Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thức ăn, quản lý nuôi dưỡng và sức sinh sản của bò cái; khả năng sinh trưởng của bê được nuôi trong điều kiện nông hộ ở tỉnh Bình Định, từ đó là
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chính bản thân
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa có ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Huế, ngày 10 tháng 8 năm 2015 Tác giả luận văn
Phạm Hồng Sơn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành bản luận văn này, bên cạnh nổ lực của bản thân, tôi còn nhận được
sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Xuân Bả - Trưởng
Khoa chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm Huế
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Huế, Ban Chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú y, Bộ môn Chăn nuôi Chuyên Khoa, Phòng Đào tạo Sau Đại học và sự
động viên của các Thầy, Cô trong Khoa chăn nuôi thú y thuộc Đại học Nông Lâm
Huế; cùng Lãnh đạo và Anh em đồng nghiệp ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển
chăn nuôi miền trung Đặc biệt là sự hỗ trợ kinh phí của Dự án ACIAR LPS/2012/062
- Nâng cao sức sản xuất bền vững và hiệu quả của các nông hộ chăn nuôi bò ở Miền
Trung Việt Nam và những hỗ trợ, chia sẻ của các gia đình chăn nuôi bò ở xã Tây
Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Bên cạnh đó, sự hợp tác và giúp đỡ của UBND
xã Tây Giang và các em sinh viên Khoa chăn nuôi Thú y (khóa 45) thực hiện đề tài tốt
nghiệp tại Bình Định cũng tạo cho tôi nhiều thuận lợi trong công việc
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn và luôn ghi nhận sự quan tâm, giúp đỡ quý báu mà tôi đã nhận được Xin được gởi lời chúc sức khoẻ và hạnh phúc tới Thầy
giáo hướng dẫn, PGS TS Nguyễn Xuân Bả, các Thầy, cô trong Ban giám hiệu trường
Đại học Nông Lâm Huế, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Bộ môn Chăn nuôi
Chuyên Khoa, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Ban quản lý Dự án ACIAR LPS/2012/062,
TS Đinh Văn Dũng – Giáo viên Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Huế, Kỹ sư
Nguyễn Thị Mùi – cán bộ Bộ môn Chăn nuôi Chuyên Khoa cùng các Thầy Cô và Anh
em đồng nghiệp bạn bè cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời
gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế ngày 10 tháng 8 năm 2015
Phạm Hồng Sơn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 4
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định 4
1.1.2 Tình hình chăn nuôi bò ở tỉnh Bình Định 8
1.1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình chăn nuôi bò ở xã Tây Giang, tỉnh Bình Định 11
1.2 Tình hình chăn nuôi bò ở nước ta 14
1.2.1 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò 14
1.2.2 Sự phân bố đàn bò 15
1.2.3 Quy mô chăn nuôi bò 16
1.2.4 Chất lượng đàn bò 17
1.2.5 Những khó khăn, thách thức và cơ hội phát triển trong chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam 17
1.2.6 Định hướng phát triển chăn nuôi bò thịt trong thời gian tới 19
1.3 Vai trò của chăn nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi của nông hộ 20
1.4 Đặc điểm sinh sản của bò cái 21
1.4.1 Các chỉ tiêu chính đánh giá sinh sản ở bò cái 21
1.4.2 Các nguyên nhân gây ra tỷ lệ sinh sản thấp 23
1.4.3 Vai trò của dinh dưỡng đối với bò cái sinh sản 25
1.4.4 Một số nghiên cứu về kỹ thuật tác động dinh dưỡng để nâng cao năng suất bò sinh sản và bê 29
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
Trang 42.2.1 Thời gian nghiên cứu 33
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 33
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Điều tra cơ bản hệ thống chăn nuôi bò sinh sản 33
2.3.2 Khảo sát khả năng sinh sản của đàn bò cái và sinh trưởng của bê từ 0- 6 tháng tuổi trong nông hộ ở xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 34
2.3.3 Thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho bò cái giai đoạn sau khi đẻ trong điều kiện nông hộ ở xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 35
2.4 Xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Hiện trạng chăn nuôi bò sinh sản trong nông hộ ở Tây Giang, tỉnh Bình Định 38
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu và diện tích đất ở các nông hộ khảo sát 38
3.1.2 Quy mô và cơ cấu tuổi, giống của đàn bò 39
3.1.3 Quản lý, chăm sóc, phương thức nuôi dưỡng và kinh nghiệm chăn nuôi bò cái sinh sản 40
3.1.4 Loại và lượng thức ăn cho bò sinh sản trước và sau khi đẻ 42
3.2 Đặc điểm sinh sản của đàn bò cái nuôi trong điều kiện nông hộ 45
3.2.1 Thể trạng ở đàn bò cái sinh sản 45
3.2.2 Năng suất sinh sản của đàn bò cái 46
3.3 Diễn biến khối lượng của bê từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi và tuổi bán bê 48
3.4 Kết quả thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho bò cái sau đẻ 50
3.4.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến lượng thức ăn ăn vào của bò mẹ 50
3.4.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến khối lượng và điểm thể trạng của bò mẹ 51
3.4.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến khối lượng và tăng khối lượng ở bê 52
3.4.4 Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến thời gian động dục lại sau đẻ của bò mẹ 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại đất tỉnh Bình Định 5
Bảng 1.2 Số lượng đàn bò tỉnh Bình Định qua các năm 10
Bảng 1.3 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò ở Việt Nam qua các năm 14
Bảng 1.4 Sự phân bố đàn bò theo vùng sinh thái năm 2014 15
Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho bò mẹ sau đẻ 35
Bảng 3.1 Nhân khẩu và diện tích đất ở các hộ điều tra (n=66) 38
Bảng 3.2 Qui mô (con/hộ) và cơ cấu tuổi của đàn bò ở các hộ điều tra (n=66) 39
Bảng 3.4 Loại thức ăn dùng cho bò sinh sản (n=66) 43
Bảng 3.5 Lượng vật chất khô cho ăn, cơ cấu khẩu phầnbổ sung 44
Bảng 3.6 Đặc điểm sinh sản của đàn bò cái ở nông hộ(n=66) 46
Bảng 3.7 Lượng thức ăn ăn vào của bò mẹ 50
Bảng 3.8 Khối lượng, điểm thể trạng của bò mẹ sau đẻ và khối lượng bê 52
Bảng 3.9 Tăng khối lượng của bê 54
Bảng 3.10 Thời gian động dục lại sau đẻ của bò mẹ 55
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Yếu tố khí hậu tỉnh Bình Định 6
Hình 3.2 Kinh nghiệm chăn nuôi bò sinh sản của nông hộ 42
Hình 3.3 Thời điểm các hộ thiếu thức ăn cho bò 44
Hình 3.4 Điểm thể trạng của đàn bò cái đẻ ở nông hộ (TĐ: trước đẻ; SĐ: sau đẻ) 45
Hinh 3.5 Khoảng cách lứa đẻ của bò cái 47
Hình 3.6 Tháng đẻ của bò cái 48
Hinh 3.7 Khối lượng bê (trung bình và độ lệch chuẩn) qua các ngày tuổi 49
Hình 3.8 Tương quan giữa vòng ngực và khối lượng của bê 49
Hình 3.9 Tuổi bán bê ở các nông hộ 50
Hình 3.10 Diễn biến khối lượng của bê qua các ngày tuổi 53
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi bò sinh sản (hệ thống bò-bê) là công đoạn ban đầu của hệ thống sản xuất bò thịt và là một phần quan trọng trong hệ thống nông nghiệp Việt Nam nói
chung và trong nông hộ các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng Chăn nuôi bò
nông hộ các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay đang tồn tại các hệ thống: (1)
Chăn nuôi khép kín (whole system) từ nuôi bò sinh sản, nuôi bò sinh trưởng đến giết
thịt; (2) nuôi bò sinh sản để bán bê thịt hoặc bê giống; (3) nuôi bò thịt chuyên canh
Quy mô đàn bò trong nông hộ các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ là nhỏ (khoảng 3 – 4
con/hộ) với hỗn hợp của giống bò vàng (chăn thả tự do), bò lai (bán chăn thả) [ 32] Hệ
thống sản xuất phổ biến là chăn thả kết hợp với bổ sung thức ăn và nuôi nhốt hoàn toàn
Chăn nuôi bò thịt trong nông hộ đã tạo ra nguồn thu nhập cao cho người chăn nuôi, đồng thời góp phần giải quyết nhiều vấn đề về kinh tế-xã hội, văn hóa như tạo
việc làm ổn định; cung cấp nguồn phân hữu cơ; tận dụng có hiệu quả cao lượng lớn
phụ phẩm nông nghiệp Tính đến 1 tháng 10 năm 2014, cả nước có 5,23 triệu con bò,
trong đó khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ có 1,19 triệu con bò chiếm 22,7% tổng số
bò của cả nước [5] Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam cũng như các tỉnh
Duyên hải Nam Trung Bộ đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích người nông
dân phát triển chăn nuôi bò theo hướng hàng hóa, bền vững Các chủ trương, chính sách
như: Dự án cải tạo đàn bò, chương trình 30a, chương trình chuyển đổi đất trồng kém
hiệu quả sang trồng cỏ nuôi bò và gần đây Chính phủ có chương trình xây dựng Nông
thôn mới Tuy vậy, các khó khăn, thách thức của chăn nuôi bò trong khu vực là hạn
chế về nguồn lực, đất cát với chất lượng thấp, điều kiện khí hậu khắc nghiệt (nhiệt độ
cao, mùa khô nóng kéo dài, lũ lụt xảy ra nhiều vào mùa mưa), thiếu hụt thức ăn (cả về
số lượng và chất lượng) đã dẫn đến khoảng cách lứa đẻ kéo dài, tỷ lệ bê chết cao, tăng
trọng chậm, năng suất và hiệu quả chăn nuôi bò thấp Để chuyển đổi chăn nuôi bò từ
quảng canh sang bán thâm canh hoặc thâm canh, gắn kết giữa nâng cao sức sản xuất với
thị trường; gắn kết giữa nghiên cứu khoa học công nghệ với chuyển giao kỹ thuật có rất
nhiều việc cần phải giải quyết, từ khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất, thị trường,
khuyến nông v.v, đến các chính sách vĩ mô Tất cả các giải pháp đều phải được thiết kế
phù hợp cho các hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương
Trong các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Bình Định là một trong những tỉnh có ngành chăn nuôi bò phát triển nhất Chăn nuôi bò ở Bình Định ngày càng đóng
vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho người chăn
nuôi Ngày nay con bò được xem là vật nuôi được lựa chọn cho nông dân để phát trển
sản xuất góp phần thành công trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Bình Định
Trang 8hải Nam Trung Bộ Tỷ lệ bò lai trong tổng đàn đến năm 2014 đạt tới 76,0%, cao hơn
so với các tỉnh khác ở Duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước (38-40%) Giống bò ngoại
chủ yếu ở Bình Định là bò Brahman, bò đực Brahman được dùng để lai với bò cái
Vàng tạo ra con lai sử dụng với mục đích khác nhau đã được Bình Định thực hiện từ
lâu, ngày nay đàn bò sinh sản của Bình Định chủ yếu là bò lai Brahman Bò sinh sản là
đối tượng đóng vai trò rất quan trọng trong cơ cấu đàn bò của nông hộ tại Bình Định,
chiếm hơn 20% trong tổng đàn [32] Tuy nhiên, chăn nuôi bò ở Bình Định chủ yếu là
chăn nuôi nông hộ, nguồn lực cho phát triển đàn bò là hạn chế, thiếu đồng cỏ, sự đầu
