiết phải có một nghiên cứu đánh giá chi tiết về tác động của công tác giao đất lâm nghiệp đến sinh kế của người dân, bởi mục
tiêu đề ra của công tác này là góp phần nâng cao đời sống nhằm giải quyết vấn đề đói
nghèo cho người dân miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa và đây cũng là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Xuất
phát từ yêu cầu cấp bách về lý luận và thực tiễn, tôi nghiên cứu thực hiện đề tài:
“Đánh giá tác động của công tác giao đất lâm nghiệp đến sinh kế của người dân
huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi”
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm rõ và củng cố cơ sở lý luận về giao đất và giải quyết sinh
kế của người dân được giao đất lâm nghiệp
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài là tài liệu tham khảo để các nhà quản lý đưa ra những chủ trương giao đất và biện pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh chóng, phù hợp
nhằm quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên đất và tài nguyên rừng, đồng thời nâng cao
đời sống của người dân sống chủ yếu dựa vào rừng và đất lâm nghiệp
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về giao đất
Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Luật Đất đai năm 2013 đã làm rõ
hơn khái niệm giao đất: Nhà nước giao quyền sử dụng đất là việc Nhà nước ban hành
quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
1.1.1.2 Khái niệm đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng (gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và đất mới được
trồng rừng hoặc trồng kết hợp khoanh nuôi tự nhiên Riêng đất đã giao, cho thuê để
khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên mà chưa đạt tiêu
chuẩn rừng thì chưa thống kê vào đất lâm nghiệp mà thống kê theo hiện trạng (thuộc
nhóm đất chưa sử dụng) Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ,
đất rừng đặc dụng
Trường hợp đất lâm nghiệp được phép sử dụng kết hợp nuôi trồng thủy sản, kinh doanh dịch vụ dưới tán rừng thì ngoài việc thống kê theo mục đích lâm nghiệp
còn phải thống kê thêm theo các mục đích khác là nuôi trồng thủy sản, sản xuất, kinh
doanh phi nông nghiệp (trường hợp sử dụng đồng thời vào cả hai mục đích khác thì
thống kê cả hai mục đích phụ đó)
- Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
- Đất rừng phòng hộ là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo
vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng
ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
- Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích
lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của
pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
1.1.1.3 Khái niệm giao đất lâm nghiệp
Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất lâm
nghiệp, gồm các loại đất lâm nghiệp sau: Đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất
rừng đặc dụng
Trang 151.1.1.4 Khái niệm về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất
Để người sử dụng đất yên tâm đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực hiện các quyền, nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật Do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất GCNQSĐ chính là cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền
sử dụng đất của chủ sử dụng GCNQSDĐ có vai trò rất quan trọng, nó là các căn cứ để
xây dựng các quy định về đăng ký, theo dõi biến động đất đai, kiểm soát giao dịch dân
sự về đất đai, các thẩm quyền và trình tự giải quyết các tranh chấp đất đai, xác định
nghĩa vụ về tài chính của người sử dụng đất, đền bù thiệt hại về đất đai, xử lý vi phạm
về đất đai
1.1.1.5 Khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững
Một sinh kế có thể được miêu tả như là một tập hợp các nguồn lực và khả năng
mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm
để kiếm sống cũng như đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ Sinh kế có thể
được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau, theo một định nghĩa được chấp nhận
thì sinh kế bao gồm các khả năng các tài sản và các hoạt động cần thiết để kiếm sống
Chamber và Conway [1992] đã chỉ ra rằng: “Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực, những cú sốc và những
khủng hoảng nhằm duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở hiện tại và trong tương lai
đồng thời không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên và các lựa chọn sinh kế mở
ra cho người khác” [Chamber and Conway, 1992]
Dựa trên cơ sở các khái niệm về sinh kế, Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc
Anh (DFID) đã xây dựng nên một “Khung phân tích sinh kế” Mục đích của Khung
phân tích này là giúp cho người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các
loại hình sinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hay những yếu tố tạo
cơ hội trong sinh kế
Như vậy, có ba tiêu chí để đánh giá một sinh kế có bền vững hay không:
- Có khả năng ứng phó và khắc phục những cú sốc, những áp lực và những khủng hoảng;
- Duy trì hoặc nâng cao các nguồn tài sản và các hoạt động tạo ra sinh kế;
- Các sinh kế đó không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên và hệ sinh thái
Trang 16Hình 1.1 Khung phân tích sinh kế của DFID
Nguồn: Sustainable Livelihoods Analysis, DFID, 2003
Phân tích tài sản sinh kế hộ theo DFID (2001) bao gồm 5 nguồn lực chính: (1) Nguồn lực tự nhiên; (2) Nguồn lực con người; (3) Nguồn lực xã hội; (4) Nguồn lực tài
chính; (5) Nguồn lực vật chất
Vận dụng tiếp cận Sinh kế bền vững vào đề tài để nhìn nhận đời sống của người dân sau công tác giao đất lâm nghiệp sẽ diễn tiến như thế nào? Liệu việc thực thi chủ
trương này có làm suy giảm các nguồn vốn của hộ gia đình hay không, những nguồn
vốn nào bị suy giảm, những nguồn vốn nào được nâng lên, người dân thích ứng và đối
phó như thế nào? Và quan trọng hơn là xác định được những yếu tố gây rủi ro cho sinh
kế của cộng đồng và cách thức giải quyết để đem lại sinh kế bền vững cho người dân
1.1.2 Chính sách đất đai của một số nước trên thế giới
1.1.2.1 Thái Lan
Tại Thái Lan bước sang chế độ quân chủ, Luật ruộng đất được ban hành năm
1954 đã thúc đẩy mạnh mẽ chính sách kinh tế xã hội của đất nước Luật ruộng đất đã
công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có thể được mua, tậu lại từ cá
thể Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng, cầm cố một cách hợp pháp, từ đó
Chính phủ có được toàn bộ đất trồng (có khả năng trồng trọt được) và nhân dân đã trở
thành người làm công trên đất ấy Tuy nhiên, trong giai đoạn này Luật ruộng đất quy
định chế độ lĩnh canh ngắn, chế độ luân canh vừa Bên cạnh đó, việc thu địa tô cao, dân
số tăng nhanh, tình trạng thiếu thừa đất do việc phân hoá giàu nghèo, đã dẫn đến việc
đầu tư trong nông nghiệp thấp Từ đó, năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn
trên đất tự canh Bước sang năm 1974 Chính phủ Thái Lan ban hành chính sách cho
thuê đất lúa, quy định rõ việc bảo vệ người làm thuê, thành lập các tổ chức người địa
* Khu vực
tư nhân * Luật
* Chính sách *Văn hoá
* Thể chế
TIẾN TRÌNH
Chiến lược sinh
kế
KẾT QUẢ SINH KẾ
- Tăng thu nhập
- Nâng cao đời sống
- Giảm khả năng tổn thương
- Tăng cường an ninh lương thực
- Sử dụng tài nguyên bền vững hơn
Trang 17phương làm việc theo sự điều hành của trại thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho
kinh tế hộ gia đình phát triển Luật cải cách ruộng đất năm 1975 quy định các điều
khoản với mục tiêu biến tá điền thành chủ sở hữu ruộng đất, trực tiếp sản xuất trên đất
Nhà nước quy định hạn mức đối với đất trồng trọt là 3,2 ha (50 rai), đối với đất chăn
nuôi 6,4 ha (100 rai), đối với những trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiến hành
