Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về tần suất OSA trên COPD đã có, tuynhiên hoặc do phương pháp nghiên cứu chưa dùng công cụ đo lường tin cậy, chínhxác đa ký giấc ngủ, đa ký hô hấp,
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-HOÀNG MINH
TẦN SUẤT NGƢNG THỞ TẮC NGHẼN KHI NGỦ
TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-HOÀNG MINH
TẦN SUẤT NGƢNG THỞ TẮC NGHẼN KHI NGỦ
TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Chuyên ngành: Nội khoa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu,kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác
Người thực hiện đề tài
Hoàng Minh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về OSA và COPD 4
1.2 Tình hình nghiên cứu hội chứng chồng lấp COPD - OSA 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3 Phân tích thống kê 39
2.4 Giảm thiểu sai lệch 40
2.5 Y đức 41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu 43
3.2 Tần suất OSA trên bệnh nhân COPD 46
3.3 So sánh đặc điểm nền tảng bệnh nhân COPD có hoặc không đồng mắc OSA 47 3.4 Xác định yếu tố tiên đoán OSA trên bệnh nhân COPD 51
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54
4.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu 54
4.2 Tần suất OSA trên bệnh nhân COPD 57 4.3 So sánh đặc điểm nền tảng bệnh nhân COPD có hoặc không đồng mắc OSA 66
Trang 5KẾT LUẬN 73 HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU 74 KIẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT TIẾNG ANH – TIẾNG VIỆT
Chỉ số ngưng giảm thở
Diện tích dưới đường cong
Chỉ số khối cơ thể
Bảng kiểm tác động của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tínhCOPD Chronic Obstructive Pulmonary Disease
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tínhCPAP Continuous Positive Airway Pressure
Thở áp lực dương liên tục
FEV1 Forced Expiratory Volume in the first second
Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên
Dung tích sống gắng sứcmMRC Modified Medical Research Council
Thang điểm MRC cải biênGOLD Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease
Sáng kiến toàn cầu đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Triệu chứng lâm sàng OSA 7
Bảng 1.2: Phân độ tắc nghẽn trên bệnh nhân COPD 13
Bảng 2.1: Biến số nghiên cứu 29
Bảng 2.2: Bộ câu hỏi mMRC 32
Bảng 2.3: Thang điểm Epworth 34
Bảng 2.4: Thang điểm STOP Bang phiên bản Tiếng Việt 35
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân trắc học 43
Bảng 3.2: Đặc điểm bệnh nền COPD - Tiền căn 43
Bảng 3.3: Đặc điểm COPD nền tảng – Triệu chứng lâm sàng 44
Bảng 3.4: Đặc điểm bệnh nền COPD – Đặc điểm hô hấp ký 45
Bảng 3.5: Đặc điểm nguy cơ OSA của dân số nghiên cứu 46
Bảng 3.6: Phân nhóm dân số nghiên cứu theo AHI 46
Bảng 3.7: Đặc điểm nhân trắc học ở hai nhóm có và không đồng mắc OSA 48
Bảng 3.8: Đặc điểm tiền căn ở hai nhóm có và không đồng mắc OSA 48
Bảng 3.9: Đặc điểm lâm sàng ở hai nhóm có và không đồng mắc OSA 49
Bảng 3.10: Đặc điểm hô hấp ký giữa hai nhóm có và không đồng mắc OSA 50
Bảng 3.11: Đặc điểm nguy cơ OSA ở hai nhóm có và không đồng mắc OSA 50
Bảng 3.12: Mô hình hồi quy logistics đơn biến giữa điểm số STOP BANG và OSA 51
Bảng 3.13: Giá trị của STOP BANG tiên đoán OSA trên COPD 52
Bảng 3.14: Hồi quy logistic đa biến giữa OSA và các yếu tố nguy cơ 53
Bảng 4.1: Đặc điểm tuổi, giới và hút thuốc lá của bệnh nhân COPD tại Việt Nam 54 Bảng 4.2: Đặc điểm BMI và vòng cổ của bệnh nhân COPD tại Việt Nam 55
Bảng 4.3: Phân nhóm ABCD của bệnh nhân COPD tại Việt Nam 56
Bảng 4.4: Tần suất OSA trên bệnh nhân COPD tại Việt Nam 58
Bảng 4.5: Tần suất OSA trên bệnh nhân COPD tại Châu Á 59
Bảng 4.6: Tần suất OSA trên bệnh nhân COPD ngoài khu vực Châu Á 60 Bảng 4.7: So sánh giá trị tiên đoán OSA trên bệnh nhân COPD của STOP BANG69
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tần suất OSA trên bệnh nhân COPD 47 Biểu đồ 3.2: Đường cong ROC tiên đoán OSA của STOP BANG trên COPD 52
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1:Phân độ Mallampati [73] 8
Hình 2.1: Cách đo chu vi vòng cổ [36] 31
Hình 2.2: Máy đa ký hô hâp Alice Night One [69] 36
Hình 2.3: Vị trí cảm biến khi đo đa ký hô hấp với máy Alice Night One [69] 37
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Đánh giá COPD theo nhóm ABCD - GOLD 2019 14
Sơ đồ 1.2: Các con đường tham gia vào giảm O2 và tăng CO2 máu trong hội chứng chồng lấp COPD – OSA 17
Sơ đồ 1.3: Tương tác giữa COPD và OSA 19
Sơ đồ 2.1: Các bước thu thập số liệu nghiên cứu 39
Sơ đồ 3.1: Quy trình thu thập dữ liệu nghiên cứu 42
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (Obstructive Sleep Apnea: OSA) và bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease: COPD) là các bệnh lý hôhấp rất thường gặp Hiện diện đồng thời hai bệnh gọi là hội chứng chồng lấp COPD
- OSA, được mô tả đầu tiên bởi D.C Flenley [25]
Trên thế giới, Shajedur R Shawon và cs (2017), công bố kết quả tổng quan hệthống trên tạp chí Sleep Medicine Reviews [57] Rà soát hệ thống các nghiên cứu
về tần suất hội chứng chồng lấp COPD - OSA trên PubMed vào ngày 1/12/2015, tácgiả tìm được 21 nghiên cứu quan sát với cỡ mẫu tổng cộng 29.341 người [57].Trong khi tần suất hội chứng chồng lấp COPD - OSA trong dân số chung và bệnhnhân nhập viện thấp (1% - 3,6%), tần suất này trên dân số COPD cao (2,9% -65,9%) [57] Bệnh nhân mắc hội chứng chồng lấp COPD - OSA có giảm độ bãohòa oxy về đêm nhiều hơn, vào đợt cấp COPD thường xuyên hơn, chất lượng cuộcsống thấp hơn, nguy cơ bệnh đồng mắc tim mạch cao hơn, tỷ lệ nhập viện và tửvong cao hơn, hậu quả là chi phí y tế cao hơn, so với bệnh nhân chỉ mắc một tronghai bệnh [57] Tác giả cũng chỉ ra thực trạng là nhận thức về hội chứng chồng lấpCOPD – OSA còn thấp là một trong các lý do làm tăng tỷ lệ tàn phế và tử vong củabệnh hiện nay [57]
Tại Việt Nam, Dương Quý Sỹ và cs (2018), công bố nghiên cứu đa trung tâmvới cỡ mẫu 750 người, cho thấy tần suất OSA trên dân số chung tại Việt Nam là8,5% (AHI > 5/giờ) và 5,2% (AHI > 15/giờ) [20] Đồng thời, Dương Quý Sỹ và cs.(2018) cũng công bố nghiên cứu đa trung tâm, khảo sát các đặc điểm lâm sàng vàcận lâm sàng ở nhóm bệnh nhân COPD và ACO cho thấy tần suất OSA (AHI > 15)trên hai nhóm bệnh nhân này lần lượt là 36,4% và 64,4% [22] Nghiên cứu khôngđược thiết kế để đánh giá chuyên biệt tần suất OSA trên dân số COPD, vậy nên tácgiả đã không tính cỡ mẫu riêng cho mục tiêu này [22] Số lượng bệnh nhân COPDthu dung trong nghiên cứu (n=74) là thấp để có được một kết quả tần suất OSA trêndân số COPD đáng tin cậy [22]
Trang 12Phan Thanh Thúy và cs (2016) nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội,cũng dùng bảng câu hỏi Epworth để tầm soát bệnh nhân COPD có nguy cơ OSA vàkhẳng định bằng đa ký hô hấp trên 60 bệnh nhân nội trú, phát hiện tần suất OSAtrên bệnh nhân COPD là 66,7% [6] Trong nghiên cứu này, dân số nghiên cứu làbệnh nhân COPD nội trú vừa ra khỏi đợt cấp COPD, không đại diện cho dân sốCOPD chung.
Dương Duy Khoa và cs (2018) nghiên cứu tại bệnh viện Đại Học Y Dược thànhphố Hồ Chí Minh, dùng bảng câu hỏi STOP BANG [17] ước đoán tần suất OSAtrên bệnh nhân COPD ngoại trú là 79,1% và 19,8% với điểm STOP BANG lần lượtlớn hơn 3 và 5 [3] Trong nghiên cứu này, tác giả không làm đa ký hô hấp/đa kýgiấc ngủ để khẳng định chẩn đoán OSA [3], vì vậy không kết luận được tần suấtOSA trên bệnh nhân COPD
Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về tần suất OSA trên COPD đã có, tuynhiên hoặc do phương pháp nghiên cứu chưa dùng công cụ đo lường tin cậy, chínhxác (đa ký giấc ngủ, đa ký hô hấp), chưa có tính đại diện (nhóm bệnh nhân COPDnhập viện vì đợt cấp) vì thế các kết quả có thể chưa đạt được độ tin cậy, chính xác
và mang tính đại diện cho dân số COPD Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đểtrả lời câu hỏi:
Tỷ lệ bệnh nhân ngƣng thở tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bao nhiêu ?
