BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ XUÂN GIAO XÁC ĐỊNH TỶ LỆ SUY YẾU THEO THANG ĐIỂM FRIED VÀ GIÁ TRỊ TẦM SOÁT SUY YẾU CỦA THANG PRISMA-7 TRÊN B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ XUÂN GIAO
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ SUY YẾU THEO THANG ĐIỂM FRIED
VÀ GIÁ TRỊ TẦM SOÁT SUY YẾU CỦA THANG PRISMA-7 TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ
TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ BẾN TRE
CHUYÊN NGÀNH: LÃO KHOA
MÃ SỐ: CK 62 72 20 30
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THANH HUÂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bốtrong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Xuân Giao
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Đại cương về suy yếu 5
1.1.1 Định nghĩa suy yếu 5
1.1.2 Sinh lý suy yếu 6
1.1.3 Các yếu tố liên quan đến suy yếu 9
1.1.4 Thang điểm Fried 12
1.1.5 Thang Prisma-7 14
1.1.6 Chỉ số Suy yếu của khiếm khuyết tích tụ (Fraity Index-Accumulative Deficits/FI-CD) 15
1.2 Tổng quan những nghiên về suy yếu có liên quan đến đề tài 16
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 16
1.2.2 Những nghiên cứu trong nước 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2 Thời gian nghiên cứu 21
Trang 42.4.1 Dân số mục tiêu 21
2.4.2 Dân số chọn mẫu 21
2.5 Cỡ mẫu 21
2.6 Phương pháp chọn mẫu 22
2.6.1 Kỹ thuật chọn mẫu 22
2.6.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 23
2.6.3 Kiểm soát sai lệch 23
2.7 Định nghĩa biến số nghiên cứu 24
2.7.1 Biến số: 24
2.7.2 Hoạt động chức năng theo ADL 26
2.7.3 Hoạt động chức năng IADL 27
2.7.4 Suy yếu theo Fried 29
2.7.5 Suy yếu theo thang PRISMA-7 32
2.8 Sơ đồ nghiên cứu 34
2.9 Quản lý và xử lý số liệu 34
2.9.1 Quản lý số liệu: 34
2.9.2 Xử lý số liệu: 34
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu: 36
2.11 Vai trò của người thực hiện nghiên cứu 36
Chương 3: KẾT QUẢ 37
3.1 Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu 37
3.2 Suy yếu 42
3.3 Mối liên quan giữa suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và các đặc điểm của dân số nghiên cứu 45
3.4 Suy yếu theo thang Prisma-7 52
Chương 4: BÀN LUẬN 56
4.1 Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu 56
4.2 Suy yếu 62
Trang 54.3 Mối liên quan giữa suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và các đặc điểm của dân số nghiên cứu 65 4.4 Suy yếu theo tiêu chuẩn Prisma 67
KẾT LUẬN 70TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: TIÊU CHUẨN SUY YẾU FRIED
PHỤ LỤC 2: BẢNG TÍNH NĂNG LƢỢNG TỪNG HOẠT ĐỘNG
PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐỒNG Ý TỰ NGUYỆN THAM GIA NGHIÊN CỨUPHỤ LỤC 4: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTTIẾNG VIỆT
TIẾNG ANH
Diện tích dưới đường cong
Hoạt động chức năng hàng ngày
Chỉ số khối cơ thể
Đánh giá lão khoa toàn diện
Trang 7Chỉ số suy yếu
Thang điểm trầm cảm người cao tuổi
Hoạt động chức năng sinh hoạt hàng ngày
Đánh giá dinh dưỡng giản lược
Đánh giá trầm cảm
Đại thực bào và tế bào giết tự nhiên
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy yếu theo Fried 11
Bảng 1.2: Bộ câu hỏi Prisma-7 14
Bảng 1.3: Tổng hợp các nghiên cứu về giá trị Fried 16
Bảng 1.4: Tổng hợp các nghiên cứu về giá trị của bộ câu hỏi Prisma-7… 19
Bảng 1.5: Tổng hợp các nghiên cứu về giá trị Fried và giá trị của thang Prisma -7……… 21
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy yếu theo Fried 13
Bảng 2.1: Hoạt động chức năng theo ADL 26
Bảng 2.2: Hoạt động chức năng IADL 27
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn chẩn đoán chậm chạp theo giới và chiều cao của Fried 30
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán yếu cơ theo giới và BMI của Fried 32
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lâm sàng Lão Khoa, việc đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏengười cao tuổi là rất cần thiết, giúp cải thiện tỷ lệ tử vong và tạo cơ hội chongười cao tuổi sống có chất lượng tốt trong cộng đồng [13] Nghiên cứu củatác giả Ellis và cộng sự, đánh giá 10.315 người cao tuổi tại sáu quốc gia, chothấy kết cục có lợi của nhóm được đánh giá toàn diện là: được sống tại nhà(p = 0,003), ít khả năng sống trong nhà dưỡng lão (p < 0,001), ít khả năng tửvong (p = 0,001) [35] Mục đích của đánh giá toàn diện là để xác định mụctiêu và mức độ điều trị Trong đó, tình trạng suy yếu được xem là mục tiêutrung tâm của đánh giá toàn diện Ngoài đánh giá tình trạng sức khỏe truyềnthống như khám lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán để giải quyết cácnguyên nhân nền tảng và phát hiện các tình trạng có thể điều trị được, đối vớingười cao tuổi còn cần phải đánh giá tình trạng suy yếu nhằm xác định sứckhỏe tổng thể, những nhu cầu về sức khỏe cũng như các dịch vụ xã hội cầnthiết [47]