tư thấp, điều đó làm cho năng suất chăn nuôi bò nói chung và năng suất bò sinh sản
nói riêng còn thấp
Trong chăn nuôi bò sinh sản, việc nuôi theo các giai đoạn mang thai khác nhau cũng như có biện pháp chăn nuôi trước và sau khi đẻ là rất quan trọng Một số nghiên
cứu đã chỉ ra rằng, bò cái được nuôi với khẩu phần có mức năng lượng cao sau khi đẻ
sẽ động dục lại sớm hơn so với bò nuôi ở mức năng lượng thấp [42] Sự sinh trưởng và
phát triển của bào thai, sự đẻ và sản xuất sữa cũng như sự co lại của tử cung đều cần
năng lượng Do vậy khi bò nuôi dưỡng ở trong điều kiện tốt, có thể đáp ứng đủ yêu
cầu năng lượng khi đẻ con, tiết sữa và sự co lại của tử cung thì sẽ được phối giống sớm
hơn những bò nuôi dưỡng ở điều kiện kém Trong một nghiên cứu của
Kleinhesterkamp và cộng sự (1981) [26] ở Colombia, bò được nuôi trên bãi cỏ được
cải tạo có bổ sung cỏ họ đậu đã nâng tỷ lệ thụ thai đạt 64,4%, trong khi nuôi ở bãi chăn
chưa cải tạo tỷ lệ này là 6,3% Tuy vậy, chăn nuôi bò sinh sản ở Việt Nam nói chung
và ở Bình Định nói riêng, nuôi dưỡng bò phụ thuộc vào các đồng cỏ tự nhiên và sản
phẩm phụ sau thu hoạch Hàm lượng thức ăn tinh trong khẩu phần thấp, lượng protein
cũng thấp, điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của bò
Từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng chăn nuôi bò sinh sản và ảnh hưởng của bổ sung thức ăn tinh cho bò mẹ sau
khi đẻ đến một số chỉ tiêu sinh sản của bò được nuôi trong nông hộ ở xã Tây Giang,
huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định”
Mục tiêu của đề tài
Trang 9- Đánh giá năng suất sinh sản của đàn bò cái đẻ, và khả năng sinh trưởng của bê trong các nông hộ ở Tây Giang, tỉnh Bình Định
- Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của cải thiện chế độ dinh dưỡng cho bò mẹ sau khi đẻ đến sức sinh sản của bò mẹ và sinh trưởng của bê con
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
thức ăn, quản lý nuôi dưỡng và sức sinh sản của bò cái; khả năng sinh trưởng của bê
được nuôi trong điều kiện nông hộ ở tỉnh Bình Định, từ đó làm cơ sở cho các hộ chăn
nuôi, khuyến nông địa phương có chiến lược, giải pháp cụ thể áp dụng cho địa phương
để cải thiện hệ thống nâng cao sức sản xuất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò
sinh sản
Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các nhà quản lý ngành chăn nuôi/nông nghiệp địa phương xây dựng chiến lược phát triển chăn nuôi bò sinh sản trong tỉnh
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định
Vị trí địa lý
Tỉnh Bình Định có tọa độ địa lý từ 103036’30” đến 1090018’15” kinh độ Đông và
từ 13030’45” đến 14042’15” vĩ độ Bắc Nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, phía Bắc
giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, và
phía Đông giáp biển Đông
Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không khá phát triển Bình Định là tỉnh nằm trong qui hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm
của Miền Trung, có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, giao lưu trong nước
và quốc tế Nhờ vậy mà đã tạo điều kiện cho sản phẩm chăn nuôi của Bình Định tiêu
thụ dễ dàng ở các tỉnh trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng như các tỉnh thành
khác trong cả nước, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh nơi có sức tiêu thụ thực phẩm
(thịt, trứng, sữa) lớn nhất cả nước
Địa hình
Địa hình núi trung bình, núi thấp: Vùng này có diện tích 254.124ha, chiếm 42%
diện tích tự nhiên, phân bổ ở các huyện Vân Canh (75.932ha), Vĩnh Thạnh (78.249ha),
An Lão (63.367ha), ở Tây Sơn và Hoài Ân có 36.576ha Có độ cao trên 500m so với
mặt nước biển, đại bộ phận sườn núi dốc hơn 200
Địa hình đồi gò, bát úp ở trung du: Vùng này có diện tích 157.315ha, chiếm 26%
diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Tây Sơn (39.500ha), Hoài Ân (35.900ha), Phù
Cát (19.150ha), Phù Mỹ (16.200), Hoài Nhơn (15.089ha), An Lão (5.058ha), Vân
Canh (7.924ha)… Đồi gò ở đây có độ dốc 10 - 150, cấu tạo chủ yếu bởi đá granít
Địa hình đồng bằng ven biển: Phân bố kéo dài theo hướng song song với bờ biển tạo nên vòng cung ôm lấy vùng trung du và vùng núi phía Tây của tỉnh Kiểu địa hình
này phổ biến ở huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước, vùng này có diện
tích 193.619ha, chiếm 32% đất toàn tỉnh Cát ven biển là khu vực cồn cát, lác đác gặp
các hòn núi đảo sườn dốc nằm ngang trên bờ biển, tiếp sau khu vực cồn cát là những
vũng trũng hàng năm được sông ngòi mang phù sa tới bồi thêm Dải đồng bằng Duyên
hải hẹp lại bị các nhánh núi đâm ngang ra biển cắt thành những đoạn riêng biệt, mỗi
đoạn có hình một tam giác châu thổ nhỏ được tạo thành bởi các sông bắt nguồn từ các
dãy núi phía trong chảy ra biển
Trang 11Nguồn: Niêm giám thống kê Bình Định (2013)[14]
Khí hậu, thời tiết
Bình Định mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt trung bình khá cao (bình quân 26,70C) và tương đối ổn định trong năm; tháng 1, 2 có nhiệt độ thấp nhất
trong năm cũng bình quân từ 23,1 - 23,90C Số giờ nắng biến động từ 6,0 - 9,3 giờ/ngày,
các tháng mùa khô đạt trị số cao: 211 - 245 giờ/tháng Tuy không có mùa đông nhiệt độ
thấp, nhưng hàng năm vẫn chịu ảnh hưởng 1 đến 2 đợt gió mùa Đông Bắc
Mưa phân bố theo mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 kết thúc tháng 12, chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa năm; mưa lớn thường xảy ra vào tháng 10, 11 thường
Trang 12gây ra lũ lụt làm thiệt hại rất lớn về kinh tế và ô nhiễm môi trường Đối với các huyện
miền núi mùa mưa đến sớm hơn (bắt đầu tháng 8) với lượng mưa và cường độ mưa
lớn hơn vùng đồng bằng ven biển rất nhiều Mưa lớn kết hợp giông bão (tần suất 2 - 3
năm có 1 trận lũ lớn, 0,6 trận bão 1 năm) thường xảy ra tháng 10, 11 gây ra trên diện
rộng Mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, lượng mưa rất thấp, bằng 15 - 20%
lượng mưa năm; tháng 5 - 7 khô kiệt nhất [10]
Hình 1.1 Yếu tố khí hậu tỉnh Bình Định [10]
Với điều kiện về đất đai, khí hậu kể trên khá thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển, phù hợp trồng các loại cây thức ăn gia súc và các giống cỏ cao sản; đồng
thời, so sánh với điều kiện sinh lý của các loại vật nuôi nhiệt đới cho thấy thích hợp
cho sinh trưởng phát triển Tuy nhiên, khí hậu nóng kết hợp với độ ẩm cao (71 - 83%)
là yếu tố tạo ra môi trường thuận lợi để các mầm bệnh phát triển và lưu trú, khi có điều
kiện dễ phát sinh dịch bệnh Thời gian chuyển từ mùa mưa sang mùa khô và mùa khô
sang mùa mưa là thời điểm thời tiết giao mùa cũng dễ làm cho gia súc - gia cầm mắc
bệnh nếu không được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật
Tổ chức hành chính
Bình Định có thành phố loại I trực thuộc tỉnh (TP Quy Nhơn), một thị xã (An Nhơn), 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh và Vĩnh Thạnh), 2 huyện trung du (Hoài
Ân và Tây Sơn), 4 huyện đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ và Tuy Phước)
Toàn tỉnh có 159 xã, phường và thị trấn Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố
Quy Nhơn
Dân số
Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức năm
2014, dân số của tỉnh là 1.506.600 người; trong đó: thành thị 464.700 người chiếm
Trang 13Thảm cỏ tự nhiên
Theo phân loại về đồng cỏ Việt Nam, thảm cỏ tự nhiên ở tỉnh Bình Định (kể cả thảm cỏ dưới tán rừng) được xếp vào loại đồng cỏ chân đồi, ven suối, phát triển theo
mùa Đây là đồng cỏ hòa thảo trên đất xám phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá granit Đặc
điểm thảm cỏ tự nhiên được mô tả như sau:
Cỏ tự nhiên mọc trên gò đồi, trên bờ ruộng, ven kênh mương, trong vườn nhà,…
là hỗn hợp các loại cỏ hòa thảo như: Cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ lá tre, cỏ mật,… và rất ít
cỏ họ đậu Thành phần dinh dưỡng và chất lượng cỏ tự nhiên biến động lớn, phụ thuộc
vào mùa khô hay mùa mưa, cỏ non hay già, thành phần các giống cỏ trong thảm cỏ và
nơi cỏ mọc (cỏ ở chân ruộng cao hay dưới đồng trũng, ven kênh mương,…)
Dọc theo các tuyến đường là loại cỏ sả dòng địa phương (Panicum maximum sp), dọc theo các kênh mương tưới, tiêu thoát nước là cỏ ống (Panicum repens) Đây là
những loại cỏ có thể sử dụng làm thức ăn cho bò thịt
Thảm cỏ dưới tán rừng và các trảng đất dốc, những nơi thường được chăn thả bò
không thấy các dòng cỏ sả do chăn thả quá mức, bị gặm sát nên không đủ thời gian tái sinh
Các giống cỏ tự nhiên mọc sát mặt đất, chịu giẫm đạp và gặm sát ở các bãi chăn
thả chủ yếu là: cỏ mần trầu (Eleusin indica), cỏ chỉ (Cynodon dactylon), cỏ mật
(Melinus minutifora), cỏ gấu (Cyperus rodundus), cỏ lá gừng (Paspalum conjugatum),
cỏ Mỹ (Pennisetum polystrachyon), cỏ lá tre (Setaria palmifolis), cỏ dẹp (Setaris
cephaselata),…
Tuy nhiên, các giống cỏ kể trên chỉ chiếm khoảng 20 - 35% diện tích các bãi chăn thả ngày càng bị thu hẹp, phần còn lại là các giống cỏ dại trâu bò không ăn được
như: Cỏ hôi, cỏ chổi và đại đa số là cỏ tranh (Imperata cylindrica), cỏ trinh nữ
(Mimosa mutica) Cỏ lá gừng và cỏ tranh khi còn non, bò có thể ăn được nhưng không
ngon miệng nên chỉ ăn khi bị đói
Đầu mùa mưa, do thời tiết nóng ẩm, cỏ mọc nhiều và nhanh nhưng chẳng bao lâu
đã xơ cứng, đến cuối mùa có khi phải đốt đi mới có mầm cỏ mọc lên cho gia súc ăn
Chu kỳ sinh trưởng của cỏ quá nhanh cũng làm giảm chất lượng, nên thời kỳ cỏ ngon,
đủ dinh dưỡng cho trâu bò ăn không đáng kể
Nhìn chung, đồng bãi cỏ tự nhiên chăn thả ở Bình Định phần lớn là cỏ thô, năng suất thấp (khoảng 3 ha mới đủ cỏ nuôi một đơn vị gia súc) Đồng cỏ tự nhiên ngày càng
bị thu hẹp do khai thác trồng cây lâm nghiệp, cây lâu năm nên người chăn nuôi bò ngày
càng phải đưa bò đi chăn thả xa hơn; ngoài ra do tập quán chăn nuôi, đa số chỉ chăn thả
trên các bãi cỏ tự nhiên là chủ yếu nên khả năng tái sinh của cỏ cũng bị hạn chế
Trang 14Ngoại trừ đồng cỏ trồng cắt (cỏ voi, cỏ sả) của các trang trại và một số hộ chăn nuôi trồng cỏ trong vườn hoặc trồng xen, song do thiếu nước tưới và ít chăm sóc đúng
kỹ thuật nên lượng cỏ cung cấp cho đàn bò vẫn chưa đáp ứng nhu cầu
Hiện tại, rơm rạ, thân bắp, đậu, cỏ tự nhiên là nguồn thức ăn thô xanh chủ yếu để nuôi trâu bò, hầu hết các hộ nuôi trâu bò sử dụng cỏ tự nhiên dưới hình thức chăn thả
hoặc cắt cỏ cho bò ăn, ngoài lượng cỏ tự nhiên người chăn nuôi còn trồng cỏ để cung
cấp đủ thức ăn cho trâu bò
Sản xuất trồng trọt có liên quan đến chăn nuôi
Diện tích gieo trồng lúa cả năm 2014 là 102.546,6 ha, năng suất 59,2 tạ/ha, sản lượng đạt 606.647 tấn Với sản lượng lúa 606.647 tấn qua xay xát có thể thu được