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Xác định tần suất ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính
Mục tiêu chuyên biệt
1 Xác định tần suất ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính
2 So sánh đặc điểm nền tảng bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hoặckhông đồng mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ
3 Xác định yếu tố tiên đoán ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhân bệnhphổi tắc nghẽn mạn tính
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về OSA và COPD
1.1.1 Tổng quan về OSA
1.1.1.1 Định nghĩa
OSA là rối loạn hô hấp liên quan tới giấc ngủ, biểu hiện bằng các giai đoạn lập đilặp lại của tình trạng tắc nghẽn đường hô hấp trên một phần hoặc hoàn toàn, kéo dàitối thiểu 10 giây, trong khi đó sự gắng sức hô hấp vẫn còn, dẫn đến giảm độ bão hòaoxy máu, vi thức giấc, ngáy to, buồn ngủ ban ngày [51]
1.1.1.2 Tần suất và yếu tố nguy cơ
OSA là rối loạn hô hấp liên quan tới giấc ngủ thường gặp Tần suất lưu hành củaOSA đang có xu hướng tăng lên do sự phổ biến, tiến bộ và ngày càng dễ tiếp cậntrong thực hành lâm sàng của các phương tiện chẩn đoán Karl A Franklin và cs.(2015) tổng hợp 11 nghiên cứu dịch tễ học của nhiều nước trên thế giới, cho thấytần suất OSA (được định nghĩa khi AHI ≥ 5 lần/giờ) là 22% ở nam và 17% ở nữ, vàOSA kèm buồn ngủ ban ngày xảy ra ở 6% nam và 4% nữ, tần suất này tăng theothời gian [26] Dương Quý Sỹ và cs (2018) công bố nghiên cứu đa trung tâm tầnsuất OSA tại Việt Nam, cho thấy tần suất OSA trên dân số chung tại Việt Nam là8,5% (AHI > 5/giờ) và 5,2% (AHI > 15/giờ) [20] Nghiên cứu này khẳng định tầmquan trọng của OSA trong dân số chung
Yếu tố nguy cơ của OSA bao gồm các yếu tố không và có thể thay đổi Các yếu
tố không thể thay đổi bao gồm: tuổi cao, nam giới [54] Các yếu tố có thể thay đổibao gồm: béo phì, bất thường sọ mặt và mô mềm đường hô hấp trên, và các yếu tốnguy cơ khác ít bằng chứng hơn như: thuốc gây giãn cơ hoặc hẹp đường thở (thuốcgây nghiện, benzodiazepines, rượu), bệnh lý nội tiết (nhược giáp, hội chứng buồngtrứng đa nang), hút thuốc lá [54]
Tuổi cao: Tỉ lệ mắc OSA tăng dần theo tuổi [54] Nguy cơ OSA tăng theo tuổi có
thể được giải thích bởi giảm thời gian giai đoạn ngủ sóng chậm (giấc ngủ sâu) theo
Trang 15ngủ và sự xẹp đường thở lúc ngủ [18] Kèm theo tuổi càng cao làm lắng đọng nhiều
mỡ ở xung quanh vùng hầu họng và lưỡi, tăng chiều dài khẩu cái mềm làm tăngnguy cơ hẹp đường thở, ngoài ra các phản xạ ở vùng hầu họng đối với tăng áp lực
âm trong lòng đường thở cũng kém dần theo tuổi tác [18]
Nam giới: Nam giới có nguy cơ mắc OSA cao hơn nữ giới, riêng nữ giới mãn
kinh nguy cơ mắc OSA sẽ tương đương [54] Nữ giới sau mãn kinh có sử dụng liệupháp hormon thay thế thường có tần suất mắc OSA thấp hơn, điều này gợi ý rằng sựsụt giảm hormon nội tiết có thể làm tăng nguy cơ OSA [54] Nữ giới thường bịOSA trong giai đoạn giấc ngủ chuyển động mắt nhanh và ít bị OSA theo tư thế khinằm ngửa, ngược lại hầu hết nam giới thường bị OSA khi ngủ nằm ngửa [54]
Béo phì: Trong nghiên cứu của Young T và cs (2002), cho thấy có mối liên quan
giữa tăng nguy cơ OSA với béo phì, vòng eo và vòng cổ [74] Khi cân nặng tăngthêm 10% làm tăng nguy cơ OSA mức độ trung bình – nặng 6 lần và tăng chỉ sốngừng – giảm thở AHI (Apnea – Hypopnea Index) thêm 32%, trong khi đó, giảm10% cân nặng sẽ giúp giảm AHI 26% [49] Điều này được lý giải rằng béo phì làmtăng lắng đọng tổ chức mỡ quanh hầu họng làm tăng nguy cơ xẹp đường thở, đồngthời gây lắng đọng các tổ chức mỡ ở các tạng và ổ bụng, làm giảm dung tích phổi,gián tiếp gây ra hẹp đường hô hấp trên [18]
Bất thường sọ mặt và mô mềm đường thở trên: Cấu trúc sọ mặt và mô mềm
đường thở trên đều góp phần vào sự hiện diện và mức độ nặng của OSA [18] Các bất thường này làm hẹp đường thở và làm tăng nguy cơ mắc OSA [18] Những bất
thường này hay gặp ở người châu Á, nơi có tỉ lệ béo phì không cao như người datrắng Li và cs (2000) so sánh dân số OSA người Đông Á với dân số OSA người datrắng nhận thấy dân số Đông Á có mức độ OSA nặng hơn kèm theo có các bấtthường sọ mặt và đường hô hấp trên nhiều hơn như: xương hàm trên hay xươnghàm dưới nhô ra trước quá mức, nền sọ trước ngắn hơn, đường kính sọ mặt bất
thường [39].
Các yếu tố nguy cơ khác: Ngoài các yếu tố nguy cơ chủ yếu đã được chứng minh
ở trên, các yếu tố nguy cơ khác như: nghẹt mũi, hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng
Trang 16thuốc, các bệnh lý đi kèm cũng góp phần gia tăng nguy cơ OSA với mức độ chứng
cứ thấp hơn [54].
1.1.1.3 Chẩn đoán
Triệu chứng lâm sàng: Bệnh cảnh lâm sàng của bệnh nhân OSA bao gồm hai
nhóm triệu chứng chính là: triệu chứng ban ngày và triệu chứng ban đêm, đã được
liệt kê tại Bảng 1.1 [54].
Buồn ngủ ban ngày quá mức, mệt mỏi và ngủ không ngon giấc: là các triệu
chứng thường gặp của OSA, được báo cáo lần lượt là 73% – 90% và 15% – 50%trên bệnh nhân OSA được giới thiệu tới phòng khám giấc ngủ và trong dân sốchung [27] Buồn ngủ ban ngày làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, tăng nguy
cơ xảy ra tai nạn, giảm hiệu suất làm việc, chất lượng cuộc sống và có thể nhầm lẫnvới triệu chứng mệt mỏi [27] Trong thực hành lâm sàng, để đánh giá mức độ buồnngủ ban ngày ngày, người ta thường dùng bảng câu hỏi Epworth (ESS: EpworthSleepiness Scale): bệnh nhân tự chấm điểm dựa vào khả năng họ bị ngủ gật trongcác tình huống khác nhau [32]
Đau đầu buổi sáng mãn tính: là triệu chứng gặp trong 10 – 30% bệnh nhân OSA,
gấp hai lần so với dân số thông thường [27] Đau đầu buổi sáng mãn tính trongOSA thường có đặc điểm đau hai bên vùng trán, đau kiểu đè nén, không kèm theobuồn nôn, thường xảy ra hàng ngày, kéo dài ít nhất nửa ngày và tự hết sau khi ngủdậy vài tiếng và thường không rõ nguyên nhân [27]
Ngáy to khi ngủ: là một trong những than phiền thường gặp nhất lên tới 50 –
60% bệnh nhân OSA khi đến khám, tuy nhiên chỉ đơn độc một triệu chứng ngáykhông có giá trị để chẩn đoán OSA [27] Tiếng ngáy có đặc điểm xuất hiện thànhtừng đợt xen kẽ với khoảng im lặng đi kèm với di động ngực bụng nghịch thường,kết thúc là một đợt thở nhanh, thở gấp hoặc thở hổn hển Triệu chứng này cần hỏingười ngủ cùng mô tả về tần suất, độ to của tiếng ngáy và các bất thường đi kèmvới tiếng ngáy: thở gấp sau cơn ngừng thở, cơn ngừng thở được chứng kiến, khoảngthời gian im lặng sau khi ngáy to
Trang 17Bảng 1.1: Triệu chứng lâm sàng OSA Triệu chứng ban đêm Triệu chứng ban ngày
Cơn ngừng thở, ngộp thở hoặc thở hổn hển khi ngủ được chứng kiến: chỉ gặp ở
khoảng 10 – 15% bệnh nhân OSA [27], nhưng là triệu chứng hữu ích và đáng tincậy nhất giúp chẩn đoán OSA với độ nhạy là 54% và độ đặc hiệu 84% [46] Triệuchứng này có thể thu thập được qua hỏi người ngủ cùng, thường được mô tả lànhững đợt im lặng không thở sau một cơn ngáy to
Các triệu chứng khác không điển hình: thường được báo cáo ở nữ giới bao gồm:
mất ngủ, suy giảm trí nhớ, rối loạn cảm xúc, tiểu đêm và trào ngược dạ dày thựcquản, nặng hơn có thể dẫn đến trầm cảm, xa lánh xã hội [27]
Triệu chứng lâm sàng của OSA rất đa dạng, tuy nhiên mối liên hệ giữa triệuchứng và mức độ nặng của OSA rất thấp [23], điều này là lý do quan trọng vì saocác bác sĩ cần chú ý với các triệu chứng nhẹ để tránh bỏ sót chẩn đoán
Thăm khám lâm sàng: Ngoài các thăm khám tổng quát để đảm bảo phát hiện
các bất thường của tim, phổi, thần kinh, cơ xương khớp và các rối loạn khác Cácđặc điểm cần phải chú ý khi thăm khám lâm sàng trên bệnh nhân OSA thường gặpnhư: béo phì trung tâm (tăng vòng cổ, vòng eo), vẹo vách ngăn mũi hoặc phì đại
Trang 18cuốn mũi, chật thành sau họng có thể được đánh giá bằng thang điểm Mallampati[46].
