Kết quả của phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thành phố Huế đến năm 2020 đã đề xuất, không chỉ đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế mà còn đáp ứng được nhu cầu
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Huế, ngày… tháng … năm 2017
Tác giả luận văn
Phan Thị Ngọc Hằng
Trang 2Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Nông Lâm Huế
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên
và môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số
liệu và thực hiện đề tài
Huế, ngày… tháng… năm 2017
Học viên thực hiện
Phan Thị Ngọc Hằng
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài đã đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của thành phố Huế đến năm 2016, phân tích làm rõ những mặt tích cực và hạn chế, bất cập trong
việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Đồng thời, đề xuất
phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính hợp lý trong công tác
lập quy hoạch sử dụng đất của thành phố Huế
Để thực hiện đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp sau đây:
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Phương pháp sử dụng bản đồ
- Phương pháp kết hợp định tính và định lượng
- Phương pháp dự báo
- Phương pháp xử lý thống kê, phân tích, tổng hợp
Đề tài đã dạt được những kết quả sau đây:
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất từ năm 2010 đến năm 2016 tại thành phố Huế đã đạt được kết quả tốt Theo số liệu thống kê đến 31/12/2016 đất
nông nghiệp đạt 102,64%; đất phi nông nghiệp đạt 97,87%; đất chưa sử dụng đạt
126,53% so với quy hoạch được phê duyệt
Kết quả của phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thành phố Huế đến năm 2020 đã đề xuất, không chỉ đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh
tế mà còn đáp ứng được nhu cầu phát triển văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng của thành
phố cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Phương án được xây dựng dựa trên các chỉ
tiêu sử dụng đất của các công trình và nhu cầu sử dụng đất của tỉnh, thành phố và Quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố đến năm 2020; quy hoạch,
chiến lược phát triển các ngành của tỉnh, thành phố đến năm 2020 và nhu cầu sử dụng
đất của các phường đến năm 2020,… nên đã đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, sử
dụng đất đai
Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thành phố Huế
đã bám sát quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành
phố Điều này được thể hiện rõ ở nhu cầu sử dụng đất để phân bổ quỹ đất cho phát triển
các ngành, lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các
khu đô thị, thương mại, dịch vụ, khu công nghiệp, đồng thời giúp địa phương chủ động
kiểm soát việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, cân đối đất đai cho các ngành, lĩnh vực
theo quy hoạch, qua đó tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động và dân cư, giải quyết
việc làm,… đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và
Trang 4môi trường sinh thái, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã
hội
Để kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của thành phố Huế đến năm 2016 được triển khai một cách đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả và phương án quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thực hiện tốt, cần thực hiện hiệu quả các giải pháp về
kinh tế, xã hội, môi trường, các giải pháp về chính sách, hành chính,…
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích của đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất 3
1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 3
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai 4
1.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 6
1.1.4 Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác quy hoạch sử dụng đất 7
1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 8
1.1.6 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Khái quát về công tác quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 10
1.2.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 13
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 20
2.3.2 Phương pháp sử dụng bản đồ 21
2.3.3 Phương pháp kết hợp định tính và định lượng 21
2.3.4 Phương pháp dự báo 21
2.3.5 Phương pháp xử lý thống kê, phân tích, tổng hợp 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HUẾ 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2 Thực trạng môi trường 30
3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 30
3.1.4 Thực trạng phát triển đô thị và khu dân cư đô thị 39
3.1.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 40
3.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 48
3.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG CÁC LOẠI ĐẤT NĂM 2016 VÀ BIẾN ĐỘNG CÁC LOẠI ĐẤT TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2016 TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 50
3.2.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất năm 2016 50
3.2.2 Biến động các loại đất từ năm 2010 đến năm 2016 62
3.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2016 TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 67
3.3.1 Đất nông nghiệp 68
3.3.2 Đất phi nông nghiệp 68
3.3.3 Đất chưa sử dụng 70
3.3.4 Đánh giá chung việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất từ năm 2010 - 2016 71
3.4 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 CỦA THÀNH PHỐ HUẾ 72
3.4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020 72
3.4.2 Các chỉ tiêu chủ yếu 72
Trang 73.4.3 Đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thành
phố Huế 78
3.4.4 Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất điều chỉnh đến năm 2020 121
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
1 Kết luận 124
2 Kiến nghị 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Nhiệt độ theo tháng của thành phố Huế 25
Bảng 3.2 Tổng giá trị sản phẩm và tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Huế (theo giá so sánh năm 2010) qua các năm 31
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế 32
Bảng 3.4 Giá trị SXCN trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo ngành CN 34
Bảng 3.5 Doanh thu du lịch trên địa bàn thành phố qua các năm 36
Bảng 3.6 Tình hình dân số thành phố Huế qua các năm 37
Bảng 3.7 Số lao động trong các ngành nghề của thành phố Huế trong năm 2011-2015 38
Bảng 3.8 Quy mô phát triển học sinh, giáo viên qua các năm tại các bậc học 44
Bảng 3.9 Quy mô phát triển cơ sở y tế và cán bộ ngành y qua các năm 45
Bảng 3.10 Thống kê đất đai năm 2016 của thành phố Huế 51
Bảng 3.11 Hiện trạng sử dụng một số loại đất nông nghiệp năm 2016 54
Bảng 3.13 Biến động các loại đất từ năm 2010 đến năm 2016 62
Bảng 3.14 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2016 của thành phố Huế 67
Bảng 3.15 Cơ cấu diện tích đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp của các phường trước và sau điều chỉnh 80
Bảng 3.16 Cơ cấu diện tích đất quốc phòng của các phường trước và sau điều chỉnh 81 Bảng 3.17 Cơ cấu diện tích đất cơ sở sản xuất kinh doanh của các phường trước và sau điều chỉnh 85
Bảng 3.18 Cơ cấu diện tích đất giao thông của các phường trước và sau điều chỉnh 96
Bảng 3.19 Cơ cấu diện tích đất thuỷ lợi của các phường trước và sau điều chỉnh 98
Bảng 3.20 Cơ cấu diện tích đất cơ sở văn hoá, đất khu vui chơi giải trí, đất sinh hoạt cộng đồng của các phường trước và sau điều chỉnh 103
Bảng 3.21 Cơ cấu, diện tích đất cơ sở y tế của các phường trước và sau điều chỉnh 106 Bảng 3.22 Cơ cấu, diện tích đất cơ sở giáo dục đào tạo của các phường trước và sau điều chỉnh 111
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Vị trí hành chính thành phố Huế 22
Hình 3.2 Bản đồ độ cao thành phố Huế 23
Hình 3.3 Sơ đồ phân vùng khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế 26
Hình 3.4 Mạng lưới thuỷ văn khu vực thành phố Huế 27
Hình 3.5 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất thành phố Huế năm 2016 50
