1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỷ lệ và yếu tố liên quan trầm cảm sau sinh 4 tuần ở các bà mẹ đến sinh tại bệnh viện đa khoa tỉnh bình định

117 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn sau sinh cóđến 85% phụ nữ có rối loạn về trạng thái tâm thần sau sinh, với hầu hết phụ nữ, những triệu chứng này thường thoáng qua và tương đối nhẹ, tuy nhiên cókhoảng 10

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 09 năm 2020

Tác giả luận văn

Võ Thị Thu Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Bảng các chữ viết tắt

Bảng đối chiếu thuật ngữ Anh – Việt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ - sơ đồ - hình ảnh

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Tổng quan về rối loạn trầm cảm sau sinh 5

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 18

1.3 Đặc điểm tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Thiết kế nghiên cứu 33

2.2 Đối tượng nghiên cứu 33

2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu 33

2.4 Cỡ mẫu 34

2.5 Phương pháp chọn mẫu 34

2.6 Phương pháp tiến hành 35

2.7 Các biến số trong nghiên cứu 42

2.8 Thu thập và quản lý số liệu 46

2.9 Vai trò của người nghiên cứu 46

2.10 Y đức trong nghiên cứu 46

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

Trang 5

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 49

3.2 Tỷ lệ rối loạn trầm cảm sau sinh 4 tuần 54

3.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn trầm cảm sau sinh 4 tuần 55

Chương 4 BÀN LUẬN 64

4.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 64

4.2 Tỷ lệ rối loạn trầm cảm sau sinh 4 tuần 65

4.3 Yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn trầm cảm sau sinh 4 tuần 68

4.4 Hạn chế của đề tài 81

KẾT LUẬN 83

KIẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu và chấp thuận tham gia

nghiên cứu Phụ lục 2: Bảng thu thập số liệu nghiên cứu

Phụ lục 3: Bảng câu hỏi EPDS phiên bản tiếng Anh

Phụ lục 4: Bảng câu hỏi EPDS phiên bản tiếng Việt

Phụ lục 5: Danh sách sản phụ tham gia nghiên cứu

Phụ lục 6: Quyết định về việc công nhận tên đề tài và người hướng dẫn học

viên chuyên khoa cấp II Phụ lục 7: Giấy chấp thuận của Hội đồng Đạo Đức trong nghiên cứu y sinh

học Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Phụ lục 8: Quyết định về việc đồng ý cho phép tiến hành thu nhận số liệu tại

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định

Trang 6

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNVC Công nhân viên chức

DALYs Disability-Adjusted Life-Years

DTBS Dị tật bẩm sinh

DSM Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders

EPDS Edinburgh Postnatal Depression Scale

ICD International Statistical Classification of Diseases and

Related Health Problems

LTSS Loạn thần sau sinh

Trang 7

BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH – VIỆT

Disability-Adjusted Life-Years Gánh nặng bệnh tật

Diagnostic and Statistical Manual of

Mental Disorders

Hướng dẫn chẩn đoán và thống

kê các rối loạn tâm thần

Edinburgh Postnatal Depression

Scale

Thang đo trầm cảm sau sinh

International Statistical Classification

of Diseases and Related Health

Problems

Bảng Phân loại Quốc tế vềbệnh tật và các vấn đề sức khỏe

có liên quan

World Health Organization Tổ chức y tế thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại rối loạn tâm thần sau sinh 9

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội 49

Bảng 3.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - tình trạng hôn nhân 50

Bảng 3.3 Tiền sử mang thai 51

Bảng 3.4 Đặc điểm giai đoạn mang thai 51

Bảng 3.5 Đặc điểm của trẻ 52

Bảng 3.6 Đặc điểm mối quan hệ - xã hội 53

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và đặc điểm nhân khẩu học – xã hội 55

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và điều kiện kinh tế 56

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và tình trạng hôn nhân 57

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và tiền sử mang thai 58

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và đặc điểm giai đoạn mang thai 59

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và đặc điểm của trẻ 60

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và đặc điểm mối quan hệ -xã hội 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ - HÌNH ẢNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ histogram điểm trung bình 54Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ trầm cảm sau sinh 54

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 41

Sơ đồ 3.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 48

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định 31Hình 1.2 Phòng khám sản, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định 32Hình 2.1 Phỏng vấn sản phụ sau sinh 4 tuần tại phòng khám sản 40

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trầm cảm hiện đang là một rối loạn tâm thần phổ biến ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới, gây ra gánh nặng to lớn cho xã hội và ngày càng có xuhướng gia tăng Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính đến năm 2030,trầm cảm sẽ là nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [82]

Tỷ lệ rối loạn trầm cảm trên thế giới thay đổi theo giới tính, nữ giới cónguy cơ mắc trầm cảm nhiều hơn so với nam giới 50% [68] Ở nữ giới, cácnghiên cứu cho thấy sau sinh, đặc biệt trong tháng đầu tiên sau sinh là khoảngthời gian mà người phụ nữ gia tăng nguy cơ phát triển các bệnh tâm thần hơnbất kỳ thời điểm nào trong cả cuộc đời [56], [57] Trong giai đoạn sau sinh cóđến 85% phụ nữ có rối loạn về trạng thái tâm thần sau sinh, với hầu hết phụ

nữ, những triệu chứng này thường thoáng qua và tương đối nhẹ, tuy nhiên cókhoảng 10-15% phụ nữ xuất hiện trầm cảm sau sinh và 25% những phụ nữnày bệnh vẫn còn diễn tiến đến 12 tháng sau sinh [50], [56]

Trầm cảm sau sinh thường ít được chú ý chẩn đoán và nếu không đượcđiều trị kịp thời thì tình trạng rối loạn này có thể gây ra những tác động xấuđến sức khỏe của sản phụ và trẻ em, cũng như mối quan hệ của họ với cácthành viên khác trong gia đình [34], [44], [49] Sản phụ bị trầm cảm thường

có những cảm xúc tiêu cực như buồn phiền, lo âu, căng thẳng, dễ cáu gắt [54].Nghiêm trọng hơn, họ có thể xuất hiện ý định tự tử, tự hủy hoại bản thân vàcon của họ [45] Một trong các nguyên nhân chính làm cho hậu quả của trầmcảm trở nên trầm trọng, đó là người phụ nữ thường thiếu kiến thức để nhậnbiết triệu chứng của bệnh trầm cảm và không tìm sự giúp đỡ khi có dấu hiệutrầm cảm [42], [46]

Để hiểu rõ hơn về rối loạn trầm cảm sau sinh, cần sự phối hợp giữaTâm Thần và Sản Phụ Khoa nhằm nhận biết và điều trị sớm các rối loạn tâm

Trang 11

thần sau sinh, đây cũng là một vấn đề lớn hiện nay mà các ngành Sản PhụKhoa và Tâm Thần đang thật sự quan tâm [50] Trầm cảm sau sinh đã đượckhảo sát tại nhiều nơi trên thế giới và tỷ lệ bệnh cũng rất biến đổi theo từngnghiên cứu Một số nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố liên quan đến trầm cảmsau sinh bao gồm yếu tố di truyền, trình độ học vấn thấp, nghèo đói, thu nhậpthấp, thất nghiệp, thiếu sự hỗ trợ của gia đình, mối quan hệ không tốt vớichồng, mâu thuẫn với gia đình bên chồng,… [32], [42], [85].

Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về trầm cảm sau sinh, tậptrung chủ yếu tại một số bệnh viện phụ sản, với tỷ lệ trầm cảm sau sinh daođộng từ 11,5% đến 33% [2], [3], [4], [5], [8], [9], [11], [15], [16], [36] Kếtquả này đã đặt ra một yêu cầu bức thiết cần được quan tâm để cải thiện chấtlượng chăm sóc sức khỏe sản phụ sau khi sinh

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định là tuyến điều trị cao nhất của ngành

Y tế tỉnh, với nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh Bình Địnhcũng như các địa phương lân cận Phần Mở Rộng của Bệnh viện Đa khoa tỉnhBình Định được thành lập tháng 3 năm 2018, trung bình hằng ngày có khoảng10-15 ca sanh và mổ Sản phụ khi xuất viện sẽ được hẹn tái khám 4 tuần sausinh Tỷ lệ sinh trung bình hằng năm gần 2000 trường hợp, tuy nhiên việcchăm sóc sức khỏe sản phụ sau sinh vẫn còn bỏ ngõ, nhất là các vấn đề về sứckhỏe tâm thần Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy những hủ tục kiêng kỵ sausinh như kiêng gió, kiêng tắm gội, nằm than theo quan niệm cũ hiện nay vẫncòn khá nhiều, ngay cả khi những thông tin khoa học về chăm sóc y khoa đãđược truyền thông rộng rãi

Vì lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tỷ lệ và yếu tố liên

quan trầm cảm sau sinh 4 tuần ở các bà mẹ đến sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định” nhằm khảo sát thực trạng trầm cảm ở các phụ nữ sau sinh,

đồng thời đánh giá các yếu tố liên quan tại địa phương, từ đó đưa ra các kiến

Trang 12

nghị nhằm cải thiện sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em trong tương lai Đề tài

được được hiện với câu hỏi nghiên cứu: ―Tỷ lệ trầm cảm sau sinh 4 tuần ở

các bà mẹ đến sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định là bao nhiêu và các yếu tố nào liên quan đến tình trạng trầm cảm sau sinh ở các bà mẹ này?‖.