Béo phì: là yếu tố nguy cơ hay gặp trong OSA, đặc biệt là các bệnh nhân có chỉ
số khối (BMI) > 30 kg/m2, hay gặp béo phì dạng nam (béo phì trung tâm), lượng
mỡ phân bố chủ yếu ở vùng đầu mặt cổ và các tạng [27]
Vòng cổ: Các bệnh nhân OSA có vòng cổ lớn hơn so với người bình thường.
Vòng cổ từ 40 cm trở lên có độ nhạy 61% và độ đặc hiệu 93% trong chẩn đoánOSA [27]
Bất thường sọ mặt và mô mềm đường hô hấp trên: Vùng hầu họng chật thường
gây ra bởi quá phát amidan, khẩu cái mềm dài, lưỡi to hoặc thay đổi cấu trúc răng(hô, móm) gây hẹp đường hô hấp trên, góp phần vào cơ chế bệnh sinh ngưng thởtắc nghẽn khi ngủ [46] Phân độ Mallampati cải tiến thường được dùng để đánh giámức độ hẹp của hầu họng, độ 3 – 4 được xem là có hẹp đường thở vùng hầu họng
[73] (Hình 1.1).
Độ 1: Quan sát được khẩu cái mềm, eo hầu, lưỡi gà và các trụ amydal
Độ 2: Quan sát được khẩu cái mềm, eo hầu, lưỡi gà
Độ 3: Quan sát được khẩu cái mềm, đáy lưỡi gà
Độ 4: Chỉ quan sát được khẩu cái cứng, không quan sát được khẩu cáimềm
Trang 19Cơ chế sinh lý bệnh gây ra OSA rất phức tạp và triệu chứng giống OSA chồnglấp trong nhiều bệnh khác nhau, do đó triệu chứng cơ năng và thực thể đều không
đủ chính xác để xác định hay loại trừ OSA cho dù chúng có giúp tăng xác xuất tiềnnghiệm để chẩn đoán OSA [63]
Tầm soát OSA: Chiến lược sàng lọc hiện nay thường dựa vào các bảng câu hỏi
để xác định đối tượng có nguy cơ mắc OSA Độ nhạy cao kết hợp với độ đặc hiệuchấp nhận được là một trong các yêu cầu cơ bản đối với các bảng câu hỏi tầm soátOSA Sau đây là một số bảng câu hỏi có thể được sử dụng để sàng lọc OSA phổbiến và được nghiên cứu nhiều: bảng câu hỏi STOP-BANG và bảng câu hỏiEpworth
Bảng câu hỏi STOP-BANG được đề xuất như một thang điểm cải tiến khi kết hợp
bảng câu hỏi STOP với các thông số: BMI, tuổi, vòng cổ và giới tính để cải thiện độnhạy khi chẩn đoán bệnh nhân mắc OSA, đặc biệt là OSA mức độ trung bình –nặng [17] Chung F và cs (2016) tiến hành nghiên cứu đánh giá bảng câu hỏiSTOP-BANG trong tầm soát OSA [17] Bảng câu hỏi STOP BANG bao gồm támcâu hỏi có/không, khảo sát: ngáy, mệt mỏi, ngưng thở được nhìn thấy, tăng huyết
áp, BMI, tuổi, vòng cổ, và giới tính Mỗi câu trả lời có sẽ được tính 1 điểm, tổngđiểm của bảng câu hỏi STOP BANG từ 0 – 8 điểm Tổng điểm của bảng câu hỏiSTOP BANG ≥ 3 có độ nhạy và đặc hiệu lần lượt là 93% và 43% cho chẩn đoánOSA với AHI ≥ 15 lần/giờ [17] Bảng câu hỏi STOP BANG có thể được hoàn thànhnhanh chóng và dễ dàng (thường trong 1-2 phút) và tỷ lệ trả lời hết các câu hỏi cao(90% – 100%) [17] Do tính dễ sử dụng và giá trị chẩn đoán tốt, bảng câu hỏi STOPBANG đã được phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ và kiểm định tại nhiều quốc gia khácnhau trong đó Dương Duy Khoa và cs (2018) đã phiên dịch thang điểm STOPBANG sang tiếng Việt [3]
Bảng câu hỏi Epworth (ESS: Epworth Sleepiness Scale) là công cụ sàng lọc lâm
sàng chủ quan mức độ buồn ngủ ban ngày quá mức được sử dụng phổ biến [32].Bảng câu hỏi Epworth được thiết kế đơn giản, tự thực hiện bởi bệnh nhân, bao gồmtám câu hỏi giúp đánh giá mức độ các triệu chứng buồn ngủ ban ngày thông qua các
Trang 20hoạt động khi thức của bệnh nhân Mỗi câu hỏi sẽ được đánh giá với bốn mức độ từthấp đến cao tương ứng với số điểm từ 0 đến 3 Tổng điểm của tám câu hỏi sẽ từ 0đến 24 điểm, tổng điểm ≥ 10 gợi ý mức độ buồn ngủ ban ngày quá mức trên bệnhnhân Việc ghi nhân lại thái độ và hành vi của bệnh nhân ngoài công sở là điều cầnthiết vì những triệu chứng ngủ ngày có thể bị che lấp bởi những hoạt động hàngngày trong công việc Khi sử dụng bảng câu hỏi Epworth nên có sự tham gia củangười ngủ cùng hoặc người nhà bệnh nhân Mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưngnhưng giá trị thực sự của bảng câu hỏi Epworth đối với bệnh nhân OSA vẫn chưa rõràng Đồng thời độ nhạy (53,2%) và độ đặc hiệu (58,8%) của bảng câu hỏi Epworthkhông cao trong chẩn đoán OSA mức độ trung bình – nặng (AHI ≥ 15 lần/giờ) [55].Chiu Hsiao-Yean và cs (2017), thực hiện nghiên cứu phân tích gộp, cho thấybảng câu hỏi STOP-BANG có độ nhạy và tỷ số số chênh tốt hơn so bảng câu hỏiBerlin, bảng câu hỏi Epworth, bảng câu hỏi STOP trong việc dự đoán mức độ OSAnhẹ, trung bình và nặng [16] Hội Y Học Giấc Ngủ Hoa Kỳ (AASM: AmericanAcademy of Sleep Medicine) khuyến cáo không được dùng các bộ công cụ chẩnđoán lâm sàng, như bảng câu hỏi, thang điểm để chẩn đoán OSA mà không dựa trênkết quả đa ký giấc ngủ hay đa ký hô hấp, khuyến cáo mức độ mạnh [33].