khoảng 40.000 tấn cám là nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc hoặc sử dụng trực
tiếp cho chăn nuôi (bò, heo, gà) làm giảm được giá thành sản phẩm chăn nuôi Mặt
khác, diện tích trồng lúa cũng cung cấp nguồn rơm rạ sử dụng làm thức ăn thô xanh
cho trâu bò (khoảng 500.000 tấn) Hiện nay và trong giai đoạn tới đây, rơm lúa là
nguồn cung cấp thức ăn thô xanh chủ yếu cho đàn trâu bò ở Bình Định
Diện tích gieo trồng ngô năm 2014 là 8.399,5 ha, năng suất 56,2 tạ/ha với sản lượng 47.168,3 tấn; diện tích gieo trồng sắn 13.833,2 ha, năng suất 241,2 tạ/ha, sản
lượng 333.621,7 tấn; diện tích gieo trồng lạc 10.226 ha, năng suất 29,4 tạ/ha, sản
lượng 30.054 tấn và diện tích gieo trồng đậu các loại 2.107,8ha, năng suất 16,0 tạ/ha,
tiên đầu tư, khuyến khích phát triển chăn nuôi, tạo động lực thúc đẩy phát triển chăn
nuôi trang trại, gia trại, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất chăn nuôi hàng hóa
tập trung là tiền đề cần và đủ phát triển ngành chăn nuôi Bình Định trong đó có sự
đóng góp của ngành chăn nuôi bò Đối với ngành nông nghiệp tỉnh Bình Định, chăn
nuôi là ngành sản xuất có vị trí quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Trang 151,5% (+683 con), Vĩnh Thạnh tăng 4,4% (+612 con), An Lão tăng 7,6% (+538 con),
Tuy Phước tăng 3,1% (+469 con), Hoài Ân tăng 2,8% (+371 con), Tây Sơn tăng 0,2%
(+69 con), Quy Nhơn tăng 1,2% (+66 con); Riêng Vân Canh giảm 1% (-140 con)
Nguyên nhân đàn bò tăng trở lại sau 3 năm giảm liên tục là vì trong năm 2014 giá bò
hơi trong năm luôn ổn định ở mức cao người chăn nuôi có lãi, trong khi điều kiện chăn
nuôi, cũng như thức ăn cho bò từ nguồn thức ăn tự nhiên và công nghiệp tại địa
phương đều phong phú; bên cạnh đó các chính sách, hỗ trợ chăn nuôi bò của tỉnh được
mở rộng, theo đó thúc đẩy nhu cầu chăn nuôi bò trong nông dân có xu hướng tăng lên
rõ rệt [10]
Chất lượng đàn bò của tỉnh ngày càng được nâng cao, tỷ lệ bò lai trên tổng đàn từ 47% năm 2006, năm 2013 đạt 71%, năm 2014 đạt tỷ lệ 76% Một số huyện, thị xã có
tỷ lệ đàn bò lai đạt khá cao là các huyện: Vĩnh Thạnh 88%; An Nhơn 86,5%, Tây Sơn
86%, Phù Cát 79,9%, Phù Mỹ 79,7%, Hoài Nhơn 77,2%, Tuy Phước 70,9% và Hoài
Ân 69,3%; tỷ lệ bò lai đạt thấp là Thành phố Quy Nhơn, huyện Vân Canh và huyện An
Lão tương ứng 28,5%; 37,4%; 45%
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng
Năm 2014, số lượng bò xuất chuồng đạt 137.158 con, tăng 1,2% (+1.568 con);
sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 26.904,4 tấn, tăng 2,7% (+695,7 tấn) so với cùng
kỳ Bình quân 1 con bò hơi xuất chuồng năm 2014 đạt 196,2 kg/con, tăng 2,9 kg/con
so với cùng kỳ Hầu hết sản lượng xuất chuồng của các huyện trong tỉnh đều tăng khá
so cùng kỳ như: Phù Mỹ tăng 462,3 tấn, Vĩnh Thạnh tăng 194 tấn, Vân Canh tăng
169,8 tấn, Phù Cát tăng 116,5 tấn; riêng huyện An Nhơn, Tây Sơn và Tuy Phước sản
lượng xuất chuồng giảm tương ứng 146,9 tấn, 111,2 tấn, 81,5 tấn [10]
Nguyên nhân sản lượng bò hơi xuất chuồng tăng là do giá thịt bò hơi bình quân năm
2014 là 81.085 đồng/kg, tăng 12,1% (+8.735 đồng) so với cùng kỳ, đã kích thích người
nông dân nuôi bò vỗ béo Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh ngành Nông nghiệp đã triển khai
khá thành công các dự án cạnh tranh nông nghiệp, trong đó có dự án nuôi bò vỗ béo đang
được thực hiện tại các huyện Tuy Phước, Tây Sơn, Phù Cát và thị xã An Nhơn
Sản lượng sữa tươi
Tổng đàn bò sữa trong toàn tỉnh 2.015 con, tăng 18,3% (+312con) so với cùng
kỳ, đàn bò sữa tập trung chủ yếu ở các huyện: An Nhơn (1.881 con), Phù Cát (117
con) và Hoài Nhơn (13 con) Trong đó, bò cái sữa 1.607 con, tăng 25% (+321 con)
Sản lượng sữa cả năm đạt 4.634,6 tấn, tăng 34,1% (+1.179,2 tấn) so với cùng kỳ
Những năm gần đây giá sữa tăng cao và ổn định, chăn nuôi bò sữa có hiệu quả hơn nên bà con nông dân mạnh dạn đầu tư, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, chất lượng
Trang 16sữa tốt và đạt tiêu chuẩn của nhà máy Với giá sữa hiện nay trên 12.000 đồng/kg, bằng
giá so với cùng kỳ, người chăn nuôi có lãi, phát triển đàn bò sữa
Bảng 1.2 Số lượng đàn bò tỉnh Bình Định qua các năm
Chỉ tiêu
Thời điểm 10/2012 (con)
Thời điểm 10/2013 (con)
Thời điểm 10/2014 (con)
Tốc độ tăng trưởng 2012/2013 (%)
Tốc độ tăng trưởng 2013/2014 (%)
Nguồn: Niên giám thống kê (2013, 2014) [14, 15], Bộ NN và PTNT (2015) [5]
Sau nhiều năm thực hiện chương trình cải tạo giống bò, đến nay đàn bò lai Bình Định có chất lượng cao và có uy tín trong vùng và cả nước Tỉ lệ đàn bò lai năm 2014
chiếm hơn 76,0% tổng đàn, có hơn 72.000 con bò cái lai Zebu, đảm bảo chất lượng về
giống, để làm nền lai tạo bò thịt chất lượng cao, cùng với đó là đưa nhanh các tiến bộ
khoa học kỹ thuật về chăn nuôi bò thịt chất lượng cao vào trong chăn nuôi, để đem lại
năng suất, sản lượng và chất lượng thịt cao, tăng hiệu quả chăn nuôi bò, góp phần tái
cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng hiệu quả và bền vững
Tuy nhiên, sự thách thức trong sản xuất chăn nuôi bò thịt ở Bình Định đó là chất lượng con giống Đàn bò lai Zebu tuy có tầm vóc lớn hơn bò vàng Việt Nam nhưng nhìn
chung tầm vóc vẫn còn nhỏ, đặc biệt là năng suất và tỉ lệ thịt xẻ thấp so với các giống bò
chuyên thịt trên thế giới, đặc biệt thời gian gần đây lượng bò và thịt bò nhập khẩu với số
lượng khá lớn với nhiều ưu điểm về trọng lượng lớn, tỉ lệ thịt xẻ và chất lượng thịt cao đã
ảnh hưởng đến thị trường bò Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng Định
hướng phát triển chăn nuôi bò thịt tỉnh Bình Định giai đoạn 2014-2020 là tận dụng tối đa
các tiềm năng, phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, huy động tối đa các nguồn lực, đưa
chăn nuôi bò thịt thành vật nuôi sản xuất hàng hóa trong ngành chăn nuôi của tỉnh nhà,
từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng cho tiêu dùng trong
nước và hướng đến xuất khẩu
Muốn làm được điều đó, cần phải tổ chức chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và cải thiện điều
Trang 17kiện an sinh xã hội, hình thành các vùng chăn nuôi bò trang trại, gia trại với quy mô
hợp lý Khuyến khích phát triển chăn nuôi bò theo hướng trang trại công nghiệp với
quy mô sản xuất hàng hóa đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho hộ chăn nuôi bò chuyển
dần phương thức chăn nuôi tự túc sang chăn nuôi sản xuất hàng hóa Cùng với việc
xây dựng thương hiệu và bảo hộ nhãn hiệu bò thịt Bình Định góp phần quan trọng
nâng cao giá trị cạnh tranh bò Bình Định và tạo thế ổn định bền vững cho chăn nuôi
tỉnh nhà, có tác động trực tiếp đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong Nông nghiệp,
góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống
Trang 18Lượng mưa: Số ngày mưa trung bình là 100 - 125 ngày/năm, với lượng mưa trung bình năm 1.750mm/năm, lượng mưa trung bình cao nhất 2.400mm/năm, lượng
mưa trung bình thấp nhất 1.600mm/năm Các tháng có lượng mưa lớn nhất trong
năm là tháng 10 và tháng 11, lượng mưa trung bình 350 -500mm/tháng Các tháng có
lượng mưa ít nhất trong năm là tháng 3 và tháng 4, lượng mưa trung bình 15 – 35mm/tháng
Nắng: Từ tháng 2 đến tháng 8 là thời kỳ nhiều nắng, trung bình hàng tháng khoảng 200 – 300 giờ nắng/tháng, số ngày âm u không có nắng không quá 4 giờ Từ
tháng 9 đến tháng 1 năm sau là thời kỳ ít nắng, trung bình 100 – 180 giờ nắng/tháng,
mỗi tháng có khoảng 5 – 8 ngày trời âm u hoàn toàn không có nắng
Gió: Xã Tây Giang nằm trong khu vực gió mùa hoạt động Hàng năm phân biệt được 3 loại gió (theo hướng gió): Bắc – Đông Bắc, Nam – Đông Nam, Tây – Nam
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 7.429,0 ha, có những loại đất chính sau:
- Đất đỏ vàng trên đá Macma axit (Fa),
- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs),
- Đất xám bạc màu trên đá Macma axit (Ba),
- Đất thung lũng dốc tụ (D),
- Các loại đất khác (sông, suối )
Điều kiện kinh tế - xã hội
Năm 2013, dân số xã Tây Giang là 13.971 người; tổng số hộ là 3.178 Cơ cấu gồm 6 thôn (Thượng Giang 1, Thượng Giang 2, Tả Giang 1, Tả Giang 2, Nam Giang
và Hữu Giang)
Lao động: Số lao động trong độ tuổi 8.719/13.971 người (3.178 hộ) chiếm 62,41%
dân số hiện có, trong đó: lao động công nghiệp – TTCN là 17%, lao động trong ngành
nông nghiệp chiếm 73%, và lao động trong các ngành nghề khác chiếm 10%
Tỷ trọng nông nghiệp chiếm 40,06%, Công nghiệp- TTCN XD, dịch vụ chiếm 56,93%
Thu nhập bình quân đầu người năm 2013: 18,8 triệu đồng/năm
Về trồng trọt
+ Cây lúa: Tính đến năm 2013 tổng diện tích gieo trồng là 779 ha, năng suất 50
tạ/ha, sản lượng 3.895 tấn
+ Cây ngô: Diện tích trồng ngô biến động qua các năm, cao nhất năm 2013 với
diện tích 93 ha Năng suất bình quân đạt 44 tạ/ha, sản lượng 409,2 tấn
Trang 19+ Cây mì: Diện tích và năng suất tăng dần qua từ 2010 đến 2013 Trong năm 2013 là
398 ha, năng suất bình quân 22 tấn/ha, sản lượng 8.756 tấn Do giá trị sản phẩm cao nên
nhân dân đã tận dụng đất để trồng mì và hiện cây mì đang phát triển rất tốt
+ Cây mía: Diện tích mía năm 2013 là 405 ha, năng suất 50 tấn/ha, sản lượng
Hơn 70% số hộ có chăn nuôi gia súc, loại gia súc chủ yếu được nuôi nhiều là bò,
lợn …quy mô bình quân là 2 -3 con/hộ
Trong khi số lượng đàn bò của cả nước có xu hướng giảm trong giai đoạn từ 2007-2014 thì số lượng đàn bò của xã Tây Giang vẫn tăng lên từ 3.347 con năm 2010
lên 3.577 con vào năm 2014
Con giống: Đàn bò chủ yếu là bò lai Sind và lai Brahman Đàn gà chủ yếu là
giống gà Ri và gà Ri lai Đàn lợn chủ yếu là lợn lai F1
Tình hình sử dụng thức ăn ở địa phương: Nguồn thức ăn cho gia súc, gia cầm ở
địa phương chủ yếu là các sản phẩm và phụ phẩm từ ngành trồng trọt
Thức ăn chăn nuôi bò ở xã chủ yếu là đồng cỏ tự nhiên và các loại phụ phẩm nông nghiệp như thân cây ngô, thân lá lạc, rơm rạ, thân lá mía v.v Tuy nhiên, các
loại phụ phẩm này chủ yếu là sử dụng trực tiếp chưa qua chế biến nên giá trị dinh
dưỡng thấp và phụ thuộc vào mùa vụ
Thức ăn nuôi lợn và gia cầm chủ yếu là sản phẩm từ ngành trồng trọt như cám
gạo, lúa, ngô, sắn, v.v
Lâm nghiệp:
Kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2010, tổng diện tích quy hoạch mục đích lâm nghiệp xã Tây Giang là 3.277,90 ha; trong đó: đất rừng phòng hộ
1.004,30 ha, chiếm 30,64% diện tích đất lâm nghiệp; đất rừng sản xuất 2.273,60 ha,
chiếm 69,36%; không có diện tích đất rừng đặc dụng
Thủy sản:
Theo thống kê sử dụng đất thì trên địa bàn xã có 2,89 ha diện tích đất nuôi trồng