Trang 11để quản lý việc chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất Là cơ sở cho
việc tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao
nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường
Phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thành phố Huế đã được phê duyệt và triển khai thực hiện được một thời gian Tuy vậy, những năm qua việc tổ chức
thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt còn thiếu đồng bộ, thiếu
cơ chế kiểm tra, giám sát, dẫn đến công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của thành
phố còn tồn tại những khó khăn, bất hợp lý, chưa bắt kịp được với tốc độ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế diễn ra khá nhanh hiện nay
Công tác đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch hàng năm, hàng kỳ là hết sức quan trọng, qua đó mà thấy được những vướng mắc, tồn tại, để kịp thời điều
chỉnh quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo hoàn thành kế hoạch theo phương án đề ra Vì
vậy, ngày 02 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Thông tư số
29/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh và cấp huyện
Để thấy được nguyên nhân tồn tại, những bất hợp lý trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thành phố Huế, từ đó đề xuất điều chỉnh phương
án quy hoạch sử dụng đất, góp phần đảm bảo hoàn thành được kế hoạch đề ra, tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng
đất của thành phố Huế đến năm 2016 và đề xuất phương án điều chỉnh"
2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của thành phố Huế đến năm 2016, phân tích làm rõ những mặt tích cực và hạn chế, bất cập trong việc thực
hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt
- Đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính hợp lý trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất của thành phố Huế
Trang 123 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
thực hiện quy hoạch sử dụng đất nói riêng của địa phương; Đề xuất được các giải pháp
khắc phục những tồn tại, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện quy hoạch sử dụng
đất của thành phố trong thời gian tới
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là tiềm năng của quá trình phát triển do đất là tư liệu sản xuất đặc biệt và việc tổ chức sử dụng đất gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Do vậy, quy
hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội Đây là một hoạt động vừa mang
tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế
và xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của
các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhà
nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết
kiệm khoa học và có hiệu quả cao nhất
Khi nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất có rất nhiều cách nhận thức khác nhau
Có quan điểm cho rằng quy hoạch sử dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm
thực hiện việc đo đạc, vẽ bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành
và thiết kế xây dựng đồng ruộng Bên cạnh đó, có quan điểm lại cho rằng quy hoạch
sử dụng đất được xây dựng trên các quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh tính pháp
chế của quy hoạch sử dụng đất đai
Tuy nhiên, đối với cả hai cách nhận thức trên bản chất của quy hoạch sử dụng đất không được thể hiện đúng và đầy đủ, vì bản thân của quy hoạch sử dụng đất không nằm
trong kỹ thuật đo đạc và cũng không thuộc về hình thức pháp lý mà nó nằm bên trong
việc tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt, coi đất như đối tượng của
các mối quan hệ xã hội trong sản xuất Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hoạt
động vừa mang tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính pháp lý Cụ thể:
- Tính kỹ thuật: Trong quy hoạch sử dụng đất sẽ sử dụng các công tác chuyên môn như điều tra, khảo sát, đo đạc, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu để tính
toán và thống kê diện tích đất đai, thiết kế, phân chia khoảnh thửa
Từ đó, tạo điều kiện tổ chức sử dụng đất hợp lý trên cơ sở tiến bộ của khoa học kỹ thuật
- Tính pháp chế: Biểu hiện của tính pháp chế thể hiện ở chỗ đất đai được nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục đích cụ thể đã được xác
định theo phương án quy hoạch sử dụng đất
- Tính kinh tế: Khi giao đất, thông qua phương án quy hoạch sử dụng đất nhà nước
đã xác định rõ mục đích sử dụng của diện tích được giao Đây chính là biện pháp quan
trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng đất đai Ở đây đã thể
Trang 14hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất Song, điều này chỉ đạt được khi tiến
hành đồng bộ cùng với biện pháp kỹ thuật và pháp chế
Từ đó có thể rút ra khái niệm quy hoạch sử dụng đất như sau:
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả
cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng
đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [4]
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc lập quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm tự
nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh
thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành
trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình, từ đó xác lập sự
ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để giao đất
và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ các nhu cầu
dân sinh, nhu cầu văn hóa xã hội
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
QHSDĐ thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống
kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
được thể hiện cụ thể như sau:
1.1.2.1 Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể
hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng
đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai cũng như quan hệ giữa người với
người về quyền sở hữu và sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng
thời vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các
mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã
hội
1.1.2.2 Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của QHSDĐ biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch
là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu nền kinh
tế quốc dân; QHSDĐ đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như:
Trang 15Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi
trường sinh thái
thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch sử dụng
đất đai thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc xa hơn
1.1.2.4 Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, QHSDĐ chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự
kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, QHSDĐ
mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương
hướng và khái lược về sử dụng đất
1.1.2.5 Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan
đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các
mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân
thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
1.1.2.6 Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, QHSDĐ chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất
sđịnh Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình
hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của QHSDĐ không còn phù hợp Việc điều chỉnh, bổ
sung, hoàn thiện quy hoạch là biện pháp thực hiện và cần thiết Điều này thể hiện tính
khả biến của quy hoạch, QHSDĐ luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo
chiều xoắn ốc "quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện "
với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
Trang 161.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
1.1.3.1 Mục tiêu
Quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung về quản lý nhà nước về đất đai đồng thời là một hoạt động có ý nghĩa rất lớn trong tiến trình phát triển xã hội Thông
qua quy hoạch sử dụng đất các chiến lược phát triển kinh tế xã hội được cụ thể hóa đồng
