1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ cải cách hành chính từ thực tiễn huyện đăk pơ, tỉnh gia lai

77 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải Cách Hành Chính Từ Thực Tiễn Huyện Đăk Pơ, Tỉnh Gia Lai
Tác giả Phạm Thị Thúy Oanh
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Duy
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 746,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: CCHC là quá trình tác động có chủ định của các cơ quan có thẩm quyền thông qua các biện pháp chính trị, tổ chức, kỹ thuật, chuyên môn hoặc các biện pháp

Trang 1

VIỆN HÀN LẦM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

_

PHẠM THỊ THÚY OANH

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN ĐĂK PƠ, TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LẦM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

_

PHẠM THỊ THÚY OANH

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN ĐĂK PƠ, TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN VĂN DUY

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý hành chính công mới và quản trị nhà nước tốt đều có bản chất

là hướng tới xây dựng một nền hành chính minh bạch, tinh gọn, năng động và hiệu quả, nó hướng đến phục vụ công dân thay vì cai trị nhân dân như trong

mô hình hành chính công truyền thống Đây là những xu hướng cải cách hành chính đã xuất hiện khoảng 30 năm trở lại đây trên thế giới và ngày càng mở rộng như là xu thế tất yếu của thời đại Nếu quản lý công mới nhấn mạnh đến

sự tham gia của khu vực tư vào khu vực công, vận dụng những nguyên tắc của thị trường vào hoạt động cuả chính phủ, phi tập trung hóa và phi quy chế hóa, khoa học hóa quy trình quản lý, các quyết sách chính trị - hành chính để hướng đến một nền hành chính năng động, hiệu quả

Do đó, từ những quan niệm về một nền hành chính tốt đặt trong điều kiện quản trị Nhà nước pháp quyền thì cần phải luôn luôn đặt tư duy luôn luôn đổi mới, cách cách tổ chức và hoạt động, cơ chế một cách toàn diện Đó

là quá trình diễn ra liên tục, luôn luôn được thực hiện có tổng kết và đánh giá, rút kinh nghiệm sửa lại cho phù với tình hình mới nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hành chính nhà nước

Hằng năm, UBND huyện Đăk Pơ triển khai đến các cơ quan, đơn vị có liên quanđến báo cáo kết quả tự đánh giá, chấm điểm chỉ số CCHC và chủ động tổng hợp gửi cấp trên thẩm định kết quả theo đúng thời gian quy định Kết quả xếp hạng chỉ số CCHC của huyện Đak Pơ: Năm 2015 xếp thứ 9/17; năm 2016 xếp thứ 5/17; năm 2017 xếp thứ 15/17 và năm 2018 xếp thứ 5/17 các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Qua đó, dựa trên các Kế hoạch kiểm tra của tỉnh hằng năm về chỉ số CCHC, UBND huyện tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với các cơ quan, đơn vị còn tồn tại những hạn chế,

Trang 4

khuyết điểm nhằm đưa ra biện pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả chỉ số CCHC trong những năm tiếp theo

Khi triển khai các nội dung trên tại huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai gặp không ít những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế Mặc dù công tác cải cách hành chính luôn được lãnh đạo huyện Đăk Pơ dành sự quan tâm chỉ đạo sát sao, kịp thời nhưng việc triển khai tại các đơn vị còn nhiều bất cập Công tác cải cách hành chính tại một số đơn vị tại huyện Đăk Pơ còn chậm triển khai hoặc triển khai mang tính hình thức Hiệu quả cải cách hành chính chưa cao, việc triển khai từng nhiệm vụ cụ thể còn chậm.Công tác xây dựng một số

kế hoạch liên quan đến cải cách hành chính của một số đơn vị trong huyện Đăk Pơ còn chậm, chưa đảm bảo tiến độ về thời gian yêu cầu Việc chậm ban hành các kế hoạch liên quan đến cải cách hành chính không những làm giảm tính chủ động trong công tác bố trí các nguồn lực cho năm sau của huyện Đăk

Pơ mà còn làm giảm hiệu quả công tác cải cách hành chính của huyện Đăk

Pơ, bộ máy và biên chế vẫn tăng, cần phải từng bước bố trí, xắp sếp lại đảm bảo gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu quả Bố trí nhân sự phải căn cứ vào đề án vị trí

việc làm Do đó, học viên chọn đề tài “Cải cách hành chính từ thực tiễn

huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai”làm luận văn thạc sĩ luật học đáp ứng được cả

hai tiêu chí: Lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài , tác giả có tìm hiểu và nhận thấy trước