Cận lâm sàng: Hiện tại trong các nghiên cứu về giấc ngủ, đa ký giấc ngủ, đa ký
hô hấp được xem là các công cụ để thăm dò và đánh giá giấc ngủ nói chung, vàchẩn đoán xác định cũng như loại trừ OSA nói riêng [33]
Đa ký giấc ngủ (Polysomnography): thực hiện tại phòng thăm dò giấc ngủ được
xem là tiêu chuẩn vàng trong xác định cũng như loại trừ chẩn đoán OSA [33] Đo
đa ký giấc ngủ sẽ theo dõi các thông số: điện não đồ, điện cơ cằm, điện nhãn đồ, lưulượng khí qua mũi, ngáy, độ bão hòa oxy trong máu, cử động ngực – bụng, tư thế,điện tim và điện cơ trước xương chày để ghi lại cử động chân có chu kỳ, từ đó cungcấp đầy đủ các thông tin về cấu trúc giấc ngủ cũng bất thường về hô hấp, tim mạch
và các chỉ số khác trong khi ngủ Tuy nhiên đa ký giấc ngủ không phổ biến, cầnnhân sự trình độ cao, chi phí cao hơn so với đa ký hô hấp và khó áp dụng với các
Trang 21Đa ký hô hấp (ventilatory polygraph): đang được sử ngày càng phổ biến để chẩn
đoán OSA, có thể đo tại nhà hoặc tại phòng thăm dò giấc ngủ Đa ký hô hấp ghi lạiđược các thông số cơ bản về hoạt động hô hấp (cử động ngực – bụng, lưu lượng khíqua mũi), tim mạch và độ bão hòa oxy máu Đa ký hô hấp có ưu điểm là tiện lợi, giáthành rẻ, kĩ thuật đo đơn giản hơn đa kí giấc ngủ Hội Y học Giấc ngủ Hoa Kỳkhuyến cáo sử dụng đa ký hô hấp trong chẩn đoán OSA cho những bệnh nhân nguy
cơ cao và không có bệnh đồng mắc tim phổi mạn tính (suy tim, COPD), mức chứngmạnh [33] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh đa ký hô hấp có độ chính xác cao trênnhững bệnh nhân nguy cơ OSA thấp – trung bình cũng như đồng mắc các bệnh tim,phổi mạn tính như COPD, suy tim [15],[28]
Trên những bệnh nhân nguy cơ OSA nhẹ - trung bình, đa ký hô hấp chưa đượckhuyến cáo chủ yếu vì thiếu thông tin để đánh giá hiệu quả giấc ngủ, vi thức giấc,
sự dao động của AHI [28] Arnoldo Guerrero và cs (2014) thực hiện một nghiêncứu ngẫu nhiên, có làm mù, trên những bệnh nhân nguy cơ OSA thấp – trung bình,cho thấy đa ký hô hấp tại nhà với bốn kênh theo dõi (lưu lượng mũi, SpO2, tư thế và
cử động ngực – bụng) có giá trị loại trừ và xác định chẩn đoán OSA (với AHI ≥ 5lần/giờ) với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 96,2% và 66,7% so với đa ký giấcngủ [28]
Trên những bệnh OSA kèm bệnh đồng mắc như COPD, đa ký hô hấp chưa đượckhuyến cáo do thiết kế của các nghiên cứu chẩn đoán OSA sử dụng đa ký hô hấploại trừ những bệnh nhân COPD nhưng không đưa ra được bằng chứng rõ ràng [15].Yuan Chang và cs (2019), thực hiện đo đa ký hô hấp (gồm 6 kênh: lưu lượng mũi,
tư thế, ngáy, cử động ngực – bụng, nhịp tim và độ bão hòa oxy trong máu) và đa kýgiấc ngủ trên 90 bệnh nhân COPD, cho thấy đa ký hô hấp có thể được sử dụngtrong chẩn đoán OSA trên những bệnh nhân COPD [15] Trong nghiên cứu này, tácgiả cũng chỉ ra rằng đa ký hô hấp đo tại phòng thăm dò giấc ngủ có giá trị chẩnđoán OSA (AHI ≥ 15 lần/giờ) tương đương đa ký giấc ngủ với: độ nhạy 95%, độđặc hiệu 98%, giá trị tiên đoán dương: 0,97, giá trị tiên đoán âm: 0,96 [15]
Trang 22Tiêu chuẩn chẩn đoán: Theo Hiệp hội Y Khoa Giấc Ngủ Hoa Kỳ (AASM), tiêu
chuẩn chẩn đoán OSA ở người lớn được định nghĩa như sau [10]:
AHI ≥ 5 lần/giờ kèm theo một hoặc nhiều dấu hiệu hoặc triệu chứng sau:
o Buồn ngủ, ngủ không ngon, mệt mỏi, hay mất ngủ
o Thức giấc với cảm giác ngộp thở, thở nghẹt hay thở hổn hển
o Ngáy thường xuyên, ngưng thở ngắt quãng, hay cả hai, đượcngười khác hay người ngủ cùng ghi nhận
o Tăng huyết áp, thay đổi tính khí, rối loạn chức năng nhận thức,bệnh mạch vành, đột quỵ, suy tim, rung nhĩ, hay đái tháo đườngtuýp 2
Hoặc AHI ≥ 15, có hay không có các triệu chứng hay bệnh lý đi kèm
Phân độ nặng: OSA được phân loại thành ba mức độ: nhẹ, trung bình, nặng dựa
―COPD là một bệnh lý phổ biến, có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc
trưng bởi các triệu chứng hô hấp và tắc nghẽn đường dẫn khí dai dẳng có nguyên nhân từ những bất thường đường thở và/hoặc phế nang thường được gây ra bởi sự tiếp xúc với các phần tử và khí độc hại.‖
1.1.2.2 Tần suất
COPD là vấn đề sức khỏe toàn cầu quan trọng và một trong các nguyên nhân gâytàn tật và tử vong hàng đầu trên thế giới cũng như tại Việt Nam Trên thế giới,
Trang 23thấy tần suất COPD trên thế giới là 12,16% và 8,80% tại vùng Đông Nam Á [80].Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Xuyên và cs (2011) thực hiện một nghiên cứu dịch tễ
về tần suất COPD trên 25.000 người, cho kết quả tần suất COPD ở nhóm bệnh nhântrên 40 tuổi là 4,2% [8]
1.1.2.3 Chẩn đoán
Theo GOLD 2019 [59], chẩn đoán COPD nên được xem xét và thực hiện đo hôhấp ký cho các bệnh nhân trên 40 tuổi có các triệu chứng như khó thở, ho mạn tính,hay ho có đàm mạn tính, đặc biệt khi người đó có tiền căn phơi nhiễm với thuốc láhay các phần tử khí có hại khác (bụi nghề nghiệp hay chất đốt sinh khối) Hô hấp kýđược thực hiện để xác định chẩn đoán COPD khi một bệnh nhân có triệu chứng vàtiền căn phù hợp được tìm thấy có FEV1/FVC sau test dãn phế quản < 0,7 thể hiệnhiện tượng tắc nghẽn luồng khí không đảo ngược khi đo hô hấp ký và không cóchẩn đoán nào khác giải thích các triệu chứng và hiện tượng tắc nghẽn luồng khí[59] Tiêu chuẩn hô hấp ký (FEV1 và tỷ lệ FEV1/FVC sau thuốc dãn phế quản) đượcdùng để chẩn đoán COPD và đánh giá mức độ nặng của tắc nghẽn luồng khí trongCOPD
Bảng 1.2: Phân độ tắc nghẽn trên bệnh nhân COPD
Phân mức độ tắc nghẽn theo FEV1 sau test dãn phế quản
GOLD 2 Trung bình 50% ≤ FEV1 < 80% giá trị dự đoán
GOLD 3 Nặng 30% ≤ FEV1 < 50% giá trị dự đoán
GOLD 4 Rất nặng FEV1 < 30% giá trị dự đoán
Trong các triệu chứng của COPD, khó thở từng được xem là triệu chứng đặctrưng và nổi bật Một công cụ đánh giá mức độ khó thở đơn giản như bảng câu hỏimMRC (modified Bristish Medical Research Council) được xem như phù hợp để
Trang 24đánh giá mức độ nặng của triệu chứng, tình trạng sức khỏe và nguy cơ tử vong
(Bảng 3.2).
Đồng thời, để đánh giá toàn diện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân COPD,nhiều thang điểm đã được ra đời, trong đó thang điểm CAT (COPD AssessmentTest) cho thấy sự ngắn gọn, cách tính điểm đơn giản, thời gian trả lời ngắn (2 phút)
và hầu như không cần bác sỹ trợ giúp vì thế khả thi cao trong lâm sàng Nếu điểm
CAT từ 10 điểm trở lên, bệnh nhân được xem là có nhiều triệu chứng (Phụ lục 3).
Đợt cấp COPD được định nghĩa khi các triệu chứng về hô hấp của bệnh nhân trởnên xấu hơn và vượt ra khỏi ngưỡng thay đổi hằng ngày đòi hỏi phải thay đổi điềutrị Bệnh nhân sẽ có tiên lượng xấu và nguy cơ tử vong cao nếu có hơn hoặc bằng 2đợt cấp nhẹ - trung bình hoặc 1 đợt cấp nặng do COPD phải nhập viện trong nămqua
Đánh giá toàn diện bệnh nhân COPD: GOLD đã đưa ra một công cụ đánh giá
ABCD dựa vào triệu chứng lâm sàng và số đợt cấp trong năm vừa qua, kết hợpthêm mức độ tắc nghẽn luồng khí theo FEV1 để phân nhóm, tiên lượng và đánh giánguy cơ tương lai của bệnh nhân COPD
Sơ đồ 1.1: Đánh giá COPD theo nhóm ABCD - GOLD 2019 [59]
Trang 251.1.3 Tổng quan hội chứng chồng lấp OSA – COPD
1.1.3.1 Sinh lý bệnh
Trên dân số khỏe mạnh, giấc ngủ thường đi kèm với sự thay đổi của hệ thốngtuần hoàn và hô hấp nhưng không liên quan tới những tác dụng phụ bất lợi Trêndân số COPD, giấc ngủ liên quan tới những đáp ứng thích nghi của đường thở, cơhọc phổi và thành ngực [31] Hậu quả ngay lập tức của những đáp ứng thích nghinày là xuất hiện tình trạng không tương xứng giữa giảm O2 và tăng CO2 máu, và cothắt phế quản [31] Giấc ngủ là một giai đoạn dễ tổn thương đối với bệnh nhânCOPD vì vài lý do [31] Thứ nhất, giấc ngủ bắt đầu bằng sự giảm dần tỉnh táo vànhận thức có hồi phục, kèm theo sự giảm dần thông khí làm ảnh hưởng đến quátrình trao đổi khí trên những bệnh nhân COPD Đồng thời, các thụ thể hóa học nhạycảm với CO2 máu cũng giảm đáp ứng, dẫn đến đối với sự thông khí là rất ít đáp ứngthay đổi nồng độ CO2 trên bệnh nhân COPD trong giấc ngủ [31] Bệnh nhân COPDcũng có thể gặp tình trạng giảm độ bão hòa oxy máu nặng trong giai đoạn giấc ngủchuyển động mắt nhanh (Rapid Eye Movement) vì giai đoạn này liên quan tới mấttrương lực cơ bao gồm những cơ hô hấp phụ Thứ hai, phản xạ ho bị ức chế tronglúc ngủ làm tích tụ và tạo đàm nhầy trên bệnh nhân COPD, ảnh hưởng quá trìnhthông khí về đêm Không có phản xạ ho suốt đêm có thể gây ho khạc đàm vào buổisáng Ngoài ra, bệnh nhân COPD không còn khả năng khạc đàm, yếu cơ hô hấpcũng không thể khạc đàm buổi sáng Điều này chứng minh một cơ sở sinh lý bệnhtồn tại mạnh mẽ cho lý do tại sao COPD có chất lượng giấc ngủ kém
OSA, rối loạn hô hấp liên quan tới giấc ngủ, là một bệnh đồng mắc thường gặptrên bệnh nhân COPD David Flenley và cs (1985) lần đầu tiên mô tả sự cùng tồntại của COPD và OSA là hội chứng chồng lấp COPD - OSA [25] Để xác định sựhiện diện của OSA, tác giả đề nghị thăm dò giấc ngủ trên bệnh nhân COPD kèmbéo phì, ngủ ngáy và có triệu chứng đau đầu buổi sáng sau khi sử dụng liệu phápoxy về đêm [25] Tác giả cũng đặt câu hỏi về việc sử dụng oxy về đêm ở nhữngbệnh nhân này và tin rằng bệnh nhân hội chứng chồng lấp COPD - OSA có diễn
Trang 26tiến lâm sàng và tiên lượng xấu hơn bệnh nhân chỉ có COPD hoặc OSA [25] Lậpluận này vẫn còn đúng cho đến ngày hôm nay.