thời quy hoạch sử dụng đất cũng điều chỉnh không gian cho các ngành phát triển Mục
tiêu của quy hoạch có thể được gom lại trong 3 tiêu đề: hiệu quả, bình đẳng - có khả
năng chấp nhận, và bền vững
- Hiệu quả: sử dụng đất đai phải mang tính chất kinh tế, do đó một trong những mục tiêu của quy hoạch để phát triển là mang lại tính hiệu quả và nâng cao sản lượng,
chất lượng trong sử dụng đất đai Ở bất kỳ một hình thức sử dụng đất đai riêng biệt nào
thì nó cũng có tính thích nghi cho từng vùng riêng biệt của nó hay đôi khi nó thích nghi
chung cho cả các vùng khác Hiệu quả chỉ đạt được khi có sự đối chiếu giữa các loại sử
dụng đất đai khác nhau với những vùng đất đai cho lợi nhuận cao nhất mà chi phí đầu
tư thấp nhất
- Bình đẳng và có khả năng chấp nhận được: sử dụng đất đai cũng mang tính chấp nhận của xã hội Những mục tiêu đó bao gồm an toàn lương thực, giải quyết công ăn
việc làm và an toàn trong thu nhập của các vùng nông thôn Cải thiện đất đai và tái phân
bố đất đai cũng phải được tính đến để giảm bớt những bất công trong xã hội hay có thể
chọn lọc các kiểu sử dụng đất đai thích hợp để giảm dần và từng bước xóa đi sự nghèo
đói tạo ra sự bình đẳng trong sử dụng đất đai của mọi người trong xã hội
- Tính bền vững: sử dụng đất đai bền vững là phải phù hợp với những yêu cầu hiện tại đồng thời cũng phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế
hệ kế tiếp trong tương lai Điều này đòi hỏi một sự kết hợp giữa sản xuất và bảo vệ
môi trường, sản xuất ra hàng hóa cho nhu cầu ở hiện tại kết hợp với bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên
- Quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất đai, làm căn cứ pháp lý để giao đất, thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho
thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai
- Tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành và địa phương trong quá trình quản lý,
sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đề ra; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương
lai của các ngành trên địa bàn xã có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất
- Góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuẩn bị cơ sở hạ tầng, thu hút vốn đầu tư, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa ổn định và
phát triển các khu dân cư đô thị Nâng cao đời sống văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường
sinh thái
Trang 171.1.3.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất chính là phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hình thành cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ
cấu kinh tế, khai thác thác tiềm năng đất đai và sử dụng quỹ đất đúng mục đích, điều
chỉnh cơ cấu và phân phối sử dụng đất hợp lý nhằm đạt được sự tổng hòa giữa ba lợi
ích: kinh tế, xã hội, môi trường
1.1.3.3 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
- Đảm bảo tính pháp lý: phương án quy hoạch sử dụng đất phải đạt được sự nhất trí cao trong quá trình lập và xét duyệt
- Sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường
- Sử dụng tài nguyên đất phù hợp lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho nông nghiệp
- Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ để thực hiện những nhiệm vụ kế hoạch của nhà nước, của riêng ngành nông nghiệp và của từng đơn vị sản xuất cụ thể
- Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ để nâng cao hiệu quả sản xuất trên cơ sở các phương pháp quản lý kinh tế tiên tiến, để nâng cao độ màu mở của đất, nâng cao
trình độ canh tác và hiệu quả sử dụng máy móc
- Xem xét các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cho từng vùng, từng xí
3, mục 2, điều 59 đến điều 64 của Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6
năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Cụ thể việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng
đất và lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp
huyện được thực hiện theo trình tự sau [3]:
- Điều tra, thu thập bổ sung thông tin, tài liệu; phân tích, đánh giá bổ sung điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; tình hình quản lý, sử dụng đất; kết quả thực hiện
quy hoạch sư dụng đất
- Xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;
- Lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
- Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp và các tài liệu có liên quan;
- Thẩm định, phê duyệt và công bố công khai
Trang 181.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Mục tiêu của việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất là phát huy tối đa tiềm năng đất đai nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và sự phát triển bền vững Vì vậy,
phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật
sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật kinh tế - xã hội và các yếu
tố kỹ thuật Theo nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch đất đai có ba nhóm nhân tố
ảnh hưởng đến sử dụng đất:
1.1.5.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Quá trình sử dụng đất đai cần phải chú ý đến các đặc tính và tính chất đất đai để xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý như: chế độ nhiệt, bức
xạ, độ ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn Các đặc tính, tính chất này được chia
làm 2 loại:
+ Điều kiện khí hậu: Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang
lại năng suất cho cây trồng
+ Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn tới sự
khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng tới sản xuất và phân bổ các ngành nông, lâm
nghiệp
Địa hình là yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác nhau Ở vùng đồi núi, địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu
cầu xây dựng hệ thống đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và cơ giới hoá Đối với ngành phi
nông nghiệp, địa hình quyết định những thuận lợi hay khó khăn của việc thi công công
trình hay khả năng lưu thông hàng ho á, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng và quy mô
sản xuất
Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ
quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn
sử dụng đất cần tuân thủ các quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt lợi ích cao
nhất về kinh tế, xã hội và môi trường [15]
1.1.5.2 Nhân tố điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai , trình độ phát
triển khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí, dân số, lao động, việc làm và đời sống văn hóa,
xã hội
Trang 191.1.5.3 Nhân tố không gian
Tính không gian của đất đai bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích
Đất đai không thể di dời từ nơi này đến nơi khác, nên sự thừa thãi đất đai ở nơi này
không thể sử dụng để đáp ứng sự thiếu đất ở địa phương khác Đất đai phải khai thác tại
chỗ, không thể chia cắt mang đi, nên không thể có hai khoanh đất giống nhau hoàn toàn
Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất
1.1.6 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất
1.1.6.1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất nói chung
Công tác lập quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho việc phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Dân số nước ta ngày càng đông, trong khi đất đai
thì có hạn, công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất không được thực hiện một cách
hợp lý thì tình hình kinh tế - xã hội sẽ bị ảnh hưởng lớn, môi trường sinh thái cũng khó
được đảm bảo [1]
Việc sử dụng đất đai hợp lý liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của vận mệnh quốc gia
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai như: Hiếp pháp, luật và các văn bản dưới luật Nó tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Để phù hợp với thực tiễn khách quan về tình hình quản lý sử dụng đất hiện tại và tương lai trong điều kiện đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, ngày 01/7/20014 Luật đất đai 2013 chính thức có hiệu lực, trong đó
đã quy định rõ việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: ‘‘Quy hoạch và kế hoạch sử