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chính

Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm sau sinh 4 tuần ở các sản phụ đến sinhtại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định từ 01/12/2019 đến 30/6/2020

Mục tiêu phụ:

Xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn trầm cảm sau sinh

4 tuần ở các sản phụ đến sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định từ01/12/2019 đến 30/6/2020, bao gồm:

- Đặc điểm kinh tế - gia đình – xã hội

- Đặc điểm thai kỳ

- Tình trạng chăm sóc sau sinh

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về rối loạn trầm cảm sau sinh

1.1.1 Khái niệm

Theo hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, xuất bảnlần thứ 5 (DSM-5) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, trầm cảm là dạng rối loạntâm thần biểu hiện đặc trưng bởi ít nhất 5 trong số các dấu hiệu cơ bản, baogồm: Khí sắc trầm; Mất sự quan tâm, thích thú; Có biểu hiện sụt cân đáng kể

dù không ăn kiêng hay tăng cân; Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều; Chức năng tâmthần vận động trở nên kích thích hay chậm chạp gần như mỗi ngày; Mệt mỏihoặc mất năng lượng; Cảm giác vô dụng hay cảm giác có tội quá mức haykhông phù hợp (có thể là hoang tưởng); Giảm khả năng suy nghĩ, tập trungchú ý hoặc khả năng ra quyết định; Suy nghĩ về cái chết hoặc có ý tưởng và

kế hoạch tự sát Các biểu hiện trên xuất hiện trong khoảng thời gian 2 tuần vàlàm thay đổi đáng kể những chức năng trước đó [19]

Theo DSM-5: trầm cảm sau sinh khởi phát trong vòng 4 tuần đầu sausinh và trầm cảm sau sinh có các triệu chứng và tiến trình phát triển bệnhtương tự như rối loạn trầm cảm thông thường [19]

1.1.2 Lịch sử và phân loại

Bệnh lý tâm thần sau sinh đã được đề cập đến từ rất sớm trong lịch sửnhân loại, vào khoảng năm 400 sau công nguyên, và Hippocrates được xemnhư là người đầu tiên nhận ra các bệnh lý tâm thần sau sinh, nhưng vẫn chưa

có ai chính thức đề cập đến các bệnh lý này cho mãi đến những năm 1700 và

1800, khi những báo cáo về trường hợp ―miễn truy tố vì bệnh tâm thần thời

kỳ hậu sản‖ bắt đầu xuất hiện trong các y văn ở Pháp và Đức [72] Năm 1818,Jean Esquirol là người đầu tiên đưa ra vấn đề này một cách chi tiết, có 92trường hợp bị rối loạn tâm thần hậu sản trong các nghiên cứu của ông tại

Trang 15

Salpétrière trong thời kỳ chiến tranh Napoléon Tuy nhiên, chính Victor LouisMarce, một nhà vật lý người Pháp, là người đã đặt nền tảng cho các khái niệmhiện đại về bệnh lý tâm thần liên quan đến thai kỳ và thời kỳ hậu sản, ôngcũng là người đầu tiên gợi ý rằng các biến đổi sinh lý liên quan trong thời kỳhậu sản đã ảnh hưởng lên trạng thái tâm thần của người mẹ Đến khoảng cuốithế kỷ 19, các rối loạn tâm thần thời kỳ hậu sản đã quen thuộc với hầu hết cácthầy thuốc nhưng những dạng bệnh lý hậu sản nhẹ vẫn chưa được để ý nhiều.Cho đến năm 1960, B Pitt là người đầu tiên mô tả một dạng trầm cảm ―khôngđiển hình‖ (sau này gọi là hội chứng buồn sau sinh ở người mẹ) đã ảnh hưởngđến người mẹ không bao lâu sau khi sinh, hội chứng này tương đối nhẹ và chỉtồn tại một thời gian ngắn [56], [72].

Nhiều nhà nghiên cứu đã bàn cãi rằng bệnh lý tâm thần sau sinh gồmmột nhóm các rối loạn tâm thần có liên quan đặc biệt đến thai kỳ và sinh nở

và do đó nó tồn tại như một bệnh lý thực thể cần chẩn đoán riêng biệt, tuynhiên một số khác lại cho rằng bệnh lý tâm thần xuất hiện trong thời kỳ hậusản không khác gì mấy với các bệnh lý tâm thần xảy ra ở những phụ nữ vàocác giai đoạn khác của cuộc sống [50], [56], [72]

Theo DSM-5: trầm cảm sau sinh có các triệu chứng và tiến trình pháttriển bệnh tương tự như rối loạn trầm cảm thông thường [19]

Rối loạn tâm thần sau sinh được chia làm 3 nhóm chính [50], [56], [72],[76]:

- Buồn sau sinh

- Trầm cảm sau sinh

- Loạn thần sau sinh

Buồn sau sinh [76]

Buồn sau sinh là bệnh cảnh thường gặp nhất của rối loạn tâm thần sausinh, tần suất mắc bệnh được ước tính khoảng từ 30 - 85% [76]

Trang 16

Rối loạn này xảy ra cùng lúc với hiện tượng lên sữa, biểu hiện thườnggặp nhất là khó chịu, lo lắng, bất an, sợ hãi, khó ngủ, dễ cáu gắt, hay khóc lócnhiều khi không rõ nguyên nhân, khả năng kiềm chế kém đi Ở một số phụ nữlại trở nên ủ rũ, chán chường, bi quan, hầu hết họ cảm thấy khó tập trung làmviệc, trí nhớ giảm sút

Các triệu chứng trên thường xuất hiện ngay sau khi sinh, cao điểm vàongày thứ ba đến ngày thứ sáu sau sinh và thường kéo dài trong khoảng 3 tuầnthì chấm dứt, đặc biệt đối với những phụ nữ sinh con lần đầu tỉ lệ gặp tìnhtrạng này tương đối cao trên 80% [76]

Các nhà nghiên cứu đã mô tả buồn sau sinh như một sự xáo trộn tâmtrạng tạm thời và không cần tiến hành can thiệp trị liệu

Tuy nhiên một số phụ nữ bị buồn sau sinh có thể tiến triển thành trầmcảm sau sinh

Các triệu chứng thường gặp như khí sắc trầm (buồn rầu, ủ rũ, trốngrỗng, thất vọng), lo âu quá mức, mất ngủ, ăn không ngon miệng, mệt mỏi vànhững than phiền về cơ thể, dễ bị kích thích, hay cáu gắt, giảm giao tiếp, nhậnthức tiêu cực như bất lực, vô vọng, giảm sự tập trung, giảm hoặc mất hứngthú với mọi hoạt động (ngay cả những hoạt động họ từng rất yêu thích),không quan tâm đến bất cứ thứ gì, bao gồm cả việc giảm hoặc mất hứng thútình dục và không hài lòng với các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày

Trang 17

Trong thể nặng nhất của trầm cảm sau sinh, thường biểu hiện bằng sựrối loạn chức năng sâu và ý tưởng tự tử, tuy nhiên tỷ lệ tự tử thường tương đốithấp ở những phụ nữ bị trầm cảm sau sinh.

