1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ tài một số GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM THU hút KHÁCH DU LỊCH tây âu tới THÀNH PHỐ sầm sơn TỈNH THANH hóa

92 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Thu Hút Khách Du Lịch Tây Âu Tới Thành Phố Sầm Sơn Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Lê Thu Trang
Người hướng dẫn TS. Vũ Hương Giang
Trường học Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh (Du lịch, Khách sạn)
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự quan tâm, chỉ báo tận tình của các thầy cô, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài: “ Một số giải pháp Marketing nhằm nhu hút khách du lịch Tây Âu đến

Trang 1

H ọ và tên : Lê Thu Trang – K25QT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI:

Trang 2

L ỜI CẢM ƠN

Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc

tới các thầy cô đang công tác tại Khoa Du lịch, Đại học Mở Hà Nội Với sự quan tâm, chỉ báo tận tình của các thầy cô, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài: “ Một số giải pháp Marketing nhằm nhu hút khách

du lịch Tây Âu đến thành phố Sầm Sơn - tỉnh Thanh Hóa”

Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS.Vũ Hương

hướng và hướng dẫn tôi hoàn thành tốt đề tài khóa luận này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cô Nguyễn Thị Minh Hạnh- Giáo viên chủ nhiệm khóa K25 đã luôn tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Với điều kiện kinh nghiệm và thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế, đề tài khóa luận này không thể tránh được những sai sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức phục vụ công tác thực tế sau này Tôi xin chân thành cảm ơn!

H ọ và tên

Lê Thu Trang

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC BẢNG 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 7

PHẦN I: MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Đối tượng nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Bố cục nghiên cứu 10

PHẦN 2: NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DU LỊCH VÀ MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 11

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11

1.1.1 Trên thế giới 11

1.1.2 Tại Việt Nam 12

1.2 Cơ sở lý thuyết về Du lịch 13

1.2.1 Khái niệm 13

1.2.2 Chức năng của Du lịch 14

1.2.3 Các loại hình Du lịch 16

1.3 Cơ sở lý thuyết về Marketing điểm đến du lịch 20

1.3.1 Điểm đến du lịch 20

1.3.2 Marketing điểm đến du lịch 22

1.3.3 Vai trò của Marketing điểm đến du lịch 23

1.3.4 Quy trình marketing điểm đến du lịch 26

Trang 4

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA 30

2.1 Khái quát về thành phố Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa 30

2.1.1 Vị trí địa lý 30

2.1.2 Tài nguyên du lịch 30

2.1.3 Các loại hình du lịch ở Sầm Sơn 34

2.1.4 Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 35

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015-2019 40

2.2.1 Khách du lịch 40

2.2.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch 44

2.2.3 Các sản phẩm, dịch vụ du lịch chính 45

2.3 Thực trạng các chiến lược Marketing điểm đến du lịch tại thành phố Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa 48

2.3.1 Chiến lược định vị và xây dựng thương hiệu 48

2.3.2 Chiến lược phát triển sản phẩm 49

2.3.3 Chiến lược xúc tiến 50

2.3.4 Chiến lược phân phối 52

2.3.5 Chiến lược con người 54

2.3.6 Chiến lược phát triển quan hệ đối tác 55

2.4 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa… 56

2.4.1 Những thành tựu đã đạt được 56

2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại 57

Tiểu kết chương 2 59

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TÂY ÂU ĐẾN THÀNH PHỐ SẦM SƠN-TỈNH THANH HÓA 60

3.1 Định hướng phát triển du lịch tại thành phố Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa 60

3.1.1 Quan điểm phát triển 60

Trang 5

3.1.2 Định hướng về phát triển hoạt động du lịch của thành phố Sầm Sơn-tỉnh

Thanh Hóa 61

3.2 Những cơ hội và thách thức về việc thu hút khách du lịch Tây Âu đến thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa 64

3.2.1 Cơ hội 64

3.2.2 Thách thức 66

3.3 Một số giải pháp Marketing nhằm thu hút khách du lịch Tây Âu đến thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa 68

3.3.1 Giải pháp định vị và xây dựng thương hiệu 68

3.3.2 Giải pháp phát triển sản phẩm 70

3.3.3 Giải pháp xúc tiến 72

3.3.4 Giải pháp phân phối 74

3.3.5 Giải pháp con người 75

3.3.6 Giải pháp phát triển quan hệ đối tác 76

Tiểu kết chương 3 77

KẾT LUẬN 78

KHUYẾN NGHỊ 79

1.Đối với cơ quan quản lí nhà nước về du lịch 79

2.Đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch 79

3.Đối với cộng đồng 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 83

92

Trang 7

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thể hiện doanh thu du lịch tại thành

Trang 8

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Ngày nay, du lịch đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một ngành công nghiệp “không khói” mang lại lợi nhuận cao trên toàn thế giới.Cùng với sự phát triển của đất nước,ngành du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Những kết quả đánh giá thông qua các chi tiêu về lượng khách,thu nhập,tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân.Ngành du lịch đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế , xóa đói giảm nghèo ,đảm bảo an ninh xã hội ,bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng Tại một số nơi du lịch đã làm thay đổi cơ bản diện mạo đô thị, nông thôn và đời sống nhân dân Ngành Du lịch Việt Nam nói chung cũng như Du lịch quốc tế đến Việt Nam

hướng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ trên toàn thế giới

Trong những năm qua, du lịch Việt nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến Việt nam ngày một tăng Du lịch Việt nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Đặc biệt là đối với đối tượng khách du lịch quốc tế du lịch đến Việt Nam thì chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch là những vấn đề nhận được nhiều sự chú ý và thảo luận rộng rãi nhất

Được biết đến là khu du lịch biển hàng đầu cả nước, Sầm Sơn ngày càng hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước Với xu hướng phát triển du lịch bốn mùa, Sầm Sơn đã và đang tích cực đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển đa dạng

ngàng với sự “lột xác” của một khu du lịch biển hàng đầu xứ Thanh Bãi biển

Trang 9

Sầm Sơn đúng nghĩa được trả lại trọn vẹn cho du khách với cát trắng trải dài, du khách thoải mái tham gia các hoạt động ngoài trời như thưởng thức hòa nhạc, thả diều, team building Diện mạo, không gian đô thị và văn hóa du lịch mới

mẻ đang là thỏi nam châm thu hút khách đến Sầm Sơn

không ít hạn chế, khó khăn như: Dịch vụ du lịch hạn chế, chất lượng chưa cao; giá trị gia tăng du lịch thấp; một bộ phận lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch chưa được đào tạo chuyên nghiệp, bài bản,… Điều đó đò hỏi ngành du lịch

những định hướng dài hạn và những giải pháp marketing phù hợp,mang tính đột

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Một số giải

Thanh Hóa” làm đề tài khóa luận của mình

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Du lịch và Marketing điểm đến du lịch

- Đánh giá thực trạng hoạt động Marketing điểm đến du lịch tại thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất một số chiến lược marketing thu hút khách du lịch Tây Âu đến thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động marketing điểm đến du lịch tại thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa

-Về thời gian: khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động marketing điểm đến du lịch tại thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2017-

Trang 10

2020; đề xuất một số giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch đến thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa

-Về không gian: khóa luận tập trung nghiên cứu hoạt động marketing điểm đến

du lịch trong phạm vi thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa

- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập các nguồn thông tin từ internet,sách vở,báo chí,các khóa luận,chuyên đề tham khảo có liên quan