dụng đất là một trong mười lăm nội dung quản lý nhà nước về đất đai”, điều 35 đến điều
51 quy định chi tiết về công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất [6]
Ngoài các văn bản có tính pháp lý cao còn có các văn bản dưới luật, các văn bản của ngành trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và phương
pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.1.6.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện
Trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất theo 4 cấp hành chính của nước ta quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện là hai bộ phận quan trọng:
- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh có vị trí trung tâm, tạo khung sườn trung gian giữa tổng thể và cụ thể, giữa Trung ương và địa phương Nó có tác động trực tiếp tới
việc sử dụng đất của các Bộ, ngành, vùng, các huyện, các dự án; đồng thời cũng có vai
trò cụ thể hóa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cả nước
Trang 20- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là cơ sở để cụ thể hóa quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước, trực tiếp chỉ đạo và khống chế quy hoạch sử dụng đất của nội bộ
các ngành, các xí nghiệp, kế thừa quy hoạch cấp trên
hiệu quả kinh tế, xã hội, mà còn rất chú trọng đến bảo vệ môi trường, tránh các rủi ro
của tự nhiên như động đất, núi lửa…QHSDĐ ở Nhật bản chia ra: QHSDĐ tổng thể và
QHSDĐ chi tiết [18]
- QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một vùng lãnh thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên Mục tiêu của QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một
chiến lược sử dụng đất dài hạn khoảng từ 15 - 30 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu sử
dụng đất cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Quy hoạch này là định hướng cho
quy hoạch sử dụng đất chi tiết Nội dung của quy hoạch này không quá đi vào chi tiết
từng loại đất mà chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác
- QHSDĐ chi tiết được xây dựng cho vùng lãnh thổ nhỏ hơn tương đương với cấp
xã Thời kỳ lập quy hoạch chi tiết là 5-10 năm về nội dung quy hoạch chi tiết rất cụ thể,
không những rõ ràng cho từng loại đất, các thửa đất và các chủ sử dụng đất, mà còn có
những quy định chi tiết cho các loại đất như: về hình dáng, quy mô diện tích, chiều cao
xây dựng… Đối với quy hoạch sử dụng đất chi tiết ở Nhật Bản hết sức coi trọng đến
việc tham gia ý kiến của các chủ sử dụng đất, cũng như tổ chức thực hiện phương án khi
đã được phê duyệt Do vậy tính khả thi của phương án cao và người dân cũng chấp hành
quy hoạch sử dụng đất rất tốt
1.2.1.2 Cộng hòa liên bang Nga
Quy hoạch sử dụng đất đai ở Cộng hòa Liên bang Nga chú trọng việc tổ chức lãnh thổ, các biện pháp bảo vệ và sử dụng đất với các nông trang và các đơn vị sử dụng đất
nông nghiệp Quy hoạch sử dụng đất của Nga được chia thành hai cấp: quy hoạch tổng
thể và quy hoạch chi tiết
Quy hoạch chi tiết với mục tiêu cơ bản là tổ chức sản xuất lãnh thổ trong các xí nghiệp hàng đầu về sản xuất nông nghiệp như các nông trang, nông trường Nhiệm vụ
cơ bản của quy hoạch chi tiết là tạo ra những hình thức tổ chức lãnh thổ sao cho đảm
Trang 21bảo một cách đầy đủ, hợp lý, hiệu quả việc sử dụng từng khoanh đất cũng như tạo ra
những điều kiện cần thiết để làm tăng tính khoa học của việc tổ chức lao động, việc sử
dụng những trang thiết bị sản xuất với mục đích là tiết kiệm thời gian và tài nguyên
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, vị trí của quy hoạch sử dụng đất được xác định trong
hệ thống quy hoạch phát triển không gian (theo 4 cấp): Liên bang, vùng, tiểu vùng và
đô thị Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với quy hoạch phát triển không
gian ở cấp đô thị
Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử dụng đất [16]:
Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 85% tổng diện tích; diện
tích mặt nước, đất hoang là 3%; đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, giao thông và cơ sở
hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao
thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích toàn Liên bang Tuy nhiên, cũng giống như bất
kỳ quốc gia công nghiệp nào có mật độ dân số cao, diện tích đất ở và giao thông ở Đức
đang ngày càng gia tăng Diện tích đất giao thông tăng đặc biệt cao từ trước tới giữa
thập kỷ 80, trong khi đó, diện tích nhà chủ yếu tăng trong hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt
là đất dành làm địa điểm làm việc như thương mại, dịch vụ, quản lý hành chính phát
triển một cách không cân đối Quá trình ngoại ô hoá liên tục và tốn kém về đất đai cũng
góp phần quan trọng vào thực tế này
1.2.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc là nước nằm trong vùng Đông Á có diện tích tự nhiên là 9.597 nghìn km2, dân số gần 1,2 tỷ người Trung Quốc coi trọng việc phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời
với phát triển kinh tế - xã hội Trong kế hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn của Nhà
nước, của các địa phương đều được dành một phần hoặc một chương mục riêng về
phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sử
dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất
Đến nay Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất từ tổng thể đến chi tiết cho
các vùng và địa phương theo hướng phân vùng chức năng (khoanh định sử dụng đất cho
các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường [18]
Để quy hoạch tổng thể phù hợp với phân vùng chức năng, các quy định liên quan của pháp luật Trung Quốc đã yêu cầu mọi hoạt động phát triển các nguồn tài nguyên
phải nhất quán với phân vùng chức năng
Một trong những ảnh hưởng tích cực của quy hoạch tổng thể và sơ đồ phân vùng chức năng là việc giảm thiểu xung đột đa mục đích nhờ xác định được các sử dụng tương
thích cho phép ưu tiên ở các khu vực cụ thể
Trang 221.2.1.4 Anh
Để bắt tay vào công việc xây dựng lại sau chiến tranh, năm 1947 chính phủ Anh
đã sửa đổi và công bố Luật kế hoạch đô thị và nông thôn, trong đó điều thay đổi quan
trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền phát triển và xây dựng chế độ cho phép
khai thác Quy định mọi loại đất đều phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn
khai thác đất đai, trước hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương cho phép khai thác,
cơ quan quy hoạch địa phương căn cứ vào quy định của quy hoạch phát triển để xem
liệu có cho phép hay không Chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp chủ yếu của
chế độ quản lý quy hoạch đất đai [5]
1.2.1.5 Hàn Quốc
Năm 1972 “Luật Sử dụng và Quản lý đất đai quốc gia” chia toàn bộ đất đai cả nước thành 10 loại phân khu sử dụng Đồng thời chỉ định các khu hạn chế phát triển, gọi là
đai xanh, trong khu hạn chế này ngoài những vật kiến trúc cần phải duy trì ra, cấm tất
cả mọi khai thác Ý đồ dùng sự ngăn cách của các đai xanh để khống chế sự phát triển
nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp và các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí; đảm bảo cung ứng
đất làm nhà ở một cách hợp lý “Kế hoạch 10 năm về phát triển tổng hợp toàn quốc”
(The ten - year Comprehensive National Physical Development Plan), mục đích là phân
tán nhân khẩu của đô thị lớn, đồng thời phối hợp với “phương án phát triển khu vực” để
kích thích tăng trưởng của vùng sâu, vùng xa, thu hút nhân khẩu quay về Theo “kế
hoạch quản lý khu vực thủ đô” của Nam Hàn đưa ra năm 1981, thì cấm tiến hành khai
thác quy mô lớn ở thủ đô để tránh việc nhân khẩu ồ ạt đổ vào, sau đó là dùng phương
thức chế độ quản lý tổng ngạch khống chế số lượng chiêu sinh đại học khu vực Hán
Thành Trên thực tế, Hàn Quốc sau hai, ba mươi năm nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với
thất bại Dùng “chính sách đai xanh” lại làm cho giá nhà tăng cao, tạo thành tiền bồi
thường đất đai quá cao, việc thu hồi đất đai để xây dựng công trình công cộng của chính
phủ gặp khó khăn và bế tắc
1.2.1.6 Thái Lan