trưng thu để chuyển giao cho tá điền, với mức đền bù hợp lý
Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng Bắt đầu từ năm 1979, Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi, trong rừng dự
trữ Quốc gia Theo chương này, mỗi mảnh đất được chia làm hai miền Miền từ phía dưới
nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn
nước thì lại hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác mà trước đây những
người dân đã chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy chứng nhận
quyền hưởng hoa lợi Đến năm 1976 đã có 600.126 hộ nông dân có đất được cấp giấy
chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Cùng với chương trình này, đến năm 1975 Cục Lâm
nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã thực hiện chương trình làng lâm nghiệp nhằm giải quyết
cho những hộ gia đình được ở trên đất rừng, quá trình thực hiện chương trình này đã
thành lập được 98 làng lâm nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia
Chương trình làng lâm nghiệp được quy định một cách chặt chẽ, mỗi hộ gia đình trong làng được cấp từ 2 - 4 ha đất và được hưởng quyền sử dụng, thừa kế, nhưng
không được bán, mua hay chuyển nhượng diện tích đất đó Quá trình sản xuất của làng
được sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện cơ sở hạ tầng, tiếp thị và đào tạo nghề Đi
cùng với chương trình này là việc thành lập các hợp tác xã nông, lâm nghiệp hoạt động
dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo HTX (Hợp tác xã) Cục Lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký
hợp đồng giao đất dài hạn cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh
giá hiệu quả đầu tư trên đất được giao đó Thái Lan tiến hành giao được trên 200.000
ha đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia
đình được nhận trồng rừng từ 0,8 ha đến 8 ha
Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải
quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và giải quyết việc
làm Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính phủ, chủ đất và nông dân nhằm chia sẻ
quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng đất Theo dự án này Chính
Phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất nông nghiệp,
giải quyết việc làm cho nông dân nghèo [19]
Trang 18phận lâm nghiệp xã hội chịu trách nhiệm xử lý và phát hành chứng chỉ hợp đồng quản
lý CSC và bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội Giấy chứng chỉ CSC do Chính
phủ cấp cho người dân sống trong rừng đã có đủ tư cách pháp nhân, được quyền sở hữu
và sử dụng mảnh đất trong khu rừng mà họ đang ở và được hưởng các thành quả trên
mảnh đất đó Chứng chỉ CSC cho phép sử dụng diện tích thực đang ở hay canh tác
nhưng không được vượt quá 7 ha Các nhà lâm nghiệp của văn phòng ở cấp huyện
được uỷ quyền cấp các CSC với diện tích dưới 5 ha, còn diện tích từ 5 - 7 ha do giám
đốc văn phòng phát triển lâm nghiệp vùng duyệt Diện tích lớn hơn 7 ha do tổng giám
đốc văn phòng phát triển lâm nghiệp phê duyệt
Khác với giấy chứng chỉ CSC, bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội (CFSA)
là một hợp đồng giữa Chính phủ và một cộng đồng hay một hiệp hội lâm nghiệp kể cả
các nhóm bộ lạc Sự khác nhau cơ bản giữa CSC và CSFA là với CSFA đất không
được nhượng cho cá nhân mà chỉ giao cho một cộng đồng hay hiệp hội Người được
giao đất phải có kế hoạch trồng rừng, nếu được giao dưới 300 ha thì năm đầu phải
trồng 40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 70% và sau 7 năm phải hoàn thành
trồng rừng trên diện tích được giao CSC và CSFA có giá trị 25 năm và có thể gia hạn
thêm 25 năm nữa Những người giữ CSC hay CSFA đều có trách nhiệm giữ gìn và bảo
vệ tài nguyên rừng trong khu vực thực hiện dự án ISFP [19]
1.1.2.3 Trung Quốc
Trong quá trình khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên rừng ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi hàng loạt các văn bản chính sách pháp luật đất đai nhằm quản lý
có hiệu quả Do vậy, quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp ở Trung Quốc đã phát triển
và đạt được những kết quả đáng ghi nhận
Đất canh tác được Nhà nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác Mỗi hộ nông dân chỉ được dùng một nơi
làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy định tại địa phương Đất thuộc sở
hữu tập thể thì không được chuyển nhượng, cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp
Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính phủ Trung Quốc đã chỉ đạo nông
dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, giữa lợi ích
cộng đồng và lợi ích của người dân chưa có sự phối kết hợp Bước sang giai đoạn cải
cách nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã quan tâm khuyến khích hỗ trợ nông dân
kinh doanh lâm nghiệp Trung Quốc luôn coi trọng việc áp dụng luật pháp để phát triển
lâm nghiệp, bảo vệ rừng và làm cho lâm nghiệp hoạt động có hiệu quả Hiến pháp Trung
Quốc đã quy định "Nhà nước phải tổ chức thuyết phục nhân dân trồng cây bảo vệ rừng"
Kể từ năm 1984 Luật Lâm nghiệp quy định “…xây dựng rừng, lấy phát triển rừng làm
cơ sở, phát triển mạnh mẽ việc trồng cây mở rộng phong trào bảo vệ rừng, kết hợp khai
thác rừng trồng ” Từ đó ở Trung Quốc toàn xã hội tham gia công tác lâm nghiệp,
Chính phủ chỉ đạo cán bộ có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo mỗi cấp hoàn thành nhiệm
vụ kế hoạch của cấp mình, quá trình thực hiện chính sách này nếu tốt sẽ được khen
thưởng, ngược lại sẽ bị xử lý
Trang 19Giai đoạn từ năm 1979-1992 Trung Quốc đã ban hành 26 văn bản về Pháp luật, Nghị định, Thông tư và Quy định liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Đầu năm 1980, Trung Quốc ban hành Nghị định về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng,
một trong những điểm nổi bật của Nghị định này là thực hiện chủ trương giao cho
chính quyền các cấp từ TW đến cấp tỉnh, huyện, tiến hành cấp chứng nhận quyền chủ
đất rừng cho tất cả các chủ rừng là những tập thể và tư nhân Luật Lâm nghiệp đã xác
lập các quyền của người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất
mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích
của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi
trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp đồng và được xử lý
theo hợp đồng
Bên cạnh đó, quá trình quy hoạch đất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi bảo vệ nguồn nước, phát triển công nghiệp, dân số và giao thông nhằm sử dụng đất có hiệu quả ở miền
núi được Chính phủ Trung Quốc quan tâm Trung Quốc từng bước đưa sản xuất lâm
nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn Bắt
đầu từ năm 1987, Nhà nước đã thực hiện chương trình giúp đỡ nhân dân thoát khỏi nghèo
nàn trong những huyện nghèo, có thu nhập bình quân đầu người dưới 200 nhân dân tệ
Các huyện nghèo ở miền núi là đối tượng quan trọng thích hợp để phát triển lâm nghiệp
Trung Quốc đã thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa dạng, sau khi thực hiện cấp GCNQSDĐ Từ đó các trại rừng kinh doanh hình thành bước
đầu đã có hiệu quả Lúc đó ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài
nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ các mặt như:
- Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án chống cát bay
- Mỗi năm Chính Phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo
- Quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông, lâm nghiệp [19]
1.1.2.4 Đài Loan
Chính phủ Đài Loan tiến hành cải cách ruộng đất theo phương pháp hoà bình,
thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng" từng bước theo phương thức thị trường có
sự quản lý của Nhà nước