thủy sản Chủ yếu là diện tích mặt nước ao hồ thủy lợi phục vụ nông nghiệp ở địa bàn
Trang 20Như vậy, tình hình cơ bản cho thấy Tây Giang là một xã thuần nông, nằm trong vùng khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, trình độ sản xuất còn hạn chế nên quá
trình phát triển kinh tế, đời sống, văn hóa gặp nhiều khó khăn
1.2 Tình hình chăn nuôi bò ở nước ta
1.2.1 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta nói chung và ngành chăn nuôi bò thịt nói riêng có nhiều biến động do thời tiết bất thuận, tình hình thị trường,
giá cả thức ăn chăn nuôi bất ổn, dịch bệnh thường xuyên xảy ra trên diện rộng, v.v
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò thịt vẫn tiếp tục có những chuyển biến tích cực và phát
triển mạnh ở nhiều địa phương và thu được những kết quả nhất định (bảng 1.3) Bảng
1.3 cho thấy từ 2007 đến năm 2014 đàn bò của nước ta có tốc độ tăng trưởng âm về số
lượng (giảm từ 6,72 xuống còn 5,23 triệu con; tốc độ giảm đàn bình quân 3,84%/năm)
Bảng 1.3 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò ở Việt Nam qua các năm
Năm Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Số lượng (triệu con) 6,72 6,34 6,10 5,81 5,44 5,19 5,17 5,23
Nguồn: Niên giám thống kê (2014) [15]
Nguyên nhân chủ yếu có lẽ là do: 1) Tăng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nên số lượng đàn bò phục vụ cho mục đích cày kéo giảm (số bò cày kéo năm 2010
giảm 15,6% so với năm 2009); 2) Trong những năm gần đây, do diện tích chăn thả bị
thu hẹp, chăn nuôi hiệu quả thấp nên chưa khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô
đàn; 3) Thời gian tái đàn chậm và do tập tục ăn thịt bê thui của người Việt Nam nên
một số lượng lớn bê đã bị đưa vào các nhà hàng ở độ tuổi còn non Tuy nhiên do khâu
giống, kỹ thuật nuôi dưỡng, phương thức chăn nuôi và tổ chức sản xuất ngày càng
được cải thiện nên sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng hàng năm vẫn liên tục tăng lên
(năm 2014 đạt 292,9 ngàn tấn; tăng 4,27% so với năm 2007)
Trang 211.2.2 Sự phân bố đàn bò
Phân bố của đàn bò nước ta theo các vùng sinh thái được trình bày ở bảng 1.4
Bảng 1.4 cho thấy, sự phân bố tự nhiên đàn bò là không đồng đều giữa các vùng sinh
thái khác nhau Năm 2014, tổng đàn bò của cả nước là 5,23 triệu con, phân bố hầu
khắp các vùng sinh thái trong cả nước Tuy nhiên, tập trung nhiều nhất là ở các tỉnh
miền Trung (chiếm 40,6% tổng đàn), đây là khu vực có nhiều điều kiện tự nhiên thích
hợp để chăn nuôi bò thịt, là vùng có tiềm năng rất lớn để phát triển chăn nuôi bò thịt
chất lượng cao với quy mô lớn sản xuất bò thịt ở Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên Đối với các hộ chăn nuôi nhỏ ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, sản xuất bò
thịt từ lâu là một phần quan trọng trong hệ thống nông nghiệp Sản xuất bò thịt tạo ra
một cơ hội cho sự đa dạng nguồn thu nhập, cung cấp nguồn phân bón để bán và sử
dụng cho trồng trọt
Bảng 1.4 Sự phân bố đàn bò theo vùng sinh thái năm 2014
Vùng sinh thái Số lượng (nghìn con) Tỷ lệ (%)
Hệ thống sản xuất phổ biến là chăn thả kết hợp với bổ sung thức ăn và nuôi nhốt hoàn
toàn Khoảng 59,4% được phân bố trên 5 vùng còn lại, trong đó khu vực Trung du và
miền núi phía Bắc có 896,6 nghìn con, chiếm 17,4% tổng đàn bò cả nước; Tây Nguyên
là vùng đất rộng lớn, có nhiều đất đai và đồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi bò, có 12,8%
đàn bò tập trung ở đây; ở đồng bằng sông Cửu Long là 12,4%; Đồng bằng sông Hồng
9,6% và Đông Nam Bộ là 7%
Trang 221.2.3 Quy mô chăn nuôi bò
Phần lớn bò thịt (trên 90%) vẫn là chăn nuôi nhỏ, phân tán trong các nông hộ và vẫn dựa vào chăn thả tự nhiên (Đỗ Kim Tuyên, 2009) [18] Chăn nuôi bò quy mô
nông hộ 1 - 2 con ở đồng bằng là phổ biến, nhằm sử dụng sức kéo trong sản xuất nông
nghiệp, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp và công lao động phụ, chỉ một số ít hộ có
quy mô từ 10 - 20 con Chăn nuôi bò với quy mô vừa chủ yếu ở miền núi và trung du
thuộc các tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 2008)
Chăn nuôi trang trại cũng đã được hình thành và đang ngày càng phát triển, năm 2010 cả nước có 2.774 trang trại bò sinh sản, chiếm 43,3% và 1.620 trang trại chăn
nuôi bò thịt, chiếm 25,3% trong tổng số trang trại chăn nuôi bò (Bộ NN và PTNT, 2010)
Các trang trại chăn nuôi bò thịt tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ: 811 trang trại, chiếm
50,1%; Tây Nguyên: 351 trang trại, chiếm 21,7%; Tây Bắc: 153 trang trại, chiếm 9,4%;
Duyên hải Nam Trung Bộ: 108 trang trại, chiếm 6,7%; Bắc Trung Bộ: 105 trang trại,
chiếm 6,5%; còn lại là các vùng khác Một số tỉnh có trang trại bò thịt nhiều nhất là Bình
Thuận: 528, Gia Lai: 155, Đắk Lắk: 134 (Bộ NN và PTNT, 2010)
Các trang trại chăn nuôi bò sinh sản phân bố khá đều ở các vùng, Bắc Trung Bộ: 684, chiếm 24,7%; Đồng bằng sông Cửu Long: 591, chiếm 21,7%; Tây Nguyên:
557, chiếm 20,1%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 446, chiếm 16,1%; Đồng bằng sông
Hồng: 214, chiếm 7,7%; Đông Nam Bộ: 174, chiếm 6,3%; Đông Bắc: 108, chiếm 3,9%
(Bộ NN và PTNT, 2010)
Quy mô chăn nuôi ở các trang trại bò thịt phổ biến là 50 - 100 con/trang trại với
số lượng là 1.269 trang trại, chiếm 78,3%; từ 100 - 150 con/trang trại là 230, chiếm
14,2%; từ 150 - 200 con/trang trại là 93, chiếm 5,7%; từ 200 - 500 con/trang trại là 23,
chiếm 1,4% và trên 500 con/trang trại là 5, chiếm 0,3% Nơi có quy mô chăn nuôi bò
thịt lớn nhất là Tây Nguyên, có 11 trang trại với số lượng 200 - 500 con/trang trại và 1
trang trại trên 500 con; Đông Nam Bộ có 5 trang trại với số lượng 200 - 500 con/trang
trại và 3 trang trại với số lượng trên 500 con/trang trại (Bộ NN và PTNT, 2010) Quy
mô chăn nuôi bò sinh sản: phổ biến là từ 10 - 20 con/trang trại với 2.459 trang trại,
chiếm 88,6%; từ 20 - 50 con/trang trại là 283, chiếm 10,2%; từ 50 - 100 con/trang trại
là 28, chiếm 1,0%; trên 100 con/trang trại có 4, chiếm 0,2% (Bộ NN và PTNT, 2010)
Các tiến bộ về giống, thức ăn, chuồng trại, quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng được áp dụng trong chăn nuôi trang trại bò thịt Vì vậy, năng suất, chất lượng
giống và hiệu quả chăn nuôi được cải thiện Tuy vậy, việc tổ chức ngành hàng và quản
lý công tác giống bò thịt của nước ta vẫn chưa có hệ thống, chưa đi vào quy cũ
Trang 231.2.4 Chất lượng đàn bò
Tính đến năm 2008 đàn bò các giống địa phương chiếm khoảng 70% tổng đàn
Đàn bò nội có năng suất thịt thấp do tăng trưởng chậm, khối lượng trưởng thành thấp,
trung bình bò đực là 180 - 200 kg và bò cái từ 150 - 160 kg, tỷ lệ thịt xẻ thấp, khoảng
43 - 44 % (Đỗ Kim Tuyên, 2009) Theo công bố của Đinh Văn Cải (2007a), tăng trọng
bình quân từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi của bò nội chỉ đạt 190 - 220 gam/ngày, tỷ lệ thịt
tinh rất thấp từ 32 - 33% Khối lượng sống thấp và tỷ lệ thịt tinh thấp nên sản lượng
thịt tinh chỉ đạt từ 50 - 60 kg/con (Đinh Văn Cải, 2007a) [7]
Đàn bò lai cả nước chiếm trên 30%, chủ yếu là lai Zêbu (lai Sind, lai Sahiwal và Brahman), bò lai có tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh, khối lượng trưởng thành
từ 230 - 270 kg, tỷ lệ thịt xẻ từ 49 - 50%, đã thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của
Việt Nam và làm phong phú nguồn gen của bò thịt trong nước (Đỗ Kim Tuyên,
2009)[18]
Có một số cơ sở giống bò thịt của các địa phương được củng cố và xây dựng mới
để đáp ứng nhu cầu về con giống và chăn nuôi bò thịt chất lượng cao như Sơn La,
Tuyên Quang, Bình Định, Bình Phước, Bình Dương, Lâm Đồng, Gia Lai, thành phố
Hồ Chí Minh, v.v Một số cơ sở chăn nuôi giống bò thịt Brahman như: thành phố Hồ
Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Định là những mô hình tốt về phát triển chăn nuôi giống
bò thịt cho các địa phương
1.2.5 Những khó khăn, thách thức và cơ hội phát triển trong chăn nuôi bò thịt ở
Việt Nam
Khó khăn
- Hệ thống tổ chức ngành chăn nuôi: thiếu cán bộ chăn nuôi trong quản lý giống
và chỉ đạo sản xuất chăn nuôi, đặc biệt ở cấp huyện Thiếu cán bộ chăn nuôi là một
trong những hạn chế lớn trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng
- Thiếu bò giống và dịch vụ kỹ thuật: Thiếu bò giống, giá bò biến động thất thường làm mất tính ổn định trong chăn nuôi bò thịt Khi có nhu cầu về giống bò thịt
thì không có cơ sở bán và cung cấp bò giống
- Thiếu cán bộ kỹ thuật về giống có kinh nghiệm để triển khai công tác giống
Hiện nay, chưa có hệ thống cấp chứng chỉ giống và quản lý giống bò Vì vậy, không
đủ thông tin và cơ sở khoa học trong chương trình đánh giá và chọn lọc đực giống,
nhất là kiểm tra đực giống qua đời sau Hệ thống dịch vụ thụ tinh nhân tạo gắn liền với
hệ thống ghi chép số liệu ban đầu chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giống Mặc
dù, trong những năm gần đây các thiết bị vật tư kỹ thuật dùng để phối giống bò thịt đã
được các chính sách trợ giúp tốt Để khắc phục được các tồn tại nêu trên, công tác đào
Trang 24tạo dẫn tinh viên, cán bộ quản lý giống và việc ghi chép tại hộ nông dân cần được
chuyên môn hóa
- Thiếu thức ăn thô xanh về mùa khô: Mặc dù là nước nhiệt đới nhưng mùa đông
và mùa khô vẫn xảy ra tình trạng thiếu thức ăn thô xanh cho bò Mặt khác, một số nơi
chưa coi trọng việc trồng cỏ và sử dụng hợp lý các phụ phẩm nông nghiệp Vì vậy,
việc trồng cây chịu hạn cho vùng khô, cây ôn đới cho vùng lạnh, thức ăn củ, dự trữ
thức ăn khô, ủ chua cho mùa khô, mùa đông phù hợp với vùng sinh thái phải được
quan tâm đầu tư
Các thách thức
Khi hội nhập quốc tế về thương mại WTO, nước ta bên cạnh cơ hội về hợp tác quốc tế và đầu tư thì cũng có các thách thức như phải cạnh tranh quốc tế một cách
khốc liệt về chất lượng, giá cả, an toàn vệ sinh thực phẩm và thị trường với thịt bò, thịt
gia súc và các loại nông sản từ các nước trong khu vực và thế giới
Mặt khác, do tự do thương mại nên cũng chịu ảnh hưởng của các nguy cơ về dịch bệnh khi hội nhập WTO như: lở mồm long móng, lưỡi xanh, bò điên, v.v đối với
chăn nuôi bò
Cơ hội phát triển bò thịt
Chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam đang đứng trước những cơ hội tốt để phát triển trong thời gian tới với những thuận lợi cơ bản sau đây:
- Nhà nước đã có một số chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò thịt như Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 về chiến lược phát triển chăn nuôi