Ở Thái Lan, trong những năm gần đây đã có nhiều cố gắng lớn trong xây dựng quy hoạch nông thôn để phát triển kinh tế, ổn định xã hội Thái Lan đã có sự đầu tư tương
đối lớn cho việc xây dựng hệ thống mạng lưới giao thông phục vụ sản xuất, nối liền các
khu sản xuất với khu chế biến và thị trường tiêu thụ Quá trình quy hoạch nông thôn tại
các làng xã được xây dựng theo các mô hình và nguyên lý hiện đại mới khu dân cư
được bố chí tập trung, trung tâm làng xã là nơi xây dựng các công trình công cộng, các
khu sản xuất được bố trí thuận tiện nằm trong khu vực vòng ngoài
Kết quả sau 7 lần thực hiện kế hoạch 5 năm, Thái Lan đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế nông nghiệp rõ rệt, các vùng nông thôn đề có cơ sở hạ tầng và hệ thống giao
Trang 23thông phát triển, dịch vụ công cộng nâng cao, đời sống nông thôn được cải thiện không
ngừng
1.2.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở nước ta qua các thời kỳ
a Thời kỳ trước những năm 1980
Quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của ngành quản lý đất đai mà chỉ được đề cập đến như là một phần của quy hoạch phát triển nông nghiệp Mặc dù
công tác quy hoạch sử dụng đất đai lồng vào công tác phân vùng quy hoạch nông, lâm
nghiệp đã được xúc tiến vào năm 1962 nhưng chủ yế u là do các ngành chủ quản tiến
hành cùng với một số tỉnh, ngành có liên quan và chưa có sự chỉ đạo thống nhất của
Chính phủ
Từ năm 1975 đến cuối năm 1978, nước ta đã soạn thảo và được Chính Phủ phê duyệt phương án phân vùng sản xuất nông lâm nghiệp và cô ng nghiệp chế biến nông
lâm sản theo bảy vùng và trên địa bàn lãnh thổ là cấp tỉnh Các phương án phân vùng
nông lâm nghiệp của tỉnh đã đề cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên trong đó có
tính toán quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên, do mục đích đề ra ngay từ đầu là
chỉ để phục vụ phát triển nông lâm nghiệp nên các loại đất khác chưa được đề cập tới
Bên cạnh đó, do còn thiếu nhiều tài liệu, chưa tính được khả năng đầu tư nên các phương
án này có tính khả thi không cao
b Thời kỳ 1981-1986
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 đã chỉ rõ: “Xúc tiến công tác điều tra
cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu
chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm
sau.” Thực hiện nghị quyết này, các bộ ngành, tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai
chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất tại Việt Nam đến
năm 2000 Cũng trong thời kỳ này, hầu hết 500 huyện của cả nước đã tiến hành xây
dựng quy hoạch tổng thể của huyện Trong các tài liệu sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất
của tỉnh đều đề cập đến vấn đề sử dụng đất đai và được tính toán tương đối có hệ thống
để khớp với cả nước, các vùng kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh với sự tham gia phối
hợp của các ngành Các tài liệu này đã bước đầu đánh giá được hiện trạng, tiềm năng
đất đai và đưa ra các dự kiến sử dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000
c Thời kỳ Luật Đất đai đầu tiên năm 1987 đến trước Luật Đất đai năm 1993
Đây là thời kỳ công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã có được cơ sở pháp lý quan trọng Song cùng với sự trầm lắng của công tác quy hoạch nói chung sau một thời kỳ
triển khai rầm rộ, công tác quy hoạch sử dụng đất cũng chưa được xúc tiến như luật đã
quy định Nguyên nhân của vấn đề này là do nề n kinh tế Việt Nam trong thời gian này
Trang 24đang đứng trước nhiều khó khăn và thử thách lớn lao khi chuyển sang cơ chế thị trường
Tuy vậy, đây là thời kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm
vai trò quản lý tập trung của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho nông
dân và thưc thi các chính sách đổi mới khác Công tác quy hoạch cấp xã trong giai đoạn
này nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất,… Đây là mốc đầu tiên trong
việc triển khai quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã trên khắp các xã của cả nước Tuy vậy
còn nhiều hạn chế về nội dung và phương pháp thực hiện
và năm 2001 Đồng thời trong cùng thời gian để tăng cường công tác quy hoạch sử dụng
đất trong phạm vi cả nước và căn cứ theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Địa
chính, Chính phủ ra Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai Để thực hiện Nghị định 68 ngày 01/11/2001 có Thông tư số:
1842/TT-TCĐC hướng dẫn thi hành Nghị định 68 của Tổng cục Địa chính
Trong giai đoạn này Tổng cục Địa chính cho triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đai cả nước và các tỉnh, các huyện Hầu hết các địa phương trong cả nước đã lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất
e Từ khi có Luật đất đai 2003 cho đến trước luật đất đai năm 2013
Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cũng như đảm bảo quyền quản lý đất đai của Nhà nước theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại kỳ họp
thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai 2003 thay cho Luật Đất đai 2001 và
luật có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 Trong đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được
nhấn mạnh trong Chương 2 Mục 2 của Luật Đất đai năm 2003
Để thực hiện Luật Đất đai 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 181/NĐ-CP về việc hướng dẫn thi hành luật, trong đó Chương III Điều 12 cũng ghi cụ thể nội dung quy
hoạch sử dụng đất
Để công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất trong cả nước
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành các Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày
01/11/2004 về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn thực hiện
Trang 25thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Bộ Tài nguyên và
Môi trường cũng ban hành Quyết định số 04/2007/QĐ-BTNMT về việc ban hành quy
trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Qua thực tế triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2003, để dần hoàn thiện cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về đất đai, Chính phủ ban hành Nghị định số
469/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất,
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Bộ Tài nguyên và Môi trường cụ thể hóa
bằng việc ban hành Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết về việc lập, điều
chỉnh và thẩm định quy hoạch sử dụng đất
1.2.2.2 Khái quát công tác lập quy hoạch trên phạm vi cả nước
Luật Đất đai năm 1993 ra đời tạo cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai tương đối đầy đủ hơn Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần
đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy
hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất
đai đến từng loại, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất, gắn chuyển mục đích sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội,
có cơ sở để điều chỉnh chính sách đất đai tại mỗi địa phương, chủ động giành quỹ đất
hợp lý cho phát triển các ngành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, vừa đảm bảo ổn định các mục tiêu xã hội vừa đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước chủ động dành quỹ đất hợp lý cho xây
dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ, đô thị
Qua công tác quy hoạch sử dụng đất đai, UBND các cấp nắm chắc được quỹ đất đai của
địa phương mình, có dự tính được nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà nước
Theo kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến cuối năm 2010, đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng xong phương án điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 -
2010) và đã được Chính phủ xét duyệt
Đối với cấp huyện, đã cơ bản hoàn thành việc lập qui hoạch sử dụng đất đến năm
2010 ở cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương
Đối với cấp xã, thị trấn đã có 6,179/10.784 xã, phường, thị trấn đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 57,30%); 2,466/10.78 xã đang triển khai (đạt 22,87%); còn