- Phương pháp phân tích: Từ những số liệu sơ cấp, thứ cấp thu nhập được tiến hành phân tích, từ đó có những nhận xét, đánh giá về vấn đề cho chính xác khách

quan và đạt hiệu quả cao

- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp số liệu từ nguồn sách báo, internet, tạp chí… khác nhau nhằm có được cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp đánh giá và dự báo: Phương pháp được sử dụng trong nhiệm vụ

đề ra các định hướng mục tiêu và các giải pháp marketing nhằm thu hút khách

du lịch Tây Âu trên địa bàn thành phố Sầm Sơn,tỉnh Thanh Hóa

Bên cạnh phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của Khóa luận gồm 3 chương:

- Chương I: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về du lịch, marketing điểm đến du lịch

- Chương II: Thực trạng hoạt động marketing điểm đến du lịch tại Thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa

Âu tới Thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa

Trang 11

có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này

Cụ thể như Buhalis (2000), “Marketing cạnh tranh điểm đến trong tương lai” [1], cho rằng điểm đến du lịch là sự kết hợp của nhiều sản phẩm du lịch mang đến các trải nghiệm tích hợp cho khách du lịch Theo nghiên cứu của Buhalis (2000) chỉ ra, mỗi điểm đến được chủ yếu cầu thành từ 6 thành tố chính sau (viết tắt là 6As): điểm tham quan (Attractions), khả năng tiếp cận (Accessibility), Tiện nghi (Amenities), gói dịch vụ có sẵn (Available packages), hoạt động và dịch vụ

bổ trợ (Activities and ancillary services

Nhóm tác giả Philip Kotler, John T Bowen, Jame C Makens, (2010), Marketing for Hospitality and Tourism đã luận giải nhiều vấn đề về lý luận và kinh nghiệm tổ chức hoạt động marketing trong khách sạn và du lịch

Theo Murphy (2000) , cho rằng sự đa dạng và chất lượng sản phẩm/dịch vụ

sẽ là cách hữu hiệu đem lại một trải nghiệm thích thú của khách du lịch và tác động đến sự quay lại của khách du lịch

Hay như Hu và Ritchie (1993) nhìn nhận điểm đến là gói dịch vụ và tiện nghi trong du lịch bao gồm tập hợp của sự đa dạng các thành tố tạo nên từ điểm du lịch Hai nhà kinh tế học R.Lanquar và R.Hollie đưa ra những phương pháp marketing thu hút khách du lịch trong cuốn Marketing du lịch (Bản dịch từ tiếng Pháp), Nxb Thế giới, năm 1992

Trang 12

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu hoặc chủ yếu nghiên cứu những nguyên lý quản trị marketing trong lĩnh vực khách sạn du lịch hoặc nghiên cứu về chiến lược, tác nghiệp marketing của các loại hình doanh nghiệp du lịch

Qua tra cứu tại các thư viện, các website cho thấy, trong thời gian gần đây Việt Nam cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến hoạt động marketing nhằm thu hút khách du lịch:

Công trình Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 –

2010, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 Trong các công trình này ngoài việc xác định tổ chức không gian du lịch theo lãnh thổ (chia 3 vùng) thì việc xác định sản phẩm du lịch đặc trưng từng vùng, các mục tiêu và giải pháp về công tác xúc tiến, quảng bá du lịch nhằm thu hút khách được xem là những mục tiêu quan trọng

Luận văn thạc sỹ kinh tế “Giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch đến tỉnh Lào Cai” của tác giả Bùi Thị Thanh,2014 tại trường Đại học Thương Mại.Tuy nhiên luận văn chưa xác định và có giải pháp cụ thể đối với thị trường mục tiêu

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Định hướng chiến lược marketing thu hút thị trường khách du lịch Nga đến Việt Nam” của TS Đỗ Thị Thanh Hoa, 2008

Đề tài đề cập đến các nội dung: Tổng quan một số cơ sở lý luận chính về marketing du lịch và chiến lược marketing Cùng với phân tích tổng quan thị trường khách du lịch Nga đến Việt Nam như: những nhân tố tạo cầu du lịch, đặc điểm thị trường khách Nga khi đi du lịch nước ngoài, đặc điểm thị trường khách Nga đến Việt Nam Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp thu hút khách du lịch Nga đến Việt Nam

Những đề tài trên mới chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó về du lịch như xác định sản phẩm du lịch chính của địa phương, phân vùng, xác định tuyến điểm

Trang 13

du lịch đầu tư Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về hoạt động marketing thu hút khách cũng như phân tích và đánh giá sâu thực trạng hoạt động marketing thu hút khách đến thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu giải pháp marketing thu hút chính khách du lịch đến với thành phố Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa là một khoảng trống, chưa có

đề tài nào đi sâu vào phát triển du lịch Sầm Sơn dựa trên nhiều khía cạnh và giải pháp Đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch Tây Âu đến thành phố Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa”

1.2 Cơ sở lý thuyết về Du lịch

Ngày nay du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến Hiệp hội

lữ hành quốc tế đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới vượt lên cả ngành sản xuất ô tô, thép điện tử và nông nghiệp Vì vậy, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Thuật ngữ

du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là

đi một vòng Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm

du lịch cũng không giống nhau

Luật Du lịch Việt Nam 2005 [11,18] đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Ngày nay, theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người

và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm

Trang 14

Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch

là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”

Theo ông Kuns (người Thụy Sỹ): “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử

dụng các xí nghiệp du lịch”

Theo Wikipedia thì: “Du lịch là việc đi lại nhằm mục đích niềm vui hoặc kinh doanh; cũng là lý thuyết và thực hành về tổ chức các chương trình đi du lịch, ngành kinh doanh nhằm thu hút, cung cấp và giải trí cho khách du lịch, và việc kinh doanh của các tổ chức điều hành các tour du lịch.”

Nhìn từ góc độ kinh tế, du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác Như vậy, du lịch là một ngành kinh tế độc đáo phức tạp, có tính đặc thù, mang nội dung văn hoá sâu sắc và tính xã hội cao

Để làm cơ sở phân tích cho các nội dung có liên quan trong khóa luận, đề tài

sử dụng khái niệm về du lịch được định nghĩa theo Luật Du lịch Việt Nam 2005 [11]:“Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Trang 15

cường sức sống của nhân dân Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng

yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn… Điều đó quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội

mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt

Ngoài ra chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở khía cạnh khác Đó là dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương… và là cơ sở quan trọng, tạo đà cho nền kinh tế phát triển

Tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hoá môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và hoạt động của con người

Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hoá quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích

du lịch Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên,

Trang 16

đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lí

Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòng khách du lịch

và việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Như vậy, giữa du lịch

và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau

Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Mỗi năm, hoạt động du lịch có những chủ đề khác nhau, như “Du lịch là giấy thông hành của hoà bình” (1967), “Du lịch không chỉ

là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người” (1983)… kêu gọi hàng triệu người quí trọng lịch sử, văn hoá và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc

1.2.3 Các loại hình Du lịch

- Du lịch thiên nhiên: Loại hình du lịch này hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức những phong cảnh đẹp và đời sống thực vật hoang dã

- Du lịch văn hóa: Loại hình này thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật… của điểm đến

Trang 17

- Du lịch xã hội: Hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với những người khác là quan trọng nhất Đối với một số người khi được đồng hành với các thành viên của một nhóm xã hội trong các tour du lịch cũng làm họ thõa mãn, hài lòng Một số người khác tìm kiếm cơ hội được hòa nhập với cư dân bản

xứ ở điểm đến Thăm gia đình cũng có thể được bao hàm trong loại này

- Du lịch hoạt động: Loại hình du lịch này thu hút khách bằng một hoạt động xác định trước và thách thức phải hoàn thành trong chuyến đi, trong kỳ nghỉ của họ