Các triệu chứng trên dai dẳng từ vài tuần cho đến vài tháng và can thiệptrị liệu là cần thiết Nếu không được phát hiện sớm và điều trị thích hợp, trầmcảm sau sinh sẽ có thể gây ra hậu quả dài hạn và nghiêm trọng, những cảmxúc và hành vi tiêu cực ở người phụ nữ bị trầm cảm sau sinh không chỉ gâyảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người phụ nữ mà còn ảnh hưởng tiêucực tới tình trạng hôn nhân, bầu không khí trong gia đình, tác động tiêu cựcđến sự phát triển cảm xúc, xã hội, nhận thức và nhân cách của đứa trẻ [50],[56], [72]

Loạn thần sau sinh [50], [56], [72]

Loạn thần sau sinh là dạng nặng nhất của các rối loạn tâm thần sausinh, bắt buộc được điều trị khẩn cấp

Loạn thần sau sinh rất hiếm gặp và chỉ xảy ra khoảng 0,1-0,2% tổng sốphụ nữ sau sinh [50]

Những triệu chứng thường bắt đầu vào cuối tuần thứ nhất, đôi khi vàotuần thứ hai sau sinh nhưng ít khi muộn hơn Người phụ nữ phản ứng mộtcách không bình thường với cả chồng và người thân trong gia đình Ngườiphụ nữ tỏ ra sợ hãi, bứt rứt, đôi khi có biểu hiện rối loạn hành vi với những ảotưởng, ảo giác, những suy nghĩ về tự tử và giết người Thời gian mắc bệnhkéo dài càng khiến người phụ nữ có những rối nhiễu tâm thần, lệch lạc nhâncách và có thể trở nên nguy hiểm cho chính người mẹ và trẻ sơ sinh [50],[56], [72]

Trang 18

Bảng 1.1 Phân loại rối loạn tâm thần sau sinh[50], [56], [72], [76]

Buồn sau sinh 30-85% Trong tuần đầu

tiên

Cảm xúc dao động, dễkhóc, mất ngủ, lo âu

1.1.3 Sinh lý bệnh học của rối loạn trầm cảm

Hậu sản là một trong những thời kỳ xảy ra nhiều biến đổi về sinh lý vàtâm lý trong đời sống của người phụ nữ Nhiều tác giả cho rằng các biến đổisinh lý liên quan trong thời kỳ này đã ảnh hưởng lên trạng thái tâm lý củangười mẹ, họ dường như có nguy cơ mắc các bệnh tâm thần cao hơn bất cứgiai đoạn nào khác trong cuộc sống

Sinh lý bệnh học của rối loạn trầm cảm nói chung và của rối loạn trầmcảm sau sinh nói riêng dựa vào giả thuyết đa yếu tố [71]:

Yếu tố sinh lý học [71]

 Vai trò của gien di truyền [71]

Nhiều nghiên cứu chỉ ra vai trò của yếu tố di truyền trong sự xuất hiệncủa vấn đề trầm cảm, các gen di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự pháttriển trầm cảm theo một cơ chế rất phức tạp

Trang 19

Các nghiên cứu về gia đình đã chỉ ra rằng người họ hàng mức độ 1(cha, mẹ, con, anh, chị, em) của bệnh nhân trầm cảm có nguy cơ bị rối loạnnày lên đến 10-15% so với nguy cơ trong dân số không có người thân bị trầmcảm chỉ là 1-2% [71].

Tỷ lệ cùng bị trầm cảm ở những cặp sinh đôi cùng trứng là 65-75%,còn ở những cặp sinh đôi khác trứng chỉ là 14-19% [71]

 Bất thường trong các chất dẫn truyền thần kinh trung ương [71]Nhiều nghiên cứu đã nhận thấy sự thay đổi về nồng độ các chất dẫntruyền thần kinh trung ương như dopamine, norepinephrine, serotonine, (trong máu, trong nước tiểu và trong dịch não tủy) đã gặp trong bệnh trầmcảm Các bất thường này cho phép chúng ta nghĩ rằng trầm cảm là sự phốihợp bất thường của các amin sinh học

Dopamine có nhiều chức năng trong não, trong đó có vai trò quan trọngtrong hành vi và nhận thức, giấc ngủ, sự chú ý, học tập, tâm trạng Một sốnghiên cứu cho thấy hoạt động của dopamine tăng trong hưng cảm và giảmtrong trầm cảm Thuốc làm giảm nồng độ dopamine như Reserpine và bệnh

có nồng độ dopamine giảm như Parkinson thường đi kèm với trầm cảm

Norepinephrine được phóng thích khi có các thay đổi gây ra bởi sự kiệncăng thẳng, làm cơ thể tỉnh táo và hưng phấn Norepinephrine giảm trongbệnh trầm cảm Các thuốc như Imipramine, Desipramine làm ức chế sự táihấp thu norepinephrine ở tế bào tiền tiếp hợp làm tăng lượng norepinephrine

ở khe có tác dụng chống trầm cảm, khẳng định vai trò của norepinephrinetrong trầm cảm

Serotonine là một chất hóa học truyền xung động thần kinh trên khônggian giữa các tế bào thần kinh, serotonine đóng một vai trò quan trọng liênquan đến tâm trạng, giấc ngủ và co thắt mạch máu Với hiệu quả của cácthuốc thuộc nhóm ức chế tái hấp thu serotonine chọn lọc trên các bệnh nhân

Trang 20

trầm cảm đã chứng tỏ phần nào vai trò của chất này trên trầm cảm Sự thayđổi nồng độ serotonine trong não có thể ảnh hưởng đến tâm trạng Việc làmgiảm serotonine có thể thúc đẩy quá trình trầm cảm và trên vài bệnh nhân cóxung đột tự sát, người ta thấy các chất chuyển hóa của serotonine trong dịchnão tủy thấp.

 Nội tiết [71]

Nhiều tác giả cho rằng sự thay đổi nhanh chóng môi trường hormonetrong cơ thể người phụ nữ trong giai đoạn hậu sản đã ảnh hưởng đến sự xuấthiện các trạng thái bệnh lý trong giai đoạn này

Victor Louis Marce là người đầu tiên đề xuất vấn đề này từ rất lâu,trước khi có lĩnh vực nội tiết học Ông cho rằng giai đoạn chuyển tiếp sinh lýsau sinh có thể đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của các bệnhhậu sản [71]

Trục tuyến thượng thận: Cortisol là một loại hormone corticosteroidđược sản sinh bởi vỏ thượng thận Đây là hormone vô cùng quan trọng vàthường được xem là ―hormone stress‖ Mối liên quan giữa tăng tiết cortisol vàtrầm cảm đã được biết đến từ lâu, nồng độ cortisol cao trong máu có thể gâytrầm cảm và loạn tâm thần đã được biết tới Khoảng 50% bệnh nhân trầm cảmđược ghi nhận cortisol không giảm khi được chích với một liềudexamethasone Dù xét nghiệm này không được dùng để chẩn đoán, người tanhận thấy ở bệnh nhân trầm cảm đã đáp ứng với thuốc nhưng không đáp ứngvới thử nghiệm tiêm dexamethasone dễ bị tái phát hơn

Trục tuyến giáp: người ta thấy rằng các rối loạn tuyến giáp có liên quanđến các triệu chứng cảm xúc Ở một số bệnh nhân trầm cảm nặng mặc dù cócác xét nghiệm về trục tuyến giáp bình thường nhưng vẫn thấy có sự giảmphóng thích Thyroid Stimulating Hormone sau khi chích ThyrotropinReleasing Hormone

Trang 21

Cần lưu ý rằng, không có một hệ thống dẫn truyền thần kinh nào hoạtđộng độc lập, chúng hoạt động tương tác và phụ thuộc lẫn nhau [71].

Yếu tố tâm lý-xã hội[71]

Chấn thương tâm lý do các stress từ môi trường sống đóng vai trò rấtquan trọng trong bệnh sinh của trầm cảm Dưới tác động lâu dài của stress,các yếu tố sinh học trong não bị biến đổi, từ đó thay đổi chức năng của não

Sự thay đổi các yếu tố sinh học trong não, có thể thay đổi các chất dẫn truyềntrung ương như serotonin, dopamin, norepinephrine,… làm giảm khả năngtruyền tín hiệu giữa các vùng não khác nhau Bên cạnh đó, sự thay đổi yếu tốsinh học của não còn bao gồm sự mất các neuron, vì vậy làm giảm sự tiếp xúcgiữa các synap Hậu quả về lâu dài là làm tăng nguy cơ bị trầm cảm, mặc dùlúc đó có thể các stress đã kết thúc

Chấn thương tâm lý là yếu tố quan trọng nhất gây ra trầm cảm sau sinhđược các tác giả thừa nhận là mất đi một người thân trong quá trình mang thai

và sinh con; sự đổ vỡ/xung đột trong một mối quan hệ nào đó, đặc biệt là mốiquan hệ với chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình khi mang thai vàsinh con làm gia tăng nguy cơ của trầm cảm ở phụ nữ sau sinh Thiếu thốn vềkinh tế xã hội cũng đã được nghiên cứu như là một trong các nguyên nhân củatrầm cảm sau sinh [71]

1.1.4 Mức độ phổ biến và gánh nặng bệnh tật của trầm cảm

Theo WHO, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra các tình trạngkhuyết tật trên toàn thế giới và nó đóng góp vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu.Trầm cảm có thể xảy ra ở mọi đối tượng không kể giới tính và lứa tuổi, tuynhiên tỷ lệ trầm cảm cao nhất là ở độ tuổi từ 15 đến 44 tuổi, và nữ giới cónguy cơ mắc trầm cảm cao hơn so với nam giới [83]

Theo thống kê mới nhất của WHO năm 2017 cho thấy tỷ lệ dân số toàncầu mắc trầm cảm năm 2015 là 4,4%, thấp nhất là ở khu vực Tây Thái Bình