lại 2,139/10.784 xã chưa triển khai (chiếm 19,83%) Trong số các xã đã lập quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2010 có 1.358 xã đã lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết thể hiện trên
bản đồ địa chính theo quy định của Luật Đất đai
Trang 261.2.2.3 Những tồn tại chủ yếu trong công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
- Nhận thức chưa đồng đều, độ đồng thuận chưa cao, còn có ý kiến cho rằng không có khái niệm về quy hoạch sử dụng đất mà chỉ có khái niệm về quy hoạch kiến
trúc, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn.v.v, do đó, sự phối
hợp giữa các cấp, các ngành, các đơn vị còn bị hạn chế, thiếu đồng bộ và có trường
hợp ảnh hưởng xấu đến chất lượng quy hoạch, chưa thực chất, còn thiên về hình thức
và chạy theo các thủ tục hành chính, tiến hành thống kê, phân bố về số lượng mà thiếu
những tính toán về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, nên tính khả thi của các
phương án quy hoạch không cao; các giải pháp tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, không
kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch chưa được coi
trọng
- Quy hoạch sử dụng đất chưa thực sự được coi là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất, Nhiều địa
phương do buông lỏng quản lý đã để tự phát chuyển mục đích sử dụng đất tạo ra tình
hình rối loạn trong sử dụng đất và tác động xấu đến môi trường Một số nơi nôn nóng
trong phát triển công nghiệp, muốn tranh thủ các nhà đầu tư nên đã cho phép thu hồi,
san lấp mặt bằng một lượng lớn đất nông nghiệp để lập khu công nghiệp, sau đó do thiếu
vốn nên các dự án thực hiện cầm chừng, đất đai lại bị bỏ hoang trở thành “dự án treo”,
người bị thu hồi đất mất việc làm dẫn đến lãng phí nguồn lao động và tài nguyên đất
đai, Việc chấp hành các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa phương
chưa nghiêm, vẫn còn tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất không
đúng với quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất chưa trở thành
“Bản Hiến pháp của đời sống”, tính phổ cập chưa cao, có khi lại bị lợi dụng việc điều
chỉnh quy hoạch để làm lợi cho cá nhân hay một nhóm người, quy trình điều chỉnh quy
hoạch chưa thật hợp lý để đảm bảo tính kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
- Việc chuyển đổi số lượng lớn đất trồng lúa sang mục đích phi nông nghiệp trong một thời gian ngắn, nhất là tại các vùng trồng lúa có điều kiện canh tác tốt, cơ sở hạ tầng
kỹ thuật hoàn thiện mà thiếu cân nhắc đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội - môi
trường lâu dài đã tác động tiêu cực sản xuất và đời sống của một bộ phân nông dân và
đe doạ mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
- Mặc dù việc “dồn điền đổi thửa” đã thực hiện thành công ở nhiều địa phương nhưng chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch chỉnh trang đồng ruộng nên đất sản xuất
vẫn còn bị phân bố manh mún trên 70 triệu thửa đất gây trở ngại lớn cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Diện tích rừng tuy có tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá, suy giảm
cả về chất lượng và số lượng; việc quản lý rừng còn nhiều bất cập, tác động của sản xuất
lâm nghiệp đối với quá trình xoá đói giảm nghèo còn nhiều hạn chế, đa số người dân ở
Trang 27miền núi chưa thể sống ổn định với nghề rừng, do đó công tác trồng rừng, bảo vệ rừng
và phát triển rừng còn rất nhiều khó khăn
- Đất giao thông còn thiếu so với nhu cầu phát triển, mật độ đường bộ đạt mức trung bình trong khu vực nhưng mật độ quốc lộ còn ở mức rất thấp (0,053km/km2) nếu
so sánh với Trung Quốc (0,2 km/km2) hay Thái Lan (0,11km/km2) Việc bố trí các khu
công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, khu dân cư bám sát các trục đường chính đã
ảnh hưởng đến an toàn giao thông, gây lãng phí trong đầu tư và hạn chế khả năng nâng
cấp, mở rộng
- Diện tích cho phát triển đô thị tăng nhanh, cơ cấu sử dụng đất chưa hợp lý: đất ở chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu là nhà ở theo hộ gia đình độc lập (Hà Nội 80%, thành phố
Hồ Chí Minh 72%), đất giao thông đô thị còn thiếu, chỉ khoảng 4- 5km/km2 (Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, ), tỷ lệ đất dành cho giao thông chưa đến 13%
trong khi yêu cầu trung bình là 20 - 25%, đất giao thông tĩnh chỉ đạt chưa đầy 1% trong
khi yêu cầu phải là 3 - 3,5%, hệ số sử dụng đất thấp, chủ yếu là đường 1 tầng
- Diện tích đất công nghiệp tuy tăng nhanh (bình quân tăng 7.000 ha/năm) nhưng việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải, thiếu sự thống nhất trên
quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu
dân cư, hạ tầng kinh tế - xã hội Nhiều khu, cụm công nghiệp không phù hợp với điều
kiện và khả năng thực tế dẫn đến tình trạng triển khai chậm tiến độ, tỷ lệ lấp đầy thấp,
để hoang hóa trong nhiều năm
- Các lại đất công trình hạ tầng xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao tuy luôn được bố trí tăng cường về diện tích đất, nhưng so với nhu cầu vẫn chưa đáp
ứng được đầy đủ
- Phần lớn đất bãi thải và xử lý chất thải là lộ thiên hoặc đổ tự nhiên tại các bãi rác tạm, hầu hết các khu vực nông thôn chưa có quy hoạch khu vực thu gom rác thải; chưa
có các khu bãi chôn lấp và xử lý chất thải nguy hại một cách triệt để và lâu dài
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
GS.TSKH Đặng Hùng Võ cho rằng: Đất đai vốn là tặng vật của thiên nhiên cho con người, được các dân tộc bảo vệ để trở thành đất nước của mình, vốn mang trong đó
tính bình đẳng về quyền và quyền lợi giữa mọi người Chính sách đất đai hợp lý tạo nên
tính bền vững xã hội, bảo đảm quyền lợi hợp lý của từng gia đình, từng cá nhân, đồng
thời bảo đảm quyền lợi của cộng đồng, của toàn dân tộc Sử dụng đất hợp lý là một tác
nhân trực tiếp tạo nên tính bền vững trong quá trình phát triển bền vững của đất nước,
của dân tộc
- Quy hoạch sử dụng đất là biện pháp quản lý không thể thiếu trong việc tổ chức
sử dụng đất của các ngành kinh tế - xã hội và các địa phương Phương án quy hoạch sử
Trang 28dụng đất là kết quả hoạt động thực tiễn của bộ máy quản lý Nhà nước kết hợp với những
dự báo có cơ sở khoa học cho tương lai Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất vừa đảm bảo tính thống nhất của quản lý Nhà nước về đất đai vừa tạo
điều kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất để đạt đến
mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
- Về kinh tế, quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo ưu tiên đất đai cho nhiệm vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, vừa đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, vừa thoả
mãn nhu cầu nông sản phẩm cho toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp đồng thời
phải cân đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công nghiệp hóa đất nước, nâng cao độ phì
nhiêu và hệ số sử dụng đất, vừa mở rộng diện tích để đạt ít nhất 10 triệu ha đất sản xuất
nông nghiệp và 40 triệu tấn lương thực Đối với đất công nghiệp, phải vừa sắp xếp lại
các cơ sở hiện có, vừa nhanh chóng hình thành các khu công nghiệp mới phù hợp với
nhịp độ phát triển
- Về mặt xã hội và môi trường, quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo độ che phủ thực vật của các hệ sinh thái bền vững, phải đáp ứng được nhu cầu tăng lên về đất ở và
chất lượng của môi trường sống, đặc biệt chú ý đến tác động của môi trường của quá
trình sử dụng đất để công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhất là ở các khu vực mới phát triển
Quy hoạch sử dụng đất đai phải phản ánh được xu hướng cân đối giữa các vùng phát
triển và phần còn lại của lãnh thổ để không phát sinh nhiều chênh lệch quá xa trên cùng
một địa bàn
- Quy hoạch sử dụng đất để phát triển hệ thống đường sá, sân bay, bến cảng, các công trình năng lượng, cấp thoát nước, dịch vụ công cộng…sẽ làm cho giá trị đất tăng
lên và tạo thêm giá trị mới về sử dụng đất, đồng thời còn nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Do đó, các phương án quy hoạch sử dụng đất đều phải cân đối quỹ đất cho nhu cầu phát