Hội chứng suy yếu (Frailty syndrome) còn gọi hội chứng dễ bị tổnthương là hội chứng Lão khoa thường gặp ở NCT, xảy ra do sự tích tụ củaquá trình suy giảm chức năng nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể Hội chứngsuy yếu dự báo nguy cơ cao những bất lợi về sức khỏe như: tình trạng té ngã,khuyết tật, sống phụ thuộc, tăng số lần nhập viện và thậm chí tử vong [37]
Do đó phát hiện, sàng lọc và can thiệp sớm những người bệnh cao tuổi có suyyếu là biện pháp hữu hiệu giảm thiểu gánh nặng bệnh tật và chi phí điều trịcho gia đình và xã hội
Trong hoàn cảnh lão hóa của dân số toàn cầu, tỷ lệ suy yếu trong dân sốngày càng tăng vì thế suy yếu cũng trở thành chủ đề nghiên cứu chính trong
lý thuyết và thực hành lão khoa [14]
Trang 11Khảo sát sự suy yếu là cần thiết bởi vì nó xác định nhóm người có nguy
cơ lệ thuộc cao và cần được chú ý về y tế nhiều hơn Sự lệ thuộc cũng là mốiquan tâm về kinh tế xã hội khi xem xét kế hoạch chăm sóc sức khỏe để chọnlựa tốt hơn các chương trình quản lý sức khỏe người cao tuổi
Tình trạng suy yếu ở người cao tuổi có thể khắc phục khi thực hiện cácchương trình tập luyện đặc hiệu và cung cấp dinh dưỡng Do đó nhận ranhững người cao tuổi suy yếu là rất cần thiết
Cho đến nay ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về suy yếu và cácyếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi nằm viện và một vài nghiên cứu vềsuy yếu ở NCT ngoài cộng đồng Các nghiên cứu này hoặc sử dụng công cụchẩn đoán suy yếu tương đối phức tạp, tốn nhiều thời gian như Fried, đánh giálão khoa toàn diện (CGA) hoặc sử dụng công cụ tầm soát suy yếu khá đơngiản và chủ quan như chương trình nghiên cứu triển khai các dịch vụ duy trìtính tự chủ của NCT Prisma-7
Hiện tại, phòng khám ngoại trú ở trung tâm y tế thành phố Bến Trechưa đưa ra thang điểm và dụng cụ nào để đánh giá tình trạng suy yếu trênbệnh nhân (BN) người cao tuổi, mặc dù số lượng NCT đến khám ngày càngtăng từ 100 lượt/ngày năm 2018 lên 150 lượt/ngày 6 tháng đầu năm 2019 Cácbác sỹ chưa chú ý đến đánh giá tình trạng suy yếu để xác định sức khỏe tổngthể cho NCT
Prisma-7 là công cụ đánh giá suy yếu có giá trị cao đã được sử dụngtrên thế giới NCT có thể tự trả lời Bộ câu hỏi này cũng được Hội Lão KhoaAnh Quốc khuyến cáo dùng để tầm soát suy yếu với điểm cắt của suy yếu là ≥
3 điểm và giá trị tầm soát suy yếu với độ nhạy 83% và AUC = 0,85 [45].Trong khi việc đánh giá suy yếu trên BN cao tuổi được khuyến cáo nên thực
Trang 12khả thi Các PKNT cần có công cụ đơn giản, dễ thực hiện và có giá trị để thầythuốc lão khoa đánh giá suy yếu 1 cách thường quy và cũng nhắc nhở thầythuốc lão khoa ảnh hưởng của suy yếu lên việc chăm sóc và điều trị NCT[47] Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với 3 câu hỏi:
1- Tỷ lệ suy yếu theo thang điểm Fried là bao nhiêu?
2- Mối liên quan giữa suy yếu theo Fried và các yếu tố đặc điểm nhân khẩu,
đa bệnh, đa thuốc, giảm hoạt động chức năng
3- Độ nhạy, độ đặc hiệu và diện tích dưới đường cong ROC của thangPrisma -7 là bao nhiêu?
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát: Xác định tỷ lệ suy yếu theo thang điểm Fried và giá
trị tầm soát suy yếu của thang Prisma-7 trên bệnh nhân cao tuổi tại phòngkhám ngoại trú trung tâm y tế thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre từ 25/10/2019đến 02/05/2020
Mục tiêu cụ thể:
1- Xác định tỷ lệ suy yếu theo thang điểm Fried và các yếu tố liên quan(đặc điểm nhân khẩu, đa bệnh, đa thuốc, giảm hoạt động chức năng).2- Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu và diện tích dưới đường cong ROC củathang Prisma-7
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về suy yếu
1.1.1 Định nghĩa suy yếu
Suy yếu là một tình trạng sức khỏe thường được định nghĩa là một hộichứng lão hóa đa chiều với các thành phần mất dự trữ năng lượng, khả năngthể chất, nhận thức và sức khỏe, dẫn đến tình trạng dễ bị tổn thương [19] Nóđược chấp nhận như là một khái niệm lâm sàng về sự suy giảm thể chất vàchức năng có thể thấy được trong cơ thể liên quan đến những thay đổi về sinh
lý học trong cuộc sống sau này [54] Suy yếu biểu hiện như là một tổn thươngsinh học liên quan đến tuổi đối với những nguyên nhân gây căng thẳng ởnhững người dễ bị tổn thương dẫn đến kết quả sức khỏe bất lợi và cuối cùng
Tóm lại, suy yếu có thể được hiểu là “hội chứng lâm sàng phức tạp do
nhiều yếu tố tác động suy giảm khả năng đương đầu với những thử thách, làm tăng khả năng dễ tổn thương và giảm khả năng duy trì nội mô mà có đặc tính
Trang 15chính là giảm dự trữ hệ thống chức năng sinh lý theo tuổi, giảm khả năng trở
về tình trạng sức khỏe ổn định, gia tăng các kết cục lâm sàng bất lợi ” [23],