đến 2020 (Cục Chăn nuôi, 2007); Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ : Về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 – 2020
- Nhu cầu tiêu thụ thịt bò trong nước tăng: Nhu cầu tiêu dùng thịt bò của nước
ta đang và sẽ tăng nhanh do thu nhập tăng cao và mức sống được cải thiện với lối sống
công nghiệp của các thành phố lớn, đô thị, và khu công nghiệp
Thực tế cho thấy, sản xuất thịt bò trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường nội địa đặc biệt là thịt bò chất lượng cao Năm 2013 nước ta phải nhập khẩu
56.000 tấn thịt bò, tương đương 16% tổng lượng thịt bò tiêu thụ trong nước [12]
- Chăn nuôi bò thịt góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp Trồng
cỏ thâm canh 1ha có năng suất 250 tấn nuôi được khoảng 14 con bò tạo việc làm thêm
cho 2 lao động, thu được khoảng 50 triệu tiền cỏ (nếu trồng lúa chỉ thu được khoảng 27
triệu) Do vậy, phát triển chăn nuôi bò thịt đang thực sự góp phần chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho
Trang 25nông dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa Mặt khác, chăn nuôi bò thịt có thể phát triển
rộng trên phạm vi toàn quốc và góp phần xóa đói giảm nghèo [9]
- Sản lượng phụ phẩm nông công nghiệp của nước ta lớn: Nước ta có 7,3 triệu
ha gieo trồng, sản lượng lương thực hàng năm gần 36 triệu tấn, riêng rơm rạ khoảng
30 triệu tấn, các phụ phẩm nông nghiệp khác như ngô 4,6 triệu tấn; mía 2,8 triệu tấn;
khoai lang 1,45 triệu tấn; lạc 2,4 triệu tấn; v.v Các phụ phẩm nông nghiệp này nếu
chế biến, bảo quản tốt có thể đủ nuôi trên 10 triệu bò thịt [9]
Mặt khác, công nhiệp chế biến nông sản như mía đường, bia, rượu, sắn, chế biến rau, dứa, củ, quả, v.v… cung cấp nguồn phụ phẩm lớn (khoảng 10 triệu tấn) cho
chăn nuôi bò thịt nói riêng và gia súc nhai lại nói chung [9]
- Chăn nuôi bò thịt phù hợp với tất cả các vùng sinh thái trong cả nước Bò thịt
là một trong những vật nuôi dễ nuôi, tất cả các gia đình nông dân đều nuôi được bò
thịt, sử dụng hợp lý nguồn lao động dư thừa và nhàn rỗi trong nông thôn Mặt khác,
phát triển chăn nuôi bò thịt không cạnh tranh nguồn lương thực với con người và các
nguồn thức ăn cho chăn nuôi lợn và gia cầm
Về kỹ thuật và quản lý thì chăn nuôi bò thịt nông hộ chỉ yêu cầu chuồng trại đơn giản, dễ quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng, có thể tận dụng các phụ phẩm nông
nghiệp sẵn có, với nông dân nuôi bò thịt như tiền bỏ ống
Chăn nuôi bò thịt thực sự đã mang lại hiệu quả kinh tế ở một số vùng không có lợi thế cho cây trồng, vật nuôi khác nhưng lại có hiệu quả đối với chăn nuôi bò thịt
như Ninh Thuận và Bình Thuận Việc chăn nuôi bò địa phương ở đây là phù hợp với
đặc điểm khí hậu và sinh thái khắc nghiệt nắng, hạn không phù hợp với các cây trồng
1.2.6 Định hướng phát triển chăn nuôi bò thịt trong thời gian tới
Trong thời gian tới cần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trâu bò để cung cấp các sản phẩm chăn nuôi (thịt, sữa) cho xã hội, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần vào
việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở khai thác
và sử dụng có hiệu quả các điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của địa phương
Áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ sinh học vào chăn nuôi, công tác giống và sinh sản bò thịt để tăng nhanh tiến bộ di truyền, năng suất và chất lượng sản
phẩm Tiếp tục cải tiến, nâng cao tầm vóc đàn bò Vàng Việt Nam theo hướng Zêbu
hóa, lai tạo giống bò thịt chất lượng cao khác
Các địa phương quy hoạch phát triển chăn nuôi bò thịt phải gắn với các vùng sinh thái, đồng cỏ, vùng có phụ phẩm nông, công nghiệp
Trang 26Phát triển phương thức chăn nuôi theo hướng sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp và qua chế biến Chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp để trồng cỏ thâm canh
và các loại cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi bằng các giống năng suất cao, giàu đạm
Hình thành một số vùng chăn nuôi trang trại tập trung quy mô vừa và nhỏ tại các vùng thích hợp phát triển đồng cỏ như Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Bắc
Trung Bộ và Miền núi phía Bắc; vùng có phụ phẩm nông, công nghiệp chế biến mía
đường, dứa, rau quả và các loại nông sản khác như Đông Nam Bộ, đồng bằng sông
Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
Mục tiêu đến năm 2020, ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất theo phương thức trang trại, công nghiệp đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo
chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm
2020 đạt trên 42% Định hướng phát triển đến năm 2020, đàn bò thịt tăng bình quân
4,8%, đạt khoảng 12,5 triệu con, trong đó bò lai đạt trên 50%
1.3 Vai trò của chăn nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi của nông hộ
Chăn nuôi bò sinh sản chính là khâu đầu trong hệ thống chăn nuôi bò Phát triển chăn nuôi bò bao gồm sự gia tăng về số lượng, năng suất và chất lượng đàn bò, đồng
thời là sự biến đổi cơ cấu đàn bò, cơ cấu giá trị sản phẩm theo hướng hiệu quả và phát
triển bền vững Vì vậy, phát triển chăn nuôi bò phải thực hiện đồng thời nhiều nội
dung khác nhau, nhưng trong đó chủ thể chủ yếu là chăn nuôi bò cái và bê
Tăng quy mô tổng đàn bò trong vùng (thể hiện tốc độ tăng trưởng trong chăn nuôi bò) bằng cách nhân giống, mua thêm con giống và mở rộng diện tích chăn thả, áp
dụng các hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp với điều kiện của hộ, của vùng Trong
những biện pháp đó chăn nuôi bò sinh sản là giải pháp bền vững nhất
Tăng năng suất, chất lượng bò bằng cách cải tạo đàn bò vàng trên cơ sở áp dụng giống mới có tầm vóc to, trọng lượng lớn và tỷ lệ thịt xẻ cao, khả năng chống chịu
bệnh tật tốt, thích nghi với điều kiện chăn thả từng vùng hay khu vực Chăn nuôi bò
cái nền và bê có chất lượng, đảm bảo cơ cấu đàn bò phù hợp với tái sản xuất đàn
Trong chăn nuôi bò thịt, sự phát triển về số lượng và chất lượng có quan hệ hữu
cơ với nhau, sự phát triển về chất lượng là nhân tố làm tăng nhanh sự phát triển về số
lượng và ngược lại Với những giống bò thịt có năng suất cao, khả năng chống chịu
tốt, thích ứng được các điều kiện chăn thả, cùng việc tổ chức chăn nuôi phù hợp là cơ
sở cho phát triển nhanh quy mô đàn bò thịt, tăng lượng sản phẩm thu được Việc phát
triển nhanh quy mô đàn bò thịt, tăng lượng sản phẩm thu được là điều kiện hiệu quả
cao trong chăn nuôi
Trang 27Năm 2001 tổng đàn bò đạt 3,9 triệu con, đến năm 2014 tăng 5,23 triệu con, đạt tốc độ tăng bình quân 2,36%/năm; sự tăng đàn này trong đó đóng góp không nhỏ của
đàn cái nền
Tổng sản lượng thịt bò hơi từ 97,7 ngàn tấn năm 2001; tăng lên 292,9 ngàn tấn năm 2014, tăng trưởng bình quân 9,34%/năm Đây là kết quả quá trình thực hiện các
chương trình dự án cải tạo đàn bò theo hướng Zebu trong những năm qua trên nền bò
cái vàng, góp phần tăng năng suất, chất lượng bò thịt bằng cách áp dụng giống mới có
tầm vóc to, trọng lượng lớn và tỷ lệ thịt xẻ cao, khả năng chống chịu bệnh tật tốt, thích
nghi với điều kiện chăn thả từng vùng hay khu vực
Một điều dễ dàng nhận thấy rằng, trong cơ cấu đàn bò nuôi ở các nông hộ, tỷ lệ
bò cái sinh sản luôn chiếm tỷ lệ khá cao, dao động từ 20-50% trong tổng đàn bò
(Parsons và cộng sự, 2013; Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2015) [32;12] Điều đó nói lên
rằng, nuôi bò sinh sản luôn có một vai trò quan trọng trong hệ thống chăn nuôi của các
nông hộ Có hộ còn cho rằng nuôi bò sinh sản là “1 vốn bốn lời” Chăn nuôi bò sinh
sản đã giúp cho các hộ thoát nghèo nhanh chóng Ví dụ ở xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ,
tỉnh Quảng Ngãi Nhiều hộ đã thoát nghèo nhờ chăn nuôi bò sinh sản Ông Võ
Thanh – Chủ tịch hội nông dân xã Phổ Hòa cho biết: Toàn xã hiện có tổng đàn
bò 1.900 con, trong đó bò lai sinh sản chiếm khoảng 70% tổng đàn, với hơn 75% hộ
dân trong xã có chăn nuôi bò, trong đó có rất nhiều hộ nuôi bò cái sinh sản Nhờ giá
bán bò luôn ổn định ở mức cao nên hầu hết người chăn nuôi bò đều có lãi, bình
quân thu nhập 30-40 triệu đồng/hộ/năm, có hộ thu nhập trên 100 triệu đồng/năm và đã
có nhiều hộ thoát nghèo cũng nhờ nuôi bò cái sinh sản Ông Thanh cho biết thêm:
Chăn nuôi bò sinh sản là một hướng đi đúng và có thật sự hiệu quả Năm 2014 xã Phổ
Hòa đã thành lập Tổ hợp tác chăn nuôi bò với 30 nông dân nuôi bò tham gia, đây là
mô hình liên kết nhằm giúp nông dân nuôi bò trao đổi chia sẻ kinh nghiệm trong chăn
nuôi và mua bán bò hiệu quả hơn Trong thời gian tới, xã Phổ Hòa sẽ tiếp tục vận động
nhân dân mở rộng quy mô chăn nuôi, đồng thời phối hợp với các ngành chức năng tổ
chức các lớp tập huấn, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật để người dân áp
dụng vào chăn nuôi có hiệu quả (Phạm Lệ Quyên, 2015) [16]
1.4 Đặc điểm sinh sản của bò cái
1.4.1 Các chỉ tiêu chính đánh giá sinh sản ở bò cái
1.4.1.1 Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu của bò tơ ảnh hưởng bởi các yếu tố giống, nuôi dưỡng và quản
lí Giống bò Brahman có tuổi thành thục sinh dục muộn hơn bò Vàng Nuôi dưỡng tốt
bê đạt khối lượng lớn hơn và tuổi thành thục sinh dục cũng sớm hơn so với bê được
nuôi dưỡng kém Quản lí tốt sẽ không bỏ lỡ những chu kì động dục lần đầu, bò tơ
Trang 28trên, dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất Bò tơ được nuôi dưỡng và quản lí tốt có thể
phối giống lúc 16 - 17 tháng tuổi Kết quả bò sẽ đẻ lứa đầu sớm nhất lúc 25 - 27 tháng
tuổi Ở vùng nóng, nuôi dưỡng kém bò tơ phối giống lần đầu thường muộn hơn
Tuổi phối giống lần đầu cho bò cái phụ thuộc vào khối lượng cơ thể hơn là tháng tuổi Bò tơ được phối giống lần đầu khi đạt 65 - 70% khối lượng trưởng thành
Thí dụ bò lai Sind khối lượng trưởng thành 250kg thì phối giống lần đầu cho bò cái tơ
lai Sind khi đạt khối lượng 180kg
Với mục đích nghiên cứu, người ta còn sử dụng chỉ tiêu tuổi và khối lượng bò
tơ lên giống lần đầu Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất số liệu thường kém chính xác,
vì chỉ tiêu này phụ thuộc nhiều vào khả năng phát hiện và ghi nhận của chúng ta về
thời điểm lên giống lần đầu của gia súc
1.4.1.2 Khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là khoảng thời gian giữa hai lần đẻ thành công Có thể chia thời gian này ra làm hai giai đoạn Thứ nhất là giai đoạn từ lúc sinh bê đến lúc đậu thai
lại, đây là giai đoạn không mang thai, còn gọi giai đoạn “mở” hay giai đoạn chờ phối
đậu Thứ hai là giai đoạn mang thai, giai đoạn mang thai là khoảng thời gian cố định,