thực phẩm của toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
+ Gần 3 triệu ha sử dụng vào các mục đích chuyên dùng, thỏa mãn các nhu cầu về công nghiệp, dịch vụ, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng
Trang 29+ Hơn 3% lãnh thổ (1,1 triệu ha) dùng để xây dựng khu dân cư, về cơ bản đã được
đô thị hoá (0,7- 0,8 triệu ha, kể cả các thị tứ) đảm bảo một mức sống có chất lượng cao
cho toàn dân
+ Cả nước chỉ còn lại 1,7 triệu ha, chủ yếu là sông suối và núi đá trọc, là tồn tại dưới dạng hoàn toàn tự nhiên với nhiệm vụ đảm bảo cảnh quan, môi trường
Việc đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và ở thành phố Huế nói riêng, đến nay chưa có đề tài nghiên cứu
nào có tính pháp quy và hệ thống Xuất phát từ tổng quan đó, với mục đích thấy được
nguyên nhân tồn tại, những bất hợp lý trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2020 của thành phố Huế, từ đó đề xuất điều chỉnh phương án quy hoạch sử
dụng đất, góp phần đảm bảo hoàn thành được kế hoạch đề ra, tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài này
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phương án quy hoạch sử dụng đất của thành phố Huế đến năm 2020 đã được phê duyệt
- Những số liệu và những thông tin có liên quan đến việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất từ năm 2010 đến năm 2016 tại thành phố Huế
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung vào việc đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất từ năm 2010 đến năm 2016 theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 do UBND thành phố Huế lập và đã được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt
Từ đó mà đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của thành phố Huế
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Huế
- Hiện trạng sử dụng các loại đất năm 2016 và biến động các loại đất giai đoạn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp sau đây:
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Phương pháp này được ứng dụng để điều tra thu thập số liệu, dữ liệu, dữ kiện thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu: số liệu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội, các phương án quy hoạch kỳ trước,…
- Điều tra, thu thập số liệu thứ cấp: Gồm điều tra, thu thập các báo cáo tổng kết
năm, các báo cáo về tình hình triển khai các dự án, các báo cáo chuyên đề về quản lý
đất đai, niên giám thống kê của thành phố Huế; các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm
Trang 31vụ qua các năm của Phòng Tài nguyên và Môi trường và của Chi nhánh Văn phòng đăng
kí đất đai thành phố Huế
- Điều tra thu thập số liệu sơ cấp: Gồm việc thu thập các số liệu từ sổ quản lý chuyển
mục đích, sổ quản lý đơn thư, sổ quản lý thế chấp, từ số liệu quản lý công tác thu hồi đất,
từ các thông tin trong công tác triển khai các dự án trên địa bàn thành phố,
- Thu thập thông tin qua phỏng vấn các chuyên gia, các nhà quản lý: Gồm việc
phỏng vấn cán bộ địa chính các phường về các nguyên nhân biến động đất đai; phỏng
vấn các chuyên gia, các nhà quản lý cho ý kiến về các biến động sử dụng đất, về việc
quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai của thành phố Huế Việc thu thập thông tin này
theo hình thức tác giả trao đổi với các cá nhân về các nội dung cần thu thập thông tin,
sau đó tổng hợp các thông tin vào đề tài
2.3.2 Phương pháp sử dụng bản đồ
Đây là phương pháp đặc thù của công tác sử dụng đất Để thực hiện đề tài, cần tiến hành thu thập các bản đồ có liên quan như:
+ Bản đồ quy hoạch sử dụng đất thành phố Huế đến năm 2020 đã được phê duyệt
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Huế qua các năm
tin thu thập được sẽ lượng hoá bằng phương pháp số học, để thấy được mối quan hệ
tương hỗ giữa sử dụng đất và phát triển
2.3.4 Phương pháp dự báo
Đây là phương pháp dựa vào việc ứng dụng chuỗi biến động, phép ngoại suy toán học, tư vấn của các chuyên gia để dự báo dân số chỉ tiêu các ngành trong tương lai
2.3.5 Phương pháp xử lý thống kê, phân tích, tổng hợp
Các số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu đề tài được tổng hợp bằng phương pháp xử lý thống kê trên phần mềm Excel Tổng hợp dữ liệu, tài liệu, hệ thống lại các
tài liệu nhằm phân tích, đánh giá các vấn đề cần nghiên cứu
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HUẾ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Tây Bắc đến Tây Nam giáp thị xã Hương Trà
- Phía Đông Bắc giáp huyện Phú Vang
- Phía Nam và Đông Nam giáp thị xã Hương Thủy
Hình 3.1 Vị trí hành chính thành phố Huế
Thành phố Huế nằm ở trung độ của cả nước, trên trục Bắc - Nam các tuyến đường
bộ, đường sắt, lại nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, kết nối với các trung
tâm kinh tế lớn đang phát triển nhanh, như Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, thành phố
Trang 33Đà Nẵng, Khu kinh tế Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Vì thế, thành phố Huế có vị trí
địa lý rất thuận lợi và có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên
quy mô toàn tỉnh cũng như ở khu vực miền Trung [10]
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Thành phố Huế nằm trên vùng đồng bằng hẹp và địa hình có độ dốc từ Tây sang Đông Thành phố được hình thành ở trung tâm dãi đồng bằng hẹp của hạ lưu sông Hương
- Khu vực Bắc sông Hương có địa hình bằng phẳng Khu vực kinh thành có cao
độ nền xây dựng hiện trạng từ +1,8m đến +3,5m Phường Phú Hiệp, Phú Cát có cao độ
nền nền xây dựng từ 2,7m đến 3,5m Một số khu vực có cốt nền dưới +2m và thường
Trang 343.1.1.3 Khí hậu
Thành phố Huế là vùng có khí hậu chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam, từ đồng bằng ven biển lên vùng núi cao Chế độ khí hậu, thuỷ văn ở đây có
đặc tính biến động lớn và mang đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Đây
được xem là một trong những vùng có khí hậu khắc nghiệt nhất của Việt Nam Đặc điểm
nổi bật của khí hậu thành phố Huế là lượng mưa lớn nhất cả nước, vùng đồng bằng hẹp
thường chịu nhiều lũ lụt mà việc hạn chế ngập rất khó khăn
Nhiệt độ trung bình hàng năm thành phố Huế khoảng 25,2°C
+ Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C - 29°C, tháng nóng
nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C - 41°C
+ Mùa lạnh: từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng là
20°C - 22°C
Trang 35Bảng 3.1 Nhiệt độ theo tháng của thành phố Huế
(Đơn vị :°C) Phân
Trang 36Về chế độ mưa, lượng mưa trung bình khoảng 2.800 mm/năm Mùa mưa bắt đầu
từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, mưa phân bố không đều giữa các tháng; chủ yếu là
tháng 10, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất (chiếm tới 30% lượng mưa cả năm) Độ ẩm
trung bình trong năm là 85% - 86% Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa
tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường
độ mưa lớn, do đó dễ gây lũ lụt, xói lở
Huế chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính là gió mùa Tây Nam (bắt đầu từ tháng
4 đến tháng 7, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài) và gió mùa Đông Bắc
(bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm theo mưa làm cho khí hậu
lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt) Bão xuất hiện hàng năm, trực tiếp đổ bộ gây ảnh hưởng tới
thành phố từ tháng 8 đến tháng 9 - 10
Hình 3.3 Sơ đồ phân vùng khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế
(Nguồn:[9]) 3.1.1.4 Thủy văn
Thành phố Huế chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thuỷ văn của hệ thống sông Hương
Sông Hương có 3 nhánh là: sông Bồ, sông Tả Trạch và sông Hữu Trạch; bắt nguồn từ
các dãy núi Trường Sơn và chảy qua trung tâm thành phố Huế
Trang 37Hình 3.4 Mạng lưới thuỷ văn khu vực thành phố Huế
(Nguồn: Thích ứng biến đổi khí hậu thành phố Huế 2014-2020)
Con sông này có diện tích lưu vực là 2.830km2, chiếm 56% diện tích toàn tỉnh Thừa Thiên Huế Chiều dài sông chính là 104 km, độ cao bình quân lưu vực 330m, độ