Trang 22

Dương, cao nhất là ở khu vực Châu Phi [83] Tỷ lệ trầm cảm còn khác nhautheo từng khu vực: Nam Mỹ chiếm tỷ lệ cao nhất 20,6%, tiếp theo là châu Á16,7%, Bắc Mỹ 13,4%, châu Âu là 11,9% và châu Phi là 11,5% Australia có

tỷ lệ mắc thấp nhất 7,3% [48]

Nghiên cứu về gánh nặng của bệnh trầm cảm tại Hoa Kỳ năm 2015 củaGreenberg và cộng sự cho thấy: gánh nặng bệnh tật của bệnh trầm cảm giatăng 21,5% từ 2005 đến năm 2010, cụ thể là 173,2 tỷ đô la năm 2005 và 210,5

tỷ đô la năm 2010 [73]

Chi phí hàng năm cho bệnh trầm cảm tại Châu Âu ước tính là 118 tỷEuro, chi phí cho bệnh nhân bị trầm cảm cao hơn nhiều so với bệnh nhânkhông bị trầm cảm và các bệnh khác Điều này cho thấy vấn đề chăm sóc sứckhỏe tâm thần ngày càng trở nên quan trọng hơn vì thực tế cho thấy chi phícho bệnh nhân bị trầm cảm cao hơn nhiều so với bệnh nhân không bị trầmcảm và các bệnh khác [80]

Tại Việt Nam, trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, là nguyênnhân hàng đầu gây ra gánh nặng tàn tật, làm cho hàng triệu người bị giảmhoặc mất sức lao động tại Việt Nam Tất cả mọi người đều có thể mắc trầmcảm, tuy nhiên rối loạn này xảy ra ở nữ giới nhiều hơn so với nam giới Có 3nhóm tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn là học sinh và thanh thiếu niên, phụ nữ trước

và sau sinh và người cao tuổi Báo cáo về gánh nặng bệnh tật do Bộ Y tế vànhóm đối tác thực hiện năm 2014 cho kết quả: gánh nặng bệnh tật do bệnhkhông lây nhiễm tăng từ 42% lên 66% tổng số DALYs (số năm sống điềuchỉnh theo mức độ bệnh tật) Trong số 10 nhóm bệnh không lây nhiễm thìtrầm cảm đứng thứ hai sau tim mạch và ung thư về gánh nặng bệnh tật [1].Trầm cảm đứng thứ 9 trong số các nguyên nhân gây ra gánh nặng bệnh tật ởnam giới, nhưng đứng hàng đầu đối với nữ giới [1]

Trang 23

1.1.5 Phương pháp chẩn đoán rối loạn trầm cảm sau sinh [42]

Rối loạn trầm cảm sau sinh được đánh giá qua 2 cách tiếp cận:

- Sử dụng các thang đo để sàng lọc rối loạn trầm cảm sau sinh

- Sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng để chẩn đoán xác định rốiloạn trầm cảm sau sinh [42]

Thang đo sàng lọc rối loạn trầm cảm sau sinh [42].

Để chẩn đoán xác định rối loạn trầm cảm sau sinh, cần một bác sĩchuyên khoa tâm thần có đầy đủ kiến thức, kỹ năng cũng như kinh nghiệm.Chẩn đoán trầm cảm thông qua khám bệnh và hỏi bệnh trực tiếp bệnh nhân làphương pháp hiệu quả nhất Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này đòi hỏiphải có sự thăm khám trực tiếp từ các bác sỹ chuyên khoa Mặt khác, phươngpháp này khó thực hiện được ở các tuyến sàng lọc ban đầu tại cộng đồng vàtrên số lượng lớn Do đó, các Hiệp hội về tâm thần cũng như các chuyên giatâm thần trên thế giới đã xây dựng các thang đo sàng lọc rối loạn trầm cảmsau sinh tại cộng đồng, nhằm mở rộng phạm vi áp dụng trên cộng đồng cũngnhư giảm quá tải đang đè nặng lên các bác sĩ chuyên khoa tâm thần, giúp pháthiện sớm những trường hợp có nguy cơ rối loạn trầm cảm [42]

Hiện nay trên thế giới nhiều thang đo đã được nghiên cứu và sử dụng

để giúp cho việc tầm soát rối loạn trầm cảm sau sinh, trong đó thang đoEdingburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) là thang đo được sử dụng phổbiến nhất Theo một nghiên cứu tổng hợp về mức độ sử dụng các thang đo đểxác định rối loạn trầm cảm sau sinh ở phụ nữ Châu Á cho thấy thang đoEPDS được thống kê là sử dụng nhiều nhất (68,8%) [42]

Thang đo EPDS được J.Cox và cộng sự xây dựng năm 1987, độ tin cậycủa thang đo cũng đã được đánh giá là cho kết quả tốt với chỉ số Cronbach’salpha là 0,87 [26] Thang này gồm 10 câu hỏi, tìm hiểu về tâm trạng của phụ

nữ trong vòng 7 ngày vừa qua, bao gồm tâm trạng phiền muộn, cảm giác bị

Trang 24

tội, lo âu và ý tưởng tự sát Mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn trả lời, tính thangđiểm từ 0 đến 3 điểm, trong đó: câu 1, 2 và 4: cách tính điểm cho các đáp ántăng dần từ 0 đến 3 điểm; câu 3, 5-10 được cho điểm ngược lại, điểm số chocâu trả lời giảm dần từ 3 đến 0 điểm Tổng điểm từ 0 đến 30 điểm, điểm càngcao thì mức độ trầm cảm càng tăng.

Nghiên cứu của Ali Montazeri đánh giá kiểm chứng sử dụng EPDStrong sàng lọc TCSS Kết quả nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng EPDS tạithời điểm thứ nhất có 22% phụ nữ TCSS và 18% ở thời điểm 2 báo cáo đã trảiqua trầm cảm sau sinh Nhìn chung, phiên bản Iran của EPDS đã được chấpnhận cho hầu hết tất cả phụ nữ Hệ số alpha của Cronbach (để kiểm tra độ tincậy) được tìm thấy là 0,77 tại thời điểm 1 và 0,86 tại thời điểm 2 Ngoài ra, độtin cậy của phần còn lại đã được thực hiện và hệ số tương quan nội hàm đượctìm thấy là 0,80 Hiệu lực như được thực hiện bằng cách sử dụng so sánh cácnhóm đã biết cho thấy kết quả thỏa đáng Bảng câu hỏi phân biệt tốt giữa cácnhóm phụ nữ khác nhau về phương thức sinh nở theo hướng dự kiến Phântích nhân tố chỉ ra cấu trúc ba yếu tố cùng chiếm 58% phương sai Nghiêncứu xác nhận sơ bộ về phiên bản EPDS của Iran đã chứng minh rằng đây làmột biện pháp có thể chấp nhận được, đáng tin cậy và hợp lệ đối với trầmcảm sau sinh Có vẻ như các EPDS không chỉ đo lường trầm cảm sau sinh màcòn có thể đo lường nhiều thứ hơn [18]

Một nghiên cứu rộng rãi trong dân số Anh cho kết quả EPDS có độnhạy 88% và độ đặc hiệu 92,5% [65] Một nghiên cứu ở phụ nữ Úc đã cho kếtquả EPDS có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 96% [23]

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy thang đo EPDS là một công cụsàng lọc đầy đủ để đo trầm cảm sau sinh, với các điểm mạnh như [20], [33],[63]:

Trang 25

- Thang đo có thể được thực hiện trong cộng đồng dễ dàng và nhanhchóng, với chi phí thấp

- Nhân viên y tế có thể thực hiện một cách dễ dàng

- Thang đo có thể sử dụng rộng rãi và với quy mô lớn, hỗ trợ cho chẩnđoán và điều trị, góp phần cải thiện sức khỏe sản phụ và trẻ em

Thang EPDS đã được thử nghiệm rộng rãi ở các nền văn hóa khácnhau, được dịch ra nhiều thứ tiếng và được chuẩn hóa, xác định điểm cắt phùhợp với từng quốc gia trên thế giới như Anh, Australia, Thụy Điển, Chile,Canada, Bồ Đào Nha, Ý, Pháp, Trung Quốc, Nam Phi, Brazil, Tây Ban Nha,Thổ Nhĩ Kỳ, Đức và Việt Nam Trong đó, điểm cắt 12/13 cho độ nhạy là 95%

và độ đặc hiệu 84% [20], [33], [63] Điểm cắt 12/13 có thể được xem như mộtđiểm cắt phù hợp cho các nghiên cứu về chẩn đoán sàng lọc

Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã sử dụng thang đo EPDS đểsàng lọc rối loạn trầm cảm sau sinh trong nghiên cứu này và sử dụng điểm cắt12/13 để sàng lọc rối loạn trầm cảm sau sinh Dựa vào điểm cắt 12/13,ngưỡng phân loại rối loạn trầm cảm như sau:

- Tổng điểm của thang đo EPDS <13: không bị rối loạn trầm cảm sausinh

- Tổng điểm của thang đo EPDS ≥ 13: có rối loạn trầm cảm sau sinh.Khi nghi ngờ có thể đánh giá lại thang đo EPDS sau 2 tuần Với tổngđiểm của thang đo EPDS ≥ 13 thì cần phải có một đánh giá lâm sàng cẩn thậnbởi bác sĩ tâm thần để xác định chẩn đoán rối loạn trầm cảm sau sinh

Chẩn đoán lâm sàng [19], [67]

Có hai phương pháp được dùng để chẩn đoán lâm sàng bệnh trầm cảm,

đó là: hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM) củaHiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ [19] và Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10(ICD-10) của Tổ chức Y tế Thế giới [67]

Trang 26

* Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM) củaHiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ [19]

Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Hiệp hộiTâm thần Hoa Kỳ được xây dựng từ năm 1952 với các phiên bản từ DSM-1(1952), DSM-2 (1968), DSM-3 (1980), DSM-4-TR (2000) và DSM-5 (2013)

Phiên bản DSM-4-TR cũng mô tả rối loạn trầm cảm mạn tính kéo dài 2năm bao gồm các triệu chứng của tâm trạng chán nản xuất hiện hầu hết cácngày và ít nhất có hai trong số các triệu chứng sau đây: chán ăn, mất ngủ,giảm năng lượng, kém tự trọng, giảm tập trung, cảm giác tuyệt vọng và ýtưởng tự sát [67]

Phiên bản DSM-5 được xuất bản vào năm 2013 và được dùng để đánhgiá trầm cảm mạn tính Đối với DSM-5 tiêu chí chẩn đoán các rối loạn vẫngiữ nguyên như DSM-4-TR DSM-5 đề xuất thêm chẩn đoán bao gồm loâu/trầm cảm [67]

Phiên bản DSM-5 của bản hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rốiloạn tâm thần mô tả rối loạn trầm cảm điển hình chẩn đoán dựa trên một tronghai triệu chứng là tâm trạng chán nản hoặc mất quan tâm thích thú hoặc niềmvui Ngoài ra còn thêm 5 triệu chứng phụ xuất hiện trong vòng 2 tuần trở lạiđây bao gồm tâm trạng chán nản và mất hứng thú trong hầu hết các hoạtđộng, cảm giác thèm ăn và rối loạn giấc ngủ, cảm giác vô dụng và tội lỗi, có ýnghĩ hoặc ý tưởng tự sát [67]

* Bảng Phân loại Quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức

Y tế Thế giới [67]

Theo Bảng Phân Quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức

Y tế Thế giới [67], trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc kéo dài ít nhất 2tuần Giai đoạn trầm cảm được chia thành các mức độ khác nhau như: giaiđoạn trầm cảm nhẹ, giai đoạn trầm cảm vừa, giai đoạn trầm cảm nặng và kèm

Trang 27

theo các triệu chứng loạn thần hay các triệu chứng cơ thể Tiêu chuẩn chẩnđoán giai đoạn trầm cảm dựa vào 3 triệu chứng đặc trưng và 7 triệu chứngphổ biến.

- 3 triệu chứng đặc trưng bao gồm: Khí sắc trầm; Mất mọi quan tâm vàthích thú; Giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động

- 7 triệu chứng phổ biến bao gồm: Giảm sự tập trung, chú ý; Giảm súttính tự trọng và lòng tự tin; Xuất hiện những ý tưởng bị tội và không xứngđáng; Nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan; Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại cơthể hoặc tự sát; Rối loạn giấc ngủ: Bệnh nhân thường mất ngủ vào cuối giấc;

Ăn ít ngon miệng

Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện của mất hoặc giảm khả năng tìnhdục, các triệu chứng của lo âu, rối loạn thần kinh thực vật Trong nhữngtrường hợp trầm cảm nặng bệnh nhân có thể xuất hiện hoang tưởng tự buộctội, hoang tưởng về những tai họa sắp xảy ra hoặc ảo thanh với những lời kếttội, phỉ báng, ảo khứu với mùi thịt thối

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài

1.2.1 Tỷ lệ trầm cảm sau sinh theo các nghiên cứu trên thế giới

Trầm cảm sau sinh được khảo sát nhiều nơi trên thế giới và tỷ lệ nàythay đổi phụ thuộc vào từng phương pháp sử dụng nghiên cứu, đặc điểm dân

số nghiên cứu, thời gian tiến hành đánh giá và nơi nghiên cứu, điểm ngưỡngcủa trầm cảm, cũng như hệ thống phân loại và phương pháp đánh giá để xácđịnh trầm cảm

Theo nghiên cứu của Ramadas và cộng sự năm 2015 cho thấy tỷ lệtrầm cảm ở phụ nữ sau sinh ước tính dao động từ 10-20% trên toàn thế giới[55]

Nghiên cứu của Ravi Prakash Upadhyay và cộng sự đánh giá tình trạngtrầm cảm sau sinh ở Ấn Độ: Đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp đưa

Trang 28

ra ước tính về gánh nặng trầm cảm sau sinh ở các sản phụ Ấn Độ và điều tra

một số yếu tố nguy cơ cho tình trạng này Kết quả: 38 nghiên cứu với 20.043

phụ nữ đã được phân tích Ước tính tổng thể về tỷ lệ trầm cảm sau sinh là22% (KTC 95%: 19-25) Tỷ lệ lưu hành gộp là 19% (KTC 95%: 17-22) khiloại trừ 8 nghiên cứu báo cáo trầm cảm sau sinh trong vòng 2 tuần sau khisinh Sự khác biệt nhỏ, nhưng không đáng kể về tỷ lệ lưu hành gộp được tìmthấy theo tuổi của mẹ, vị trí địa lý và môi trường học tập Các yếu tố nguy cơđược báo cáo cho trầm cảm sau sinh bao gồm khó khăn tài chính, bạo lực giađình, tiền sử bệnh tâm thần ở mẹ, xung đột hôn nhân, thiếu sự hỗ trợ từ chồng

và sinh con gái Kết luận: Đánh giá cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh cao ở các

sản phụ Ấn Độ Cần phân bổ thêm nguồn lực để xây dựng năng lực trongchăm sóc sức khỏe tâm thần sản phụ ở Ấn Độ [79]

Châu Á: Tỷ lệ trầm cảm sau sinh ở khu vực Châu Á dao động từ 3,5%đến 63,3%, trong đó, Pakistan có tỷ lệ trầm cảm sau sinh cao nhất vàMalaysia có tỷ lệ thấp nhất [42] Tại Hồng Kông, Lee 2001, tỉ lệ hiện mắctrầm cảm nặng là 5,5% và trầm cảm nhẹ là 4,7% tại thời điểm 4 tuần sau sinh[43], 11,2% phụ nữ ở Trung Quốc , 23% phụ nữ Goa ở Ấn Độ [53]

Nghiên cứu của Kobra Falah-Hassani năm 2015 cùng cộng sự mục đíchước tính tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhập cư, sosánh tỷ lệ này với phụ nữ không nhập cư và xác định các yếu tố nguy cơ củacác triệu chứng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhập cư Các tìm kiếm tài liệu đãđược tiến hành trong các cơ sở dữ liệu PubMed, Embase, PsycINFO, Web ofScience, Scopus, ResearchGate và Google Scholar từ năm 1950 đến tháng 10năm 2014 Hai mươi bốn nghiên cứu đã đáp ứng các tiêu chí bao gồm 22 (12nghiên cứu cắt ngang và 10 nhóm tương lai) dữ liệu cho các phân tích tổnghợp Tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhập cư là 20%(KTC 95%: 17-23%, 18 nghiên cứu, n = 13.749 phụ nữ) Phụ nữ nhập cư có

Trang 29

khả năng gặp các triệu chứng trầm cảm cao hơn gấp đôi trong thời kỳ hậu sản

so với phụ nữ không nhập cư (OR = 2,10; KTC 95%: 1,62-2,73, 15 nghiêncứu, n = 50,519) và điều chỉnh (OR = 2,18; KTC 95%: 1,60-2,96; 7 nghiêncứu; n = 35,557) Các yếu tố rủi ro liên quan đến các triệu chứng trầm cảmsau sinh ở phụ nữ nhập cư bao gồm thời gian cư trú ngắn hơn ở nước đến,mức hỗ trợ xã hội thấp hơn, điều chỉnh hôn nhân kém hơn và nhận thấy thunhập hộ gia đình không đủ Nghiên cứu này cho thấy trầm cảm sau sinh làtình trạng phổ biến ở phụ nữ nhập cư Hơn thế nữa, phụ nữ nhập cư có nguy

cơ trầm cảm sau sinh cao hơn phụ nữ không nhập cư Các nghiên cứu trongtương lai về các yếu tố nguy cơ của trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhập cư đượcxác minh bằng chẩn đoán lâm sàng là cần thiết [74]