Quá trình cải cách ruộng đất của Đài Loan được thực hiện theo từng giai đoạn phát triển của từng thời kỳ mà họ có những chính sách điều chỉnh cụ thể cho phù hợp
với từng thời kỳ đó:
- Bắt đầu từ 1949 và đến nay họ đã tiến hành giảm địa tô để giảm gánh nặng về kinh tế cho nông dân đó là: Giảm tô 37,5%, thực hiện với tính toán rằng 25% sản
lượng nông nghiệp là dùng cho chi phí sản xuất, phần thặng dư (75%) được chia đôi
cho tá điền và địa chủ
Trang 20- Sau khi hoàn thành việc giảm tô, đến năm 1951 họ có chính sách bán đất công cho nông dân với giá bằng 2,5 lần sản lượng hàng năm của thửa đất và thanh toán
trong 10 năm Nông dân cũng có thể thanh toán sớm hơn nếu muốn, từ đó Nhà nước
lập được quỹ cải cách ruộng đất
- Đến năm 1953 họ tiếp tục cải cách ruộng đất đó là chính sách cho người cày
có ruộng Địa chủ được giữ lại 3 ha lúa nước và 6 ha đất màu, còn số diện tích dư thừa
còn lại thì Nhà nước sẽ tiến hành trưng mua và bán lại cho nông dân Giá trưng mua và
giá bán lại đều bằng 2,5 lần sản lượng hàng năm của thửa đất, tính theo sản phẩm thu
được sau sản xuất (bằng gạo) để không chịu ảnh hưởng của lạm phát và được thanh
toán 20 lần trong 10 năm, giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất được cấp ngay sau
lần thanh toán đầu tiên Địa chủ được nhận 70% bằng trái phiếu đất đai để lấy hiện vật
(gạo hoặc khoai lang) với lãi suất 4%/năm, 30% còn lại được chuyển thành cổ phần
của doanh nghiệp Nhà nước (công ty phát triển nông - lâm nghiệp, công ty giấy và bột
giấy, công ty công nghiệp mỏ và công ty xi măng) Kết quả là 139.250 ha đã được bán
cho 194.820 hộ nông dân và 4 công ty của Nhà nước đã được bán cho các địa chủ
Trong nông nghiệp, ngay những năm 50, kinh tế trang trại được hình thành và được Nhà nước tạo điều kiện cho mô hình kinh tế trang trại ở nông thôn được phát
triển, thông qua các biện pháp tích cực để hiện đại hoá nông nghiệp Ở các làng xã, các
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được mở mang
Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm vừa đáp ứng nhu cầu phục vụ nông nghiệp tại chỗ, vừa thu hút lao động địa
phương, tạo nhiều việc làm mới Công nghiệp hoá nông thôn ở Đài Loan đã thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu lao động (ví dụ năm 1952, lao động nông nghiệp chiếm 56,1%,
lao động công nghiệp chiếm 16,9%, lao động dịch vụ chiếm 27% Đến năm 1992, các
chỉ số đó là 12,9%; 40,2% và 46,9%) [28]
1.1.2.5 Nga
Nước Nga có khoảng 10 triệu hộ gia đình đang sở hữu và sử dụng một số lượng lớn diện tích đất lâm nghiệp, đất vườn và đất thuộc trang trại gia đình; gần 12 triệu
nông dân đang sở hữu đất dưới hình thức cổ phần với mức cổ phần trung bình là 10 ha
và còn có nhiều hình thức sử dụng, sở hữu khác như thuê đất, sử dụng đất thừa kế
Hệ thống pháp luật và chính sách đất đai ở Nga (trước đây là Liên Xô) đã trải qua những thời kỳ lịch sử phát triển qua 4 giai đoạn: Trước cách mạng tháng 10 năm 1917;
Từ 1918 đến 1987; Cải cách nông nghiệp trong thời kỳ cải tổ và Cuộc cải cách nông
nghiệp và đất đai của Liên bang Nga từ năm 1990 đến nay
Từ năm 1990 đến nay, sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, Liên bang Nga đã xây dựng Hiến pháp mới và thông qua Luật Đất đai năm 1990 Cơ sở của luật này là xem
xét hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, trong đó vấn đề quan trọng nhất là người chủ
đất có thể để lại quyền thừa kế và những quyền của chủ đất phần lớn có những điểm
Trang 21chung về quyền sở hữu đất đai; vấn đề cho thuê đất, hình thức cho thuê đất trong nền
kinh tế thị trường theo các hợp đồng Nổi bật nhất là lần đầu tiên trong Hiến pháp Liên
bang Nga đề cập đến quyền sở hữu tư nhân về đất đai
Ở nước Nga hiện nay thực hiện chế độ sở hữu nhà nước và thị chính về đất đai xuất phát từ tình hình sau khi Liên Xô tan rã, các vùng tự trị đều đòi quyền sở hữu đất
đai của mình, đồng thời 28 dân tộc trong Liên bang Nga cũng đòi có quyền đối với đất
đai, tiếp đó là các vùng tự trị và các thị chính (bao gồm các thành phố, các quận trong
thành phố, các thị trấn, thị xã, các khu dân cư nông thôn) cũng đòi có quyền với đất đai
theo chế độ “tự trị tại chỗ” Từ đó, Luật Đất đai Liên bang Nga (năm 1991) khẳng định
sở hữu nhà nước với các nước Cộng hòa thuộc Liên bang đối với đất đai là một trong
những biện pháp quản lý Nhà nước để điều tiết các quan hệ đất đai, tiếp đó là sự phân
cấp cho các vùng, các thị chính quản lý đất đai theo pháp luật bao gồm quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng đất và quyền định đoạt
Ở nước Nga đang thực hiện chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đi đôi với nghĩa vụ của cá nhân Quyền sở hữu tư nhân về đất đai bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và định đoạt, trong đó quyền chiếm hữu có liên quan chặt chẽ với các quyền khác
nhằm khai thác triệt để việc sinh lợi của đất để phục vụ yêu cầu xã hội và cá nhân, nay
phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, pháp luật nghiêm cấm sử dụng
đất nông nghiệp hoặc đất phòng hộ vào việc xây dựng khách sạn hoặc các công trình
phục vụ kinh doanh Pháp luật cho phép chủ sở hữu đất đai được quyền bán, chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế
Nhìn chung, pháp luật và chính sách đất đai của Liên bang Nga hiện nay là biện pháp quản lý đất đai mang đặc trưng cho sự thay đổi của hệ thống chính trị thuộc chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trước đây Bên cạnh những mặt mạnh còn có những mặt
yếu; bên cạnh những điều hợp lý, còn có những điều chưa hợp lý [28]
1.1.2.6 Pháp
Các chính sách quản lý đất đai ở Cộng hòa Pháp được xây dựng trên một số nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý sử dụng đất đai
và hình thành các công cụ quản lý đất đai Nguyên tắc đầu tiên là phân biệt không gian
công cộng và không gian tư nhân
Không gian công cộng bao gồm đất đai và tài sản trên đất thuộc sở hữu Nhà nước
và của tập thể địa phương Tài sản công cộng được đảm bảo lợi ích công cộng có đặc
điểm là không thể chuyển nhượng (không được mua và bán) và không thể mất hiệu lực
Không gian công cộng cùng với các vật kiến trúc xây dựng và các thiết bị (công sở,
trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, nhà bảo tàng ) làm cho đất đai có giá trị sử dụng
thuận tiện và ở đô thị đó là đất xây dựng Ở Pháp lợi ích công cộng được ưu tiên, có thể
hạn chế lợi ích riêng tư
Trang 22Không gian công cộng song song tồn tại với không gian tư nhân và đảm bảo lợi ích song hành Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có
quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Chỉ có lợi ích công cộng
mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường bước và trong trường hợp đó lợi ích công
cộng phải thực hiện bồi thường thiệt hại một cách công bằng và tiên quyết đối với lợi
ích tư nhân
Ở Pháp có chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất các loại nông, lâm
sản thuộc cộng đồng Châu Âu Luật quy định những điểm cơ bản sau:
- Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định Tuy nhiên chỉ làm nhà cho bản thân gia đình
mình và nghiêm cấm xây nhà trên đất canh tác để bán cho người khác
- Từ năm 1993, các bất động sản dùng cho nông, lâm nghiệp được hưởng quy chế miễn giảm Miễn giảm đương nhiên trong thời gian 3 năm cho một số đất đai chuyên
dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng Miễn giảm thuế đối với đất đai mới
giành cho ươm trồng cây hạnh nhân với thời gian tối đa là 8 năm và cho đất trồng các
loại cây khác là 15 năm
- Khuyến khích việc tích tụ đất đai bằng cách xác định các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau thì làm việc với chủ đất trong vòng 2-3 năm để thu thập số
liệu, đàm phán với chủ đất để tiến hành chuyển đổi đất đai, tạo điều kiện tập trung các