dốc bình quân lưu vực 2,85% Chiều dài lưu vực 63,5km, chiều rộng bình quân lưu vực
44,6km Hệ thống sông Hương chảy qua địa bàn thành phố Huế là lưu vực đồng bằng
thấp trũng, về mùa mưa lũ nước sông dâng cao từ 2 - 4m (riêng đỉnh lụt năm 1999 mực
nước dâng cao 6m) làm ngập tràn các khu dân cư, các vùng sản xuất và gây thiệt hại các
hệ thống cơ sở hạ tầng của thành phố, sau đó nước chảy ra biển qua cửa Thuận An
Điều kiện thuỷ văn sông Hương:
- Lưu lượng dòng chảy: Qmax = 1.600 m3/s và Qmin = 5 - 6 m3/s
- Mực nước: Hmax = +5,58 m và Hmin = +0,3 m; HmaxTB năm = +3,97 m
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, thành phố Huế có 2 tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng:
tiểu vùng đất đỏ vàng và tiểu vùng đất phù sa
- Đất đỏ vàng (đất Feralit): được hình thành từ sản phẩm phong hoá của nhiều loại
đá mẹ khác nhau Đặc điểm chung của nhóm đất đỏ vàng là chua, khả năng hấp phụ
không cao; hàm lượng sắt, nhôm tích luỹ tương đối cao; kim loại kiềm và kiềm thổ bị
rửa trôi mạnh Đất đỏ vàng bao gồm 06 loại đất chủ yếu sau:
+ Đất đỏ vàng phát triển trên đá granitiod Đất có thành phần cơ giới thuộc loại thịt nhẹ, cấu trúc viên - hạt, ít hơn có cục tảng Đất tương đối chua (pHKCl = 3,7 - 5),
hàm lượng mùn khá (0,5 – 3%)
Trang 38+ Đất đỏ vàng phát sinh từ phiến đá sét Do loại đất này được đưa vào khai thác,
sử dụng lâu đời nên xảy ra hiện tượng xói mòn, tầng đất mỏng Hiện nay nhiều vùng là
đồi trọc và bị kết von, đá ong hoá hoặc trơ sỏi đá Đất chua (pHKCl = 4 – 4,5), nghèo
+ Đất đỏ phát triển trên đá phiến thạch – mica và các đá phiến khác Đất có tầng dày khá (70 – 100 cm), thành phần cơ giới nặng, cấu trúc hạt – viên, chua (pHKCl = 4 –
5), tương đối nghèo mùn (1 – 1,5%)
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ Loại đất này được hình thành trên sản phẩm lắng đọng của phù sa sông nhưng do sự biến động địa chất được nâng lên thành dạng địa hình
lượn sóng nhẹ Đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì tự nhiên nghèo
- Đất phù sa: là sản phẩm được hình thành từ nguồn vật liệu bùn cát, được sông Hương bồi đắp nên, đất phù sa được chia ra 02 loại:
+ Đất phù sa không được bồi hàng năm: phân bổ chủ yếu các bậc thềm cao ven sông Hương Đặc điểm hình thái phẫu diện là có sự phân hoá rõ giữa các tầng phát sinh
theo màu sắc và tính chất lý hoá đất Đất có thành phần cơ giới nặng, chua (pHKCl = 4,5
– 4,7), hàm lượng mùn trung bình (1 – 2,3%)
+ Đất phù sa glây hoá được bồi: trong phẫu diện đất tầng glây biểu hiện rõ và do quá trình khử chiếm ưu thế nên đất có màu xám xanh điển hình Đất có thành phần cơ
giới nặng, chua (pHKCl = 4 – 4,4), nghèo mùn (1 – 1,3%)
b Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: nguồn nước ngọt trên địa bàn thành phố được cung cấp chủ yếu
từ nguồn nước sông Hương, các nhánh sông và 48 nhánh hồ lớn nhỏ; trong đó một số
hồ quan trọng nằm ở các phường Thuận Lộc, Thuận Hoà, Tây Lộc, Thuận Thành Ở
phường Thuận Lộc có hồ Tịnh Tâm, hồ Học Hải, hồ Sen Ở phường Thuận Hoà có hồ
Võ Sanh –Tân Miếu; phường Tây Lộc có hồ Mộc Đức, hồ Hữu Bảo Ngoài ra bao quanh
Hoàng thành còn có hồ Kim Ngưu ngoài và hồ Kim Ngưu trong
Nguồn nước ngầm: nguồn nước ngầm có độ sâu 5 - 10 m ở các khu vực gò đồi
Các khu vực khác mực nước ngầm có độ sâu 1,5 - 2 m; được phân bố rộng khắp với bề
Trang 39dày biến đổi, trung bình 12-22m Nước thuộc loại nước nhạt, với mực nước tĩnh nằm rất
nông so với bề mặt đất từ 0,1m đến 5,5m
Nói chung, nguồn nước hiện có đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn (tỷ lệ cấp nước sạch của thành phố đạt khá cao, đạt 95%) Nguồn nước thô được
lấy từ sông Hương cung cấo cho các nhà máy nước Vạn Niên, Quảng Tế 1, Quảng Tế
2, Dã Viên Tuy nhiên khi dân số tăng lên, du lịch phát triển, sản xuất công nghiệp tăng
mạnh thì vấn đề ô nhiễm môi trường và ô nhiễm nguồn nước sẽ xuất hiện, đòi hỏi thành
phố cần có những biện pháp bảo vệ, tránh những tác động xấu đến các nguồn cung cấp
nước
c Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê năm 2015 diện tích đất lâm nghiệp của thành phố là 303,89
ha chiếm 4,30% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, trong đó chủ yếu là đất rừng đặc
dụng với diện tích 300,81 ha; đất rừng sản xuất 3,08 ha Diện tích đất lâm nghiệp chủ
yếu tạo vành đai xanh phục vụ cho các công trình di tích, văn hóa, tạo cảnh quan và góp
phần cải thiện môi trường sinh thái khu vực
d Tài nguyên nhân văn
Thành phố Huế là một trong những trung tâm văn hoá lớn của Việt Nam, hiện đang lưu giữ một kho tàng tài nguyên văn hoá vật thể và phi vật thể đồ sộ, đặc sắc tiêu biểu
cho văn hoá dân tộc Việt Nam; là địa bàn vừa có quần thể di tích được UNESCO xếp
hạng di sản văn hoá nhân loại với những công trình về kiến trúc cung đình và danh lam
thắng cảnh nổi tiếng; các di tích văn hoá, các công trình kiến trúc độc đáo, quần thể di
tích triều Nguyễn bao gồm các cung điện, đền đài, miếu mạo, thành quách, lăng tẩm,
các kiến trúc chùa chiền, nhà thờ, vẫn giữ nguyên nét uy nghi, cổ kính, trang nghiêm
Các lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội tôn giáo tín ngưỡng; các thể loại mỹ thuật, nghệ
thuật cổ truyền dân gian và cung đình được lưu truyền
Nét đặc trưng của văn hóa ở Huế còn là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian
và văn hóa cung đình Những điệu hò, điệu lý dân gian đã được tiếp thu và cải biên phục
vụ cho vua chúa trở thành ca, múa nhạc cung đình có giá trị nghệ thuật cao
Người dân Huế cần cù, thông minh, lịch thiệp, giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam
và của vùng văn hoá Phú Xuân Trình độ dân trí của người dân Huế khá cao, nguồn lao
động khá dồi dào, nhiều tài năng sáng tạo, đội ngũ nghệ nhân các ngành nghề truyền
thống còn khá đông Đây là lợi thế quan trọng đẩy nhanh tiến trình phát triển của thành
phố Huế[10]
Trang 403.1.2 Thực trạng môi trường
Nhìn chung thành phố Huế hiện có môi trường sinh thái tương đối tốt Huế hiện nay đang được ngưỡng mộ không chỉ vì nó có tính cách riêng, có văn hoá riêng mà còn
bởi vì nó gắn liền với thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên Tuy nhiên, do sự gia tăng
dân số, phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, quá trình đô thị hoá đã làm ảnh hưởng
không nhỏ đến môi trường
Sông Hương có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tự nhiên thành phố Huế
Dòng chảy sông Hương biến động lớn trong năm, lưu lượng vào mùa lũ và mùa kiệt
chênh lệch nhiều lần ở phía thượng nguồn và khoảng 5 đến 6 lần ở phía hạ lưu thuộc
vùng đồng bằng
Trong những năm qua, với định hướng phát triển dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp thành phố đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng,… nên mức
độ và nguy cơ ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng
- Môi trường nước và chất lượng nước ở các sông, hồ ngày càng xấu đi do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt không được xử lý mà thải trực tiếp vào hệ thống
nước chung gây ô nhiễm tầng nước mặt, thấm xuống đất gây ô nhiễm tầng nước ngầm
- Các hệ thống thoát nước thải, rác thải, khí thải, không theo quy hoạch và chưa qua xử lý đã ảnh hưởng đến môi trường đất, môi trường không khí, môi trường nước
là những vấn đề bức xúc ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường đô thị
3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội
3.1.3.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a Tăng trưởng kinh tế
Nhịp độ phát triển kinh tế của thành phố qua các năm có sự chuyển biến rõ rệt, năm 2011 tăng trưởng đạt 6,32%, đến năm 2015 tăng trưởng là 10,09 % cao hơn so với
các năm trước, cao hơn mức trung bình cả tỉnh (9,07 %) Trong đó xem xét tỉ trọng cấu
trúc của các ngành thì ngành thương mại và dịch vụ có tỉ trọng cao nhất, tiếp đến lần
lượt là ngành xây dựng và công nghiệp, nông-lâm-thủy sản
Tuy chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng nhìn chung tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng trong
những năm gần đây có xu hướng tăng đều và khá ổn định, phù hợp với định hướng cơ
cấu kinh tế thành phố đề ra