- Du lịch giải trí: Loại hình này nảy sinh từ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người Loại hình du lịch này thu hút những người mà lý do chủ yếu của họ đối với chuyến đi là sự hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ

- Du lịch thể thao: Thu hút những người ham mê thể thao để nâng cao thể chất, sức khỏe Tham gia chơi các môn thể thao như quần vợt, đánh gôn, bóng chuyền bãi biển, lướt són, trượt tuyết, đi xe đạp đường trường…là những ví dụ cho các hoạt động phù hợp với loại hình du lịch này

- Du lịch chuyên đề: Loại hình du lịch này liên quan đến một nhóm nhỏ, ít người đi du lịch với cùng mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó chỉ đối với riêng họ

theo các đạo phái khác nhau.Nó bộc lộ trong các cuộc hành hương đến những nơi có ý nghĩa tâm linh hay những địa điểm tôn giáo được tôn kính

- Du lịch sức khỏe: hấp dẫn những người tìm kiếm cơ hội cải thiện điều kiện thể chất của mình Các khu an dưỡng, nghỉ mát ở vùng núi cao hoặc ven biển, các điểm có suối nước nóng hoặc nước khoáng là những nơi điển hình tạo ra loại du lịch này

- Du lịch dân tộc học: Loại du lịch này đặc trưng hóa cho những người quay

Trang 18

trở về quê cha đất tổ tìm hiểu lịch sử, nguồn gốc của quê hương, dòng doi gia đình hoặc tìm kiếm khôi phục các truyền thống văn hóa bản địa

- Du lịch quốc tế: liên quan đến các chuyến đi vượt qua khỏi phạm vi lãnh thổ (biên giới) quốc gia của khách du lịch

- Du lịch trong nước: là những chuyến đi của cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ

-Du lịch nội địa: bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến

-Du lịch quốc gia: bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài

- Du lịch biển: du lịch biển là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên trong các vùng có tiềm năng về biển, hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, tắm biển

-Du lịch núi: là hoạt động du lịch diễn ra trong một không gian địa lý xác định

và hạn chế như đồi núi với đặc điểm đặc biệt và thuộc tính có gắn liền với một cảnh quan cụ thể, địa hình, khí hậu, đa dạng sinh học (thực vật và động vật) và cộng đồng địa phương

-Du lịch dã ngoại: dã ngoại là một hình thức hoạt động bổ ích dành cho mọi lứa tuổi, thông qua việc vui chơi, giải trí, tham quan ngắm cảnh vừa giúp nâng cao sức khỏe, vừa được khám phá những điều mới lạ

-Du lịch miệt vườn: hình thức du lịch miệt vườn ngày nay rất được phổ biến

và được nhiều người yêu thích Việc du lịch miệt vườn đến các vườn trái cây trĩu quả, không những tận hưởng bầu không khí trong lành mát mẻ, lại còn được hái trái cây, tham gia vui chơi thỏa thích

Trang 19

• Phân lo ại theo phương tiện giao thông

nâng cao được sức khỏe của bạn Khi du lịch xe đạp bạn sẽ tự chủ và linh hoạt

hơn trong việc di chuyển

- Du lịch ô tô: du lịch ô tô cũng quan trọng bậc nhất trên thế giới, là phương tiện chủ yếu nối liền các thành phố du lịch Ô tô du lịch ngày nay còn tích hợp các phương tiện giải trí, hay giường nằm sang trọng giúp người đi thoải mái hơn

- Du lịch bằng tàu hoả: một loại phương tiện du lịch an toàn với tốc độ di chuyển nhanh, đầy đủ tiện nghi, bạn có thể ngắm cảnh đường dài qua khung kính cửa sổ

- Du lịch bằng tàu thuỷ: chuyến du lịch bằng tàu là một điều thuận tiện, tàu thủy vừa là phương tiện vận chuyển vừa là cơ sở lưu trú, cung cấp cho du khách mọi tiện nghi giải trí cao cấp trong một chuyến tham quan dài

- Du lịch máy bay: là một trong những loại hình hiện đại, có thể di chuyển với khoảng cách địa lí xa trong thời gian ngắn

- Du lịch ngắn ngày: là loại hình du lịch thường kéo dài từ 1- 3 ngày (hoặc dưới 1 tuần) tập trung chủ yếu vào những ngày nghỉ cuối tuần

- Du lịch dài ngày: là loại hình du lịch thường gắn với các kì dài ngày từ vài tuần đến vài tháng ở địa điểm cách xa nơi ở của khách

- Du lịch theo đoàn: là loại hình có sự tham gia của một nhóm khách thường thuộc vào các tổ chức, sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp lữ hành

- Du lịch cá nhân: là hoạt động du lịch do cá nhân tự quyết định về chuyến đi như lịch trình, cơ sở cung ứng các dịch vụ Loai hình này ngày càng phát triển vì

Trang 20

có những ưu thế nhất định như linh hoạt, đề cao được nhu cầu của cá nhân du khách trong chuyến đi

- Du lịch gia đình: là loại hình du lịch do các gia đình tự tổ chức hoặc sử dụng dịch vụ của các công ty lữ hành

1.3 Cơ sở lý thuyết về Marketing điểm đến du lịch

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh: “Điểm đến du lịch là một điểm đến mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới

về chính trị hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch” [5,342]

Theo luật du lịch: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” Như vậy điểm đến du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch, có sức hấp dẫn khách du lịch

-Căn cứ vào quy mô điểm đến được phân loại theo 3 quy mô chính: Megadestination (Quy mô lớn ở cấp độ châu lục), Macto-destination (Điểm đến

vĩ mô ở cấp độ quốc gia), Micro-destination (Điểm đến vi mô – cấp độ vùng, tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn…)

- Căn cứ vào vị trí: có thể phân loại điểm đến là ở vùng biển hay vùng núi, là thành phố hay nông thôn

Trang 21

-Căn cứ vào giá trị tài nguyên du lịch: có thể phân loại đó là điểm đến có giá trị tài nguyên tự nhiên hay nhân văn

- Căn cứ vào đất nước: có thể phân loại điểm đến là điểm đến du lịch là một đất nước hay một nhóm đất nước, hay có thể là một khu vực

- Căn cứ vào mục đích: có thể phân loại điểm đến sử dụng với mục đích khác nhau

- Căn cứ vào vị trí quy hoạch: đó là điểm đến thuộc trung tâm du lịch của vùng hay là những điểm đến phụ cận (Theo T.S Nguyễn Văn Đảng ) - [3,4-5]

đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng đều gây ra động lực ban đầu cho sự thăm viếng của khách

- Giao thông đi lại: Sự sáng tạo trong việc tổ chức giao thông du lịch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tập du khách trong việc tiếp cận điểm đến và là một yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch

nghỉ mang tính chất mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiếp đãi cuồng nhiệt

và ấn tượng khó quên về món ăn và đặc sản địa phương

- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại điểm đến du lịch Bộ phận này có đặc điểm

là mức độ tập trung về sở hữu thấp

- Các phương diện khác: Các hoạt động các yếu tố cấu thành của một điểm đến

du lịch trên địa phương diện khác phương diện vật chất, đó là cơ sở hạ tầng, cơ

sở vật chất kỹ thuật của điểm đến

Điều quan trọng để điểm đến du lịch trở thành hấp dẫn và thu hút khách đòi hỏi phải có sự quản trị kinh doanh điểm đến Vấn đề quản trị kinh doanh điểm