thửa đất lớn, thực hiện tích tụ đất đai
- Việc bán đất nông, lâm nghiệp hay đất đô thị đều phải nộp thuế và thuế trước bạ
là 10% Đất này được ưu tiên bán cho những người láng giềng để tạo ra thửa đất có
diện tích lớn hơn Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người
mua Muốn bán đất phải xin phép và khi được phép thì phải ưu tiên bán cho người đang
thuê đất Khi họ không mua mới được bán cho người khác
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát các hoạt động mua – bán – chuyển nhượng đất đai theo hướng hạn chế việc mua bán đất Cơ quan giám sát
đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia mua đất Chẳng hạn, nếu người
A muốn bán đất cho người B thì cơ quan này can thiệp bằng giải pháp kinh tế Nếu
người B không đủ điều kiện mua thì cơ quan này mua để tặng quỹ đất thuộc sở hữu
Trang 23Ngày nay đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy hoạch vùng
lãnh thổ và đầu tư phát triển [28]
1.1.2.7 Mỹ
Mỹ là một nước phát triển, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Đến nay, Mỹ đã hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ và hoàn thiện hồ sơ địa
chính Nước Mỹ đó xây dựng một hệ thống thông tin về đất đai và đưa vào lưu trữ
trong máy tính, qua đó có khả năng cập nhật các thông tin về biến động đất đai một
cách nhanh chóng và đầy đủ đến từng thửa đất Công tác cấp GCNQSDĐ tại Mỹ sớm
được hoàn thiện Đó cũng là một trong các điều kiện để thị trường bất động sản tại Mỹ
phát triển ổn định
* Nhận xét và đánh giá chung
Pháp luật và chính sách đất đai của các nước trên thế giới có những nét đặc trưng nổi bật là bảo vệ hết sức nghiêm ngặt nguồn đất canh tác, có chế độ khuyến
khích và bảo hộ đất nông, lâm nghiệp bằng cách miễn giảm các loại thuế, kéo dài thời
gian sử dụng, khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai; nghiêm ngặt thực hiện quy
hoạch, nhất là quy hoạch tổng thể - nhiều nước coi quy hoạch sử dụng đất đai là động
lực của sự phát triển Ngày nay, pháp luật và chính sách đất đai của nhiều nước có xu
hướng tăng nhanh sự can thiệp của Nhà nước đối với các quan hệ đất đai, trước hết là
quan hệ sở hữu dù đó là sở hữu của Nhà nước, của tư nhân, của toàn xã hội hay của tập
thể quần chúng lao động
Những đặc điểm nổi bật trong quan hệ sở hữu là các Nhà nước có xu hướng mở rộng phạm vi quản lý Nhà nước về đất đai bằng cách trưng thu, trưng mua, khuyến
khích tập trung đất đai và khi tư nhân không có điều kiện tập trung đất đai thì Nhà nước
đứng ra mua Nhưng quan trọng nhất vẫn là sự thay đổi xu hướng nhận thức về đất đai
mà trên thực tế nhiều nước trong nhiều năm qua đã bỏ qua đó là hiểu được bản chất của
các quá trình khác nhau khi đất đai được tham gia như một đối tượng sở hữu và được
xem xét như một thành phần kinh tế; khẳng định được khái niệm về sự ưu việt lớn của
nông, lâm nghiệp đòi hỏi sự thống nhất về an toàn diện tích đất canh tác và cuối cùng
điều quan trọng nhất không phải là các vấn đề về sở hữu, mà là quyền và nghĩa vụ của
chủ sở hữu đất đai [28]
1.1.3 Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ
Nhà nước ta đã ban hành nhiều Luật, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị…về giao đất giao rừng nhằm gắn lao động với đất đai, tạo động lực phát triển sản xuất lâm nghiệp,
từng bước ổn định kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng Với mục đích trao quyền quản
lý và sử dụng lâu dài về đất đai cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Nhằm tạo cơ
sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về việc sử
dụng và kinh doanh trên đất được giao, từng bước khắc phục tình trạng manh mún đất
Trang 24đai, tạo điều kiện tích tụ đất đai phù hợp, thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển theo
hướng sản xuất hàng hoá, thâm canh đất đai, đa dạng hóa cây trồng, sử dụng và bảo vệ
tốt tài nguyên môi trường theo hướng một nền lâm nghiệp bền vững
1.1.3.1 Giai đoạn 1945-1986
Trong giai đoạn này, chính quyền cách mạng mới giành thắng lợi, Đảng ta chủ trương từng bước giảm bớt sự bóc lột của giai cấp địa chủ, phú nông đối với nông dân
nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân và động viên nhân dân phát triển sản xuất, phục
vụ kháng chiến Chính sách đất đai của Nhà nước trong giai đoạn này hướng tới mục
đích cải cách ruộng đất để phân phối lại ruộng đất cho nông dân
Trước cải cách ruộng đất (năm 1954 ở miền Bắc) Việt Nam chưa có hình thức sở hữu Nhà nước về rừng Rừng và đất rừng lúc đó thuộc sở hữu tư nhân và cộng đồng
thôn bản Hình thức quản lý tư nhân và cộng đồng cùng với nguồn tài nguyên rừng lúc
đó còn dồi dào, nhu cầu của con người chưa vượt quá sự tái tạo của rừng nên độ che
phủ rừng của Việt Nam chiếm tới 43% Trong thời kỳ này, hình thức quản lý rừng cộng
đồng phổ biến ở hầu khắp các thôn bản miền núi
Sau cải cách ruộng đất thì quản lý rừng nhà nước là phổ biến, rừng được giao cho các lâm trường quốc doanh và chính quyền địa phương quản lý thông qua các
nhiều chính sách liên quan đến quản lý đất đai, đặc biệt Quyết định số 184/HĐBT ngày
06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh giao đất giao rừng cho tập thể và
nhân dân trồng cây gây rừng
Tại các cấp địa phuơng chuyển biến đầu tiên là các hợp tác xã bắt đầu tham gia vào hoạt động lâm nghiệp nhờ chính sách của Nhà nước về giao đất giao rừng cho
HTX Hoạt động của HTX vào nghề rừng có 3 loại hình:
- Hợp tác xã quản lý rừng: Tại trung du và miền núi phía bắc, đối với những tỉnh
có tiềm năng sản xuất tốt, có thị trường tiêu thụ sản phẩm và có thể đảm bảo tự cung
cấp lương thực thì các HTX ở đây trực tiếp sản xuất và quản lý và sử dụng rừng Ví dụ
như: các tỉnh Hà Tuyên và Hoàng Liên Sơn cũ chuyên sản xuất nguyên liệu giấy;
Quảng Ninh và Hà Bắc cũ chuyên sản xuất gỗ trụ mỏ, còn Thanh Hoá chuyên sản xuất
tre luồng Tuy nhiên, chủ trương giao đất giao rừng cho các đơn vị ngoài quốc doanh
(như Hợp tác xã) vẫn còn mới mẻ, chưa thực sự đi vào cuộc sống nên số lượng các
HTX tham gia vào nhóm này không nhiều Ví dụ, tỉnh Quảng Ninh chỉ có 28 trong số
93 HTX; Lạng Sơn có 29 trong số 200
Trang 25- Hợp tác xã làm việc theo hợp đồng: Các HTX loại này mặc dù được giao đất giao rừng nhưng chưa đảm bảo tự kinh doanh nên phải hợp đồng làm khoán trồng rừng
hoặc khai thác lâm sản cho LTQD trên diện tích đất và rừng được giao Ví dụ như:
huyện Bạch Thông (Bắc Thái), một số huyện ở các tỉnh Quảng Ninh và Nghệ Tĩnh
Lâm trường quốc doanh chịu trách nhiệm cung cấp giống cây trồng, tiền công, đầu tư
sản xuất…Sau khi trồng, các HTX phải chịu trách nhiệm bảo vệ và quản lý rừng trồng
Nhìn chung, rừng được bảo vệ tốt hơn trước
- Các Hợp tác xã tham gia khai thác rừng tự nhiên: Các HTX thuộc loại này thường đã nhận đất nhận rừng nhưng chỉ đơn thuần để giữ rừng, khai thác gỗ, củi và
các lâm đặc sản khác, đặc biệt vào những năm thiếu lương thực
Trong giai đoạn 1968-1986, ngành Lâm nghiệp đã quy hoạch lại đất lâm nghiệp thành 3 loại rừng: Rừng đặc dụng, Rừng phòng hộ, Rừng sản xuất Hệ thống các LTQD
đã được tổ chức lại vào năm 1985 và diện tích họ trực tiếp quản lý cũng đã giảm xuống
Các lâm trường tiến hành rà soát lại quỹ đất và bàn giao lại cho chính quyền xã để giao
thành phần do Nhà nước lãnh đạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó, chính sách
đổi mới dần được điều chỉnh
Tuy nhiên, trên thực tế quá trình đổi mới bắt đầu sớm hơn nhiều Năm 1981, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 100/CT-TW mở rộng khoán sản
phẩm đến nhóm và người lao động mà thực chất là khoán đến hộ gia đình sản xuất
nông nghiệp Tiếp theo Chỉ thị 100/CT-TW, để tăng vai trò kinh tế của hộ gia đình
nông dân, Bộ Chính Trị đã đề ra Nghị Quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp
với nội dung cơ bản là giải phóng triệt để sức sản xuất nhằm khai thác hợp lý tiềm năng
lao động, đất đai, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ Quốc hội và Chính phủ đã
ban hành các luật và các chính sách về lâm nghiệp:
- Luật bảo vệ và phát triển Rừng được ban hành năm 1991 đã đưa ra khuôn khổ ban đầu về các chính sách liên quan đến vấn đề giao đất lâm nghiệp cho các đối tượng
để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp
Trang 26- Các quyết định, nghị định liên quan giao khoán đất cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp (Quyết định số 202/TTg năm 1994 của
Thủ tướng Chính phủ)
- Cùng với chính sách giao đất khoán rừng Nhà nước đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích sử dụng đất trồng rừng và bảo vệ rừng như Quyết định số
264/CT ngày 22/7/1992 của Hội đồng Bộ trưởng Quyết định 327/CT ngày 15/9/1992
của Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi trọc,
rừng, bãi, bồi ven biển và mặt nước; Quyết định này sau đó trở thành Chương trình 327
* Ở cấp địa phương:
Trong giai đoạn từ 1986 đến 1994 đã có chuyển biến mạnh mẽ và đạt kết quả khả quan về công tác giao đất giao rừng Chương trình 327 đã dành phần lớn ngân sách cho
việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình ở nhiều vùng trong cả nước Trong giai
đoạn này có một số hướng dẫn cho công tác giao đất lâm nghiệp như sau:
- Mỗi hộ trong vùng dự án của Chương trình sẽ được giao khoán một số diện tích
để trồng rừng mới hoặc để khoanh nuôi tái sinh rừng tuỳ theo quỹ đất đai và khả năng
- Giao khoán bảo vệ rừng đến hộ: 1,6 triệu ha (466.768 hộ)
Trong thời gian này, khoảng 55% trên tổng số diện tích đất lâm nghiệp đã được giao hoặc khoán cho các hộ gia đình hoặc các đơn vị kinh tế khác trong đó 40% diện
tích này thuộc về các hộ gia đình nghĩa là khoảng 22% trong tổng số diện tích đất lâm
nghiệp của các tỉnh trên đã được giao hoặc khoán cho các hộ, có khoảng 19% số hộ của
các tỉnh đã nhận đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhiều trường hợp có sổ
lâm bạ) hoặc hợp đồng bảo vệ [1]
1.1.3.3 Giai đoạn từ năm 1994 đến nay
Giai đoạn này gắn liền với việc ban hành các Nghị định của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp là Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định 163/CP ngày
16/11/1999 và Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995
Từ 1994-2000: Việc giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo Nghị định số
Trang 2702/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ Chỉ đạo và chịu trách nhiệm chính việc giao
đất lâm nghiệp là Chi cục kiểm lâm tại cấp tỉnh và Hạt Kiểm lâm tại cấp huyện Sản
phẩm của quá trình này là giao nhận trên thực địa, bản đồ giao đất và cấp sổ lâm bạ,
chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ Ngoài ra, còn
một số tồn tại như:
- Các hộ gia đình cá nhân, các tổ chức mới được giao ở thực địa, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa có đủ điều kiện để sử dụng các quyền
sử dụng đất như thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế
- Hồ sơ giao đất còn nhiều tồn tại như: Diện tích giao không chính xác, không xác định được vị trí đất đã giao, thiếu biên bản xác định ranh giới mốc giới
- Ranh giới sử dụng đất của các tổ chức nhận đất như lâm trường, thanh niên xung phong chưa rõ ràng; tranh chấp, xen lấn giữa đất của lâm trường với các hộ
chưa được giải quyết
- Quá trình giao đất lâm nghiệp trước đây, ngoài ngành kiểm lâm làm còn do các đơn vị khác thực hiện như Ban định canh định cư, Phòng nông nghiệp huyện
nên dẫn đến sự chồng chéo, hồ sơ vừa thiếu lại không đồng bộ
- Việc giao đất lâm nghiệp vào giai đoạn này chưa có quy hoạch 3 loại rừng, chưa có quy hoạch sử dụng đất của xã nên sau này khi có quy hoạch 3 loại rừng được
UBND tỉnh phê duyệt thì dẫn đến tình trạng là đất giao cho hộ giai đình lại là đất
rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng [1]
1.2 Cơ sở thực tiễn các vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tổng quan về chủ trương giao đất lâm nghiệp ở nước ta
Chủ trương giao đất, giao rừng của Đảng đã hình thành từ rất sớm Ngay từ năm
1983, Ban Bí thư (Khoá V) đã có Chỉ thị 29-CT/TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy
mạnh giao đất, giao rừng Chỉ thị nhấn mạnh, ‘làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng,
mỗi quả đồi đều có người làm chủ’ Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có
nhiều chính sách nhằm thực hiện chủ trương này và đã đạt được những thành tựu rất
đáng kể, nhất là trong lĩnh vực giao đất và rừng sản xuất Nhiều hộ, nhiều cộng đồng
đã được nhận đất, nhận rừng và đã tích cực đầu tư để phát triển sản xuất Do vậy, ở
nhiều nơi công tác quản lý và bảo vệ rừng đã có những chuyển biến tích cực, tài
nguyên rừng phát triển tốt hơn và đời sống của người dân cũng được cải thiện sau khi
nhận rừng Có thể nói giao đất, giao rừng là một chủ trương rất đúng đắn của Đảng và
Nhà nước, nhờ đó chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đó là chuyển từ lâm
nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản có liên
quan đến giao đất lâm nghiệp để giao cho các chủ thể quản lý và chủ thể sử dụng
Trang 281.2.2 Thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp ở nước ta
Kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng được ban hành tại Quyết định số 3158/QĐ-BNN-TCLN ngày 27/7/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
công bố hiện trạng rừng năm 2015, như sau:
- Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng toàn quốc năm 2015 là: 14.061.856 ha
trong đó: đất rừng tự nhiên: 10.175.519 ha; đất rừng trồng: 3.886.337 ha Phân theo
tính năng: rừng sản xuất: 6.668.202 ha; rừng phòng hộ: 4.462.635 ha; rừng đặc dụng:
2.106.051 ha
- Độ che phủ rừng năm 2005 đạt 37%, năm 2010 đạt 39,5% và năm 2015 đạt 40,84% Như vậy, trong 10 năm (2005 - 2015) diện tích rừng cả nước tăng 1,45 triệu
ha, độ che phủ tăng 3,84% (trung bình tăng 0,38 %/ năm)
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp cả nước tính đến 31/12/2015
TT Đối tượng quản lý,
sử dụng
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Bộ NN&PTNT, năm 2016 [3])
Trên diện tích đất lâm nghiệp của cả nước hiện có 87 khu rừng đặc dụng, chủ yếu là đất có rừng, tổ chức quốc doanh mới chỉ quản lý được 22 khu rừng phòng hộ
với 6 triệu ha trong đó có 2,5 triệu ha đất có rừng và 3,5 triệu ha đất chưa có rừng Nhà
nước mới trực tiếp quản lý được 11 triệu ha đất rừng sản xuất gồm 6 triệu ha đất có
rừng và 5 triệu ha đất chưa thành rừng, các lâm trường trực tiếp quản lý 4,5 triệu ha
đất có rừng sản xuất
Trang 29Qua khảo sát thực tế trong nhiều năm trước đây cho thấy chỉ có khoảng hơn 30% diện tích được giao là sử dụng có hiệu quả, trong đó: trồng rừng, khoanh nuôi,
bảo vệ 1,5 triệu ha; làm vườn rừng, trại rừng 0,5 triệu ha; số còn lại vẫn bỏ hoang hóa
qua nhiều thời kỳ Cơ chế mới hiện nay trong giao đất lâm nghiệp là gắn giao đất cho
từng đối tượng với mục đích sử dụng từng loại rừng, phối hợp chặt chẽ giữa giao đất
làm lâm nghiệp với việc khoán, bảo vệ tu bổ, chăm sóc rừng cho từng hộ gia đình, cá
nhân đã được xác định tại Nghị định 02/CP là hợp lý và như vậy sẽ tạo điều kiện thực
hiện tốt cho việc bảo vệ và phát triển rừng trên diện rộng
Việc giao đất rừng tự nhiên: ở cấp cơ sở (cấp xã), rừng tự nhiên bao gồm tất cả các loại hình không phải rừng trồng Phần lớn là rừng thứ sinh nghèo kiệt do lâm
trường giao lại và HTX khai thác lâu năm Việc giao diện tích này đang gặp khó khăn
như: diện tích nằm xa khu dân cư, thiếu điều kiện tối thiểu cho cuộc sống của người
dân (giao thông, nước sinh hoạt, an ninh trật tự ) Vấn đề bảo vệ và khai thác đòi hỏi