dao động từ 278 đến 285 ngày hoặc hơn tùy thuộc vào giống Khi khoảng cách lứa đẻ
kéo dài là do có vấn đề ở giai đoạn thứ nhất (giai đoạn mở)
Một bò cái sinh sản tốt thì khoảng cách lứa đẻ nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng
Khoảng cách lứa đẻ trung bình của đàn được tính toán dễ dàng thông qua khoảng cách
lứa đẻ của mỗi cá thể trong đàn Một đàn sinh sản tốt có trung bình khoảng cách lứa đẻ
nhỏ hơn 13 tháng
Một đàn sinh sản tốt là rất quan trọng để đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu Hiệu quả kinh tế của đàn sinh sản tốt là có nhiều bê được sinh ra hơn Có nhiều cơ hội chọn
lọc để giữ lại những con tốt thay thế cho những con chất lượng kém trong đàn Đạt
được khả năng sinh sản cao và duy trì chỉ tiêu này không phải là điều dễ dàng ở các
trại Nhiều vấn đề sinh sản tồn tại gây ra tỷ lệ đậu thai thấp và đây là lí do chính kéo
dài khoảng cách lứa đẻ Quản lí tốt để phát hiện kịp thời những bò cái chậm lên giống,
phát hiện đầy đủ và kịp thời những bò cái động dục và phối giống đúng thời điểm cho
bò cái là những khâu công việc rất quan trọng để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ
1.4.1.3 Phối giống lần đầu sau khi đẻ
Thông thường, bò cái khỏe mạnh sẽ động dục lại sau khi đẻ 40 ngày, ngay cả khi chúng đang cho con bú Tuy nhiên, động dục lần đầu có thể xảy ra sớm hơn (khoảng 24
ngày sau đẻ), nhưng động dục lần đầu thường khó phát hiện vì dấu hiệu động dục yếu
Sau khi đẻ 40 ngày, thì chu kì động dục 21 ngày xuất hiện một cách rõ ràng
Trang 29Để đạt được khoảng cách lứa đẻ 365 ngày thì cần chủ động phát hiện bò cái lên giống và phối giống lại cho bò sau khi đẻ Thông thường, bò khỏe mạnh có thể phối
giống lại sau khi đẻ 40 ngày Tuy nhiên nếu phối giống sớm thì tỷ lệ đậu thai thấp
Phối giống cho bò sau khi đẻ 50 ngày thì tỷ lệ đậu thai cao hơn Theo kinh nghiệm
thực tế, bò ở trạng thái bình thường có nuôi con thì phối giống sau khi đẻ 50-60 ngày
Phối giống trực tiếp cũng áp dụng tương tự.`
1.4.1.4 Khoảng cách giữa hai lần động dục
Khoảng cách giữa hai lần động dục bình thường là 21 ngày (dao động 18 – 24 ngày) Khi bò không đậu thai sau khi phối giống thì 21 ngày sau nó động dục lại Khi
khoảng cách giữa hai lần động dục là 6 hoặc 9 tuần, có nghĩa là đã bỏ lỡ 1 hoặc 2 chu
kì động dục Những trường hợp này thường được cho rằng, bò không động dục, nhưng
thực tế không đúng như vậy
Ở hầu hết những lần động dục mà người quản lí bỏ lỡ là do dấu hiệu động dục ngắn và yếu Trường hợp khoảng cách động dục dài và không theo qui luật (30, 50, 90
của bò đực thả chung đàn Ở những đàn phối giống cho bò cái bằng phương pháp gieo
tinh nhân tạo hay dắt bò cái đến cho bò đực nhảy (phối giống tự nhiên có kiểm soát)
thì phát hiện động dục và thời điểm phối giống cho bò cái là công việc của người quản
lí và kỹ thuật viên Đây là khâu đầu tiên quyết định thành tích sinh sản của gia súc
Phát hiện bò động dục cần được tiến hành ít nhất ba lần trong một ngày, vào buổi sáng trước khi thả bò, vào buổi chiều khi bò về chuồng và vào buổi tối lúc
khoảng 10 giờ Các nước nhiệt đới như nước ta, khí hậu nóng, thời gian động dục của
bò ngắn hơn, dấu hiệu động dục thường không rõ ràng thì số lần phát hiện động dục
cần nhiều hơn và thời gian cho mỗi lần phát hiện động dục cũng dài hơn
Hầu hết người ta phát hiện thấy bò động dục trong khoảng thời gian mát hơn
trong ngày Buổi trưa là thời điểm nóng nhất trong ngày, dấu hiệu động dục yếu
Trong trường hợp phối giống có kiểm soát, nếu phát hiện động dục không tốt thì nhiều lần động dục bị bỏ lỡ vì vậy sẽ kéo dài khoảng cách lứa đẻ Khoảng cách
giữa các lần động dục, hoặc khoảng cách giữa hai lần phối giống 42 hoặc 63 ngày thì
cho biết rằng có 1 hoặc 2 chu kì động dục đã bỏ lỡ Để không bỏ lỡ cần biết những
biểu hiện của bò cái khi động dục
Trang 301.4.2.2 Phối giống cho bò không đúng thời điểm
Thời điểm phối giống hoặc gieo tinh thích hợp là từ nửa sau của chu kì động dục cho đến khoảng 8 giờ sau khi kết thúc giai đoạn bò cái chịu đực Cần phải kiểm tra
thường xuyên để biết khi nào bò bắt đầu động dục Bò động dục vào sáng sớm có thể
phối giống vào buổi chiều cùng ngày Bò được phối giống trong khoảng cuối của chu
kì động dục hoặc trong khoảng 6 - 8 giờ sau khi kết thúc động dục
Nếu phối giống ở thời điểm bắt đầu động dục hoặc quá muộn sau khi kết thúc động dục thì tỷ lệ đậu thai sẽ thấp Bò động dục vào buổi chiều hoặc buổi tối nên phối
giống vào sáng hôm sau Bò động dục vào buổi sáng thì phối vào buổi chiều Nếu phối
giống trực tiếp thì mang bò cái đến chỗ bò đực ngay sau khi quan sát thấy dấu hiệu
động dục
1.4.2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng bò cái không tốt sau phối giống
Gieo tinh cho bò cái nên thực hiện ở nơi yên tĩnh Bò cái phải được đối xử tốt, không được thô bạo (không đánh đập) Cố định bò chắc chắn (thí dụ trong chuồng ép)
Trong lúc chờ dẫn tinh viên hoặc là sau khi gieo tinh bò phải được ở trong chuồng
mát, tắm nước mát khi trời nóng, cung cấp đầy đủ thức ăn và nước uống
Sau phối giống, bò chăn thả ngoài trời nắng nóng làm thân nhiệt tăng, dẫn đến giảm tỷ lệ đậu thai và tăng tỷ lệ chết phôi ở những tuần đầu Nên giữ cho bò ở nơi yên
tĩnh và mát mẻ 3 ngày kể từ ngày phối giống
1.4.2.4 Dinh dưỡng kém
Dinh dưỡng kém nghĩa là cho con vật không được cung cấp đầy đủ thức ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng, protein, khoáng và các vitamin Việc xây dựng và cung
cấp cho bò một khẩu phần ăn cân bằng dinh dưỡng theo nhu cầu không chỉ giúp bò sản
xuất ra nhiều sữa nuôi con mà thành tích sinh sản cũng tốt hơn Tuy nhiên, không nên
cho ăn quá nhiều, vì khi bò quá mập làm giảm khả năng sinh sản Bổ sung muối ăn,
bột xương, bột sò dưới dạng khối đá liếm là rất cần thiết, đặc biệt ở bò đang nuôi con
Chất lượng tinh trùng thấp: Trong gieo tinh nhân tạo, khi tinh trùng không được
bảo quản hoặc xử lí không đúng cách sẽ có nhiều tinh trùng bị chết
Kỹ thuật gieo tinh sai: dẫn tinh viên cần được đào tạo tốt Tuy nhiên, không phải ai cũng trở thành dẫn tinh viên giỏi nhờ vào huấn luyện Tư thế và cách tiếp cận
Trang 31bò của dẫn tinh viên là điểm quan trọng Đối xử thô bạo với bò trước, trong và sau quá
trình gieo tinh cũng là nguyên nhân gây ra tỷ lệ sinh sản thấp
1.4.3 Vai trò của dinh dưỡng đối với bò cái sinh sản
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của bò Sự khác nhau trong dinh dưỡng đã gây biến động lớn đến năng
suất sinh sản trong cùng một đàn cũng như giữa các cá thể bò trong một đàn
(Mukasa-Mugerwa E,1989) [29]
Ảnh hưởng của việc thiếu dinh dưỡng (thiếu ăn) đối với sự thành thục sinh dục, giảm trọng lượng sau đẻ cũng như cho sữa ở bò là rất lớn Nuôi dưỡng kém khi nhu
cầu dinh dưỡng trong giai đoạn cho sữa cao sẽ kéo dài thời gian động dục sau đẻ Nuôi
dưỡng dưới mức còn làm giảm sản lượng sữa và giảm sự phát triển của bê, ảnh hưởng
nhiều đến khối lượng bê cai sữa, tuổi thành thục đến chậm và còn làm giảm khả năng
sống và sản xuất của bê cái
Ảnh hưởng của dinh dưỡng nghèo rất khác nhau nó phụ thuộc vào sự thiếu hụt chủ yếu về năng lượng, protein, vitamin các loại khoáng đa và vi lượng Với cách quản
lý truyền thống, sự thiếu hụt là khó tránh khỏi Sự ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sinh
sản của bò bao hàm rất rộng, vì hầu hết bò ở các nước nhiệt đới đều nghèo dinh dưỡng
và khi tăng cường dinh dưỡng cho chúng có thể tăng khả năng sinh sản nhanh chóng
(Cunha và cộng sự, 1967) [23] Tình trạng dinh dưỡng của gia súc là rất khó tính toán
và mối quan hệ qua lại giữa dinh dưỡng và sinh sản rất phức tạp Tình trạng dinh
dưỡng của gia súc thường xuyên được đánh giá qua sự thay đổi về khối lượng sống và
tình trạng cơ thể Tuy nhiên sự thay đổi thường diễn ra trong giai đoạn dài, có rất
nhiều nhân tố thuộc về sinh sản như sự rụng trứng, thụ tinh và hình thành nhau thai lại
chỉ xảy ra trong thời gian ngắn
1.4.3.1 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển tính dục của bò cái tơ
Dinh dưỡng nghèo kìm hãm tuổi phát dục, giảm tỷ lệ thụ thai và làm tăng sự chết thai ở bò cái tơ Wilbank và cộng sự (1996) (trích Mukasa-Mugerwa, 1989) cho
rằng khối lượng có tính chất quyết định, nó phải đạt được trước tuổi thành thục về
tính Sự hạn hán gây thiếu thức ăn làm chậm động dục ở bò tơ của 10 nhóm giống ở
Úc và ngừng hoạt động của buồng trứng trong một số bò sắp đến tuổi thành thục về
tính Barth (1971) (trích Mukasa-Mugerwa, 1989) thấy rằng, nuôi dưỡng bằng thức ăn
hỗn hợp ở bò Azoouak Zebu đã thúc đẩy sớm sự thành thục tính dục từ 4 đến 18 tháng
Penzhome (1975) nhận thấy tuổi thành thục tính dục sẽ bị chậm 7 tháng ở bò tơ
Africander khi nuôi với khẩu phần hạn chế
Tỷ lệ thụ thai sau khi đẻ ba tháng là 80%, 93%, 87% và 40% đối với bò tơ khi mức dinh dưỡng tương ứng: cao, trung bình, thấp và hạn chế Các số liệu đó chỉ ra
Trang 32rằng cho ăn quá mức có thể làm giảm khả năng sinh sản Bò tơ được nuôi với mức
dinh dưỡng quá cao đã có những vấn đề về phối giống hơn là nuôi ở mức trung bình
Các thí nghiệm bổ sung thức ăn cho bò ở Ethiopia thấy rằng, bổ sung cho bò Boran tơ với 1,5kg thức ăn tinh (1/3 hạt khô dầu, 2/3 cám mỳ) trong 90 ngày trong
suốt mùa khô trước tuổi thành thục, những bò cái tơ được bổ sung thức ăn đạt tuổi
thành thục sớm hơn (596,4 so với 633,5 ngày) khối lượng đạt cao hơn (230,7 so với
202,4 kg), đồng thời có buồng trứng phát triển hơn những bò cái tơ không được bổ
sung Khuynh hướng tương tự được quan sát ở bò cái lai (Boran x Holstein Friesian)
1.4.3.2 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với bò sau đẻ
Đặc tính sinh sản của bò sau khi đẻ liên quan đến tình trạng dinh dưỡng Những
bò cái được nuôi với khẩu phần năng lượng cao sự thụ thai sau khi sinh bê sẽ sớm hơn
những bò mức năng lượng thấp Protein nói chung đối với sinh sản được xem là quan
trọng hơn so với năng lượng Mức protein ăn vào thấp cũng có thể là nguyên nhân gây
vô sinh Tuy nhiên điều này rất khó để phân biệt ảnh hưởng của protein ăn vào thấp
xảy ra đồng thời với chỉ số hình thái năng lượng thấp, bởi vì sự thiếu hụt protein
thường dẫn đến giảm tính thèm ăn của con vật
Ở các nước nhiệt đới việc nuôi dưỡng bò thường phụ thuộc vào các đồng cỏ tự nhiên hoặc các sản phẩm phụ sau thu hoạch Hàm lượng protein thô trong thức ăn
thường thấp (7,5%) điều này làm giảm hiệu suất của dạ cỏ và làm giảm khả năng tiêu
hoá thật của thức ăn Kết quả là những bò đang cho sữa không có khả năng nhận đủ