[78] Mức độ suy yếu có thể thay đổi từ dưới lâm sàng tới giai đoạn lâm sàng
rõ ràng đến giai đoạn cuối đời [23]
1.1.2 Sinh lý suy yếu
Có sự suy giảm dần về dự trữ sinh lý của nhiều hệ thống cơ quan theotuổi, trong suy yếu, sự suy giảm này được đẩy nhanh và các cơ chế cân bằngnội mô bắt đầu suy yếu [21], [80] Một điểm quan trọng đối với tính suy yếu
là xem xét làm thế nào các cơ chế lão hóa phức tạp có thể thúc đẩy sự suygiảm dự trữ sinh lý của nhiều hệ thống, sự suy yếu dần của dự trữ cân bằngnội mô và dễ bị tổn thương sau các biến cố căng thẳng tương đối nhỏ Các cơchế lão hóa phức tạp này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và môitrường kết hợp với các cơ chế ngoài gen tạo sự biểu hiện khác nhau của cácgen trong tế bào và có thể đặc biệt quan trọng trong quá trình lão hóa [21],[48]
Lão hóa là kết quả của việc tích lũy lâu dài các tổn thương phân tử và tếbào gây ra bởi nhiều cơ chế của một mạng lưới bảo trì và sửa chữa phức tạp[21] Người ta không biết rõ về mức độ của tổn thương tế bào cần thiết đểgây ra rối loạn sinh lý cơ quan, nhưng quan trọng là nhiều hệ thống cơ quan
có sự dự trữ đáng kể, cung cấp dự trữ sinh lý cần thiết để bù đắp cho tuổi tác
và thay đổi liên quan đến bệnh tật Nghiên cứu cắt ngang năm 2009 gồm1.002 phụ nữ tham gia nghiên cứu rối loạn dự trữ sinh lý trong 6 hệ thốngkhác nhau (đông máu, viêm, hormone, mô mỡ, thần kinh cơ và nguyên tố vilượng), ghi nhận sự hiện diện của bất thường trong ba hệ thống hoặc nhiềuhơn là một yếu tố tiên đoán về tính suy yếu, số lượng các hệ thống bất thường
Trang 16Não, hệ thống nội tiết, miễn dịch và cơ xương có liên quan nội tại vớinhau và hiện nay là hệ thống cơ quan được nghiên cứu nhiều nhất trong sựphát triển của sự suy yếu Các hệ thống này sẽ được xem xét chi tiết hơn,nhưng sự suy yếu cũng liên quan đến việc mất dự trữ sinh lý trong hệ hô hấp,tim mạch, thận và các hệ thống đông máu [78] Tình trạng dinh dưỡng có thể
là yếu tố trung gian [37]
Viêm mạn tính và kích hoạt miễn dịch:
Lão hóa hệ thống miễn dịch được đặc trưng bởi sự suy giảm tếbào gốc, sự thay đổi trong sản xuất tế bào lympho T, làm giảm phản ứngkháng thể tế bào B và giảm hoạt động của bạch cầu trung tính, đại thực bào
và các tế bào giết tự nhiên (natural killer: NK) Hệ thống miễn dịch lão hóanày có thể hoạt động tốt ở trạng thái tĩnh nhưng không đáp ứng một cáchthích hợp với stress của tình trạng viêm cấp [51], [74]
Có bằng chứng cho thấy viêm có vai trò quan trọng trong sinh lý bệnhcủa suy yếu thông qua phản ứng viêm bất thường, nhạy với các kích thích vàkéo dài sau khi loại bỏ các tác nhân kích thích ban đầu Một loạt các cytokineviêm đã được liên kết độc lập với suy yếu bao gồm interleukin-6 (IL-6),protein phản ứng C (CRP), yếu tố hoại tử khối u-α (TNFα) và CXCchemokine ligand-10 (CXCL-10), một chất trung gian tiền viêm mạnh mẽ.Tuy nhiên, mức độ CRP cao ở NCT cũng có liên quan đến chức năng tế bàonhớ tốt hơn Sản phẩm cuối glycation tiên tiến (AGEs) là một nhóm các phân
tử được tạo ra bởi glycation của protein, lipid và axit nucleic có tiềm nănggây ra tổn thương tế bào lan rộng do tăng viêm Lão hóa, bệnh mãn tính và tửvong có liên quan với nhau và có thể có vai trò quan trọng của suy yếu [52],[85]
Viêm có liên quan đến chứng biếng ăn và dị hóa mô cơ và mô mỡ,
Trang 17góp phần làm suy dinh dưỡng, suy nhược cơ và giảm cân, đặc trưng cho sựsuy yếu Hơn nữa, suy yếu có liên quan đến đáp ứng kháng thể yếu đối vớicúm và văcxin phế cầu khuẩn, giúp giải thích tiêm chủng ở người lớn tuổi chỉ
có hiệu quả tương đối yếu [85]
Mất khối lượng và sức mạnh cơ có thể xảy ra nhanh sau 50 tuổi [85]
Cơ xương cung cấp sự hỗ trợ quan trọng cho sức khoẻ xương Hộichứng suy yếu cũng có mối quan hệ trực tiếp với khối lượng xương thấp vàloãng xương [37]
Sự suy giảm estrogen ở phụ nữ sau mãn kinh và giảm dần testosterone
ở nam giới cao tuổi làm giảm khối lượng cơ và sức mạnh cơ bắp [85]
Sự suy giảm của nồng độ dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA-S)
và IGF-1 theo tuổi gây ra thiếu hụt lớn trong trong sức mạnh, sức chịu đựng,giảm cân, tốc độ đi bộ, và hoạt động thể chất Hơn nữa DHEA-S có tác dụngngăn chặn tình trạng viêm gây ra bởi yếu tố hạt nhân kappa B (NFKB) Do
đó, nồng độ của DHEA-S giảm có thể góp phần làm tăng tình trạng viêmmạn tính và cuối cùng gây ra suy yếu DHEA-S giảm cũng làm tăng phóng
dẫn đến mất khối cơ, chán ăn, giảm cân và giảm năng lượng [80]
Lão hóa có những thay đổi cấu trúc và sinh lý đặc trưng trong não
Sự giảm các tế bào thần kinh chuyên biệt ở vùng vỏ não (tế bào hìnhchóp ở hồi Hải Mã) gây giảm nhận thức và bệnh Alzheimer và là một thành
Trang 18lên và chuyển thông tin ức chế ngược tới vùng dưới đồi [21].