đầu tư vượt quá sức dân nên ít ai muốn nhận
Việc giao đất trồng rừng: rừng trồng được chia làm 2 loại (rừng cộng đồng và rừng gia đình) Rừng cộng đồng do HTX trồng và quản lý chiếm chủ yếu Khi giao
loại rừng này thường gặp nhiều khó khăn, không thể giải quyết đồng nhất, các xã hầu
như không muốn giao diện tích này vì nhiều lý do Có những diện tích là vành đai an
toàn cần giữ với sự quản lý của cộng đồng, nếu không sẽ bị chặt phá nhanh chóng
Nhiều xã muốn giữ bằng được rừng cộng đồng như tài sản chung vì đã bỏ vốn lớn vào
đó Trong trường hợp bất đắc dĩ phải giao, thì HTX đặt giá cao mà người dân thường
không chấp nhận được Một số nơi, HTX chặt hết rừng, bán cây rồi mới giao đất trống
Trong khi đó, nếu tiếp tục duy trì rừng cộng đồng lại là gánh nặng vượt quá khả năng
thực tế của HTX
1.2.3 Kết quả giao đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp ở nước ta
Công tác giao đất lâm nghiệp trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện theo Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 và Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc
giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, kết quả giao đất lâm nghiệp, như sau:
Trang 30Bảng 1.2 Kết quả cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp của Việt Nam, năm 2012
Địa bàn Số giấy chứng
nhận đã cấp
Diện tích đã được cấp
Tỷ lệ diện tích đất đã cấp/diện tích cần cấp
Miền núi phía Bắc 1.068.558 4.312.110 79,3 Đồng bằng Bắc bộ 10.912 25.923 23,0 Bắc Trung bộ 267.552 1.829.507 75,9 Nam Trung bộ 323.433 1.207.999 82,1
Nguồn: Bộ TN&MT, 2012
1.2.4 Những tác động tích cực của chủ trương giao đất lâm nghiệp ở nước ta
Giao ĐLN và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp đến HGĐ,CN đã tạo được tâm lý phấn khởi vì có được một tài sản và nguồn lực đầu tiên để các hộ gia đình có điều kiện
sử dụng lao động của hộ gia đình tham gia QL,BV&PTR Điều này, chứng tỏ nhân dân
miền núi rất thiết tha với đất đai, rất cần đất đai để sản xuất, rất cần quyền sử dụng đất
đai ổn định Đến nay, cần phá bỏ tư duy cho rằng nông dân miền núi không tha thiết sổ
đỏ đất lâm nghiệp và cần chú ý đến thị trường đất đai đang xuất hiện ở miền núi khá
mạnh
Kết quả giao ĐLN đã tạo được tiền đề để có những chủ rừng đích thực phát triển kinh tế hộ gia đình Đối với HGĐ,CN đã sử dụng tốt các nguồn lực hỗ trợ từ các
chương trình, dự án của nhà nước và của HGĐ,CN để tham gia trồng rừng, bảo vệ
rừng trên đất lâm nghiệp được giao thì thật sự họ đã trở thành người chủ sở hữu rừng
trồng trên đất được giao Từ đó, đã có tác động tốt đến phát triển lâm nghiệp, đến tình
hình phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, ảnh hưởng tích cực đến sản xuất
lâm sản hàng hoá và phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn miền núi
Giao quyền sử dụng ĐLN đến hộ gia đình đã tạo điều kiện nâng cao tư duy kinh
tế cho các chủ hộ gia đình, có thêm nguồn lực mới để “gắn đất đai với lao động” và
phát triển kinh tế hộ gia đình Truớc đây nông dân miền núi tham gia lâm nghiệp với
vị trí của người làm thuê Các hộ gia đình ở miền núi rất thiếu đất đai, sản xuất phụ
Trang 31thuộc rất nhiều vào sự thăng trầm của các Lâm trường Quốc doanh Không có đất,
hoặc thiếu đất, kinh tế hộ nông dân miền núi không thể phát triển được Thực hiện
Chương trình 327 đã có tác dụng đưa thêm việc làm đến nông dân miền núi, tạo điều
kiện để kinh tế hộ gia đình nông dân phát triển Tiếp theo đó, những nơi đã đẩy mạnh
giao đất lâm nghiệp đến hộ gia đình, các hộ gia đình đã có thêm đất đai, một loại tư
liệu sản xuất quan trọng nhất trong sản xuất nông lâm nghiệp Quyền sử dụng đất lâm
nghiệp ổn định và lâu dài đã tác động rất tốt đến tư duy kinh tế của các hộ gia đình,
phát huy được tính sáng tạo của hàng triệu hộ gia đình nông dân miền núi, tạo điều
kiện nâng cao quyền tự chủ về kinh tế Tình hình đó đã tạo được động lực mới để thúc
đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển khá hơn
Chính sách “khoán đất rừng sản xuất” đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho những hộ gia đình sinh sống trên địa bàn hoạt động của các Lâm trường quốc doanh và
Ban Quản lý rừng
Thực hiện các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu
số, Hội thảo: Quản lý và Sử dụng Đất đai tại các Cộng đồng Dân tộc Thiểu số Miền
núi nghèo, đời sống khó khăn có tác động giảm bớt khó khăn nhất thời cho các hộ gia
đình nghèo là đồng bào dân tộc Thực trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nhà cửa tạm bợ ở
một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số là một thực tế đã có ảnh hưởng không tốt về an
ninh và xã hội Chính phủ đã ban hành Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg quy định các
chính sách để giải quyết tình trạng trên Đây là những chính sách rất hợp tình, hợp lý,
có tác động trực tiếp đến rừng và các hoạt động lâm nghiệp và thường do các cơ quan
lâm nghiệp thực hiện
1.2.5 Những tác động chưa tích cực của chủ trương giao đất lâm nghiệp ở nước ta
Chính sách giao đất lâm nghiệp mới cung cấp nguồn lực, nhưng chưa tạo được động lực đủ mạnh để đẩy mạnh trồng rừng và quản lý rừng bền vững Bởi vì động lực
để phát triển lâm nghiệp bền vững sau khi nhận được quyền sử dụng đất đai ổn định
thường được tạo ra từ các yếu tố:
- Quyền sở hữu đất đai của nhà nước và quyền sử dụng đất đai của người sử dụng đất phải được qui định cụ thể rõ ràng; các hộ gia đình cần được hỗ trợ, bổ sung
thêm các nguồn lực khác ngoài đất đai và rừng, nhất là vốn và kỹ thuật; thị trường lâm
sản và dịch vụ lâm nghiệp phát triển; kỹ thuật, kỹ năng quản lý đất đai của người có
quyền sử dụng đất phải được nâng cao
- Công tác giao đất lâm nghiệp trước đây chủ yếu theo mục tiêu “giao nhanh, cấp nhanh sổ đỏ đến tổ chức và hộ gia đình”, chưa gắn liền với việc thực hiện chính sách
giao đất lâm nghiệp, nhất là các chính sách hỗ trợ các nguồn lực khác cho người sử
dụng đất lâm nghiệp và chính sách xúc tiến thị trường lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp
Vì vậy, tuy đã giao và cấp sổ đỏ đến hộ gia đình, nhưng nhiều chủ rừng vẫn chưa bảo
vệ và phát triển được diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao Mặt khác có những
Trang 32trường hợp không xác định được phạm vi ranh giới rừng và đất lâm nghiệp được giao
trên thực địa, nên xảy ra tranh chấp giữa các chủ rừng giáp ranh với nhau
- Chính sách “khoán đất rừng sản xuất” ở các Lâm trường quốc doanh, ban quản
lý còn nhiều bất cập, bên nhận khoán vẫn nhận tiền giao khoán hàng năm với bên giao
khoán nhưng thực tế không bảo vệ được diện tích rừng được giao khoán mà không bị
xử lý; thậm chí có trường hợp lợi dụng để chiếm đoạt quyền sử dụng đất đai do các
Lâm trường quốc doanh quản lý
- Thực thi các chính sách và giải pháp quản lý, sử dụng đất và rừng trong các lâm trường quốc doanh còn chậm chạp và hiệu quả thấp
- Các chính sách về giao đất, giao rừng và quyền hưởng lợi của chủ rừng như hiện nay chưa thực sự khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia Thiếu các chính
sách hỗ trợ chủ rừng, đặc biệt là các đối tượng cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân tham
gia nhận đất, nhận rừng để quản lý, bảo vệ và sản xuất kinh doanh
- Công tác giám sát, theo dõi và đánh giá hiệu quả sử dụng rừng sau khi giao chưa được thường xuyên, thiếu kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm Việc thu hồi
rừng và đất lâm nghiệp của các tổ chức, hộ gia đình quản lý, sử dụng sai mục đích,
kém hiệu quả còn chậm so với quy định
Mặc dù trên danh nghĩa, phần lớn các diện tích rừng đã được giao cho các chủ quản lý, sử dụng, nhưng thực tế công tác giao rừng, cho thuê rừng còn có những hạn
chế sau:
- Tỷ lệ diện tích rừng do các doanh nghiệp Nhà nước, UBND các cấp quản lý chiếm khoảng 50%, trong khi đó tỷ lệ diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân
thấp (27,5%), làm giảm hiệu quả xã hội của chính sách giao rừng, cho thuê rừng của
Nhà nước và chưa huy động được nguồn lực to lớn trong dân Nhiều nơi diện tích rừng
giao cho chủ rừng và người dân chưa xác định cụ thể trên bản đồ và thực địa; hồ sơ
giao đất, giao rừng thiếu nhất quán, quản lý không chặt chẽ và không đồng bộ Có
những diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao/quản lý đã bị chuyển đổi mục đích
khác nhưng không bị xử lý hoặc làm ngơ
- Diện tích rừng có chủ thực sự rất thấp, dẫn đến tình trạng rừng chưa được bảo
vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả Qua đánh giá của một số địa phương hiệu quả sau
giao rừng chỉ đạt 20 - 30% Nhiều doanh nghiệp Nhà nước quản lý diện tích rừng lớn
nhưng không có khả năng kinh doanh và chưa được tạo điều kiện để sản xuất kinh
doanh có hiệu quả các diện tích rừng được giao Các diện tích rừng do UBND các cấp
quản lý thì cơ bản vẫn trong tình trạng vô chủ hoặc không được bảo vệ, quản lý tốt
Nhiều diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân chưa phát huy hiệu quả kinh tế,
người dân vẫn chưa sống được bằng nghề rừng
Trang 331.2.6 Nguyên nhân của các tồn tại trong công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lâm nghiệp ở nước ta
Nhận thức của một bộ phận cán bộ và lãnh đạo UBND các cấp về công tác giao rừng còn hạn chế, chưa quán triệt đúng chủ trương về giao đất, giao rừng của Đảng,
Nhà nước, vẫn còn tư tưởng cho rằng rừng là tài nguyên quốc gia, nếu giao rừng cho
mọi thành phần kinh tế sẽ khó quản lý và mất rừng, vì vậy có biểu hiện né tránh và ít
quan tâm đến công tác này
Công tác giao rừng, cho thuê rừng qua các thời kỳ được thực hiện khác nhau, không theo một hệ thống thống nhất và nhất quán Chính sách, quy định của Nhà nước
về giao rừng, cho thuê rừng, trách nhiệm và quyền hưởng lợi của các chủ rừng vẫn chỉ
mang tính định hướng, thiếu cụ thể nên các địa phương rất lúng túng trong triển khai
thực hiện
Các chính sách về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp, sử dụng rừng, quyền hưởng lợi còn thiếu thống nhất Chưa xác định rõ ràng các đối tượng rừng để giao, cho thuê
rừng, thiếu các chính sách hỗ trợ các chủ rừng, đặc biệt là các cộng đồng, hộ gia đình,
cá nhân trong quản lý, kinh doanh nghề rừng
Công tác tổ chức triển khai thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng của các ngành, các cấp chậm, kém hiệu quả Việc cấp GCNQSDĐ, sử dụng rừng còn chậm và
thiếu đồng bộ Phân công, phân cấp trách nhiệm còn chồng chéo, không rõ ràng và
thiếu thống nhất Có thời kỳ, Chính phủ, UBND các cấp, doanh nghiệp Nhà nước đều
tham gia vào việc giao rừng, cho thuê rừng Năng lực về tổ chức quản lý và chuyên
môn kỹ thuật của các cơ quan Nhà nước các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở về giao rừng,
cho thuê rừng rất hạn chế Điều tra, quy hoạch các loại rừng và đánh giá chất lượng
rừng để làm cơ sở cho việc giao rừng, cho thuê rừng chưa đáp ứng được yêu cầu
Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và cơ chế chính sách về lâm nghiệp còn hạn chế và chưa thực sự có hiệu quả Người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa chưa tích cực tham gia nhận rừng, cũng như quản lý và sử dụng có hiệu quả diện
tích rừng được giao
Việc giám sát, theo dõi, đánh giá hiệu quả công tác giao rừng, cho thuê rừng, sử dụng rừng sau khi giao, cho thuê chưa được làm thường xuyên
Việc cấp GCNQSDĐ cho đất lâm nghiệp trong thời gian dài khó khăn do không
có bản đồ địa chính và đất chưa được đo đạc Ngoài ra có ba nguyên nhân khác cũng
dẫn đến tiến trình cấp giấy quyền sử dụng đất lâm nghiệp bị chậm lại là vì (i) tranh
chấp đo đạc địa chính, (ii) tranh chấp về nguồn gốc đất và (iii) đất đang trong quá trình
chuyển mục đích sử dụng Bên cạnh đó, hiện tượng gây phiền hà cho dân khi giải
quyết các thủ tục cấp GCNQSDĐ vẫn còn phổ biến, ít nhiều ảnh hưởng đến tiến độ
cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp
Trang 341.2.7 Tình hình sử dụng đất sau khi giao đất lâm nghiệp ở nước ta
Sau khi giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, thì người nông dân thực sự làm chủ trên đất được giao, họ yên tâm đầu tư lao động và
vốn phát triển sản xuất lâm nghiệp
Dưới tác động của chính sách cùng với cách làm và bước đi thích hợp, nên phần lớn đất lâm nghiệp được giao ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình và cá nhân, tạo động
lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, khuyến khích các thành phần kinh tế đặc
biệt là nông dân phát huy cao độ tiềm năng của đất đai, đưa lại hiệu quả kinh tế cao,
đời sống xã hội được cải thiện, nạn đói triền miên ở các vùng nông thôn cơ bản được
đẩy lùi, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường
Tình hình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất của cả nước trong những năm qua tương đối tích cực và đã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Việc giao đất lâm
nghiệp, khoán rừng được đẩy mạnh nên đã góp phần bảo vệ, phục hồi và trồng mới
rừng, đưa diện tích lâm nghiệp có rừng đến năm 2016 tăng lên Độ che phủ tăng từ
32,61% (năm 1995) lên 35,08% (năm 2000), 39,5% (năm 2010) và 40,84% (năm
2015), góp phần rất quan trọng vào sự phát triển ổn định của đất nước, bảo vệ môi
trường sinh thái, chống xói mòn đất và hạn chế tác hại của thiên tai
Khi vấn đề lương thực, thực phẩm được giải quyết thì nạn phá rừng cũng dần được hạn chế, việc trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và trồng rừng phân tán
trong khu dân cư, được quan tâm và ngày càng phát triển
Tất cả những điều đó nói lên rằng: Chủ trương giao đất lâm nghiệp cho hộ nông dân sử dụng ổn định lâu dài là sự đổi mới tích cực, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ môi trường bền vững cho tương lai
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu của Trần Đức Viên (1999) cho rằng: Giao đất lâm nghiệp chỉ có tác động tích cực nơi mà vấn đề an toàn lương thực đã được đáp ứng Một nhận định
khác khá bất ngờ là chỉ có khoảng 20-30% số hộ sử dụng đất lâm nghiệp được giao
Trang 35- Theo đánh giá của các chuyên gia tại Hội thảo Quản lý và sử dụng đất tại cộng đồng các dân tộc thiểu số miền núi được tổ chức năm 2011, cho thấy một số vấn đề về
công tác giao đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp, cụ thể như sau:
+ Công tác quy hoạch, sử dụng đất lâm nghiệp chưa sát với thực tế, chậm điều chỉnh và thường xuyên bị phá vỡ quy hoạch Việc xác định ranh giới các khu rừng phòng
hộ, đặc dụng chưa rõ ràng, gây khó khăn và làm chậm tiến độ giao đất lâm nghiệp;
+ Diện tích đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình và cá nhân bình quân đến 2010
là 3,9 ha/hộ Tuy nhiên, việc giao đất lâm nghiệp chưa gắn với các chính sách cụ thể
về cơ chế hưởng lợi, hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật Vì vậy, tỉ lệ đất lâm nghiệp được
giao đưa vào sử dụng chỉ đạt từ 20-30%
+ Các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp không thống nhất, trước tháng 11/1999 do cơ quan Kiểm lâm đảm nhiệm và sau tháng
12/1999 do cơ quan Địa chính đảm nhiệm Do thiếu nhân lực, hiểu biết và kinh
nghiệm trong lĩnh vực lâm nghiệp và sự phối kết hợp giữa ngành NN&PTNT và Địa
chính còn nhiều hạn chế, chưa thống nhất trong cách giao, phương thức giao đất lâm
nghiệp, nên từ đó đến nay công tác giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp gần như bị ngưng
trệ Việc cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp không đồng bộ, nhiều nơi giao đất sau 3 đến 4
năm vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ và chỉ mới tập trung cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp
(chủ yếu đất chưa có rừng) cho một số dự án của nước ngoài hỗ trợ đầu tư trồng rừng
Nhìn chung công tác giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp và cấp GCNQSDĐ chưa gắn
kết với công tác giao rừng và các cơ chế hưởng lợi, chính sách hỗ trợ đi kèm Vì vậy
hiệu quả của việc sử dụng rừng và đất rừng còn rất thấp, tài nguyên rừng vẫn bị suy
giảm và đời sống của người dân cũng không được cải thiện
- Báo cáo của Bộ NN&PTNT/FSSP (2014): “Giao đất giao rừng là điều kiện tiên quyết quan trọng và cần thiết để cộng đồng địa phương quản lý rừng bền vững,
thu được lợi ích từ rừng và tham gia vào quá trình ra quyết định một cách chủ động
Tuy nhiên, chỉ có quyền vẫn chưa đủ Việc chuyển giao quyền hưởng dụng sẽ chỉ đem
lại những tác động mong muốn với điều kiện cộng đồng có thể thực hiện các quyền
của họ như pháp luật quy định Sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý các
khu bảo tồn và quá trình ra quyết định về quản trị rừng là các vấn đề quan trọng”
- Nghiên cứu của Phạm Đình Phong (2014) về đánh giá công tác giao đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp có sự tham gia ở tỉnh Quảng Ngãi cho thấy rằng: Trong
quá trình thực hiện tại vùng mà đa số là nhân dân là người dân tộc thiểu số là một công
việc khó khăn cần đòi hỏi phải kiên trì, không được nóng vội trong thực hiện; phải lấy
hiệu quả làm tiêu chí cơ bản, phát huy vai trò nòng cốt của các Hội đoàn thể trong
công tác vận động quần chúng; cần lồng ghép với các chương trình, dự án khác nhằm
hỗ trợ cho nhân dân có đủ điều kiện sản xuất trên mảnh đất được giao có hiệu quả; cần
có kế hoạch hỗ trợ lâu dài cho nhân dân đặc biệt chú trong trong thời gian chưa đến
tuổi khai thác sản phẩm trên đất để người dân có điều kiện chăm sóc và bảo vệ thành
quả đã đầu tư trên đất nhằm hạn chế tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc
Trang 36bán rừng non sau khi được cấp GCNQSDĐ, không để người dân mất đi tư liệu sản
xuất đặc biệt đó là quyền sử dụng đất [20]
- Nghiên cứu của Phạm Hùng Thiêng (2014) về đánh giá hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Trà Bồng cho thấy: Sau khi giao đất và cấp GCNQSDĐ
lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đã giải quyết được một loạt các vấn đề vướng
mắc ở miền núi như tạo công ăn việc làm, giảm số vụ tranh chấp đất đai, đời sống vật
chất và tinh thần được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn tình trạng người dân lấn chiếm
đất của các nông, lâm trường quốc doanh để sản xuất [27]
- Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn (2014) về đánh giá kết quả quy hoạch và đề xuất giải pháp quản lý việc sử dụng đất lâm nghiệp của các Lâm trường ở huyện Trà Bồng,
tỉnh Quảng Ngãi cho thấy: Việc cân đối quỹ đất lâm nghiệp để chia bình quân theo đầu
hộ dân ở hầu hết các địa phương không thực hiện được; cán bộ địa chính các xã trình
độ còn quá yếu; công tác quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp thiếu chặt chẽ để nhiều
người tự ý lấn chiếm, phá rừng làm nương rẫy; các ngành chức năng chưa phối hợp
giải quyết thấu đáo tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, xâm canh về đất đai, Đó là "bài
toán" nan giải đối với các cấp, ngành chức năng liên quan ở tỉnh, huyện trong công tác
quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp hiện nay [31]
Tổng quan những tài liệu trên cho thấy, chủ trương giao đất lâm nghiệp của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua, tạo bước chuyển căn bản trong quản lý tài
nguyên đất, tài nguyên rừng, làm cho đất lâm nghiệp có chủ thực sự, đồng thời góp
phần cải thiện đời sống cho một số bộ phận dân cư Tuy nhiên, trong quá trình triển
khai, đã nảy sinh những bất cập, khiến cho một số nội dung và mục tiêu của chương
trình đề ra không đạt được như mong muốn Sinh kế của những người dân vùng núi,
những người được cho là nghèo nhất trong số những người nghèo, sống phụ thuộc vào
rừng và đất lâm nghiệp, vẫn chưa được quan tâm chính đáng
Ở nước ta, sau hơn 20 năm triển khai, công tác giao đất lâm nghiệp đã thu hút
sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài
nước Mỗi nghiên cứu đứng trên một lập trường, quan điểm khác nhau, vận dụng các
phương pháp và lý thuyết khác nhau để phân tích và đánh giá Tuy nhiên, các nghiên
cứu ở góc độ xã hội, về tác động của công tác đến sinh kế của người dân vẫn còn hạn
chế, đặc biệt là các nghiên cứu liên quan đến sinh kế cho người dân ở Miền Trung
nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng còn rất khiếm tốn Trà Bồng là địa bàn đặc
thù về miền núi ở miền Trung Việt Nam Từ trước đến nay, Trà Bồng luôn nhận
được sự quan tâm hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền và các tổ chức
quốc tế, nhưng đói nghèo vẫn chiếm tỷ lệ còn quá cao, sinh kế của người dân rất bấp
bênh, thiếu bền vững, tài nguyên đất lâm nghiệp và rừng bị suy thoái nhanh Vì vậy,
rất cần có những nghiên cứu đánh giá sâu về lĩnh vực này, nhằm tìm ra các giải pháp
phát triển sinh kế bền vững cho người dân địa phương và quản lý tốt tài nguyên đất
lâm nghiệp và rừng trên địa bàn
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vụ nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý đất đai trong lĩnh vực đất lâm nghiệp và sinh kế của người dân
sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Trà Bồng
2.1.1.2 Đối tượng khảo sát
- Bộ máy quản lý và công tác quản lý đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng, cụ thể trong lĩnh vực giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Sinh kế của các hộ gia đình, cá nhân được thu thập đến năm 2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra và đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển kinh tế
- xã hội huyện Trà Bồng, tỉnh quảng Ngãi, bao gồm cả công tác quản lý và sử dụng đất
đai tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
- Kết quả thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
- Đánh giá tác động của việc thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp đến sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp
và cải thiện sinh kế cho người dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước, các phòng, ban trong huyện, các thư viện, trung tâm nghiên cứu Một số tài liệu cần thu thập: Quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội huyện Trà Bồng, tình hình quản lý và sử dụng đất, niên giám
thống kê của huyện, báo cáo QHSDĐ, KHSDĐ của huyện, tình hình phân bố dân cư,
lao động trên địa bàn huyện, hệ thống các bảng biểu thống kê, kiểm kê đất đai, các
nghiên cứu trước đây đã được công bố liên quan đến đề tài và các văn bản pháp luật có
liên quan đến tình hình quản lý đất lâm nghiệp
2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn:
+ Phỏng vấn hộ: Phát phiếu khảo sát chuẩn bị sẵn
+ Số hộ: Việc chọn mẫu (hộ gia đình, cá nhân) được tiến hành theo các bước sau:
Lựa chọn xã khảo sát: Huyện Trà Bồng có 09 xã và 01 thị trấn Từ các xã, thị
trấn của huyện, lựa chọn các xã để khảo sát với các tiêu chí: (i) Các xã phải được triển
khai công tác giao đất lâm nghiệp và (ii) là địa bàn cư trú chính người dân huyện Trà
Bồng Do đó, đề tài thực hiện khảo sát trên 09 xã, không khảo sát thị trấn Trà Xuân, do
không có đất lâm nghiệp và không triển khai công tác giao đất lâm nghiệp
Bảng 2.1 Một số thông tin cơ bản về các xã khảo sát
STT Địa bàn
Diện tích đất
tự nhiên (ha)
Diện tích đất Lâm nghiệp (ha)
Trang 39Lựa chọn mẫu khảo sát: Việc chọn mẫu (hộ gia đình) được tiến hành theo
nguyên tắc ngẫu nhiên Xác định dung lượng mẫu, theo công thức sau:
độ tin cậy với phạm vi sai số chọn mẫu không vượt quá 7% (0,07) Áp dụng công thức
Trang 40Bảng 2.2 Cơ cấu mẫu khảo sát