đó đã có một số công trình nghiên cứu về cải cách hành chính theo pháp luật Việt Nam hiện nay như:

-Tô Tứ Hạ - Chủ biên (1998), Cải cách hành chính địa phương lý luận

và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Bùi Văn Minh (2015), Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

Trang 5

- Thang Văn Phúc - Chủ biên (2001), Cải cách hành chính nhà nước: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Ngọc Hiến - Chủ biên (2001), Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Đình Tấn (2004), Xã hội học hành chính: Nghiên cứu giao tiếp và dư luận xã hội trong cải cách hành chính nhà nước, Nxb Lý luận chính trị

- Đoàn Trọng Tuyến (2006), Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Tư pháp

- Khải Nguyên (2008), Cán bộ công chức với vấn đề cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí, NXB Lao động

- Đặng Xuân Phương (2011), Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ,

cơ quan ngang Bộ trong quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia

- Bùi Huy Kiên, Luận án Tiến sĩ (2010), Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng

- Trần Trí Trinh, Luận án Tiến sĩ (2008), Nghiên cứu các giải pháp cải cách quản lý tài chính công nhằm thúc đẩy cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam

- Vũ Huy Từ (1998), Hành chính học và cải cách hành chính, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Dương Quang Tung (2007), Cải cách hành chính để thúc đẩy sự phát triển đất nước trong thời kỳ mở cửa, hội nhập hiện nay, Viện khoa học Tổ chức Nhà nước

- Đinh Ngọc Vượng (2008), Cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, Viện Nhà nước và Pháp luật, Việt Nam

Trang 6

- Phạm Đức Toàn (2010), Mối quan hệ giữa cải cách hành chính và đổi mới kinh tế là tất yếu trong tổng thể đất nước, Văn phòng Bộ Nội vụ

- Nguyễn Thị Hồng Hiếu (2010), Các giải pháp tăng cường cải cách hành chính tại tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính

- Sách chuyên khảo “Pháp luật về cải cách hành chính” của PGS.TS

Nguyễn Văn Hòa do NXB Tư pháp xuất bản năm 2012

- Dự án VIE/97/016 về Đề án cải cách hành chính do Viện nghiên cứu

Quản lý kinh tế Trung ương thực hiện dưới sự bảo trợ của Chương trình phát triển Liên Hợp quốc

- Cải cách hành chính – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam của PGS.TS

Thái Bá Cẩn và ThS.Trần Nguyên Nam do NXB Tài chính ấn hành tái bản lần 2 năm 2014

- Pháp luật về cải cách hành chính, luận văn thạc sĩ luật học Phạm Thị

Trang tại Đại học Luật Hà Nội năm 2013 Tuy nhiên một số tác giả cũng đã viết các bài báo nghiên cứu về các vấn đề có liênquan đăng trên các tạp chí chuyên ngành, như Tạp chí quản lý nhà nước, tổ chức nhà nước Pháp luật cải cách hành chính là một lĩnh vực chuyên sâu, có tính khoa học cao của chuyên ngành luật hành chính Chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu (qua khảo sát cho thấy) về việc nghiên cứu pháp luật cải cách hành chính theo pháp luật Việt Nam trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật hành chính nói chung ở thời điểm hiện nay

Vì vậy, đề tài Luận văn về cơ bản là mới, chưa được nghiên cứu tổng thể, toàn diện Đề tài được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình đã được ra nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện vấn đề này trong lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trang 7

Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về nội dung, vai trò, đồng thời đánh giá thực trạng của các quy định pháp luật về cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai, chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về cải cách hành chính ở nước ta hiện nay Đồng thời, luận văn đưa ra quan điểm về sự vận hành, thực hiện CCHC tại địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích và làm rõ hơn quan điểm cơ bản của cải cách hành chính

- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật về cải cách hành chính theo pháp luật Việt Nam hiện nay

- Đánh giá thực trạng pháp luật về cải cách hành chính ở Việt Nam và

hệ thống pháp luật có liên quan ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai hiện nay từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật

- Đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện về cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn đi sâu nghiên cứu các quan điểm, các quy định của pháp luật

về cải cách hành chính và các quy định pháp luật có liên quan

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Những quy định của pháp luật hiện hành về cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: 2015 – 2020

Trang 8

Địa bàn nghiên cứu: huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời bám sát các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật về cải cách hành chính

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp đánh giá, bình luận

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê, phương pháp quy nạp, diễn dịch