Sự thay đổi về cấu trúc và chức năng đối với các tế bào thần kinh đệmnhỏ, đó là những tế bào miễn dịch của hệ thống thần kinh trung ương (CNS)
và tương đương với các đại thực bào của CNS Những tế bào đệm thần kinhnày có vai trò quan trọng trong sinh lý bệnh của chứng sảng [21]
1.1.3 Các yếu tố liên quan đến suy yếu
Suy yếu gia tăng theo độ tuổi Những người cao tuổi, đặc biệt khi suyyếu chi phí cho chăm sóc sức khỏe cao nhất ở các nước phát triển
- Suy yếu liên quan đến chủng tộc (người Mỹ gốc Phi Châu), giới tính
nữ, có trình độ học vấn thấp hơn, thu nhập, sức khỏe kém hơn, có tỷ lệ bệnhtật và tàn tật kèm theo cao hơn [37]
Ngoài ra các yếu tố liên quan đến suy yếu còn bao gồm tuổi, suy giảmhoạt động, đa bệnh, đa thuốc, nhập viện trong một năm qua, suy giảm nhậnthức, và nguy cơ suy dinh dưỡng [59]
Suy yếu và BMI: Cả hai định nghĩa kiểu hình của suy yếu và FI cho thấytăng mức độ suy yếu trong số những người có BMI thấp và rất cao Do có sựgia tăng béo phì ở những người cao tuổi cần chú ý đến chế độ ăn uống và tậpthể dục để tránh cho NCT béo phì Sự kết hợp của sự suy yếu với vòng eolớn, ngay cả trong số những NCT nhẹ cân, cho thấy người béo phì có thể làmột mục tiêu bổ sung cho sự can thiệp
Suy yếu và dinh dưỡng: Suy yếu và dinh dưỡng kém chiếm tỷ lệ cao ởdân số NCT Vì vậy nó đã trở thành chủ đề chính trong nghiên cứu lãokhoa[49] Benedetta Bartali, Phân khoa Dinh dưỡng Đại học Cornell Hoa Kỳ
đã tiến hành nghiên cứu mối liên quan giữa suy yếu và thiếu dinh dưỡng.Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá liệu một lượng thấp năng lượng
và chất dinh dưỡng có liên quan đến sự suy yếu ở NCT Ông và cộng sự phát
Trang 19hiện thấy rằng lượng tiêu thụ năng lượng ≤ 21 kcal/kg/ngày và lượng thức ănthấp hơn ba chất dinh dưỡng (điểm dinh dưỡng thấp) có liên quan đáng kểđến tính suy yếu mà không phụ thuộc vào lượng năng lượng ăn được và cácyếu tố gây nhiễu tiềm ẩn khác Dinh dưỡng kém có liên quan đến cảm giáckiệt sức và làm sức cơ bắp yếu (những tiêu chí suy yếu) Tuy nhiên, sau khiđiều chỉnh lượng tiêu thụ năng lượng, sự liên quan với cảm giác kiệt sứckhông còn ý nghĩa thống kê nữa, cho thấy lượng năng lượng thấp có thể dẫnđến kiệt sức Thay vào đó, sự kết hợp với sức mạnh cơ bắp vẫn còn đáng kể,cho thấy rằng chất lượng của chế độ ăn uống đóng một vai trò quan trọngtrong hiệu quả cơ bắp [23].
Suy yếu và bệnh tim mạch: Suy yếu và bệnh tim mạch (CVD) có mốiliên quan với nhau CVD có thể đẩy nhanh tiến triển của suy yếu Sự khiếmkhuyết được xác định từ 25% đến 50% bệnh nhân bị bệnh tim mạch, phụthuộc vào thang điểm suy yếu được sử dụng và dân số nghiên cứu Nhữngbệnh nhân bị suy yếu có CVD, đặc biệt là những người đang trải qua các thủthuật xâm lấn hoặc bị bệnh động mạch vành và suy tim, có nhiều khả năng bịcác kết cục bất lợi so với những người không suy yếu Thang điểm EdmontonFrail Scale là công cụ khảo sát suy yếu có giá trị ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnhmạch vành cấp Kiểm tra tốc độ đi bộ 5m là một cách đơn giản và có hiệuquả để đo lường tính khách quan ở bệnh nhân bị bệnh tim mạch và nên đượcđưa vào đánh giá rủi ro Nghiên cứu sâu hơn sẽ làm rõ làm thế nào để kết hợptốt nhất tính suy yếu trong các mô hình nguy cơ hiện tại và làm thế nào để tối
ưu hóa tình trạng sức khỏe, ngăn ngừa các kết cục bất lợi ở những bệnh nhânsuy yếu [17], [18]
Suy yếu và suy giảm nhận thức: Chứng suy giảm nhận thức nhẹ (MCI)
Trang 20các cộng đồng NCT Tỷ lệ mắc bệnh sa sút trí tuệ hàng năm rất cao, từ 5%đến 15% Vì vậy, MCI có thể được coi là một giai đoạn chuyển tiếp giữanhận thức bình thường và chứng mất trí, là một giai đoạn tiền lâm sàng củagiai đoạn sau Vì không có phương pháp điều trị hiệu quả nào, một số nghiêncứu đang được tiến hành để xác định các yếu tố nguy cơ có thể đảo ngược.Một số nghiên cứu cho thấy bằng chứng cho thấy hội chứng suy yếu có thể làmột yếu tố nguy cơ bổ sung cho sự phát triển của MCI hoặc ảnh hưởng tiêucực đến tiến trình lâm sàng của nó [23].