Nghiên cứu gần đây của Raneem Seif Al Nasr (2020) ở Riyadh, Ả RậpSaudi Kết quả nghiên cứu 174 người tham gia với 38,5% có trầm cảm sausinh Khoảng (115) trong số những người tham gia ở độ tuổi 25-45 tuổi vớihầu hết trong số họ có trình độ học vấn cao (101) nhưng thất nghiệp(136) Mối liên quan đáng kể đã được ghi nhận giữa sự xuất hiện của TCSSmối quan tâm của chồng (p = 0,023) và các sự kiện căng thẳng trong cuộcsống (p = 0,003) Các yếu tố dự báo quan trọng cho TCSS mối quan tâm củachồng (OR = 4,5), các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống gần đây (OR = 2,7)

và sinh mổ (OR = 1,95) Tỷ lệ mắc TCSS trong số những người tham gianghiên cứu rất cao, đặc biệt là những người có sự kiện căng thẳng trong cuộcsống gần đây và người không được hỗ trợ từ chồng và gia đình Để tăngcường chăm sóc sức khỏe cho các sản phụ, nên sàng lọc tất cả các sản phụ cónguy cơ cao mắc TCSS, khi họ đến bệnh viện để theo dõi sau sinh Phòngngừa TCSS không chỉ cần thiết cho sức khỏe của các sản phụ mà điều quantrọng là cung cấp bầu không khí thuận lợi cho trẻ mới sinh [17]

1.2.2 Tỷ lệ trầm cảm sau sinh của các nghiên cứu tại Việt Nam

Trang 30

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về trầm cảm sau sinh được tiến hành chủyếu tại một số bệnh viện phụ sản, thang sử dụng để đo trầm cảm sau sinh làthang đo EPDS, với tỷ lệ trầm cảm sau sinh dao động từ 11,6% đến 33% vàchủ yếu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang Cụ thể:

Nghiên cứu của Fisher và cộng sự năm 2004 tại Bệnh viện HùngVương, thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận tỷ lệ TCSS là 33% [36]

Năm 2008, Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự, nghiên cứu trên 540sản phụ tại bệnh viện Từ Dũ, thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ TCSS là14,3% [5]

Năm 2010, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hiệp và cộng sự tiến hànhtại bệnh viện Từ Dũ, thành phố Hồ Chí Minh cho tỷ lệ TCSS là 21,6% [3]

Năm 2013, nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy thực hiện trên 187phụ nữ sau sinh tại Hà Đông, Hà Nội cho tỷ lệ trầm cảm là 28,3% [2]

Năm 2014, Nguyễn Thị Đài Trang nghiên cứu trên trên 395 sản phụ, tạiBệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỉ lệtrầm cảm sau sinh là 16,5% [4]

Nghiên cứu thực hiện tại cộng đồng của Võ Thành Văn năm 2014 thựchiện tại Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ TCSS là 19,3% [16]

Nghiên cứu của Dương Thị Kim Hoa, Võ Văn Thắng năm 2015 tiếnhành trên 600 phụ nữ có chồng ở thời điểm 4 tuần đến 6 tháng sau sinh, tại 10phường của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, từ tháng 7 đến tháng 12 năm

2013 Kết quả cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh là 19,3% [8]

Nghiên cứu thực hiện tại Miền Trung của Việt Nam vào năm 2015 doMurray và các cộng sự nghiên cứu về triệu chứng trầm cảm sau sinh ở phụ nữmiền Trung Việt Nam ghi nhận tỷ lệ TCSS là 18,1% [9]

Nghiên cứu của Trần Thơ Nhị năm 2018 tại huyện Đông Anh, Hà Nội ghinhận tỷ lệ trầm cảm sau sinh là 8,2% [15]

Trang 31

Nghiên cứu của Nguyễn Hoài Thảo Tâm và Huỳnh Ngọc Vân Anh năm

2019 tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, ghi nhận tỷ lệ TCSS là 18,1% [11]

1.2.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm sau sinh

Các yếu tố liên quan của trầm cảm sau sinh theo 1 số nghiên cứu trên thế giới

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm sau sinh ở phụ nữ:

vệ sức khỏe tâm thần của các sản phụ Canada tốt hơn [31]

 Tình trạng kinh tế gia đình

Trang 32

Theo Patel và các cộng sự 1999, đối với phụ nữ ở các nước kém pháttriển, chính sự nghèo khó là yếu tố quan trọng liên quan đến nguy cơ trầmcảm sau sinh Tuy nhiên theo Sierra Manzano J M và cộng sự (2002) hoàncảnh kinh tế thấp là một biến số độc lập liên quan đến trầm cảm sau sinh [53],[58] Nghiên cứu khác của A.Bener và cộng sự năm 2012 đã cho thấy về mốiliên quan giữa thu nhập hàng tháng của gia đình với trầm cảm sau sinh, cụ thể

là phụ nữ ở những gia đình có thu nhập bình quân hàng tháng thấp có nguy cơtrầm cảm sau sinh cao hơn so với ở những gia đình có thu nhập cao và sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 [21]

 Trình độ học vấn

Tammentie và cộng sự (2002), sau khi điều tra khoảng 1000 gia đìnhtrong 2 tháng bằng cách gởi bảng câu hỏi điều tra theo thang sàng lọc EPDS,

có 273 sản phụ và 314 ông bố tham gia trả lời Kết quả cho thấy vấn đề ít học

có liên quan đến triệu chứng trầm cảm sau sinh [60]

 Mâu thuẫn với chồng, mâu thuẫn với gia đình chồng

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các mâu thuẫn trong mối quan hệgiữa vợ với chồng, giữa con dâu với mẹ chồng là yếu tố ảnh hưởng đến trầmcảm sau sinh [25], [30], [53] Nghiên cứu của Green và cộng sự năm 2006 đãchỉ ra rằng: xung đột giữa mẹ chồng và con dâu có thể làm tăng nguy cơ trầmcảm sau sinh Cụ thể là phụ nữ bị bạo lực từ chồng và mẹ chồng thì nguy cơ

bị trầm cảm cao hơn những phụ nữ không bị bạo lực từ chồng và mẹ chồng[38]

Các bằng chứng khác chứng minh về mối liên quan giữa bạo lực dochồng và TCSS được ghi nhận trong một số nghiên cứu về mối liên quan giữabạo lực gia đình và trầm cảm ở phụ nữ sau sinh cho thấy: phụ nữ bị bạo lực

do chồng làm tăng nguy cơ TCSS từ 1,5 đến 2,0 lần so với phụ nữ không bịbạo lực do chồng [22], [35], [47], [64]

Trang 33

Nghiên cứu của Thombs và cộng sự năm 2014 cho thấy bạo lực dochồng tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của phụ nữ như bị trầm cảm,

lo âu, lạm dụng chất và stress [62] Họ luôn cảm thấy bế tắc, cuộc sống nặng

nề và có ý định tự tử, thậm chí sát hại chính đứa con mình sinh ra [29]

 Thiếu sự hỗ trợ từ gia đình sau sinh

Hỗ trợ từ gia đình là sự hỗ trợ từ tất cả các thành viên trong gia đìnhbao gồm: chồng, cha mẹ và anh chị em ruột, cha mẹ và anh chị em bên chồng.Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ thiếu sự hỗ trợ gia đình thì nguy cơ bịtrầm cảm sau sinh cao hơn so với những phụ nữ được gia đình hỗ trợ Trongnghiên cứu thực hiện ở Đài Loan (2003), với 500 sản phụ lúc 4 tuần sau sinh,Heh và cộng sự nhận thấy rằng tổng điểm thang EPDS ở nhóm nhận được sự

hỗ trợ giúp đỡ thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng không nhận được sự

hỗ trợ giúp đỡ [39] Nghiên cứu của Xie và cộng sự năm 2010 trên 534 thaiphụ tại Hồ Nam, Trung Quốc cho kết quả phụ nữ thiếu sự hỗ trợ từ gia đình,đặc biệt là người chồng thì nguy cơ bị trầm cảm sau sinh cao gấp hơn 4 lần sovới phụ nữ được hỗ trợ từ gia đình [70]

Nếu thai phụ không được hỗ trợ từ gia đình thì nguy cơ bị trầm cảm sausinh cao hơn những phụ nữ được hỗ trợ từ gia đình [81] Các thai phụ trongnghiên cứu cho biết họ không được hỗ trợ trong thời gian mang thai bao gồmviệc quan tâm xem họ có đủ thức ăn hay không (3,7%), hay họ không đượcgiúp đỡ các công việc hàng ngày như đi mua bán, nấu nướng, chăm sóc con,đưa đón thai phụ (4,7%), không được đưa đi khám thai định kỳ (5,0%), không

có ai giúp đỡ về tài chính (9,4%), không có ai để chia sẻ những suy nghĩ và lolắng của mình (5,0%), không có ai giúp đưa ra những quyết định khó khăn(6,7) [81]