Cơ học hô hấp trong giấc ngủ chưa được khảo sát cụ thể ở bệnh nhân mắc hộichứng chồng lấp COPD - OSA Trên bệnh nhân OSA, gắng sức cơ hoành và cơthẳng bụng là cần thiết trong giai đoạn ngưng thở để vượt qua sức cản của đường hôhấp trên và duy trì luồng không khí đầy đủ đến phổi Điều này có thể đặc biệt khókhăn đối với bệnh nhân COPD có sẵn tình trạng tăng sức cản đường thở và ứ khíphế nang [12] Trong bối cảnh này, đóng góp của lồng ngực và cơ hoành giảmchức năng vào quá trình thở đã bị giảm đi, thay vào đó đóng góp của cơ hô hấp phụcho quá trình thở lại tăng lên [12] Hậu quả là giảm dung tích khí cặn chức năng,tăng bất tương xứng thông khí - tưới máu trong phổi Béo phì cũng làm giảm dungtích khí cặn chức năng khi ngủ: bệnh nhân thừa cân, béo phì mắc hội chứng chồnglấp COPD - OSA đặc biệt dễ bị giảm thể tích phế nang và tăng bất thường trao đổi
khí trong giai đoạn ngưng thở (sơ đồ 1.2) [12] Các tín hiệu từ trung tâm kiểm soát
hô hấp bị ức chế trong khi ngủ, đặc biệt trong giai đoạn chuyển động mắt nhanh[12] Hơn nữa, bệnh nhân COPD có đáp ứng thông khí và đáp ứng áp lực đóngmiệng đối với CO2 và các chất kích thích hóa học bị suy giảm [12] Khi những bệnhnhân này xuất hiện các cơn ngưng thở, đáp ứng bù trừ của trung tâm hô hấp chậmhơn khiến thời gian ngừng thở lâu hơn và sự thay đổi áp lực O2 động mạch (PaO2)
và áp lực CO2 lớn hơn Cuối cùng, trên nhiều bệnh nhân COPD đã tồn tại tình trạnggiảm oxy máu lúc thức, nếu mắc hội chứng chồng lấp COPD - OSA sẽ đặc biệt dễ
bị giảm oxy máu về đêm vì mức độ gắn kết oxy - haemoglobin của bệnh nhânthường nằm trên phần dốc của đường cong gắn nhả oxy – haemoglobin [12]
Trang 27Sơ đồ 1.2: Các con đường tham gia vào giảm O2 và tăng CO2 máu trong hội chứng
chồng lấp COPD – OSA [12]
Nhiều nguồn dữ liệu cho thấy các tỷ lệ lưu hành cao của hội chứng chồng lấpCOPD - OSA tùy thuộc vào: mức độ nặng của COPD, các kỹ thuật chẩn đoán đượcdùng, và các yếu tố nguy cơ trong dân số được đánh giá [12] Ví dụ, béo phì là mộtyếu tố nguy cơ chính gây OSA, nhưng tỷ lệ béo phì có thể thay đổi trong dân sốCOPD tùy thuộc vào mức độ nặng của COPD, đặc biệt là bệnh nhân viêm phế quảnmạn sẽ khác với bệnh nhân khí phế thũng [31] Tương tự vậy, sử dụngcorticosteroid toàn thân có thể thúc đẩy tăng cân và do đó làm tăng nguy cơ OSA,nhưng việc sử dụng corticosteroid có thể cải thiện tình trạng ứ khí phế nang và giảmoxy máu về đêm ở những bệnh nhân này [31] Thể tích phổi cuối thì thở ra có thể làmột yếu tố quan trọng vì thể tích phổi tăng có liên quan đến sự ổn định đường thởtrên, nhưng về mặt lý thuyết, mất độ đàn hồi của phổi trên bệnh nhân khí phế thũng
có thể làm giảm sự điều hòa thông khí đường hô hấp trên Soler và cs (2015) báocáo tỷ lệ mắc OSA là 66% ở bệnh nhân COPD trung bình - nặng, một phát hiện khá
ấn tượng khi người ta xem xét gánh nặng lớn của COPD trên toàn thế giới [61] Tuynhiên, mối liên quan của OSA và mức độ nặng của bệnh COPD không được xác
Trang 28định rõ ràng vào thời điểm hiện tại Một bài báo gần đây từ nghiên cứu COPDGenecho thấy tỷ lệ mắc OSA cao ở nhóm COPD nặng nhưng AHI tương quan nghịch vớimức độ khí phế thũng và ứ khí trên chụp cắt lớp lồng ngực ở bệnh nhân mắc hộichứng chồng lấp COPD - OSA [34] Biselli và cs (2015) xác nhận phát hiện nàybằng cách chứng minh ứ khí trên bệnh nhân COPD liên quan nhiều hơn với tìnhtrạng ổn định đường hô hấp trên, đo bằng áp suất đóng tới hạn (Pcrit) đường hô hấptrên khi ngủ [14].
1.1.3.2 Yếu tố nguy cơ
Ngoài các yếu tố nguy cơ thông thường của OSA ở người lớn như: béo phì, lớntuổi, bất thường cấu trúc đường hô hấp trên, những bệnh nhân COPD còn có nhữngyếu tố nguy cơ khác như: hút thuốc lá, phù ngoại biên và sử dụng corticoid uốnggóp phần làm tăng nguy cơ mắc OSA ở người lớn [12]
Béo phì: Trên các bệnh nhân COPD, béo phì được xem như yếu tố chính góp
phần trong các rối loạn hô hấp liên quan tới giấc ngủ, tăng nặng tình trạng tăng ápđộng mạch phổi và hội chứng giảm thông khí béo phì bất kể mức độ tắc nghẽn củađường hô hấp [12] Tuy nhiên trên những bệnh nhân COPD, chỉ số BMI thườngthấp, đặc biệt là ở những bệnh nhân đang trong đợt tiến triển của bệnh [44]
Bất thường cấu trúc đường hô hấp trên: tích lũy mỡ, dịch quanh vùng hầu họng
làm tăng kháng lực vùng hầu họng, điều này thường gặp trên bệnh nhân COPD điềutrị thường xuyên với corticosteroid đường toàn thân hoặc có suy tim kèm theo, làmtăng nguy cơ tắc nghẽn vùng hầu họng lúc ngủ do sự tái phân bố dịch, mỡ vùng hầuhọng Ngược lại, bệnh nhân COPD nặng, tiến triển có thể có sụt cân và giảm nguy
cơ tắc nghẽn đường hô hấp trên (sơ đồ 1.3) [12].
Hút thuốc lá: hút thuốc lá liên quan tới tình trạng viêm của đường hô hấp trên và
dưới, ngáy và tăng kháng lực luồng khí qua mũi Nghiên cứu đoàn hệ về giấc ngủWisconsin trên 811 người trưởng thành cho thấy tỷ lệ AHI ≥ 5 lần/giờ ở người đanghút thuốc cao gấp 3 lần so với người không bao giờ hút thuốc [44] Cũng trongnghiên cứu này, bệnh nhân hút thuốc lá nhiều (> 40 gói.năm) có nguy cơ mắc OSA
Trang 29(AHI ≥ 5 lần/giờ) tăng 6,74 lần so với bệnh nhân hút thuốc lá ít hoặc không hút[44].