Trang 22

đến liên quan đến rất nhiều vấn đề từ marketing, tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến điểm đến đến việc phát triển sản phẩm tại điểm đến, đặc biệt là sự phối kết hợp chặt chẽ các chủ thể tại điểm đến nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách

để họ có những cảm xúc và trải nghiệm sâu sắc

Trong lĩnh vực du lịch, marketing điểm đến du lịch bao gồm một loạt các hoạt động nhằm thu hút khách du lịch đến và sự dụng các sản phầm dịch vụ du lịch được cung cấp tại điểm đến đó Thông qua những hoạt động này, điểm đến tìm kiếm những thay đổi tích cực về mặt giá trị nhờ cung cấp các lợi ích cho khách du lịch hiện tại và khách du lịch tiềm năng, đồng thời làm lợi cho các thành phần khác tham gia vào hoạt động du lịch tại điểm đến Phát triển điểm đến du lịch bền vững đòi hỏi các lợi ích về mặt kinh tế, xã hội, môi trường và cộng đồng tại điểm đến phải được đảm bảo một cách hài hòa

Bên cạnh đó cũng đã có nhiều tổ chức nghiên cứu và các học giả khác nhau đưa ra khái niệm marketing điểm đến du lịch, cụ thể là:

khái niệm về marketing điểm đến du lịch: “Marketing điểm đến du lịch là quá trình quản trị cho phép tổ chức marketing, tạo dựng duy trì mối quan hệ giữa điểm đến du lịch

và khách du lịch hiện tại cũng như khách du lịch tiềm năng, thông qua việc dự báo và đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch đối với điểm đến và có khả năng

dễ dàng giao tiếp liên hệ với điểm du lịch” [3,20]

Theo Tiến sĩ Karl Albrecht – nhà hoạch định chiến lược kinh doanh, thành

viên của Hiệp hội marketing điểm đến đa quốc gia (Destination Marketing Association International – DMAI), marketing điểm đến du lịch được định nghĩa

là “cách thức tiếp cận với sự phát triển kinh tế và văn hóa của một khu vực (vùng

Trang 23

miền) một cách chủ động, chiến lược và tập trung vào con người đồng thời giúp cân bằng và hòa nhập những lợi ích của khách du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ

và cộng đồng tại đó”

Như vậy, có thể thấy Marketing điểm đến du lịch là quá trình các tổ chức quản

lý điểm đến tiến hành nghiên cứu thị trường lựa chọn thị trường khách du lịch mục tiêu thiết lập, duy trì và phát triển thị trường khách bằng cách tạo ra và mang lại cho họ những giá trị ưu việt của điểm đến du lịch mà họ mong đợi

1.3.3 Vai trò của Marketing điểm đến du lịch

Trong bối cảnh thị trường du lịch ngày càng đa dạng và phát triển, các điểm đến du lịch có xu hướng bị bão hòa và lu mờ, không có những điểm nhấn để phân biệt và thu hút khách du lịch so với các đối thủ khác Cuộc cạnh tranh giành khách du lịch thu hút khách du lịch so với các đối thủ khác Cuộc cạnh tranh giành khách du lịch đang dần tập trung vào làm nổi bật linh hồn và bản sắc của điểm đến.Do đó, marketing điểm đến du lịch trở thành công cụ quan trọng làm nổi bật những điểm khác biệt, lợi thế cạnh tranh của một điểm đến, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận và đưa ra lựa chọn Từ đó xây dựng nên bản sắc riêng, khiến khách hàng có thể dễ dàng nhận biết các sản phẩm du lịch của điểm đến đó

Marketing điểm đến du lịch là cầu nối gắn kết, mối liên hệ đa dạng và chặt chẽ giữa điểm đến và khách hàng tiềm năng Tác động trực tiếp tới việc đưa ra quyến định lựa chọn điểm đến của khách hàng

Khách du lịch lựa chọn một điểm đến thường do những hình ảnh trong suy nghĩ của khách hàng về điểm đến đó Những hình ảnh đó thường được tạo nên

từ những nguồn thông tin đa dạng: Internet, truyền hình, phim ảnh, tin tức, tạp chí, phóng sự, quan điểm của những người xung quanh… Việc thực hiện

Trang 24

quan, những hình ảnh thiện cảm, kích thích mong muốn tìm hiểu và trải nghiệm Hạn chế những hình ảnh sai lệch từ những nguồn không chính thức về điểm đến Hiện nay, marketing điểm đến du lịch không những là hoạt động hữu hiệu thu hút khách du lịch, mà còn là một xu hướng tất yếu nhằm đạt được các mục tiêu phát triển tổng thể của điểm đến.[10,4]

Trong thời đại hiện nay, khi giá trị của thời gian và sự tiện lợi ngày càng được

đề cao, khách hàng luôn có xu hướng chủ động tìm kiếm thông tin để đưa ra quyết định một cách sáng suốt Nhất là đối với thị trường du lịch, khi đưa ra quyết định cho một kỳ nghỉ đồng nghĩa với việc khách hàng cần lựa chọn được một địa điểm

phù hợp với nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí của họ, phù hợp với khoản chi phí

họ dự định bỏ ra, và những điểm thú vị của điểm đến mà họ muốn khám phá Như vậy, marketing điểm đến sẽ cung cấp cho khách hàng một cái nhìn tổng quan về điểm đến, giới thiệu cho họ một cách khái quát về những đặc điểm nổi bật của điểm đến như văn hóa, phong tục tập quán, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, tín ngưỡng, con người giúp rút ngắn thời gian và công sức trong việc tìm kiếm thông tin, lựa chọn được điểm đến phù hợp nhất với mong muốn của mình

hiệu, không chỉ nhằm phát triển thương hiệu, tăng độ biết đến của địa điểm du lịch với khách hàng, nó còn giúp nâng cao, củng cố chất lượng sản phẩm, dịch

vụ du lịch tại chính điểm đến đó qua các chương trình tổng thể tác động vào tất

cả các đối tượng trong ngành du lịch Như vậy, khách hàng sẽ là đối tượng hưởng lợi từ các hoạt động marketing thông qua việc được tiếp xúc với những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao với giá thành cạnh tranh

Việc lựa chọn điểm đến du lịch ngày nay đã trở thành một trong những chỉ số

quan trọng để đánh giá lối sống của du khách Vì vậy điểm đến du lịch cần có sức

Trang 25

hấp dẫn cao, thu hút được sự quan tâm sâu sắc của khách du lịch Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) thậm chí còn cho rằng: “Thế kỷ tới 23 sẽ đánh dấu sự nổi lên của các điểm đến du lịch như một mặt hàng thời trang Sự lựa chọn điểm đến du lịch sẽ giúp xác định đặc điểm du khách và trong một thế giới tính đồng nhất ngày càng tăng, đặc trưng của một du khách là một cơ sở để phân biệt anh

ta với du khách khác”

Như vậy, điểm đến du lịch ngày nay không chỉ là một địa điểm nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, khám phá của khách hàng mà còn là một sản phẩm tạo ra phong cách, đẳng cấp của họ Xu hướng này càng khẳng định vị thế quan trọng của marketing điểm đến trong việc tạo nên đẳng cấp du lịch của điểm đến trong mắt khách hàng [10,5]