Một nghiên cứu tổng hợp Schatz và cộng sự năm 2012 về các yếu tốảnh hưởng đến trầm cảm trong khi mang thai và sau sinh của phụ nữ Đông Á

Trang 34

đã nhấn mạnh việc hỗ trợ của gia đình với phụ nữ trong thời gian mang thai làmột trong những yếu tố quan trọng làm giảm nguy cơ trầm cảm trong mangthai và sau sinh [81] Kết quả nghiên cứu định tính chỉ ra rằng, chồng của họkhông quan tâm đến việc khám thai định kỳ của họ và cũng không hỗ trợ họcông việc nhà, thậm chí cũng không tâm sự và chia sẻ với phụ nữ về nhữngkhó khăn và những lo lắng cho thai nhi… Trong khi đó, phụ nữ cho rằngchồng của họ chính là người mà họ cho là quan trọng nhất trong việc chia sẻnhững khó khăn và lo lắng về mọi thứ trong cuộc sống hàng ngày Điều này,làm cho tâm trạng của họ càng trở nên trầm trọng hơn, đã buồn lại càng buồnhơn, đã bế tắc lại càng bế tắc hơn Ngoài việc hỗ trợ phụ nữ trong khi mangthai từ phía các thành viên trong gia đình, việc hỗ trợ sau sinh cũng rất quantrọng đối với phụ nữ, đặc biệt là trong tháng đầu sau sinh Nghiên cứu cũngchỉ ra tầm quan trọng của việc hỗ trợ cho phụ nữ sau sinh liên quan mạnh mẽđến trầm cảm sau sinh Kết quả cho thấy những phụ nữ không được hỗ trợ sausinh thì nguy cơ trầm cảm sau sinh cao gấp gần 4 lần khi so sánh với nhữngphụ nữ được hỗ trợ sau sinh Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu củaNguyễn Thị Huyền trên bệnh nhân bị trầm cảm cho thấy: phụ nữ không đượcnghỉ ngơi hoàn toàn trong vòng 30 ngày đầu sau sinh chiếm tỷ lệ cao nhất với40%, tiếp đến không được hỗ trợ của người thân 22,3%, mâu thuẫn với bố mẹchồng và quan hệ vợ chồng bất hòa đều chiếm 14,2% [12].

Kết quả nghiên cứu của Fisher J và cộng sự (2004), được tiến hànhtrên 506 phụ nữ sau sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy những sản phụkhông được nghỉ ngơi hoàn toàn trong vòng 30 ngày đầu sau sinh có nguy cơ

bị trầm cảm sau sinh cao hơn những sản phụ khác [36]

Gần đây, nghiên cứu của Diana Pham và cộng sự năm 2017 cũng chokết quả tương tự: phụ nữ sau sinh không được hỗ trợ chăm sóc trẻ thì nguy cơ

Trang 35

bị trầm cảm sau sinh cao gấp gần 4 lần so với những phụ nữ được hỗ trợ sausinh (OR=3,54; KTC 95%: 1,62–7,74) [78].

 Tiền căn hư thai

Sau khi hư thai (thai ngưng tiến triển, sẩy thai…), nguy cơ trầm cảmsau sinh cao hơn so với không có tiền căn Nguy cơ càng tăng trong thời gian

6 tháng đầu hư thai và khi những phụ nữ này có thai trong vòng 12 tháng sau

hư thai sẽ có nguy cơ cao bị trầm cảm xảy ra trong 3 tháng cuối thai kỳ vàtrong một năm đầu sau sinh so với nhóm có thai sau 12 tháng [27], [40], [41]

 Thai kỳ không mong đợi

Theo Chandran và cộng sự thì các yếu tố nguy cơ như thai kỳ khôngmong đợi, sinh con gái khi mong đợi con trai cũng góp phần gây nên trầmcảm sau sinh [30] Sự ưa thích con trai được coi là một vấn đề phổ biến tạimột số nước Châu Á, đặc biệt là ở các vùng nông thôn ở Trung Quốc, Ấn Độ,Việt Nam, Nepal và Pakistan Hơn nữa, hiện nay chính sách về kế hoạch hóagia đình của nhà nước là sinh hai con, nên áp lực sinh con trai đối với phụ nữ

là rất lớn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của phụ nữ[42] Trong nghiên cứu của Xie và cộng sự trên phụ nữ sau sinh 6 tuần chothấy: những phụ nữ sinh ra bé gái thì nguy cơ bị trầm cảm cao gấp gần 3 lầnkhi so sánh với những phụ nữ sinh con trai [69]

 Phương pháp sinh

Có nhiều nghiên cứu về mối liên quan này, tuy nhiên còn nhiều tranhcãi do kết quả khác nhau Qua nghiên cứu Boyce và cộng sự (1992), người tanhận thấy các sản phụ sinh mổ có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh gấp 6 lần sovới các phụ nữ sinh thường [24] Ngược lại, Tammentie và cộng sự (2002),Wisner và cộng sự (2002), phương pháp sinh không có liên quan đến triệuchứng trầm cảm [60], [66] Theo Chaaya và cộng sự (2002), nghiên cứu trêncác sản phụ tại Beirut (Liban), nhận thấy sinh thường có liên quan một cách

Trang 36

có ý nghĩa với trầm cảm sau sinh, trong khi sinh mổ làm giảm nguy cơ trầmcảm sau sinh [28] Tác giả Roshni và cộng sự (2005), nghiên cứu đoàn hệ tiếncứu trên 14.663 sản phụ sau sinh qua thang điểm EPDS, ông nhận thấy không

có liên quan giữa cách sinh và trầm cảm sau sinh, mổ lấy thai chủ động khônglàm giảm nguy cơ, sinh chỉ huy ngả âm đạo không làm tăng nguy cơ trầmcảm sau sinh [52]

 Sức khỏe của con sau sinh

Nghiên cứu đoàn hệ gồm 288 sản phụ ở Israel năm 1998 của Glasser vàcộng sự nhận thấy rằng các vấn đề sức khỏe kéo dài của đứa con là một trongnhững yếu tố dự báo tốt nhất về sự xuất hiện trầm cảm sau sinh Tương tự,Turton P và Hugees P., cho rằng con chết sau sinh cũng là một yếu tố dự báotrầm cảm sau sinh [37], [61]

 Không cho con bú

Có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa việc không cho con bú haygặp khó khăn trong khi cho con bú và nguy cơ trầm cảm sau sinh, tuy nhiênvẫn có những kết quả khác nhau Theo Winsner và cộng sự cho rằng có mốiliên quan này, trong khi đó O’Neill T và cộng sự, không tìm được mối liênquan giữa không cho con bú và trầm cảm sau sinh [51], [66]

 Chế độ nghỉ ngơi, kiêng cữ sau sinh

Việc tuân thủ các phong tục tập quán sau sinh ở các nền văn hóa khácnhau khiến một số phụ nữ có thể bị stress, lâu ngày có thể dẫn đến trầm cảm[42] Nghiên cứu cắt ngang của Fisher và cộng sự năm 2004 trên 506 phụ nữsau sinh cho thấy những phụ nữ tuân thủ phong tục tập quán sau sinh có nguy

cơ bị trầm cảm cao hơn những phụ nữ không phải tuân thủ những phong tụctập quán này [36] Phụ nữ ở Malaysia, Singapore, Trung Quốc phải tuân thủcác nghi lễ và phong tục tập quán do nhà chồng quy định thì nguy cơ bị trầmcảm cao hơn những phụ nữ không phải tuân thủ những phong tục tập quán

Trang 37

này Họ cho rằng đây là những phong tục cổ hủ, lạc hậu và họ cảm thấy rấtbuồn chán trong vòng 30 ngày hoặc 40 ngày sau sinh tùy từng nền văn hóa[42].