nhu cầu về dinh dưỡng dẫn đến khối lượng và sức khoẻ sẽ bị giảm trong thời kỳ cho
sữa Do đó sẽ kéo dài thời kỳ không động dục trong giai đoạn cho sữa và các bò sữa có
khuynh hướng cách năm mới sinh 1 bê
Các mức nuôi dưỡng cao trước khi khi sinh bê sẽ rút ngắn thời gian chậm động dục sau đẻ ở bò Taurine [29], hơn nữa nhiều bò xuất hiện động dục trước mùa phối
giống và tỷ lệ thụ thai tăng King (1968) (trích Mukasa-Mugerwa, 1989)[29] xác định
khi thay đổi 1% mức ăn theo khối lượng cơ thể đưa đến thay đổi 1% về tỷ lệ thụ thai
khi phối giống lần đầu Kết quả này nhận thấy tương tự ở bò Zebu
Một nghiên cứu cho rằng nuôi dưỡng ở mức độ cao về dinh dưỡng sau 45 ngày ở
4 giống (mỗi giống 5 bò không động dục), kết quả 65% chu kỳ được hồi phục và 55%
có trứng rụng, trong khi 20 bò đối chứng nuôi dưỡng với mức khẩu phần thấp không có
chu kỳ và cũng không có trứng rụng [29] Ở Zambia khi nuôi bò Zebu với mức thấp hơn
khẩu phần duy trì, 55% số bò có chu kỳ động dục bị ngừng trệ trong năm, trong khi
cũng giống ấy với khẩu phần duy trì chu kỳ động dục vẫn tiếp tục bình thường [29]
Những bò nuôi với mức thấp hơn khẩu phần duy trì mắc tỷ lệ động dục thầm lặng cao
hơn bò nuôi khẩu phần duy trì 2/3 chu kỳ động dục có thể thầm lặng khi gia súc nuôi
Trang 33dưỡng dưới mức duy trì [29] Tỷ lệ trên thay đổi theo khối lượng cơ thể hai tuần đầu sau
khi sinh bê và có quan hệ trái ngược với số ngày rụng trứng đầu tiên
Sự sinh trưởng và phát triển của bào thai, sự đẻ và sản xuất sữa, sự co lại của tử cung đều cần năng lượng Năng lượng được sử dụng trong quá trình này phải được
cung cấp cho bò nếu nó được phối giống sớm sau khi đẻ con Do vậy khi bò nuôi
dưỡng ở trong điều kiện tốt, có thể đáp ứng đủ yêu cầu năng lượng khi đẻ con, tiết sữa,
sự co lại của tử cung và sẽ được phối giống sớm hơn những bò điều kiện nuôi dưỡng
kém Theo Olivares và cộng sự, 1981 [29]bò nên được nuôi dưỡng tốt từ 22-25 ngày
trước khi đẻ và nếu có thể được thì nên kéo dài đến 90 ngày sau khi sinh con Trong
một nghiên cứu của Kleinhesterkamp và cộng sự (1981) [26] ở Colombia, bò được
nuôi trên bãi cỏ được cải tạo có bổ sung cỏ họ đậu đã nâng tỷ lệ thụ thai đạt 64,4%,
trong khi nuôi ở bãi chăn chưa cải tạo tỷ lệ này là 6,3% Hale (1995) (trích
Mukasa-Mugerwa, 1989)[29] nhận thấy ở bò Zebu cạn sữa nuôi dưỡng dưới mức đã làm ngừng
chu kỳ sinh dục khi khối lượng cơ thể giảm từ 390kg xuống 320kg Tuy nhiên khi bò
tăng trọng trở lại, nó chưa thể bắt đầu khôi phục lại chu kỳ cho đến khi khối lượng của
chúng có dấu hiệu nặng hơn thời điểm làm ngừng động dục Mukasa-Mugerwa
(1989)[29] đánh giá rằng bò Zebu nuôi dưỡng theo phương pháp truyền thống ở các
cao nguyên Ethiopian cần 8 tháng sau khi dừng cho sữa để đạt được khối lượng và các
điều kiện cho phép chúng thụ thai tốt nhất Khoảng cách hai lứa đẻ trung bình là 26
tháng mặc dù chu kỳ cho sữa chỉ có 8 tháng Khả năng sinh sản của những bò khi chăn
thả có quan hệ mật thiết với sự thay đổi khối lượng sống trong thời gian có bê đến
khoảng cách phối giống bò có khả năng bắt đầu hoạt động sinh dục chỉ sau khi nó hồi
phục lại phần lớn khối lượng của nó như trước khi đẻ Patul và Deshpande (1981) [29]
nhận thấy bò Gir khi khối lượng trong ba tháng đầu sau đẻ tăng động dục sẽ xuất hiện
trong thời kỳ này, khi đó ở bò có khối lượng giảm không thấy xuất hiện động dục
Những bò khối lượng cơ thể giảm nhận thấy hàm lượng glucose trong máu và protein
trong huyết thanh thấp hơn so với bò có khối lượng cơ thể tăng Các tác giả gợi ý rằng
định lượng glucose trong máu và protein huyết thanh có thể được dùng như một chỉ
tiêu đánh giá sự động dục trở lại sớm sau đẻ ở bò Mechure (1968) [29] nhận thấy ở bò
cái với nồng độ glucose khoảng 30mg/100ml máu có khuynh hướng sớm trở lại phối
giống Vì vậy bò phải được nuôi đủ hoặc với mức dinh dưỡng cao, sẽ giúp chúng tăng
khối lượng cơ thể trong mùa phối giống và cho tỷ lệ thụ thai tốt hơn
Trong một nghiên cứu Ở Zimbabwe, Rochardson và cộng sự (1975) (trích Mukasa-Mugerwa, 1989)[29] nhận thấy bò có khả năng thụ thai trở lại sau đẻ khi các
bộ phận sinh dục thay đổi tương ứng với khối lượng cơ thể tại thời điểm phối giống,
nhưng không có sự liên quan giữa tỷ lệ thụ thai với sự thay đổi khối lượng từ khi đẻ
đến giữa mùa phối giống Ward (1968)[42] gợi ý rằng mọi bò đều có khối lượng cơ thể
tối thiểu để thụ thai, được gọi là khối lượng đích hay khối lượng giới hạn Những bò
Trang 34có khối lượng nhỏ hơn giới hạn thì khó có khả năng sinh sản Wiltbank và cộng sự
(1964) [42] bổ sung thêm rằng những bò cái khi phối giống phải được nâng cao thêm
những "điều kiện" về cơ thể trong thời kỳ phối giống
Thang điểm về "tình trạng cơ thể" được bắt đầu ở Australia để đánh giá độ béo của cừu, nó được đưa vào vương quốc Anh với mục đích tương tự và bắt đầu ứng dụng
ở bò Số điểm về tình trạng cơ thể là sự đánh giá chủ quan bằng mắt trên gia súc với
mức độ lặp lại cao cả về sự đo lường lẫn điểm số nên có thể chấp nhận được Thang
điểm về sức khoẻ được dựa trên cơ sở về số lượng mỡ và mô cơ bao bọc xương và còn
là chỉ số về tính trạng dinh dưỡng của gia súc
Mối quan hệ giữa thang điểm và độ béo của cơ thể đã và đang được thiết lập từ
số liệu của bò được giết mổ ở các mức điểm cơ thể khác nhau Cho nên các mức thang
điểm đã cho các chỉ số về độ béo, về nơi dự trữ mỡ ở các giống khác nhau Điều này
đặc biệt đúng ở bò với hơn 15% mỡ cơ thể Bò sữa nói chung dự trữ mỡ nội tại lớn
hơn so với bò thịt Thang điểm về tình trạng sức khoẻ có xu hướng đánh giá lượng mỡ
dự trữ dưới da, vì vậy giá trị thang điểm đối với bò sữa theo hướng có mỡ dự trữ nhiều
hơn bò thịt
Sự thay đổi khối lượng cơ thể hoặc điểm số về sức khoẻ của bò chỉ ra mức độ khả năng sinh sản sau này Khả năng sinh sản của bò thấp trong điều kiện dinh dưỡng
nghèo Những bò ở dưới điểm giới hạn về sức khoẻ có khả năng sinh sản kém nhất
Steenkamp và cộng sự (1975) [29] so sánh rằng tỷ lệ thụ thai ở bò có khối lượng tương
đương là khác nhau trong điểm số về tình trạng sức khoẻ và nhận thấy rằng tình trạng lúc
phối giống là quan trọng hơn so với khối lượng Điều này hoàn toàn đúng với phát hiện
của Van Niekerk (1982) [29], người đã quan sát tỷ lệ đẻ đạt 78% đối với bò phối trong
điểm số sức khoẻ tốt nhất còn với bò trong điểm số sức khoẻ kém nhất tỷ lệ này là 8%
Chi phí nuôi dưỡng để duy trì chúng trong điều kiện tốt được bù lại bằng sự tăng khả năng sinh sản nhiều hơn Những bò nếu được nuôi dưỡng tốt sẽ nâng khả
năng sinh sản tốt hơn Nó càng có hiệu quả khi nuôi dưỡng để chúng duy trì tốt sức
khoẻ so với để chúng giảm khối lượng với hy vọng có thể hồi phục trước mùa phối
giống Wirght (1985) [29] đánh giá rằng khi mất một điểm về sức khoẻ phải bổ sung
3200 MJ năng lượng trao đổi và để hồi phục lại phải mất 65000 MJ năng lượng trao
đổi trong khẩu phần Điều này hoàn toàn đúng với nhận định của Van Niekerk (1982)
[29] người đã kết luận rằng chi phí nuôi dưỡng để duy trì bò tại thang điểm 3 về sức
khoẻ chỉ cần một nửa yêu cầu để nuôi chúng từ thang điểm 1,5 đến thang điểm 3,0
Hiệu quả của việc nuôi dưỡng tốt gia súc trong thời kỳ thực hiện chức năng sinh sản được đánh giá một cách thường xuyên và dễ dàng qua các trang trại Tuy nhiên các
trang trại nhỏ thường chỉ cung cấp ít thức ăn bổ sung, nên cần phải tư vấn cho họ cách
nuôi gia súc, cho ăn bao nhiêu và khi nào là tốt nhất
Trang 35Như vậy, dinh dưỡng thiếu sẽ kìm hãm tuổi dậy thì và thành thục về tính của bê
tơ, kìm hãm sự hoạt động của buồng trứng và động dục lại sau khi đẻ ở bò Nếu bò cái
bị nuôi dưỡng dưới mức khi có thai sẽ khó khăn khi sinh con, dẫn đến chậm khôi phục
lại chu kỳ động dục và có thai sau đẻ Lý tưởng nhất là tình trạng cơ thể của bò phải
được tăng cường từ từ trong giai đoạn có chửa, nhưng không được quá béo Bò cái hẳn
là sẽ giảm khối lượng sau khi đẻ con, song khối lượng bị giảm phải ở mức tối thiểu
thông qua việc nuôi dưỡng để cho phép chúng bắt đầu chu kỳ động dục lại càng sớm
càng tốt Các nghiên cứu trên rất cần thiết để xác định cơ sở sinh lý học về mối ảnh
hưởng qua lại giữa dinh dưỡng và sinh sản ở bò Zebu
1.4.4 Một số nghiên cứu về kỹ thuật tác động dinh dưỡng để nâng cao năng suất bò
sinh sản và bê
1.4.4.1 Các nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất bò sinh sản
Năng suất sinh sản là yếu tố quan trọng nhất trong chăn nuôi bò thịt và tình trạng thiếu dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất giới hạn sức sản
xuất của động vật nhai lại ở các nước đang phát triển
Bò cái trong giai đoạn mang thai hay tiết sữa nuôi con đều có nhu cầu dinh dưỡng cao Tuy nhiên, trong chăn nuôi nông hộ ở nước ta hiện nay, nguồn thức ăn cho
gia súc nhai lại nói chung và con bò nói riêng chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên và các
phụ phẩm từ nông nghiệp Giá trị dinh dưỡng từ các nguồn này rất thấp và thường
không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cho con vật Theo kết quả điều tra của
Nguyễn Hữu Văn và cộng sự (2014) tại Quảng Trị [21], bò cái sinh sản hiện được nuôi
ở đây thường xuyên thiếu đến 27,3% năng lượng so với nhu cầu
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [16], trong chăn nuôi bò sinh sản, nuôi dưỡng thấp với bò cái tơ sẽ kìm hãm sinh trưởng nên chậm đưa vào sử dụng và giảm khả
năng sinh sản về sau Thiếu dinh dưỡng đối với bò trưởng thành sẽ kéo dài thời gian
hồi phục sau khi đẻ Hơn nữa, dinh dưỡng thiếu gia súc sẽ gầy yếu, dễ bị mắc bệnh
nên sẽ giảm khả năng sinh sản Randel (1990) và Stalker [35]và cộng sự (2006) [39]
đã báo cáo rằng, thời gian động dục lại sau khi đẻ và tỷ lệ mang thai ở bò thịt chịu ảnh
hưởng bởi mức dinh dưỡng trước và sau khi sinh Bò được nuôi dưỡng kém, thể trạng
kém sẽ giảm cân và giảm điểm thể trạng ở giai đoạn đầu sau khi đẻ, chúng sẽ gầy yếu
và giảm cơ hội mang thai trở lại khi mùa sinh sản bắt đầu Sự cân bằng năng lượng và
điều kiện dinh dưỡng trong giai đoạn này là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến
năng suất sinh sản sau khi đẻ Vì vậy, cần có chiến lược nuôi dưỡng phù hợp trong giai
đoạn này để giúp bò tăng cân, duy trì thể trạng và kết quả là rút ngắn thời gian động
dục lại sau đẻ
Brauner và cộng sự (2011) [22] nghiên cứu trên 32 bò cái Angus, đạt điểm thể
Trang 36gạo (65%), vỏ đậu tương (15%) và bột ngô (20%), với lượng 2 kg/ngày, bắt đầu từ
ngày thứ 22 sau khi đẻ và thời gian bổ sung là 35 ngày Họ đã rút ra kết luận rằng, bò
mẹ có điểm thể trạng đạt mức trung bình được bổ sung thức ăn tinh trong một thời