Suy yếu và các bệnh liên quan đến lão hóa: Suy yếu có mối liên hệ tới
sự phát triển và tiến triển của nhiều bệnh liên quan đến tuổi và cũng là conđường trực tiếp cuối cùng dẫn đến một số bệnh lão hóa quan trọng như loãngxương, hậu quả của gãy xương; kém dinh dưỡng; nhiễm trùng đưa đến té ngã
và lệ thuộc chức năng [38]
Đánh giá suy yếu trong thực hành lâm sàng
Trên thế giới đã có ≥ 20 công cụ dùng để đánh giá suy yếu ở NCT, trong
đó có thể kể đến như tiêu chuẩn Fried, thang điểm suy yếu lâm sàng Canada,
bộ câu hỏi PRISMA-7 Đánh giá suy yếu là một thành phần chính của đánhgiá lão khoa toàn diện và phải được thực hiện ở mỗi lần tiếp xúc giữa nhânviên y tế và NCT ngoài cộng đồng hay bệnh nhân ngoại trú [31], [32]
Trong những công cụ được sử dụng để đánh giá suy yếu thì thang điểmsuy yếu Fried và FI (Frailty Index) được sử dụng nhiều nhất trong các nghiêncứu [43], [70] Khi lựa chọn công cụ đánh giá suy yếu thì dân số khảo sát lànhững ai: bệnh nhân lão khoa, ung thư, chăm sóc giảm nhẹ, bệnh timmạch cũng như các yếu tố khác có thể cân nhắc trong quá trình sử dụng nhưthời gian, dụng cụ hỗ trợ đánh giá, nhân viên y tế chăm sóc ban đầu hay là bác
sĩ lão khoa, bệnh nhân tại phòng khám hay bệnh nhân điều trị nội trú…
Trang 211.1.4 Thang điểm Fried
Fried và cộng sự đã đƣa ra 5 tiêu chí để đánh giá suy yếu: sụt cân (sụtcân không chủ ý, giảm 4,5kg trở lên trong năm vừa qua), tình trạng yếu cơ(lực cơ tay thấp hơn 20% so với mức cơ bản, điều chỉnh theo giới và chỉ sốkhối cơ thể), kiệt sức (tự cảm thấy rằng phải gắng sức để làm mọi việc trongtuần qua với tần suất ≥ 3 ngày trong tuần), chậm chạp (thời gian đi bộ tínhbằng giây đƣợc so sánh với mức cơ bản đã điều chỉnh theo giới và chiều cao)
và hoạt động thể lực thấp (đƣợc tính bằng tổng số kilocalo tiêu hao trong mỗituần trên phiên bản ngắn của bộ câu hỏi các hoạt động) Nếu có 3 trong nămtiêu chí: NCT bị suy yếu, từ 1 đến 2 tiêu chí: tiền suy yếu (pre – frailty),không có tiêu chí nào: không có suy yếu
Tùy theo tác giả tỷ lệ suy yếu trong từng tiêu chí khác nhau [27] Tiêuchuẩn đánh giá suy yếu của Fried đƣợc xem là tiêu chuẩn vàng trong đánh giásuy yếu đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu áp dụng và đã đƣợc áp dụng cho nhiềunghiên cứu dịch tễ học, nó đƣợc dự đoán các kết quả lâm sàng bất lợi, kể cả tửvong [34]
Thang suy yếu Fried ngày càng có nhiều sự đồng thuận rằng suy yếu là 1trạng thái lâm sàng liên quan đến nhiều dấu hiệu và triệu chứng Tiêu chuẩnnày có thể đƣợc áp dụng ngay lần đầu tiên tiếp xúc với đối tƣợng
Trang 22Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy yếu theo Fried
làm đƣợc”
Chậm chạp Thời gian đi 15 feet (4,57m) kéo dài (hiệu chỉnh theo giới và tuổi)Mức hoạt
(điều chỉnh tùy theo giới và BMI)
“Nguồn: Fried L P, 2001”[37].
Biểu đồ 1.1: So sánh các thang điểm đánh giá suy yếu đƣợc nghiên cứu
Nguồn: Buta B J (2016) [26].
Trang 231.1.5 Thang Prisma-7
Prisma-7 là bộ công cụ tầm soát suy yếu do bệnh nhân tự trả lời, gồm 7nội dung đơn giản được đề xuất từ chương trình đánh giá tầm soát và canthiệp suy yếu rất lớn tại Canada chương trình nghiên cứu để triển khai cácdịch vụ duy trì tính tự chủ ở NCT Thang Prisma-7 được đề xuất vào năm
2002 Hébert R đã đưa ra một khuyến cáo chuyên biệt cho việc sử dụngPrisma-7 trở thành một bộ công cụ tầm soát suy yếu [41], [63]
Prisma-7 là một công cụ tầm soát suy yếu có giá trị và tin cậy, với ưuđiểm là dễ thực hiện vì 7 nội dung của bộ câu hỏi là dành cho NCT tự trả lờichỉ mới thực hiện ở cộng đồng, không yêu cầu dụng cụ chuyên biệt, cũng nhưkhông cần phải huấn luyện cho nhân viên y tế [31]
không?
hay không?
Nguồn: Raiche M (2008) [63 ].