Mặc dù những nghi lễ, phong tục tập quán sau sinh ở các nền văn hóakhác nhau nhưng nhìn chung họ đều muốn tốt cho sức khỏe sản phụ mới sinh

và trẻ em Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng chỉ ra đây cũng là điểm tốt nhưngcũng là vấn đề đối với một số phụ nữ bị kiêng khem một cách nghiêm ngặtlàm cho họ cảm thấy ngột ngạt và mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu cóthể xảy ra Có 5/20 phụ nữ trong nghiên cứu của Klainin rơi vào tình trạngcăng thẳng mâu thuân giữa mẹ chồng và nàng dâu trong việc hỗ trợ phụ nữsau sinh Mâu thuẫn xảy ra do bất đồng quan điểm về nuôi con bằng sữa mẹ.Một phụ nữ tâm sự rằng em ít sữa nên em muốn cho con ăn thêm sữa ngoàinhưng mẹ chồng em không cho hay phong tục kiêng khem không cho phụ nữtắm trong tháng đầu sau sinh và không cho phụ nữ và em bé ra ngoài vì sợnắng và gió Bốn phụ nữ chia sẻ họ cảm thấy ngột ngạt khi ở mãi trong phòngkín, nhiều khi làm cho mình cảm thấy bế tắc và tù túng Điều này, khiến một

số phụ nữ có thể bị stress, lâu dài sẽ phát triển thành trầm cảm [42]

Các yếu tố liên quan của TCSS theo 1 số nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Đài Trang năm 2014 tại bệnh viện

đa khoa khu vực Hóc Môn, nghiên cứu cắt ngang trên 395 bà mẹ đến sinh tạiBệnh viện Đa khoa Khu vực Hóc Môn với các kết quả như sau: Nguy cơ trầmcảm tăng ở bà mẹ sau sinh (PR=3,58) ở nhóm có trẻ quấy khóc trên 10 phút

so với trẻ không khóc đêm (KTC 95%: 1,35-9,5; p=0,01); Nguy cơ trầm cảmtăng ở bà mẹ sau sinh (PR=6,0) ở những bà không vui so với nhóm rất vui khi

có con (KTC 95%: 3,4-10,7; p<0,001); Nguy cơ trầm cảm giảm ở bà mẹ sausinh (PR=0,2) ở nhóm có trẻ tăng trọng lượng trên 1000 gram so với tăngtrọng lượng của bé dưới 500 gram (KTC 95%: 0,1-0,4; p<0,001); Nguy cơ

Trang 38

trầm cảm tăng ở bà mẹ sau sinh (PR=2,4) ở nhóm bà mẹ rất đau sau sinh sovới nhóm bà mẹ không đau (KTC 95%: 1,1-3,9; p=0,032); Nguy cơ trầm cảmtăng ở bà mẹ sau sinh (PR=2,8) ở những bà mẹ có tiền sử nạo phá thai từ 2lần trở lên so với nhóm không nạo thai (KTC 95%: 1,5-5,1; p=0,001); Nguy

cơ trầm cảm tăng ở bà mẹ sau sinh (PR=4,43) ở nhóm đã ly hôn ly thân (KTC95%: 1,9-10,2; p=0,013), tăng (PR=3,32) nhóm chưa đăng ký kết hôn (KTC95%: 1,8-6,1; p=0,001) so nhóm đang sống chung với chồng [4]

Nghiên cứu của Dương Thị Kim Hoa, Võ Văn Thắng năm 2015, nghiêncứu tiến hành trên 600 phụ nữ có chồng ở thời điểm 4 tuần đến 6 tháng sausinh, tại 10 phường của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, từ tháng 7 đếntháng 12 năm 2013 Kết quả cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh là 19,3% và dựatrên phân tích mô hình hồi quy đa biến logistic, nghiên cứu đã phát hiện một

số yếu tố liên quan đến trầm cảm sau sinh, bao gồm nghề nghiệp của sản phụ(OR = 0,39; KTC 95%: 0,23-0,66), tình trạng hôn nhân (OR = 0,2; KTC 95%:0,06-0,68), mẹ bị ốm khi mang thai (OR = 0,57; KTC 95%: 0,36-0,92), mấtngủ sau sinh (OR = 0,2; KTC 95%: 0,06-0,68) và sự phát triển của trẻ (OR =0,048; KTC 95%: 0,06-0,44) [8]

Nghiên cứu của Nguyễn Hoài Thảo Tâm và Huỳnh Ngọc Vân Anh năm

2019, nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 320 phụ nữ sau sinh trongvòng 6 tháng ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Nghiên cứu tìm thấy có mốiliên quan có ý nghĩa thống kê giữa TCSS với 6 đặc điểm như: sức khỏe lúcmang thai, hình thức sinh con, có tiền sử trầm cảm trước đó, tình trạng sức khỏetrẻ và tình trạng trẻ quấy khóc về đêm, hỗ trợ xã hội Nghiên cứu chỉ ra rằngphụ nữ có sức khỏe lúc mang thai không tốt, sinh thủ thuật, có tiền sử trầmcảm trước đó, có một đứa trẻ hay bị bệnh và hay quấy khóc về đêm, điểm hỗtrợ xã hội thấp đều làm tăng tỷ lệ trầm cảm sau sinh ở đối tượng nghiên cứu[11]

Trang 39

Nghiên cứu của Trần Thơ Nhị năm 2018 tại Đông Anh, Hà Nội ghi nhậnmột số yếu tố liên quan với trầm cảm sau sinh được xác định bao gồm: Phụ

nữ có tuổi dưới 25 thì nguy cơ bị TCSS cao hơn gấp gần 2 lần so với phụ nữ

có tuổi từ trên 25 tuổi, với OR=1,94 (KTC 95%: 1,21-3,13); Phụ nữ có trình

độ học vấn càng thấp thì nguy cơ bị TCSS càng cao với OR lần lượt làOR=2,3 (KTC 95%: 1,31-4,06), OR=3,48 (KTC 95%: 1,74-6,95); Phụ nữ cónghề nghiệp là nông dân, công chức/viên chức nhà nước hoặc nhân viên công

ty thì nguy cơ bị TCSS cao gần 3 đến 4 lần khi so sánh với phụ nữ có nghềnghiệp buôn bán nhỏ với OR lần lượt là OR= 2,56 (KTC 95%: 1,07-6,16),OR=3,84 (KTC 95%: 1,65-8,95); Bên cạnh các yếu tố về nhân khẩu học thìnhững phụ nữ có chồng thích thai nhi là con trai thì nguy cơ bị TCSS cao gấpgần 2 lần khi so sánh với những phụ nữ có chồng không quan tâm đến giớitính thai nhi (OR= 1,84; KTC 95%: 1,06-3,21); Những phụ nữ bị bạo lực thểxác và/ hoặc tình dục thì nguy cơ bị TCSS cao gấp gần 2 lần so với phụ nữkhông bị bạo lực thể xác hay tình dục trong mang thai (OR=1,99; KTC 95%:1,12-3,55); Phụ nữ bị bạo lực tinh thần trong khi mang thai thì nguy cơ bịtrầm cảm cao gấp hơn 2 lần khi so sánh với phụ nữ không bị bạo lực tinh thầntrong khi mang thai (OR=2,15; KTC 95%: 1,15-4,02); Ngoài yếu tố nhânkhẩu học và hành vi của chồng có liên quan đến TCSS thì yếu tố trầm cảmtrong mang thai cũng có liên quan đến TCSS, cụ thể là: phụ nữ bị trầm cảmtrong khi mang thai thì nguy cơ bị TCSS cao gấp hơn 4 lần so với những phụ

nữ không bị trầm cảm trong khi mang thai, với OR=4,06 (KTC 95%: 8,02); Phụ nữ sinh non dưới 37 tuần thì nguy cơ bị TCSS cao gấp hơn 2 lần sovới phụ nữ không sinh non (OR= 2,31; KTC 95%: 1,02-5,22); Phụ nữ khôngđược hỗ trợ sau của gia đình sau sinh thì nguy cơ bị TCSS cao gấp hơn 3 lầnkhi so sánh với những phụ nữ được hỗ trợ của gia đình sau sinh (OR= 3,40;KTC 95%: 2,13-5,43) [15]

Trang 40

2,05-1.3 Đặc điểm tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định-Phần Mở Rộng

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định với tổng diện tích hơn 5 héc-ta, làtuyến điều trị cao nhất của ngành Y tế tỉnh Với nhiệm vụ chăm sóc sức khỏecho nhân dân trong tỉnh Bình Định cũng như các địa phương lân cận

Phần Mở Rộng (khu mở rộng của bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định) đivào hoạt động từ 31/3/2018 Bệnh viện được thành lập trên mô hình hợp táccông tư kết hợp giữa Công ty Cổ phần Đầu tư Cotec Healthcare và Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Bình Định Bệnh viện có quy mô 600 giường bệnh, 25 chuyênkhoa với cơ sở vật chất quy mô lớn, thiết bị hiện đại, bệnh viện được Bảohiểm Xã hội Việt Nam cấp phép hạng 3, được khám chữa bệnh bảo hiểm y tếthông tuyến cả nước với 8000 đầu thẻ giai đoạn đầu, đáp ứng được mọi nhucầu khám chữa bệnh cho người dân tỉnh Bình Định và khu vực lân cận

Hình 1.1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định

Hàng ngày, tại phòng khám của khoa Sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh BìnhĐịnh-Phần Mở Rộng, có khoảng 80-100 lượt bệnh nhân đến khám thai vàkhám phụ khoa Trung bình mỗi ngày bệnh viện có khoảng 10-15 ca sinh ngã

Ngày đăng: 05/07/2021, 10:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w