gian ngắn như trên có thể tăng trọng trong suốt nửa cuối của thời kỳ bổ sung thức ăn
hơn bò ở nhóm không được bổ sung Vì vậy, tăng mức năng lượng trong khẩu phần
sau khi đẻ (gần với mùa sinh sản tiếp theo) sẽ giúp cải thiện mức tăng trọng, bò hồi
phục chức năng bộ máy sinh sản nhanh hơn và kết quả là năng suất sinh sản tốt hơn
Stalker và cộng sự (2006) [39] cũng đã chỉ ra rằng, bò mẹ được bổ sung thức ăn giàu
protein trước khi đẻ đã cải thiện được điểm thể trạng trước khi đẻ và trước khi phối
giống lứa tiếp theo Theo Holcomb cộng sự (2001) và McNamara và cộng sự (2003)
[28] thời kỳ chuyển tiếp, thường là 3 tuần trước và sau khi đẻ, là thời kỳ khủng hoảng
dinh dưỡng nhất trong chu kỳ sinh sản của bò Trong thời kỳ này bò cần dinh dưỡng
cho duy trì, sự phát triển của bào thai, nhau thai và tử cung, sự sản xuất sữa đầu và sữa
thường và cho sinh trưởng nếu là bò tơ Trong suốt thời gian này, nhu cầu dinh dưỡng
của bò (chủ yếu là nhu cầu năng lượng) phụ thuộc trước hết vào lượng vật chất khô ăn
vào Nếu trong giai đoạn mang thai cuối lượng vật chất khô ăn vào giảm sẽ dẫn đến
làm thay đổi tình trạng nội tiết của bò Năng lượng ăn vào thấp gây giải phóng các axit
béo tự do từ nguồn mỡ dự trữ trong cơ thể vào máu, làm tăng cường tích tụ
triacylglycerol trong gan Gan bị nhiễm mỡ các tế bào gan sẽ giảm khả năng dự trữ
glucogen và do đó làm tình trạng thâm hụt năng lượng càng trầm trọng
Trong giai đoạn đầu cho con bú, lượng vật chất khô ăn vào cũng không đủ cho nhu cầu năng lượng nên bò thường rơi vào tình trạng cân bằng năng lượng âm Có thể
cải thiện tình trạng này bằng cách tăng tỷ lệ carbohydrates không cấu trúc trong khẩu
phần hoặc 1 tuần trước khi đẻ hoặc 1 tuần trước và sau khi đẻ Ngoài ra, nếu kéo dài
thời gian cho ăn khẩu phần có tỷ lệ thức ăn tinh cao đến 6 tuần trước khi đẻ sẽ làm
giảm các chất béo không bị ester hóa và axit β-hydroxybutyric và làm tăng nồng độ
glucose trong máu, kết quả là tăng sản lượng sữa Ngoài tác động lên quá trình trao đổi
chất, việc tăng lượng thức ăn tinh tiêu thụ trong một vài tuần trước khi đẻ còn giúp cho
khu hệ vi sinh vật dạ cỏ thích nghi với khẩu phần dễ lên men hơn mà bò sẽ được cho
ăn trong giai đoạn đầu sau khi đẻ cũng như thúc đẩy sự phát triển của các nhú gai dạ
cỏ Ngoài ra, Swanson và cộng sự (2008) còn cho biết rằng, bầu vú có sự tăng lên
đáng kể về kích thước từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 6 của thai kỳ, khẩu phần của bò mẹ
trước khi đẻ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và thành phần sữa sau khi đẻ và mức
năng lượng trong khẩu phần tăng lên sẽ giúp làm tăng cường các tế bào gốc của biểu
mô tuyến vú Tuy nhiên, nếu dinh dưỡng quá cao, nhất là quá nhiều gluxit sẽ làm cho
con vật quá béo, buồng trứng tích mỡ nên giảm hoạt động chức năng
Vì vậy, trong chiến lược dinh dưỡng cho bò cái sinh sản, việc bổ sung dinh dưỡng hợp lý cho bò trong giai đoạn mang thai cuối và giai đoạn đầu sau khi đẻ là việc
Trang 37làm cần thiết Một mặt, có tác dụng đảm bảo nguồn dinh dưỡng cho sự sinh trưởng
mạnh của thai; mặt khác, còn giúp cho các tế bào tiết ở tuyến sữa hình thành và phát
triển tốt hơn Kết quả là bê con sẽ có khối lượng sơ sinh cao; sản lượng sữa của bò mẹ
được cải thiện giúp tăng lượng sữa cho bê bú, tăng sự tăng trưởng của bê; đồng thời
đảm bảo được thể trạng cần thiết cho bò mẹ nên giảm hao mòn bò mẹ sau sinh, rút
ngắn thời gian động dục lại sau khi đẻ
1.4.4.2 Các nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất trong chăn nuôi bê bú sữa
Lúc sơ sinh dạ cỏ của bê không hoạt động, lúc này kích thước dạ cỏ chỉ bằng ½
dạ múi khế Khi bê bắt đầu tiêu thụ thức ăn rắn kích thước dạ cỏ bắt đầu tăng lên
nhanh chóng và chiếm tới 85 – 90% thể tích dạ dày lúc trưởng thành Việc tập cho bê
ăn thức ăn sớm trước khi cai sữa một mặt sẽ cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp cho
bê, và quan trọng hơn nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của dạ cỏ Một khi dạ cỏ phát triển
tốt thì sẽ giúp làm tăng lượng ăn vào do dạ cỏ có sức chứa lớn hơn; mặt khác, khi dung
tích dạ cỏ càng lớn thì sẽ chứa số lượng vi sinh vật cộng sinh càng lớn, cho nên năng
lực tiêu hóa thức ăn bởi vi sinh vật cũng tốt hơn và sẽ cung cấp nguồn sinh khối vi
sinh vật lớn hơn cho vật chủ, kết quả là tăng tốc độ sinh trưởng ở các giai đoạn sau
Theo nghiên cứu của Warner và cộng sự (1956) [41], các tác giả cho rằng quá trình lên men thức ăn tinh tập ăn cho bê trong giai đoạn này sẽ làm tăng hàm lượng các
axit béo bay hơi trong dạ cỏ, đặc biệt là propionate và butyrate Theo Sander và cộng
sự (1959) thì các axit này kích thích mạnh nhất sự phát triển của các nhú gai trong dạ
cỏ Để thúc đẩy sự phát triển của dạ cỏ, NRC (2001) [30] đã khuyến cáo rằng nên cho
bê ăn tự do thức ăn tập ăn dễ lên men Quá trình lên men xảy ra nhanh chóng trong dạ
cỏ có thể làm giảm pH dạ cỏ, điều này gây bất lợi cho sức khỏe của gia súc nhai lại
trưởng thành Tuy nhiên, nó đã không ảnh hưởng đến pH dạ cỏ của bê sữa Điều này
cho thấy, đã có một sự thích nghi đặc biệt của niêm mạc dạ cỏ của bê non với sự lên
men của thức ăn tập ăn Shaukat và cộng sự (2012) [37] cũng đã kết luận rằng, khẩu
phần tập ăn cho bê trước cai sữa giúp cho bê sinh trưởng nhanh hơn và mang lại hiệu
quả kinh tế cao hơn Việc bổ sung thức ăn tinh sớm cho bê đã làm tăng đáng kể khối
lượng sống của bê lúc cai sữa (cả ở bê được cai sữa sớm và muộn), đặc biệt là đối với bê
được cai sữa trong điều kiện đồng cỏ nghèo nàn (vào mùa khô, khối lượng và chất lượng
đồng cỏ kém) Theo Stamey và cộng sự (2012) [40] thì bê trước cai sữa nên được tiêu thụ
ít nhất là 1kg DM/con/ngày thức ăn tập ăn để đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, hạn chế sự
sụt giảm trong tăng trọng hàng ngày và khối lượng cơ thể sau cai sữa
Một vài nghiên cứu bổ sung thức ăn cho bò mẹ trước và/ hoặc sau khi đẻ đã có kết luận rằng, khối lượng sơ sinh của bê cao hơn ở những bò mẹ được cho ăn khẩu
phần giàu năng lượng trước khi đẻ Mức nuôi dưỡng của bò mẹ ảnh hưởng lâu dài đến
khối lượng của bê (kể từ lúc sơ sinh trở về sau) Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này chỉ xảy
Trang 38ra khi bò mẹ được nuôi dưỡng kém, khối lượng cơ thể của bò mẹ đạt thấp hơn 5 – 10%
so với ngưỡng khối lượng yêu cầu Stalker và cộng sự (2006) [39] đã báo cáo rằng,
không có sự khác nhau về khối lượng sơ sinh giữa những con bê được sinh ra từ bò mẹ
được và không được bổ sung thức ăn giàu protein trước khi đẻ, nhưng khối lượng cai
sữa, tăng trọng trung bình hàng ngày từ lúc đẻ đến lúc cai sữa và tỷ lệ sống đến lúc cai
sữa của bê được sinh ra từ bò mẹ được bổ sung lớn hơn đáng kể (tương ứng P=0,02;
0,002 và 0,03) so với bê được sinh ra từ bò mẹ không được bổ sung
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ảnh hưởng của các chế độ bổ sung thức ăn khác nhau đến sự phát triển về khối lượng, kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa cũng
như đến sự phát triển tổ chức mô dạ cỏ của bê bú sữa từ sơ sinh đến 12 tuần tuổi đã
được nhóm nghiên cứu Tạ Nhân Ái và Nguyễn Tiến Vởn [1-3] thực hiện Kết quả cho
thấy trong 4 chế độ nuôi dưỡng: a) nuôi bằng sữa, cỏ và thức ăn tinh; b) nuôi bằng sữa
và thức ăn tinh; c) nuôi bằng sữa và cỏ và d) chỉ nuôi bằng sữa mẹ thì chế độ nuôi chỉ
bổ sung thức ăn tinh đã thúc đẩy tốt nhất sự phát triển của ruột cũng như lớp cơ và lớp
niêm mạc của thành dạ cỏ, trong khi đó, bổ sung riêng mình cỏ lại có tác dụng kích
thích 3 túi dạ dày trước phát triển tốt nhất Trong một nghiên cứu trước đó, Tạ Nhân
Ái và Nguyễn Tiến Vởn (2009) [1] đã tiến hành xem xét khả năng tiết sữa của bò nội
và ảnh hưởng của các chế độ bổ sung thức ăn cho bê bú sữa đến tăng trọng của bê từ 0
- 12 tuần tuổi Kết quả cho thấy, sản lượng sữa của bò nội đẻ lứa 3 - 4 là 2 kg/ngày,
năng suất sữa toàn chu kỳ đạt 320 kg/con, chu kỳ sữa 5 - 6 tháng; khối lượng bê sơ
sinh là 12,9 kg, tăng trọng trong giai đoạn 0 - 22 tuần tuổi là 270 g/con/ngày Đến lúc
22 tuần tuổi, sữa mẹ chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu năng lượng của bê con
Nghiên cứu đồng thời đã tiến hành bổ sung thức ăn tinh cho sớm cho bê, kết quả cho
thấy, bê được bổ sung có tăng trọng cao hơn hẳn so với bê đối chứng (425 g/con/ngày so
với 337 g/con/ngày trong giai đoạn 0 – 12 tuần tuổi) Kết quả này đã chứng tỏ rằng, việc
bổ sung thức ăn tinh sớm cho bê đã có tác dụng làm tăng khả năng tăng trọng của bê, tạo
ra năng suất tăng trọng cao hơn rõ rệt so với phương thức chăn nuôi bê truyền thống
Trang 39CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nông hộ: Các hộ có chăn nuôi bò sinh sản trong vùng nghiên cứu
- Động vật: Đàn bò cái sinh sản, bê trong nông hộ ở các địa điểm nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2014 đến tháng 7/2015 Điều tra đánh giá hiện trạng, đánh giá điểm thể trạng của bò cái được thực hiện từ tháng 1/2014 đến
3/2015 Nghiên cứu bổ sung thức ăn tinh cho bò sau khi đẻ được tiến hành từ tháng
1/2015 đến tháng 7/2015
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: các nông hộ nuôi bò sinh sản tại xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra cơ bản hệ thống chăn nuôi bò sinh sản
Căn cứ vào số liệu về tổng số hộ nuôi bò sinh sản của xã Tây Giang được cung cấp bởi cán bộ địa phương, chúng tôi tiến hành chọn 12% số hộ để tiến hành điều tra
Tổng cộng 66 nông hộ có nuôi bò sinh sản được chọn ngẫu nhiên để tiến hành khảo sát Số
hộ được chọn nằm đều trong các thôn của xã Các nhóm chỉ tiêu khảo sát bao gồm:
Nhóm chỉ tiêu về nguồn lực của nông hộ: gồm tuổi chủ hộ, số lao động, diện tích đất đai của nông hộ Nhóm chỉ tiêu này được khảo sát thông qua phỏng vấn hộ
bằng bảng hỏi chuẩn bị trước
Nhóm chỉ tiêu về đàn bò: gồm số lượng bò, cơ cấu giống, cơ cấu tuổi của bò Nhóm chỉ tiêu này được khảo sát thông qua quan sát và ghi chép theo bảng hỏi chuẩn bị sẵn
Nhóm chỉ tiêu về quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng: gồm phương thức nuôi, một số
kỹ thuật áp dụng cho đàn bò Các chỉ tiêu này được thực hiện thông qua phỏng vấn hộ
bằng bảng hỏi chuẩn bị sẵn
Nhóm chỉ tiêu về thức ăn sử dụng cho bò: Loại và lượng thức ăn sử dụng cho
bò được khảo sát tại nông hộ thông qua quan sát và cân từng loại thức ăn mà nông hộ
sử dụng cho bò Việc khảo sát này thực hiện ở một hộ 2 ngày Trên cơ sở loại và lượng
thức ăn sử dụng cho bò ở các nông hộ, lượng thức ăn bổ sung cho bò (theo vật chất
khô) cũng được ước lượng