Trang 24Mỗi câu hỏi có 2 sự lựa chọn là có hoặc không Khi có từ 3 sự lựa chọntrở lên được đánh giá là có suy yếu Câu trả lời là thỉnh thoảng được xem là
có Thang Prisma-7 được khuyến cáo là công cụ có thể dành cho bác sĩ vànhân viên y tế sử dụng khi lần đầu tiếp xúc với bệnh nhân NCT tại phòngkhám ngoại trú [50] Chính vì những ưu điểm trên mà chúng tôi lựa chọncông cụ này để tầm soát suy yếu tại phòng khám ngoại trú
1.1.6 Chỉ số Suy yếu của khiếm khuyết tích tụ (Fraity Accumulative Deficits/FI-CD)
Index-Các chỉ số suy yếu (FI) của khiếm khuyết tích tụ (FI-CD) lần đầu tiênđược đề xuất bởi Rockwoord và Mitnitski như là một cách để kết hợp đachiều của sự suy yếu thành một định nghĩa có thể sử dụng FI-CD được củng
cố bằng lý thuyết nguyên nhân sinh học và liên quan đến sự tích tụ của 30hoặc nhiều bệnh đồng mắc , triệu chứng, bệnh tật, khuyết tật hoặc bất kỳ sựkhiếm khuyết của sức khỏe với lý do một số lượng lớn các khiếm khuyết sứckhỏe làm suy yếu nhiều hơn Hướng dẫn toàn diện cho việc tạo ra một FI-CD
đã được cung cấp bởi Searle và cộng sự vào năm 2008 [19]
FI-CD rất có giá trị và đã được áp dụng nhiều cho bộ dữ liệu, bao gồmSurvey of Health, nghiên cứu Ageing and Retirement (SHARE) ở châu Âucòn gọi là SHARE-FI Lý tưởng nhất FI-CD nên được sử dụng như một biếnliên tục, tuy nhiên đối với các nghiên cứu so sánh những điểm cắt khác nhau
đã xem xét để xác định sự suy yếu [19] Quan trọng hơn, gần đậy FI-CD đãthích hợp cho tìm kiếm mô hình lâm sàng Trong đó có ý nghĩa rất lớn đội vớicác nghiên cứu can thiệp suy yếu
Tiêu chuẩn đánh giá suy yếu theo chỉ số suy yếu được tóm tắt như sau:Suy yếu như là hậu quả tích tụ các khiếm khuyết theo thời gian
Khiếm khuyết: tàn tật, bệnh, rối loạn nhận thức, các yếu tố nguy cơ, tâm
lý xã hội, hội chứng lão hóa (té ngã, sảng, tiểu không tự chủ…)
Trang 25FI = số khiếm khuyết bệnh nhân có/ tổng số khiếm khuyết được đánh giá(từ 0 đến 1)
FI < 0,25: không/ tiền suy yếu (Pre-frailty)
FI ≥ 0,25: suy yếu (Frailty)
FI tương quan mạnh với nguy cơ tử vong
1.2 Tổng quan những nghiên về suy yếu có liên quan đến đề tài
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Nghiên cứu về giá trị Fried
Bảng 1.3: Tổng hợp các nghiên cứu về giá trị Fried
ThangđiểmFried
Tỷ lệ suy yếu: 39,2%, tiền suyyếu: 43,3% Yếu tố liên quan tuổi,giới nữ, trình độ học vấn thấp,sống chung gia đình, đa bệnh, đathuốc
Tỷ lệ suy yếu 17,1%, tiền suy yếu:60,1%, không suy yếu: 22,8%.Yếu tố liên quan tuổi, đa bệnh,IADL, ADL
ThangđiểmFried
Tỷ lệ suy yếu 9,3%, tiền suy yếu:43,9%, không suy yếu: 46,8%.Yếu tố liên quan tuổi, sống mộtmình, trầm cảm và lo âu, suy giảm
Trang 261.2.1.2 Nghiên cứu về giá trị của thang Prisma -7
Bảng 1.4: Tổng hợp các nghiên cứu về giá trị của thang Prisma -7
trong tầm soát suy yếu ở NCT
Tác giả Dân số Đánh giá
Thangđiểm Fried
AUC của Prisma -7:0,85
Ngƣỡng cut off từ 3 có độnhạy 86%, độ đặc hiệu 83%
Thangđiểm Fried
AUC của Prisma -7: 0,849
AUC của Prisma -7: 0,849.Ngƣỡng cut off từ 3 có độnhạy 100%, độ đặc hiệu 80%Yaman
Hakan,
Ünal Zeynep
(2018) [86]
150 NCT ≥ 65tuổi tại ThổNhĩ Kỳ
Thangđiểm suy
sàng
AUC của Prisma -7: 0,903Ngƣỡng cut off từ 4 có độnhạy 81,5%, độ đặc hiệu88,2%
Prisma-7 có giá trị cao trong tầm soát suy yếu ở NCT, giá trị của AUCdao động từ 0,849 đến 0,903, độ nhạy dao động từ 81,5% đến 100%, ngƣỡngcut-off của bộ câu hỏi Prisma-7 trong tầm soát suy yếu ở NCT đa phần là từ 3điểm Trong việc tìm giá trị của Prisma -7 thì thang điểm Fried phần lớn đƣợcchọn để nghiên cứu Chính vì Prisma -7 đơn giản, dễ thực hiện thích hợp là
Trang 27một công cụ đánh giá suy yếu tại PKNT nên chúng tôi lựa chọn công cụ này
để nghiên cứu
1.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, suy yếu ở NCT đã được quantâm nhiều hơn Đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn Friedtrong đánh giá suy yếu NCT Năm 2017, tác giả Hồ Thị Kim Thanh vàNguyễn Thị Minh Hải khảo sát trên 357 BN đái tháo đường típ 2 tại Viện LãoKhoa Trung Ương cho thấy tỷ lệ suy yếu ở những bệnh nhân tại phòng khámngoại trú là 30,09%, đây cũng là công trình nghiên cứu về suy yếu tại phòngkhám ngoại trú đầu tiên ở Việt Nam [3] Năm 2017, tác giả Nguyễn VănThình khảo sát 598 NCT ≥ 60 tuổi ở cộng đồng quận 8 thành phố Hồ ChíMinh, tỷ lệ suy yếu theo Fried là 25,4%, yếu tố liên quan gồm tuổi, đa bệnh,giảm ADL và IADL [10] Tác giả Huỳnh Trung Quốc Hiếu được thực hiệntrên 295 bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành mạn tại bệnh viện Thống Nhất
TP HCM tỷ lệ suy yếu là 54,92%, đồng thời, chậm chạp thông qua test đi bộ5m là yếu tố có khả năng dự báo xuất hiện biến cố tim mạch nặng tại thờiđiểm 3 tháng sau xuất viện ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh động mạch vành[4]
Năm 2018, tác giả Tăng Thị Thu nghiên cứu trên 303 NCT ≥ 60 tuổi tạicác khoa Nội (tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, nội tiết – tổng hợp, lão –chăm sóc giảm nhẹ) bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Khi sosánh với thang điểm đánh giá lão khoa toàn diện (suy yếu được định nghĩa khisuy giảm ≥ 2/5 lĩnh vực: tình trạng hoạt động chức năng ADL, IADL; tìnhtrạng tâm thần theo MMSE; trầm cảm theo GDS; dinh dưỡng theo MNA vàtình trạng bệnh lý đi kèm theo chỉ số Charlson) bộ câu hỏi Prisma-7 với
Trang 28ngưỡng cut off từ 3 có độ nhạy 88,82%, độ đặc hiệu 76,69%, diện tích dướiđường cong AUC 0,8888 [11].