Khi ngành công nghiệp du lịch đang ngày càng phát triển và cạnh tranh lẫn nhau một cách gay gắt, thì việc các doanh nghiệp du lịch hoạt động marketing đơn lẻ, tự phát sẽ làm giảm mức độ hiệu quả của các chiến dịch marketing hơn rất nhiều Bên cạnh đó, việc tự thân vận động trên quá nhiều thị trường khiến các doanh nghiệp không thể tập trung khai thác được hết các thể mạnh cũng như đặc điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh của điểm đến Marketing điểm đến du lịch là một sự hỗ trợ đắc lực

cho các doanh nghiệp Tăng cường sự quảng bá, phát triển thương hiệu, củng cố hình ảnh của điểm đến, thu hút sự quan tâm của khách du lịch đến với điểm du lịch tạo tiền đề vững chắc cho các chiến lược marketing, chăm sóc khách hàng

cụ thể sau đó của doanh nghiệp

Thêm vào đó, marketing điểm đến còn là sự định hướng chủ chốt cho tất cả các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch trong việc thiết kế ra các sản phẩm marketing của mình từ đó tạo được sự đồng bộ, chuyển nghiệp, tiết kiệm chi phí

Trang 26

đáng kể cho các doanh nghiệp trong việc nỗ lực thu hút khách du lịch [10, 6]

Hoạt động Marketing điểm đến được các tổ chức du lịch quốc gia và vùng thực hiện, thậm chí các tổ chức du lịch tư nhân cũng có thể sử dụng quy trình marketing du lịch này ở phạm vi tổng quát Hoạt động marketing du lịch hiệu quả phải tính đến nhiệm vụ của tổ chức cũng như các yếu tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức đó

Quy trình lập kế hoạch marketing cho điểm đến du lịch được phát sinh từ công thức marketing căn bản: [7,41]

Marketing= R+ STP+ Mm+ I+ E+ C

Trong đó:

R (research): nghiên cứu thị trường

S (segmentation): phân đoạn thị trường

T (target market): xác định thị trường mục tiêu

P (positioning): định vị

M (marketing- mix): hỗn hợp marketing

I (implementation): thực hiện kế hoạch marketing

E (evaluation): đánh giá kế hoạch marketing

C (control): điều chỉnh kế hoạch marketing

Quy trình lập kế hoạch marketing cho điểm đến du lịch sau đây được các tổ chức du lịch nhà nước và tư nhân trên phạm vi toàn cầu đón nhận và đã áp dụng thành công Mô hình này nhấn mạnh vào các nhiệm vụ quản lý chiến lược đối với một nhà quản lý du lịch điểm đến

Trang 27

Hình 1.1 Sơ đồ quy trình marketing điểm đến du lịch [4,43]

(Nguồn: Giáo trình Marketing điểm đến du lịch (ĐH Mở- khoa Du lịch)

Quy trình lập kế hoạch marketing cho điểm đến du lịch bao gồm các nội dung

cụ thể sau:

-Xác định tầm nhìn:

“Tầm nhìn là một lời thông báo chung mang tính định hướng, có ảnh hưởng đến mục tiêu và chiến lược cụ thể Trong các tuyên bố về tầm nhìn của mình, các

tổ chức du lịch quốc gia và vùng thường đề cập đén một ngành du lịch phát triển

và bền vững trong khu vực với các tác động tích cực đối với cộng đồng Vấn đề này thường được phát triển trong suốt quá trình lập kế hoạch marketing và có thể được đánh giá lại từ kết quả của việc phân tích thực trạng

Trang 28

-Phân tích thực trạng:

Mục tiêu của quá trình phân tích thực trạng điểm đến là để việc xác định các

cơ hội, thách thức, thế mạnh, điểm yếu và các vấn đề mà điểm đến đang phải đối mặt Tổ chức du lịch phải tiến hành phân tích tất cả các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài có thể tác động đến điểm đến cũng như rà soát toàn bộ nguồn lực bên

marketing hiện tại, thông tin về tất cả các thành phần thuộc môi trường vĩ mô, các xu hướng trên thị trường và các đối thủ cạnh tranh

- Xác định nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và chiến lược cho điểm đến:

Các mục tiêu và chỉ tiêu chung của tổ chức quản lý nhà nước về du lịch ở điểm đến thường chỉ ra các đích cụ thể như chi tiêu, thị phần, lượng khách, doanh

thời gian tương đối dài (có thể tới 20 năm, nhưng thông thường là từ 3-5 năm) Mục tiêu của các đơn vị kinh doanh du lịch thường khác biệt hẳn so với mục tiêu của các tổ chức quản lý nhà nước về du lịch và nhìn chung có định hướng lợi nhuận rõ rệt

- Chiến lược marketing cho điểm đến:

Chiến lược marketing cho điểm đến nhấn mạnh vào các chiến lược trong ngắn hạn và các chiến thuật có liên quan cần phải được thực hiện để đạt được mục tiêu của điểm đến Có thể là kế hoạch trong năm hay 1 - 2 năm, trong đó làm rõ các nội dung liên quan đến các mục tiêu lâu dài của tổ chức Chiến lược marketing ngắn hạn thường bao hàm chiến lược tiếp cận thị trường mục tiêu, chiến lược định

vị, xây dựng thương hiệu và chiến lược hỗn hợp marketing

- Đánh giá và điều chỉnh :

Giai đoạn điều chỉnh và đánh giá là một phần quan trọng trong toàn bộ qui

Trang 29

trình marketing bởi vì giai đoạn này cung cấp các thông tin phản hồi cho điểm đến

về mức độ thành công của các chiến lược và chiến thuật của nó Những thông tin này có thể tiếp tục được sử dụng trong hoạt động phân tích thực trạng điểm đến

và là căn cứ để tổ chức du lịch ở điểm đến ra các quyết địng marketing chiến lược trong tương lai

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1 của khóa luận, tác giả đã tổng hợp các cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài khóa luận Đây cũng là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động marketing điểm đển du lịch tại thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa ; đồng thời cũng là cơ sở để đưa ra các giải pháp cho đề tài Trong chương này, đề tài

đã đưa ra được những khái niệm liên quan đến du lịch, marketing điểm đến du lịch; vai trò của du lịch, marketing điểm đến du lịch; các loại hình du lịch; chức năng marketing điểm đến; quy trình marketing và marketing điểm đến du lịch Đây chính là các lý thuyết nền tảng để tiếp tục đi sâu phân tích và đánh giá thực

trạng thu hút khách du lịch đến với thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa ở chương 2

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA 2.1 Khái quát về thành phố Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 V ị trí địa lý

Sầm Sơn là một thành phố ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam

Thành phố Sầm Sơn cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 16 km về phía đông, cách thủ đô Hà Nội 176 km về phía đông nam, có vị trí địa lý:

Thành phố Sầm Sơn có diện tích tự nhiên 44,94 km² là thành phố có diện tích nhỏ nhất cả nước, dân số năm 2019 là 108.320 người

Sầm Sơn nằm trên vùng đồng bằng phù sa, độ cao dưới 50 mét Khoáng sản: Không đáng kể Động thực vật: Không đáng kể Chăn nuôi không được chú trọng, chỉ nuôi gà với quy mô nhỏ Dân cư Sầm Sơn chủ yếu là người Kinh [11]

Sầm Sơn có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Đây là ưu thế nổi bật nhất của Sầm Sơn, là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch biển, du lịch núi, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh…

Sầm Sơn có bờ biển dài khoảng 9 km, từ cửa Hới (sông Mã) đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc) với các bãi biển đẹp như bãi biển nội thị (A, B, C, D), bãi biển Quảng