Sơ đồ 1.3: Tương tác giữa COPD và OSA [12]
1.1.3.3 Tương quan lâm sàng
So với bệnh nhân COPD hoặc OSA đơn thuần, bệnh nhân hội chứng chồng lấpCOPD - OSA có xu hướng béo phì hơn, có nhiều bệnh đồng mắc hơn, buồn ngủ banngày nhiều hơn và chất lượng cuộc sống xấu hơn [57] Khảo sát giấc ngủ trên bệnhnhân mắc hội chứng chồng lấp COPD - OSA cho thấy tổng thời gian ngủ của họthấp hơn, hiệu quả giấc ngủ thấp hơn và phân mảnh giấc ngủ cao hơn so với bệnhnhân COPD hoặc OSA đơn thuần [16] Giảm độ bão hòa oxy máu về đêm thườngnghiêm trọng hơn là một đặc điểm ở những bệnh nhân mắc hội chứng chồng lấpCOPD - OSA Đối với bệnh nhân OSA đơn độc, độ bão hòa oxy thường trở về bìnhthường giữa các giai đoạn ngưng thở Ngược lại, bệnh nhân COPD đơn độc, giảmthông khí và bất tương xứng thông khí - tưới máu đã làm độ bão hòa oxy máu về
Trang 30đêm giảm thường xuyên hơn trong suốt đêm và không có xu hướng trở về mức bìnhthường ban đầu khi kết thúc giai đoạn ngưng thở [57] Một bệnh nhân điển hìnhmắc hội chứng chồng lấp COPD - OSA có độ bão hòa oxy máu nền giảm, độ bãohòa oxy máu trung bình thấp hơn và chịu đựng tình trạng thiếu oxy nhiều hơn sovới bệnh nhân mắc COPD hoặc OSA đơn thuần [57].
Phần lớn bệnh nhân OSA không xuất hiện tình trạng tăng CO2 đáng kể về đêmnhờ tăng thông khí phế nang bù trừ giữa các lần ngưng thở [12] Nếu bệnh nhânkèm theo COPD, đáp ứng thông khí phế nang giữa các lần ngưng thở sẽ giảm do sựđáp ứng không đầy đủ của hệ thống hô hấp, và nồng độ CO2 sau ngưng thở có thểkhông trở lại mức ban đầu [12] Quá trình giảm nhạy cảm của trung tâm hô hấp đểđáp ứng với các đợt tăng CO2, giảm O2 máu tiến triển và hậu quả là bệnh nhân cóthể xuất hiện tình trạng ứ CO2 máu trong lúc ngủ [12] Điều trị CPAP có thể giảmnhẹ phần nào tình trạng này Tăng CO2 máu ban ngày có thể xuất hiện ở bệnh nhânchỉ mắc OSA, nhưng tăng CO2 máu thường gặp hơn ở bệnh nhân có hội chứngchồng lấp COPD – OSA [12] Giảm O2 máu ban ngày và tăng CO2 đã được chứngminh là yếu tố tiên đoán suy tim phải và nên được coi là dấu hiệu tiên lượng xấu.Giảm O2 máu về đêm là biến cố phổ biến ở bệnh nhân COPD, ước tính ảnhhưởng 27% – 70% bệnh nhân COPD với độ bão hòa oxy máu lúc nghỉ khi thức daođộng từ 90% – 95% ngay cả khi không có tắc nghẽn đường hô hấp trên [31] Giảm
O2 máu về đêm có thể là do ngưng thở khi ngủ (tắc nghẽn, trung tâm hoặc hỗn hợp),giảm thông khí do COPD hoặc kết hợp cả hai Giảm O2 máu về đêm có liên quantăng tỷ lệ tử vong và đợt cấp COPD nhưng việc điều trị thở O2 về đêm không chắcđảo ngược được kết cục này, cần chờ thêm kết quả của các thử nghiệm đa trung tâmlớn đang tiến hành [31] Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá độ bão hòa O2 vềđêm ở bệnh nhân COPD có nguy cơ (với độ bão hòa oxy máu dưới 95% lúc thức)
để tiên lượng Có thể đánh giá tình trạng giảm O2 máu về đêm bằng phương pháp đa
ký giấc ngủ hoặc đa ký hô hấp với nhiều cảm biến khác nhau Đo độ bão hòa O2 vềđêm là một trong những phương pháp đánh giá giấc ngủ di động đơn giản nhất với
Trang 31giá trị hạn chế trong chẩn đoán OSA ở bệnh nhân COPD vì không thể phân biệtgiảm O2 máu về đêm là do COPD hay OSA Do đó, đa ký giấc ngủ có kênh theo dõiSpO2 qua da là công cụ tốt nhất hiện nay để đánh giá rối loạn hô hấp liên quan giấcngủ cho bệnh nhân COPD Vai trò của đa ký hô hấp trong dân số này hiện chưa rõràng và cần nhiều nghiên cứu hơn.
Vì bệnh nhân mắc hội chứng chồng lấp COPD - OSA không được điều trị có tiênlượng xấu và CPAP có thể giảm nguy cơ tử vong tăng thêm do OSA không đượcđiều trị, các bác sĩ lâm sàng nên nghi ngờ đối với các bệnh nhân sau: (1) bệnh nhânthan phiền về giấc ngủ hoặc các triệu chứng gợi ý về OSA; (2) bệnh nhân mắcCOPD nhẹ và có tình trạng tăng áp động mạch phổi hoặc tăng CO2 ban ngày; (3)Bệnh nhân COPD có giảm O2 máu về đêm, đau đầu buổi sáng khi điều trị bằng liệupháp O2 về đêm [31]
Đáng chú ý, chỉ số thông thường để đánh giá mức độ ngưng thở khi ngủ là AHI,
có thể khó diễn giải hơn trong bối cảnh bệnh phổi mãn tính và giảm O2 máu Ví dụ,một bệnh nhân xuất hiện một giai đoạn giảm thông khí kéo dài thường được tính làgiảm thở đơn độc nếu không theo dõi CO2 qua da Ngoài ra, thở oxy khi thăm dò đa
ký giấc ngủ có thể làm giảm rõ tình trạng giảm oxy máu nhưng cũng có thể làmgiảm độ nhạy phát hiện giảm oxy máu vì lúc đó giá trị PaO2 nằm ở đoạn đi ngangcủa đường cong gắn nhả oxy – haemoglobin [12] Các tín hiệu áp lực từ cảm biếntại mũi bị giảm khi bệnh nhân thở oxy do tác động của luồng oxy thở vào trên cảmbiến áp lực Ngoài ra, dùng đồng thời ngạnh mũi thở oxy, cảm biến áp lực mũi vàcảm biến nhiệt miệng thường gây khó chịu cho bệnh nhân khi thăm dò đa ký giấcngủ vì lỗ mũi quá chật [12] Cuối cùng, CO2 qua da là một biện pháp thay thế quantrọng đối với áp lực CO2 động mạch ở bệnh nhân COPD để đánh giá tình trạnggiảm thông khí liên quan đến giấc ngủ Tuy nhiên, CO2 qua da không thể phát hiệnthay đổi CO2 qua từng hơi thở và đôi khi có thể gây nhầm lẫn Do khó khăn về kỹthuật này, khác biệt giữa giảm thông khí và giảm thở liên quan, đặc biệt trong giaiđoạn chuyển động mắt nhanh thường là thách thức trong thăm dò đa ký giấc ngủ ởbệnh nhân COPD Do đó, tiêu chuẩn AHI truyền thống rất có giá trị trong chẩn
Trang 32đoán OSA trên bệnh nhân COPD, nhưng cần khuyến khích nghiên cứu sâu hơn cácchỉ số khác chẩn đoán OSA trên bệnh nhân COPD để làm rõ gánh nặng bệnh tật.