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa khung lý luận để đi vào việc xây dựng luận cứ khoa học trong quá trình hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật cải cách hành chính phù hợp với thực tiễn tại một huyện có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn như huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Góp phần giúp chính quyền và các cơ quan ban ngành nghiên cứu hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cải cách hành chính theo pháp luật Việt Nam trong gian đoạn tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần: Mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận

và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia làm ba chương như sau:

Trang 9

Chương 1: Khái quát chung về cải cách hành chính hiện nay

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về cải cách hành chính và thực tiễn áp dụng tại huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cải cách hành chính

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH HIỆN NAY

1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung cải cách hành chính

1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính

Cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nội dung chủ yếu của khoa học hành chính, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn cao Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận không tách rời khỏi bộ máy nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị của một quốc gia nói chung, nên nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố chính trị, yếu tố kinh

tế - xã hội, cũng như mang tính đặc trưng khác của mỗi quốc gia như truyền thống văn hóa, lịch sử hình thành và phát triển… CCHC ở các nước khác nhau nên cũng mang sắc thái riêng, được tiến hành trên những cấp độ khác nhau, ở nội dung khác nhau

Ở Việt Nam, CCHC được xác định là một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới, là trọng tâm của tiến trình cải cách nhà nước CCHC là tác động có kế hoạch lên toàn bộ hoặc một số bộ phận của hệ thống hành chính được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm cho hoạt động của

nó hiệu lực, hiệu quả, năng suất và chất lượng cao hơn, tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn

Thông qua hoạt động CCHC tạo nên những thay đổi cơ bản trong hệ thống hành chính nhà nước: Thể chế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính công

và tiến trình quản lý nhà nước

CCHC bao gồm các cải cách về tổ chức, nhân sự, quy trình và công vụ cũng như các biện pháp thích ứng của hành chính công nhằm tạo ra các cơ quan hành chính hiệu quả với nhân dân

Trang 11

CCHC thay đổi cơ bản, lâu dài, liên tục các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước để tạo ra hiệu lực, hiệu quả quản lý và các sản phẩm phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực CCHC

có chủ định nhằm cải tiến quản lý của bộ máy nhà nước; lập kế hoạch; định thể chế; tổ chức; công tác cán bộ; tài chính; chỉ huy; phối hợp; kiểm tra; thông tin và đánh giá” [Error! Reference source not found., tr.8]

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: CCHC là quá trình tác động có chủ định của các cơ quan có thẩm quyền thông qua các biện pháp chính trị, tổ chức, kỹ thuật, chuyên môn hoặc các biện pháp khác để sửa đổi các khâu không hợp lý trong quy trình QLNN trên các lĩnh vực quản lý theo luật định nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tinh gọn thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng thuận lợi cho hoạt động QLNN phát triển phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc thù ngành, địa phương phục vụ đắc lực nhiệm vụ nâng cao hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia Như vậy, quan điểm của luận văn

được hiểu theo nghĩa hẹp

1.1.2 Sự cần thiết CCHC hiện nay

Thứ nhất, Quán triệt quan điểm đẩy mạnh CCHC và trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-

2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ đã xác định vai trò của CCHC là: Xét về góc độ quản lý cho thấy,

“quan hệ giữa nền hành chính nhà nước với các lĩnh vực kinh tế - xã hội là quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, nền hành chính nhà nước được tổ chức ra là để quản lý và điều hành xã hội, trong đó có quản lý kinh tế

là lĩnh vực trọng yếu nhất trong xã hội Trong cơ chế thị trường, đối tượng điều chỉnh và quản lý của nền hành chính tăng lên cả về số lượng và chất lượng; nội dung và hình thức quản lý, đa dạng, phức tạp, với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia Trong cơ chế đó, nền hành chính nhà nước phải

Trang 12

đổi mới nội dung và cách thức quản lý Trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bộ máy hành chính nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế đa chủ thể, đa thành phần thông qua hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ Nền hành chính nhà nước phải được cải cách để thực hiện các chính sách xã hội, phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện cho mọi người phát huy dân chủ, có cơ hội phát triển, được hưởng thụ và cống hiến, giải quyết tốt các vấn đề xã hội Nhà nước phải tạo môi trường chính trị ổn định, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo đảm quốc phòng - an ninh phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm đời sống nhân dân; phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất và kết cấu hạ tầng xã hội, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, cung cấp các dịch vụ công tốt hơn, có hiệu quả hơn cho xã hội; phát huy cao nhất những tác động tích cực của cơ chế thị trường, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những tác động tiêu cực, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của nhân dân”[Error! Reference source not found., tr.19]