Cư, Bãi Lãn, Bãi Vụng Tiên Các bãi biển này đều có đặc điểm chung là rộng,

Trang 31

bằng phẳng, độ dốc thoải, bãi cát trắng mịn, sóng biển vừa phải, nước biển ấm, trong xanh có nồng độ muối trên dưới 30%, ngoài ra còn có Canxidium và nhiều khoáng chất khác có tác dụng chữa bệnh rất phù hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí nên từ lâu đã là khu nghỉ mát nổi tiếng trong cả nước Theo đánh giá Sầm Sơn là nơi rất có lợi cho sức khỏe, nghỉ dưỡng vào mùa đông, đồng

thời là thị trường tiêu dùng, mua sắm lớn cho 1,5 - 2 triệu khách du lịch hiện nay

và khoảng 4 - 5 triệu du khách trong tương lai, tạo cơ sở để phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa và các mặt hàng TTCN của các vùng lân cận Hiện nay Sầm Sơn mới khai thác 3 bãi biển ở khu vực nội thị vào mục đích du lịch, chủ yếu là tắm biển Thời gian tới có thể khai thác các bãi biển ở khu vực Quảng

Cư và Nam Sầm Sơn, hình thành một khu du lịch - nghỉ dưỡng biển lớn của vùng

và cả nước với các hoạt động du lịch phong phú và đa dạng như: tắm biển, nghỉ dưỡng và các loại hình thể thao, vui chơi giải trí khác

Bên cạnh các bãi biển trên, Sầm Sơn còn có núi Trường Lệ cao 76 mét nằm sát biển, được coi như là hòn ngọc của Sầm Sơn Mặt khác ở đây có những bãi

cỏ rộng, những sườn thoải và các đồi được cấu tạo từ đá granit cổ sinh hay đá biến chất dạng bát úp (điển hình là khối hoa cương Độc Cước) phù hợp cho du lịch cắm trại và các hoạt động vui chơi giải trí khác Trên núi Trường Lệ còn có các di tích như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành rất có giá trị

du lịch văn hóa, du lịch tâm linh Đặc biệt hòn Trống Mái trên núi Trường Lệ là cảnh quan tự nhiên độc đáo của Sầm Sơn cũng như của cả nước, rất hấp dẫn khách du lịch

Ngoài ra, cảnh quan tự nhiên dọc hai bờ sông Mã, sông Đơ cũng là điều kiện

lý tưởng để Sầm Sơn phát triển các tuyến du lịch sinh thái trên sông, biển Xuất phát từ Cửa Hới ở phía Bắc, du khách có thể đi thuyền đến Hòn Mê và xa hơn về

di tích triều vua Lê và các di tích, danh thắng khác trong tỉnh Đặc biệt sông Đơ

Trang 32

chảy dọc thị xã (từ Sông Mã ở phía Bắc đến cống Trường Lệ ở phía Nam) có cảnh quan tự nhiên khá hấp dẫn với các đầm sen ở phía Nam đền An Dương Vương là nguồn tài nguyên du lịch tiềm năng của Sầm Sơn để phát triển du lịch sinh thái

Tóm lại, sự đan xen giữa các loại địa hình (sông, núi, biển), giữa các bãi biển với núi Trường Lệ và cảnh quan sông nước, cùng với các hồ, đầm ở Quảng Cư và những rặng thông, phi lao dọc ven biển tạo nên sự phóng phú và đa dạng của tài nguyên du lịch trên địa bàn, là điều kiện rất thuận lợi để Sầm Sơn phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn

Bên cạnh những tài nguyên du lịch tự nhiên, Sầm Sơn còn có nguồn tài nguyên

du lịch nhân văn khá phong phú gồm các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, ngành nghề truyền thống và các giá trị văn hóa khác Theo thống kê, trên địa bàn Sầm Sơn có 16 di tích, là một trong số các địa phương có tỷ lệ di tích cao trong cả nước, trong đó có 6 di tích cấp Quốc gia gồm:

- Đền Độc Cước (hay còn gọi là đền Thượng), nằm trên hòn Cổ Giải thuộc

dãy núi Trường Lệ Đền thờ thần Độc Cước, được xây dựng cách đây 700 năm Hàng năm người dân Sầm Sơn tổ chức lễ hội bánh trưng, bánh dầy vào ngày 12 tháng 5 âm lịch để tế thần

- Đền Cô Tiên, nằm trên hòn Đầu Voi ở phía Tây núi Trường Lệ, phía trên

Vụng Ngọc Đây là đền thờ Chúa Liễu Hạnh, trước đây là nơi thờ vọng thần Độc

Cước

- Đền Tô Hiến Thành (hay còn gọi là đền Trung), thờ Thái úy Tố Hiến Thành,

vị quan thanh liêm, cương trực của triều Lý

- Hòn Trống Mái là danh thắng nổi tiếng gắn với huyền thoại về một

mối tình chung thủy

Trang 33

- Đền Đề Lĩnh thuộc phường Trung Sơn, thờ thần Hoàng có công khai

dân , lập ấp

- Đền Cá Lập (hay còn gọi là đền Làng Trấp) thuộc phường Quảng Tiến, thờ

tướng Trần Đức

Ngoài ra còn 10 di tích được xếp hạng cấp tỉnh gồm: đền Hoàng Minh Tự (hay

Thanh Khê; đền thờ phủ Đô Hầu; đền thờ Ngư Ông và nhiều di tích khác như: Nơi Bác Hồ về thăm và tham gia kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn; Nơi anh hùng Nguyễn thị Lợi đánh tàu chiến Pháp; Nơi tập kết đón học sinh Miền Nam ra Bắc sau Hiệp định Genever và nơi đón tiếp các tử tù Cách mạng Miền Nam ra Bắc sau Hiệp định Paris

Như vậy, du khách đến Sầm Sơn không chỉ bởi cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú

mà còn giầu chất nhân văn với những lễ hội được lưu giữ từ bao đời nay như lễ hội tế thần Đốc Cước, Cô Tiên, (từ ngày 21 - 23/8 âm lịch); Lễ hội bánh chưng bánh dày (ngày 12/5 âm lịch); lễ hội cầu ngư (ngày 15/5 âm lịch) Ngoài những

lễ hội truyền thống về lịch sử, về truyền thuyết còn có các lễ hội tôn vinh những người có công với dân, với nước, với làng hoặc lễ hội tưởng niệm Bà Triều, tổ sư nghề dệt săm súc, lễ hội Cá Ông mang đậm nét sinh hoạt của cư dân vùng biển

Sầm Sơn còn có truyền thống thượng võ (có lò vật nổi tiếng ở Quảng Trường - Trung Sơn); Các làng nghề truyền thống như dệt săm xúc (Triều Dương), sản xuất nước mắm (làng Hới) cùng với tinh thần mến khách và lòng nhiệt thành của con người Sầm Sơn cũng là nền tảng vững chắc cho ngành du lịch phát triển Tóm lại, với những tiềm năng và lợi thế trên, trong tương lai ngành du lịch Sầm Sơn có cơ hội phát triển mạnh, trở thành điểm đến hấp dẫn và lý thú của nhiều du khách Ngoài ra, với vị trí địa lý thuận lợi, Sầm sơn còn có thể mở rộng

Trang 34

liên kết với các địa phương khác trong tỉnh, trong vùng và cả nước, hoặc với các tỉnh Bắc Lào để hình thành các tuyến du lịch hấp dẫn

- Du lịch văn hóa-thể thao và lễ hội:

Loại hình du lịch này ở Sầm Sơn dựa vào các hoạt động du lịch tìm hiểu phong tục tập quán của người dân: tìm hiểu làng văn hóa Triều Dương, Lương Trung,văn hóa truyền thống ven sông Mã,thưởng thức các món ăn đặc sản… Ngoài ra,du khách có thể tham gia các hoạt động thể thao,vui chơi giải trí; bóng chuyền bãi biển, bóng đá bãi biển, câu cá, lướt ván, leo núi mạo hiểm Du lịch lễ hội thường diễn ra chủ yếu vào mùa xuân,lượng khách lớn nhất là tháng giêng,còn các hoạt động thể thao lại thường diễn ra vào mùa hè có đông khách

du lịch tới nghỉ mát kết hợp vui chơi,giải trí

- Du lịch tham quan (danh thắng,di tích,làng nghề):

Du khách tìm đến với loại hình du lịch này thường là những đối tượng có trình

độ văn hóa cao,những người tích cực tìm hiểu đặc trưng văn hóa vùng miền hoặc

du khách lứa tuổi trung niên có tâm lí hướng nội.Các điểm di tích thường được ghé thăm là: đền Độc Cước, đền Cô Tiên, hòn Trống Mái, đền Tô Hiến Thanh…

- Du lịch sinh thái (nhà vườn, rừng cây, đảo, hồ nước):

Trang 35

Dựa vào cảnh quan thiên nhiên và không khí trong lành của vùng nước lợ Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn đã xây dựng khu du lịch sinh thái Quảng Cư để phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng chữa bệnh của khách du lịch

- Du lịch hội nghị,hội thảo:

Tuy Sầm Sơn chưa có những trung tâm hội nghị bề thế nhưng hiện tại các hội trường lớn trong thành phố đã đảm nhận tổ chức những hội thảo vừa và nhỏ.Phong cảnh nên thơ,khoáng đạt,khí hậu trong lành của biển chính là địa điểm phù hợp để mở trại sáng tác cho các văn nghệ sĩ sáng tạo ra nhiều tác phẩm độc đáo

Cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch bao gồm: hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông chính là một tiềm năng du lịch nhân văn, đồng thời nó cũng phản ánh thực trạng đầu tư cho phát triển du lịch ở Sầm Sơn

- Giao thông:

Tính từ năm 2008, khu du lịch Sầm Sơn đã tiến hành cải tạo, nâng cấp và mở rộng nhiều tuyến đường cũ, mở mang thêm một số đường mới Vì vậy, điều kiện giao thông ở Sầm Sơn và các vùng phụ cận ngày một khang trang hơn Nhiều tuyến đường, công trình lớn trên địa bàn thành phố đã được thực hiện như: Đại

lộ Nam sông Mã, các tuyến đường Đông - Tây, đường Bà Triệu, đường Hồ Xuân Hương, các công viên, khuôn viên ước tính kinh phí đầu tư hàng ngàn tỷ đồng

- Mạng lưới điện:

Hiện nay, toàn thành phố có 115 trạm biến áp với tổng công suất 115.000 KV; 13,5 km đường dây 22KV và hơn 70 km đường dây 0,4KV Năm 2003, trạm biến thế 110KV được hoàn thành Nhờ đó, nguồn điện đã đưa đến từng hộ gia

Trang 36

đình, từng cơ sở sản xuất kinh doanh đảm bảo cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn, hạn chế mức thấp nhất tình trạng quá tải trong những ngày cao điểm, đặc biệt là thời điểm chính giữa mùa du lịch

- Hệ thống cấp,thoát nước:

Để đáp ứng đầy đủ nguồn nước trong sạch cho nhân dân và du khách tại Sầm Sơn, công ty nước sạch Thanh Hoá đã đầu tư hệ thống ống dẫn nước đến từng khu vực, phường, xã thôn, xóm Trữ lượng nước dồi dào, chất lượng nước đảm bảo cung cấp đầy đủ (kể cả những tháng cao điểm) Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn tình trạng sử dụng nước giếng khoan để giảm chi phí đầu vào ở một số đơn vị,

cơ sở kinh doanh, gây ảnh hưởng không tốt đến du lịch Sầm Sơn Hệ thống thoát nước thải và rác thải: Mặc dù có nhiều cố gắng trong đầu tư nâng cấp nhưng hệ thống thoát nước – rác thải ở Sầm Sơn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng nhu cầu cho một đô thị du lịch Tình trạng nước thải sinh hoạt tại một số khách sạn, nhà nghỉ, khu dân cư chưa qua xử lý đều tự ngấm vào lòng đất Hệ thống thu gom và

xử lý rác thải chung của thị xã đã có quy hoạch nhưng vẫn chưa được quan tâm

đầu tư kịp thời

- Cơ sở lưu trú:

Được xác định là địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của tỉnh, do đó, Sầm Sơn luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của tỉnh cả về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế -xã hội Từ sự quan tâm đó, cùng với việc thành phố cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư và làm tốt công tác giải phóng mặt bằng đã giúp Sầm Sơn thu hút được nhiều dự án lớn của các nhà đầu tư có tiếng vào địa bàn, tạo nên bước đột phá ngoạn mục về

hạ tầng và dịch vụ du lịch trong vòng hơn 5 năm trở lại đây Các sản phẩm du lịch mới với nhiều dịch vụ cao cấp được đưa vào khai thác như: hệ thống khách sạn tiêu chuẩn 5 sao, sân Gofl của Tập đoàn FLC, hệ thống các khách sạn, nhà

Trang 37

hàng phát triển nhanh, khiến thành phố du lịch biển Sầm Sơn ngày càng hiện đại, văn minh, hấp dẫn đối với du khách

Hệ thống khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, trung tâm điều dưỡng, làng du lịch phát triển tương đối nhanh, phù hợp với quy luật cung cầu và quy luật phát triển của du lịch Bên cạnh hệ thống các khách sạn,nhà nghỉ,ở Sầm Sơn có 2 cơ

sở điều dưỡng chính là: Trung tâm phục hồi chức năng ( Bộ Công Nghiệp) và viện điều dưỡng Trung Ương (Bộ Y tế) Ngoài ra còn có các cơ sở điều dưỡng khác,chủ yếu của quân đội, công an, giao thông như: Nhà điều dưỡng Phòng không, không quân,viện điều dưỡng …

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh nhận thấy được tiềm năng phát triển du lịch tại Sầm Sơn đã mạnh dạn đầu tư xây dựng mới và nâng cấp các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng hiện đại, đạt tiêu chuẩn từ 2 sao trở lên, đáp ứng nhu cầu phục vụ du khách Nếu như năm 1981, thị xã Sầm Sơn chỉ có gần 10 khách sạn, nhà nghỉ của các bộ, ngành thì đến nay, trên địa bàn thành phố có 690

cơ sở lưu trú, với 19.000 phòng, tăng 225 cơ sở (tăng 1.8 lần) và 9.600 phòng (tăng 2 lần) so với năm 2015

trú

Số phòng

Với số lượng phòng lưu trú lớn, Sầm Sơn đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của

Trang 38

khách du lịch, cũng như góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của du lịch thành phố Tuy nhiên, vào những đợt cao điểm như nghỉ lễ và cuối tuần, lượng khách đổ về nhiều, cũng gây không ít áp lực lên hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất du lịch trên địa bàn, cũng như ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ lưu trú Trong đó, giá cả và quản lý giá, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường luôn là những vấn đề nóng của thành phố mỗi mùa du lịch Để hạn chế tối đa, nhằm tránh xảy ra những sự việc đáng tiếc, làm ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch Sầm Sơn Đồng thời, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về dịch vụ du lịch,