Bảng 1.5: Tổng hợp các nghiên cứu tại Việt Nam về giá trị củathang điểm Fried và thang Prisma-7 trong tầm soát suy yếu ở NCT
Thang điểmFried
Suy yếu 30,09%.Yếu tố liên quan:tuổi, giới tính, thờigian mắc bệnh
Nguyễn V
Thình
(2017) [10]
598 NCT ≥ 60 tuổi ở cộngđồng quận 8 thành phố HồChí Minh
Thang điểmFried
Suy yếu 25,4%.Yếu tố liên quan:tuổi, đa bệnh, giảmADL, IADL
Tăng T Thu
(2018) [11]
303 NCT ≥ 60 tuổiNội trú
Trung tâm Y tế thành phố Bến Tre là cơ sở Y tế đa chức năng Với 1mảng điều trị và 1 mảng dự phòng Mảng điều trị chỉ có phòng khám ngoạitrú không có điều trị nội trú, người bệnh được khám bệnh và cấp thuốc ngoại
Trang 29trú Nếu bệnh nặng cần nhập viện điều trị phải chuyển tuyến Tuy nhiên cónhiều trường hợp bệnh cần phải điều trị nội trú nhưng do không đủ vấn đềkinh tế, người chăm sóc và trong mùa dịch covid dẫn đến người bệnh khôngđồng ý nhập viện.
Trang 30CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ 25 tháng 10 năm 2019 đến hết 02 tháng 05 năm 2020
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Phòng khám ngoại trú trung tâm y tế thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
2.4 Đối tượng nghiên cứu
Trang 31d: độ chính xác tuyệt đối không mong muốn, d = 0,04
Trang 322.6.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
2.6.2.1 Tiêu chuẩn đưa vào
- NCT (≥60 tuổi) đến khám và điều trị ngoại trú tại PK trung tâm y tếthành phố Bến Tre trong khoảng thời gian nghiên cứu
- Đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Có khả năng giao tiếp, nghe và hiểu tiếng Việt
2.6.2.2 Tiêu chuẩn loại ra
- Không có khả năng đi lại, phải di chuyển bằng xe lăn
- Tiền sử phẫu thuật hoặc chấn thương tay trong vòng 3 tháng trước
- Tiền sử phẫu thuật đục thủy tinh thể hoặc võng mạc trong vòng 6 tuầntrước
2.6.3 Kiểm soát sai lệch
2.6.3.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
- Trong trường hợp tuổi của BN khai khác với tuổi trên giấy chứng minhnhân dân hoặc thẻ bảo hiểm y tế chúng tôi ghi nhận tuổi của BN khai vì trongmột số trường hợp việc làm giấy khai sinh có thể bị sai lệch Vì sai lệch tuổi
có thể ảnh hưởng đến kết quả suy yếu
2.6.3.2 Kiểm soát sai lệch thông tin
- Thiết kế bộ câu hỏi phù hợp, rõ ràng, dễ hiểu, lấy đủ các thông tin cầnthiết về các hoạt động chức năng, tình trạng kiệt sức, các công việc hàngngày
- Đối với các câu hỏi về hoạt động chức năng ADL, IADL, công việchàng ngày thì hướng dẫn cho đối tượng nghiên cứu trả lời các câu hỏi mộtcách cụ thể, đầy đủ, chính xác Nếu đối tượng nghiên cứu chưa hiểu rõ thìphối hợp cùng thân nhân để giải thích chính xác Trong trường hợp có sự
Trang 33không đồng nhất giữa BN và thân nhân chúng tôi ghi nhận thông tin theo thânnhân.
- Đối với các thông tin như sức cơ, thời gian thực hiện chúng tôi kiểm tratính chính xác của máy đo sức cơ, đồng hồ bấm thời gian, thước đo chiều cao
và cân nặng trước khi tiến hành thu thập số liệu
2.7 Định nghĩa biến số nghiên cứu
2.7.1 Biến số:
đến ngày BN đi khám
cấp 2, cấp 3, đại học, sau đại học
vợ/chồng, ly hôn
gia đình (cha/mẹ/vợ/chồng/con/cháu), sống một mình, khác (sống với ngườiquen hoặc họ hàng xa)
nhận lại số bệnh mạn tính BN đã được chẩn đoán dựa vào toa thuốc gần nhất.Bệnh mạn tính được định nghĩa là bệnh diễn tiến chậm, tồn tại kéo dài ≥ 3tháng và không thể chữa khỏi [38]
Các bệnh mạn tính thường gặp: Tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh timthiếu máu cục bộ, bệnh xương khớp, suy tĩnh mạch chi dưới, hen phế quản…
Trang 34 Đa bệnh là biến nhị giá gồm 2 giá trị có hoặc không Gọi là đa bệnhkhi có ≥ 2 bệnh mạn tính được chẩn đoán theo tiêu chí được công nhận rộngrãi [1].