1.1.3.4 Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định hội chứng chồng lấp COPD - OSA dựa trên việc chẩn đoánxác định hai bệnh riêng rẽ là COPD và OSA theo các tiêu chuẩn đã nêu ở trên Trênbệnh nhân COPD, những chỉ điểm khách quan cho phép nghĩ tới OSA là các triệuchứng ngáy thường do người ngủ cùng phát hiện, chứng buồn ngủ ban ngày quámức hay tình trạng giảm độ bão hòa oxy máu không tương xứng với mức độ tắcnghẽn phế quản Đo đa ký giấc ngủ, đa ký hô hấp trên bệnh nhân COPD cho phépchẩn đoán xác định hội chứng chồng lấp COPD - OSA
1.2 Tình hình nghiên cứu hội chứng chồng lấp COPD - OSA
1.2.1 Nghiên cứu hội chứng chồng lấp COPD – OSA trên thế giới
Các nghiên cứu đầu tiên về hội chứng chồng lấp COPD – OSA được thực hiệntrong những năm 1980 – 1990, tìm hiểu tỷ lệ OSA trên bệnh nhân COPD và ngượclại, tỷ lệ COPD trên các bệnh nhân có OSA Đến năm 1985, David Flenley lần đầutiên mô tả hội chứng chồng lấp COPD – OSA Flenley cho rằng chồng lấp COPD
và OSA sẽ có tác hại nhiều hơn so với các bệnh nhân chỉ mắc COPD hoặc OSA đơnthuần [25]
Trong hai thập kỷ gần đây, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân COPD nhiềukhả năng có thể mắc OSA kèm theo, tuy nhiên việc so sánh đặc điểm dịch tễ họcgiữa các nghiên cứu còn nhiều khó khăn bởi sự không đồng nhất trong phương phápnghiên cứu, đặc điểm dân số, khác nhau giữa định nghĩa biến số OSA theo chỉ sốAHI [57] Nhiều nghiên cứu mô tả cho thấy tỷ lệ OSA tương đối cao trong đân sốCOPD so với dân số bình thường [57] Shawon và cs (2017) thực hiện tổng quantài liệu 10 nghiên cứu trên dân số COPD (n = 6099 người tham gia), cho thấy tỷ lệhội chứng chồng lấp COPD – OSA rất dao động từ 2.9% đến 65.9% [57] Đồngthời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những bệnh nhân có hội chứng chồng lấp COPD –OSA cho thấy kết cục lâm sàng bất lợi hơn, đặc biệt về các bệnh lý tim mạch, chất
Trang 33thu thập mẫu liên tục [57] Tám nghiên cứu chẩn đoán OSA bằng đa ký giấc ngủ(tại phòng lab giấc ngủ hay tại nhà) trong, hai nghiên cứu còn lại chỉ sử dụng bảngcâu hỏi Berlin và thang buồn ngủ Epworth [57] Tỷ lệ mắc hội chứng chồng lấp khácao trong các nghiên cứu trên bệnh nhân COPD cao tuổi (21,4%) [19], và bệnhnhân được điều trị oxy dài hạn (15,7%) [41].Hai nghiên cứu tìm thấy tỷ lệ mắc hộichứng chồng lấp hơn 50% trong mẫu nhỏ bệnh nhân COPD nặng [61] và bệnh nhânnhập viện vì các đợt cấp của COPD [66] Lý do khác biệt về tần suất OSA trên bệnhnhân COPD trong các nghiên cứu này vẫn chưa được hiểu rõ, điều này có thể chủyếu do sự khác biệt về mặt phương pháp và cách định nghĩa chẩn đoán giữa cácnghiên cứu cũng như khác biệt về dân số nghiên cứu Trong khi nhiều nghiên cứudùng tiêu chí FEV1/FVC < 0,7 để xác định COPD, vài nghiên cứu khác sửa đổi tiêuchí này [57] Trong một vài nghiên cứu, định nghĩa COPD dựa trên chẩn đoán củabác sĩ, danh sách thuốc hoặc theo mã ICD Các định nghĩa OSA cũng rất khác nhaukhi các ngưỡng cắt AHI khác nhau (ví dụ: AHI ≥ 5, AHI ≥ 10 hoặc AHI ≥ 15lần/giờ) đã được sử dụng Điều này phản ánh giới hạn của một định nghĩa phân loạicủa hội chứng chồng lấp COPD – OSA, vì không rõ liệu bệnh nhân mắc COPDnặng và OSA nhẹ có nên được xem xét khác với những người mắc COPD nhẹ vàOSA nặng Hơn nữa, do các quy tắc cho điểm giảm thở do AASM khuyến nghị đãthay đổi theo thời gian, có các nghiên cứu sử dụng tiêu chí giảm oxy ≥ 3% để xácđịnh tỷ lệ giảm thở khi báo cáo tỷ lệ mắc hội chứng chồng lấp COPD – OSA caohơn khi so sánh với các nghiên cứu sử dụng tiêu chí giảm oxy ≥ 4% [57] Cụ thể,các nghiên cứu được thực hiện trước năm 2007 chủ yếu sử dụng tiêu chuẩn giảm độbão hòa oxy ≥ 4% để xác định tình trạng giảm thở Trong khi các nghiên cứu saunăm 2007 sử dụng tiêu chuẩn giảm độ bão hòa oxy ≥ 3% để xác định tình trạnggiảm thở Điều này phù hợp với những phát hiện của Ruehland và cs (2009) chứngminh sự khác biệt rõ rệt về AHI do thay đổi định nghĩa giảm thở tiêu chuẩn và hiểubiết cẩn thận là cần thiết để giải thích kết quả bằng cách sử dụng các định nghĩagiảm thở khác nhau [53].Các nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi Berlin đã bị hạn chế
do độ nhạy và độ đặc hiệu không cao Ngoài ra, nhiều nghiên cứu không được thực
Trang 34hiện với mục đích chính là ước tính tỷ lệ mắc hội chứng chồng lấp COPD – OSA vàchọn mẫu bệnh nhân theo cách chọn lọc, kết quả là, các mẫu không đại diện cho dân
số cơ bản của họ Sự lựa chọn sai lệch này bao gồm tuyển dụng những người phânphối tuổi già, bệnh nhân được điều trị bằng oxy dài hạn tại nhà hoặc bệnh nhânnhập viện với các đợt cấp của COPD [57] Những nghiên cứu này báo cáo tỷ lệ mắchội chứng chồng lấp COPD – OSA cao hơn nhiều so với các nghiên cứu còn lại.Hơn nữa, các nghiên cứu khác nhau bao gồm bệnh nhân COPD và OSA với mức độnghiêm trọng khác nhau của bệnh Ví dụ, một số tác giả bao gồm các trường hợpCOPD vừa (%FEV1 = 50 – 79% giá trị tiên đoán) hoặc các trường hợp nặng(%FEV1 = 30 – 49% giá trị tiên đoán) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đã khôngbáo cáo những hạn chế về phương pháp này và không thừa nhận sự thiếu tính kháiquát đối với các quần thể khác Cũng nên lưu ý, trong vòng 25 năm qua, cả OSA vàCOPD đều đã có những thay đổi lớn trong hướng dẫn chẩn đoán và thái độ điều trị.Các thiết bị đa ký giấc ngủ, đa ký hô hấp đã có những cải thiện về độ chính xác sovới trước đây
Annia Schreiber và cs (2018) đánh giá trên 422 bệnh nhân COPD, chỉ ra rằng45% (190/422 bệnh nhân) có đồng mắc OSA (AHI ≥ 15 lần/giờ) [56] và 41% bệnhnhân có hội chứng chồng lấp COPD - OSA có chỉ số BMI < 30 [56] Một nghiêncứu tổng quan cũng chỉ ra rằng tỷ lệ lưu hành của hội chứng chồng lấp COPD -OSA cũng rất dao động, tùy thuộc theo đặc điểm của dân số COPD: khoảng 0,5%trên dân số COPD nhẹ, 39% trên dân số COPD trung bình – nặng và lên tới 65%trên dân số COPD nặng [48] Điều này có thể gợi ý một số đặc điểm liên quan giữa
độ nặng của COPD với cơ chế bệnh sinh của OSA, tuy nhiên cần xem xét các khíacạnh khác của mối liên quan này Đầu tiên, tỷ lệ lưu hành của cả OSA và COPDđều tăng theo tuổi Tiếp theo, độ nặng của COPD có thể ảnh hưởng lên công cụđánh giá độ nặng của OSA theo AHI [48] Điều này thể hiện qua định nghĩa giảmthở có liên quan tới giảm độ bão hòa oxy trong máu, nhưng với bệnh nhân COPD bịgiảm oxy máu ở mức cận biên (nằm trên đoạn dốc của đường cong gắn nhả oxy –
Trang 35không đáng kể [48] Do đó, cùng một mức độ tắc nghẽn đường hô hấp trên có thể
có sự khác nhau trong đánh giá độ nặng của OSA tùy theo chức năng phổi nền tảngcủa bệnh nhân [48] Thật vậy, tỷ lệ lưu hành OSA được thấy tương đối cao trênnhững dân số có bệnh phổi mạn tính gây giảm oxy máu (xơ phổi vô căn, hen),dường như được thúc đẩy bởi sự gia tăng đáng kể số lượng hiện tưởng giảm thở hơn
so với hiện tượng ngưng thở (không phụ thuộc vào giảm độ bão hòa oxy) [37]
1.2.2 Nghiên cứu hội chứng chồng lấp COPD - OSA tại Việt Nam
Ở Việt Nam, ngành y học giấc ngủ đã đạt được nhiều tiến bộ, tuy nhiên khả năngtiếp cận vẫn còn giới hạn tại một số trung tâm chuyên khoa Hô hấp lớn Tại khu vựcphía Nam Việt Nam vẫn còn giới hạn tại một số trung tâm chuyên khoa Hô hấpcông lập và tư nhân, về hiểu biết cũng như trang thiết bị máy móc nên hội chứngchồng lấp COPD – OSA vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Các nghiên cứu tại ViệtNam hầu như mới chỉ tập trung nghiên cứu về OSA Nghiên cứu về sự kết hợp giữaOSA và COPD trong hội chứng chồng lấp COPD – OSA tại Việt Nam còn tươngđối mới và hạn chế trong dân số nghiên cứu