ở tất cả các khâu, các lĩnh vực, nhất là trong hoạt động kinh doanh lưu trú, UBND thành phố đã ban hành phương án quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú

phải tuân thủ các quy định về kinh doanh lưu trú du lịch, như phải có biển hiệu

rõ ràng, đúng quy định về mẫu biển tên, hạng CSLT; có đầy đủ các giấy tờ liên

cháy nổ, giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, có đề án hoặc xác nhận bảo vệ môi trường theo quy định Đồng thời, yêu cầu các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch, không tự ý cơi nới, làm mái che chắn lấn chiếm vỉa hè, lòng đường; phòng nghỉ, phòng ăn, phòng vệ sinh bảo đảm sáng, sạch, đẹp Cùng với đó, thành phố cũng yêu cầu các cơ sở kinh doanh lưu trú phải sử dụng hợp đồng hoặc bản thỏa thuận thuê khách sạn, nhà nghỉ, nhằm tạo thuận lợi cho việc xử lý nếu phát sinh tình huống tranh chấp

- Hệ thống cơ sở dịch vụ ăn uống - nhà hàng

Trong thời gian qua, hệ thống cơ sở ăn uống - nhà hàng ở Sầm Sơn phát triển tương đối nhanh, năm 2010 mới có 544 cơ sở, đến năm 2018 đã có 752 cơ sở, chưa

kể đến hàng trăm kiốt và hàng quán nhỏ lẻ dọc các đường phố và bãi biển [12]

Từ tháng 7/2015, khu quần thể nghỉ dưỡng FLC Sầm Sơn (Thanh Hóa) được

Trang 39

đưa vào vận hành Bên cạnh hệ thống hơn 1.000 phòng khách sạn và biệt thự biển theo phong cách hiện đại, sang trọng, FLC Sầm Sơn cũng sở hữu chuỗi 17 nhà hàng và quán bar đa dạng Sau khi dự án của FLC chính thức đi vào hoạt động, hàng loạt dự án bất động sản du lịch, các khách sạn cao cấp mọc lên,theo

đó hệ thống các nhà hàng và quán ăn nhỏ lẻ cũng đã tăng lên đáng kể, biến biển Sầm Sơn trở thành một đại đô thị biển hiện đại, gây ngỡ ngàng cho nhiều du khách sau nhiều năm trở lại

- Hệ thống khu vui chơi giải trí

Những năm trở lại đây, Sầm Sơn đã và đang xây dựng và phát triển các khu thể thao, vui chơi, giải trí, khu nghỉ dưỡng cao cấp, làm phong phú thêm dịch vụ

hỗ trợ kéo dài thời gian lưu trú của khách như: Khu vui chơi giải trí huyền thoại Độc Cước, khu Vạn Chài Resort, vũ trường, quán bar – karaoke với tổng số vốn lên hàng trăm tỷ đồng, chiếm 79% tổng số vốn đầu tư trong toàn tỉnh Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp của nước ngoài chưa có, mới chỉ dừng lại ở đầu tư trong nước và một số dự án của Việt Kiều nên quy mô dự án chưa xứng tầm với điểm du lịch đầy hấp dẫn như Sầm Sơn

- Hệ thống dịch vụ vận chuyển

Để góp phần giải quyết nhu cầu đi lại ngày càng tăng của khách du lịch và nhân dân, năm 2005 Sầm Sơn đã khai trương hoạt động bến xe chất lượng cao phục vụ các tuyến nội và ngoại tỉnh Không dừng lại ở đó, từ năm 2007 trở đi, thành phố đã phối hợp với công ty cổ phần xe khách Thanh Hoá, công ty cổ phần taxi Mai Linh mẽ các tuyến xe bus Rừng Thông – Thanh Hoá - Sầm Sơn, tổ chức chạy các tour du lịch lữ hành từ Sầm Sơn đến các địa điểm danh lam thắng cảnh nổi tiếng trên địa bàn Thanh Hoá Ngoài ra, Sầm Sơn còn có hơn 800 xe xích lô,

xe điện và hàng trăm xe đạp đôi phục vụ du khách suốt 24/24h

- Hệ thống các dịch vụ đảm bảo khác

Trang 40

Cùng với việc ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ du lịch, vấn đề bảo đảm

trọng Ở Sầm Sơn hàng năm luôn duy trì đội cứu hộ từ 27-30 người, 3 tàu cứu

hộ luôn thường trực trên các bãi tắm để làm nhiệm vụ hướng dẫn, cứu hộ 75 khách, nhằm hạn chế mức độ rủi ro thấp nhất đối với du khách Mặc dù vậy,vào

vực cảnh báo nguy hiểm

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại thành phố Sầm Sơn-tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015-2019

Hiện nay, với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng cho phép khai thác nhiều loại hình du lịch, Sầm Sơn đã trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, thu hút ngày càng đông khách du lịch trong và ngoài nước:

Bảng 2.2 Số lượng khách du lịch đến với Sầm Sơn,Thanh Hóa

Ngày đăng: 05/07/2021, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Buhalis, “Marketing cạnh tranh điểm đến trong tương lai”, Tourism Management,tr. 97-116,2000Tài li ệu tham khảo tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing cạnh tranh điểm đến trong tương lai
[2] Ths. Lê Quỳnh Chi, “Tổng quan Du lịch” , Khoa D u Lịch Đại học Mở Hà Nội , tr. 28-32, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan Du lịch
[3] TS. Nguyễn Văn Đảng ,"Xúc tiến quảng bá điểm đến du lịch" ,Đại học Thương Mại,2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xúc tiếnquảng bá điểmđến du lịch
[4] GV Nguyễn Thị Thu Mai, Giáo trình “Marketing điểm đến du lịch” , Khoa Du lịch, Đại học Mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing điểm đến du lịch
[5] PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh và TS.Nguyễn Đình Hòa , Giáo trình “Marketing Du lịch - Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Du lịch và Khách sạn” ,2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Du lịch-Đại học kinh tế quốc dân-Khoa Du lịch và Kháchsạn
[7] Bùi Xuân Nhàn, Giáo t rình “Marketing Du Lịch” , NXB Thống kê, Hà Nội , 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Du Lịch
Nhà XB: NXB Thống kê
1. T ài liệu du lịch: https://tailieudulich.wordpress.com/ Link
2. Bách khoa toàn thư Việt Nam: https://vi.wikipedia.org Link
3. Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa: https://samson.thanhhoa.gov.vn 4. Cổng thông tin điện tử của Tổng cục du lịch: http://vietnamtourism.gov.vn 5. https://trinhdinhlinh.com/management/usp-analysis-la-gi/ Link
7. Sở văn hóa,thể thao và du lịch Thanh Hóa: http://svhttdl.thanhhoa.gov.vn/ Link
[6] Đào Bảo Minh, Một số giải pháp marketing địa phương nhằm phát triển du lịch Phú Yên đến năm 2020, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 2012, 95tr Khác
[8] Phạm Thị Nhã, Một số giải pháp marketing thu hút khách du lịch quốc tế đến với thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Mở Hà Nội, 2020,92tr Khác
[9] Vũ Đình Quế ,Kinh tế Du lịch ở Thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Khác
[10] Nguyễn Hoàn Thủy Tiên, Khóa luận các giải pháp Marketing điểm đến nhằm phát triển Du lịch Hà Nội, Khóa luận tổ nghiệp đại học Thăng Long,2014,108tr Khác
[12] Uỷ ban Nhân dân Thị xã Sầm Sơn , Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - xã hội Thị xã Sầm Sơn thời kỳ đến năm 2020, Báo cáo tổng hợp, Tx Sầm Sơn, 8/ 2011.Các trang web tài li ệ u tham kh ả o Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w