điều trị kê toa trong lần khám này
khi BN sử dụng đồng thời 5 loại thuốc trở lên (không tính thực phẩm chứcnăng, vitamin, thảo dược) [61] Đối với những trường hợp BN được kê toathuốc trong đó có những viên thuốc kết hợp thì sẽ tính dựa vào số lượng hoạtchất của viên thuốc đó
đo
thức
Trang 352.7.2 Hoạt động chức năng theo ADL
Bảng 2.1: Hoạt động chức năng theo ADL
Cần giúp tắm nhiều hơn mộtphần cơ thể, giúp vào hoặc
ra bồn tắm hoặc vòi sen Cầngiúp tắm hoàn toàn
Thay quần áo
Lấy quần áo từ tủ hoặc ngănkéo mặc quần áo và áo khoác,
Cần di chuyển tới toilet, rửasạch hoặc dùng bô hoặcdùng ghế lổ
Di chuyển
Tự di chuyển vào và ra khỏigiường hoặc ghế Có thể chấpnhận dụng cụ hỗ trợ cơ học
Cần giúp di chuyển từgiường ra ghế hoặc cần giúp
di chuyển hoàn toàn
Ăn uống Tự lấy thức ăn Có thể người
khác chuẩn bị bữa ăn
Cần giúp một phần hoặchoàn toàn việc ăn uống hoặccần nuôi ăn tĩnh mạch
Phụ thuộc ADL khi tổng điểm <6
Trang 362.7.3 Hoạt động chức năng IADL
Bảng 2.2: Hoạt động chức năng IADL
Sử dụng điện thoại:
1110
Đi mua sắm:
1000
Chuẩn bị thức ăn:
thức ăn nhƣng chế độ ăn không đầy đủ
100
Trang 37Các hoạt động sinh hoạt hàng ngày Điểm
Phương tiện di chuyển:
đỡ của người khác
1110
0
Quản lý thuốc cá nhân:
100
Quản lý tài chính:
giữ thu nhập cá nhân
Trang 382.7.4 Suy yếu theo Fried
Là biến thứ tự gồm 3 giá trí: Suy yếu, Tiền suy yếu, Không suy yếu.Suy yếu nếu ≥ 3 tiêu chí: sụt cân, kiệt sức, chậm chạp, mức năng lƣợnghoạt động thấp và yếu cơ
Tiền suy yếu: 1-2 tiêu chí trên Không suy yếu: 0 tiêu chí nào [37]
2.7.4.1 Sụt cân
Tình trạng giảm cân nặng là biến nhị giá gồm 2 giá trị có và không.Đƣợc đánh giá bằng cách so sánh cân nặng hiện tại so với cân nặng cách đây
1 năm thông qua câu hỏi: “Trong năm vừa qua, ông/bà có bị sụt cân >4,5kg
mà không phải do ăn kiêng hay tập thể dục?”
1: Hiếm khi hoặc không có (<1 ngày)
2: Đôi khi hoặc một ít (1 đến 2 ngày)
3: Vừa phải (3 đến 4 ngày)
4: Phần lớn thời gian
Trong tuần qua ông/bà không thể đi lại
1: Hiếm khi hoặc không có (<1 ngày)
2: Đôi khi hoặc một ít (1 đến 2 ngày)
3: Vừa phải (3 đến 4 ngày)
4: Phần lớn thời gian
Gọi là có kiệt sức khi trả lời ở mức độ 3 hoặc 4 ở 1 trong 2 câu hỏi trên
Trang 39Gọi là chậm chạp khi thời gian đi quãng đường 4,6m kéo dài so vớingưỡng cut off (hiệu chỉnh theo giới và chiều cao theo bảng sau).
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn chẩn đoán chậm chạp theo giới và chiều cao của Fried
Nam Chậm chạp nếu thời gian đi 4,6m
Nữ Chậm chạp nếu thời gian đi 4,6m
“Nguồn: Fried L P, 2001”[37]
2.7.4.4 Mức hoạt động thể lực thấp
Là biến nhị giá gồm 2 giá trị có và không Gọi là có khi tổng năng lượng
< 383kcal/tuần đối với nam và < 270 kcal/tuần đối với nữ Tính năng lượngdựa vào bảng câu hỏi và năng lượng cho từng hoạt động (Phụ lục 2)
Cách tính năng lượng: Tính năng lượng hoạt động theo công thức
Trang 40Calories (kcal) = [METS x cân nặng(kg) x (số phút hoạt động trong 2tuần): 60] :2
1 MET (Metabolic Equivalent) = 1 kcal/kg/hour
Chúng tôi lựa chọn 18 hoạt động phù hợp với NCT Việt Nam: đi bộ, đicầu thang chậm – nhanh, leo núi, đạp xe đạp, khiêu vũ, chạy bộ, chèo thuyền,tập tạ, bơi lội, đánh tenis, chơi bóng chuyền, chơi bowling, chơi cầu lông,đánh golf, chơi bóng rỗ, sơn nhà trong – ngoài, quét nhà, lau nhà, nấu ăn, ủiđồ/giặt quần áo bằng tay, chùi rửa nhà vệ sinh, giữ trẻ (có đi lại), chăm sóc trẻ(tắm, cho ăn, thay đồ), bế trẻ > 6,8 kg, tắm, thay đồ cho 1 người lớn Các hoạtđộng này giống với nghiên cứu của các tác giả trước đây như tác giả NguyễnVăn Thình [10] Các mức năng lượng cho từng hoạt động chúng tôi dựa theobảng hướng dẫn năm 2011 của Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịchbệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention)
2.7.4.5 Yếu cơ
Sức cơ là biến định lượng được mã hóa thành biến nhị giá gồm 2 giá trị
có và không Cách thực hiện quá trình đo sức cơ:
tay ở vị trí trung tâm Đề nghị BN bóp mạnh hết sức dụng cụ máy đo sức cơtay: Jamar® 5030 J1 Hand dynamometer Đo 3 lần, lấy số trung bình để đánhgiá Căn cứ số đo trên đồng hồ đánh giá theo giới tính và chỉ số khối cơ thể(BMI)
Dụng cụ đo sức cơ tay là máy: Jamar® 5030 J1 Hand dynamometer,tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thình [10]