Dương Quý Sỹ và cs (2013) [21] thực hiện tại Đà Lạt, Lâm Đồng trên 60 bệnhnhân nam giới, hút thuốc lá được đo hô hấp ký và đa ký giấc ngủ, ghi nhận tỷ lệmắc OSA cao hơn ở nhóm bệnh nhân COPD so với nhóm không mắc COPD (23%
so với 10%), kèm theo đó vi thức và AHI ở nhóm bệnh nhân mắc COPD cũng caohơn nhóm không mắc COPD Nghiên cứu chỉ thực hiện trên cỡ mẫu tương đối nhỏ(30 bệnh nhân COPD) nên khó có thể mang tính đại diện cho quần thể bệnh nhânCOPD
Phan Thanh Thủy và cs (2016) tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội thực hiện nghiêncứu trên 60 bệnh nhân COPD nội viện [6] Các bệnh nhân này hoàn thành thangđiểm Epworth và được đo đa ký giấc ngủ Tỷ lệ bệnh nhân có điểm Epworth ≥ 10 ởnhóm COPD có và không đồng mắc OSA lần lượt là 32,5% và 30% cho thấy thangđiểm Epworth có khả năng tiên đoán kém Nghiên cứu thực hiện trên đối tượngbệnh nhân nhập viện vì bệnh lý hô hấp có thể ảnh hưởng tới chất lượng của đa kýgiấc ngủ trong chẩn OSA Tần suất hội chứng chồng lấp COPD - OSA là 66,7%
Trang 36Cũng theo nghiên cứu này, hội chứng chồng lấp COPD – OSA làm gia tăng sự giảmoxy máu ban đêm và tăng áp động mạch phổi so với bệnh nhân COPD đơn thuần.Dương Quý Sỹ và cs (2018) đã thực hiện một nghiên cứu đa trung tâm trên dân
số có triệu chứng hô hấp mạn tính, cho thấy tỷ lệ mắc OSA (AHI ≥ 15 lần/giờ) trêndân số COPD (n = 74 bệnh nhân) tương đối cao là 36,4% [22] Mặc dù, nghiên cứuđược thiết kế chẩn đoán COPD dựa vào phế thân ký theo tiêu chuẩn của GOLD, vàchẩn đoán OSA dựa vào máy đa ký giấc ngủ với tiêu chuẩn AHI ≥ 15 lần/giờ, tuynhiên thiết kế nghiên cứu không nhằm mục đích đánh giá tỷ lệ lưu hành hội chứngchồng lấp COPD – OSA nên cỡ mẫu bệnh nhân COPD (n = 74) của nghiên cứu cóthể chưa đủ để xác định tỷ lệ OSA trên dân số COPD
Dương Duy Khoa và cs (2018) cũng đã thực hiện một nghiên cứu tại bệnh việnChợ Rẫy và bệnh viện Đại học Y Dược nghiên cứu 187 trường hợp bệnh nhânCOPD [3] Nghiên cứu đã chuyển đổi bảng câu hỏi STOP BANG sang Tiếng Việt
để thuận tiện trong nghiên cứu, bệnh nhân được đánh giá nguy cơ OSA khi ≥ 3điểm theo bảng câu hỏi STOP-Bang chiếm tỷ lệ 79,1% và tỷ lệ bệnh nhân có nguy
cơ OSA cao ≥ 5 điểm theo bảng câu hỏi STOP-Bang là 19,8% Nghiên cứu có mộtvài hạn chế khi các bệnh nhân COPD được nhận vào nghiên cứu không phải tất cảđều có hô hấp ký để xác định chẩn đoán, kèm theo không có bệnh nhân nào được đo
đa ký hô hấp hay đa ký giấc ngủ để xác định chẩn đoán OSA
Nhìn chung, đồng mắc OSA trên dân số COPD vẫn là một vấn đề mới, chưađược nghiên cứu nhiều tại Việt Nam Vai trò của việc điều trị đồng thời OSA vàCOPD là cần thiết Do đó xác định tỷ lệ bệnh nhân OSA trên nhóm bệnh COPD rấtcần thiết trong thực hành lâm sàng
Trang 37CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Dân số mục tiêu
Bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
2.1.2 Dân số nghiên cứu
Bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hồ sơ theo dõi điều trị đến khám tạiphòng quản lý Hen – bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bệnh viện Nhân Dân Gia Địnhtrong thời gian từ tháng 09/2019 đến tháng 05/2020
2.1.3 Tiêu chuẩn nhận vào
Bệnh nhân tham gia nghiên cứu phải thỏa tất cả các tiêu chuẩn sau:
(1) Bệnh nhân ≥ 40 tuổi, chẩn đoán lâm sàng ghi nhận trong hồ sơ bệnh án làbệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, chẩn đoán được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa hôhấp, không thay đổi qua ít nhất 2 lần khám, theo tiêu chuẩn GOLD 2019 và có hồ
sơ theo dõi điều trị:
Lâm sàng: khó thở, ho mạn, khạc đàm mạn tiến triển
Yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá
Hô hấp ký: FEV1/FVC < 0.7 sau test dãn phế quản
(2) Bệnh nhân được thông tin và đồng ý tham gia nghiên cứu, kí vào giấy chấpthuận tham gia nghiên cứu
2.1.4 Tiêu chuẩn loại ra
(1) Bệnh nhân lú lẫn, không giao tiếp được, không hiểu tiếng Việt để trả lời câuhỏi nghiên cứu
(2) Có bệnh lý hô hấp mạn tính khác như: hen, dãn phế quản, xơ phổi gây tìnhtrạng tắc nghẽn cố định luồng khí
(3) Bệnh nhân có đợt cấp COPD, đợt nhiễm trùng hô hấp khác, nhồi máu cơ timtrong vòng 4 tuần trước đo đa ký hô hấp
Trang 38(4) Bệnh nhân đang sử dụng liệu pháp oxy tại nhà, sử dụng thuốc an thần, thuốcgây ngủ.
(5) Chống chỉ định hay không hợp tác đo đa ký hô hấp
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm: Nghiên cứu thực hiện tại phòng quản lý hen – bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Thời gian: Tất cả các đối tượng trong nghiên cứu được lựa chọn theo trình tự
thời gian từ 30/09/2019 đến 31/05/2020 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, mô tả
Tần số OSA trên dân số COPD trên thế giới dao động nhiều từ 2,9% - 65,9% Đểđảm bảo tính chính xác, chúng tôi chọn p dự đoán = 50% Cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 98bệnh nhân
2.2.4 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện, liên tiếp: tất cả các bệnh nhân COPD thỏa tiêu chuẩn chọnvào và không có tiêu chuẩn loại trừ đến phòng khám quản lý hen – bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính, bệnh viện Nhân dân Gia Định trong thời gian nghiên cứu sẽ đượcnghiên cứu viên thông tin và mời vào nghiên cứu
Trang 392.2.5 Thu thập số liệu
2.2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu viên hỏi thông tin hành chính và thu thập các đặc điểm nền tảngCOPD bao gồm:
Đặc điểm nhân trắc: tuổi, giới, cân nặng, chiều cao, vòng cổ và vòng eo
Đặc điểm bệnh nền COPD: tiền căn hút thuốc lá, đợt cấp COPD cần nhậpviện 12 tháng trước, các bệnh đồng mắc, triệu chứng lâm sàng, thang điểmmMRC, CAT và kết quả hô hấp ký
Đặc điểm nguy cơ OSA: bảng câu hỏi Epworth, bảng câu hỏi STOP BANG,Mallampati
Nghiên cứu viên thu thập biến số kết cục là kết quả đa ký hô hấp
2.2.5.2 Biến số nghiên cứu
Biến số thu thập trong nghiên cứu được mô tả trong Bảng 2.1
Bảng 2.1: Biến số nghiên cứu Đặc điểm nhân trắc học
Tuổi – Giới – Chiều cao – Cân Nặng - Chỉ số khối cơ thể (BMI) – Vòng cổ
- Vòng eo
Tiền căn hút thuốc lá
Bệnh đồng mắc: tăng huyết áp, đái tháo đường típ 2, rối loạn lipid máu,suy tim, đột quị, nhồi máu cơ tim
Đặc điểm bệnh nền COPD
mMRC, CAT, Số đợt cấp COPD nhập viện trong 12 tháng qua, SpO2 lúckhám
FEV1/FVC, %FEV1 và %FVC trước và sau test dãn phế quản
Phân nhóm A, B, C, D của COPD
Mức độ tắc nghẽn luồng khí GOLD 1, 2, 3, 4 của COPD
Trang 40Đặc điểm nguy cơ OSA
Điểm số STOP BANG (nguy cơ OSA)
Điểm số Epworth (mức độ buồn ngủ ban ngày)
Chỉ số Mallampati cải biên (mức độ hẹp vùng hầu họng)
Đặc điểm đa ký hô hấp
Chỉ số ngưng giảm thở: AHI
Tỷ lệ thời gian ngủ với SpO2 < 90%: T90
Giới: biến nhị giá, gồm 2 giá trị: nam, nữ.
Chiều cao: biến liên tục, đánh giá với thước đo chiều cao gắn trên tường, bệnh
nhân đứng thẳng lưng, hai gót chân chạm nhau, bắp chân, mông và lưng áp sáttường, hai mắt nhìn thẳng phía trước tránh cúi hay ngửa đầu Kết quả đo làm trònđến cm gần nhất
Cân nặng: biến liên tục, đánh giá với cân sức khỏe, bệnh nhân mặc đồ nhẹ
(không mặc áo khoác), đi chân không, kết quả tính bằng kg làm tròn đến 0,5 kg
Hút thuốc lá: biến liên tục, được tính theo đơn vị gói.năm (Gói.năm = Số gói hút
trong ngày x số năm hút Ví dụ: 20 gói.năm = 1 gói hút trong ngày x 20 năm =gói hút trong ngày x 40 năm.)
Vòng cổ: biến liên tục, sử dụng thước dây, đứng thẳng, nâng cằm, giữ đầu thẳng,
xác định chỗ lồi nhất sụn giáp, sử dụng thước dây quấn quanh vừa khít và song
song với sàn, đơn vị cm (Hình 2.1) [36].
Vòng eo: biến liên tục, sử dụng thước dây, đứng thẳng, kéo cao áo ngang bờ dưới