Thứ hai, CCHC nhằm tạo tiền đề quan trọng trong việc thực hiện phát triển kinh tế xã hội đáp yêu cầu của thực tiễn đối với việc CCHC nhà nước ở Việt Nam

“Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diệnđất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là nền kinh tế sản xuất hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia, hoạt động vừa theo những nguyên tắc

và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa theo những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội; đồng thời, phải phát huy cao vai trò quản lý, hướng dẫn, định hướng của Chính phủ, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường

Trang 13

định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có một khuôn khổ thể chế pháp lý

và cơ chế quản lý nhà nước tương ứng Khi mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường thay đổi, vai trò” [Error! Reference source not found., tr.54]

CCHC nhà nước ở Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đối với nền kinh tế cũng phải được đổi mới Trong bộ máy nhà nước, thì trước tiên là nền hành chính phải được cải cách nhằm tạo ra sự thích ứng với nền kinh tế thị trường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội

Xét về góc độ quản lý cho thấy, “quan hệ giữa nền hành chính nhà nước với các lĩnh vực kinh tế - xã hội là quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, nền hành chính nhà nước được tổ chức ra là để quản lý và điều hành xã hội, trong đó có quản lý kinh tế là lĩnh vực trọng yếu nhất trong

xã hội Trong cơ chế thị trường, đối tượng điều chỉnh và quản lý của nền hành chính tăng lên cả về số lượng và chất lượng; nội dung và hình thức quản lý,

đa dạng, phức tạp, với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia Trong cơ chế

đó, nền hành chính nhà nước phải đổi mới nội dung và cách thức quản lý Trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bộ máy hành chính nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế đa chủ thể, đa thành phần thông qua hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ”[Error! Reference source not found., tr.19]

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII của Đảng (1995) đã ra Nghị quyết về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước Đảng chủ trương cải cách một bước nền hành chính nhà nước đồng bộ trên ba nội dung cơ bản: Cải cách thể chế của nền hành chính nhà nước; chấn chỉnh tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính

Trang 14

CCHC là quá trình tác động có chủ định của các cơ quan có thẩm quyền thông qua các biện pháp chính trị, tổ chức, kỹ thuật, chuyên môn hoặc các biện pháp khác để sửa đổi các khâu không hợp lý trong quy trình QLNN trên các lĩnh vực quản lý theo luật định nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tinh gọn thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng thuận lợi cho hoạt động QLNN phát triển phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc thù ngành, địa phương phục vụ đắc lực nhiệm vụ nâng cao hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia Như vậy, quan điểm của luận văn được hiểu theo nghĩa hẹp

Thứ ba, thực hiện CCHC nhằm thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng cường hội nhập quốc tế

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2007) Nghị quyết chuyên đề về CCHC trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng cường hội nhập quốc tế Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu, quan điểm, yêu cầu, chủ trương, biện pháp đẩy mạnh CCHC Nghị quyết tập trung vào việc: Chính phủ tiếp tục ban hành Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, tập trung vào xây dựng và hoàn thiện thể chế về

tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; cải cách tổ chức

bộ máy hành chính; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; cải cách chế độ công vụ, công chức và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin”[16].Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về CCHCđã tạo được những kết quả bước đầu quantrọng, góp phần vào thành tựu chung của đất nước [1, tr.25]

“CCHCchưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân” [1, tr.13].Hệ thống thể chế, pháp luật, nhất là thể cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chưa phù hợp; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng kịp yêu cầu Kỷ luật, kỷ cương cán bộ, công chức chưa nghiêm

1.2 3 Nội dungcơ bản của cải cách hành chính

Trang 15

Thứ nhất, Cải cách thể chế: “Thể chế của nền hành chính được cải cách

và hoàn thiện phát huy dân chủ với thiết lập chế độ công khai, minh bạch và

cơ chế kinh tế thị trường

Thủ tục hành chính trong giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp công khai, minh bạch

Cải cách hành chính là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước; qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và dân chủ hóa đời sống xã hội Nhận thức được cải cách hành chính là yếu tố tác động thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đóng vai trò then chốt trong đổi mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại nên trong thời gian qua, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã nổ lực hết mình trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ về cải cách hành chính Trên cơ sở đó, các ngành, các cấp đã tích cực triển khai thực hiện với những sáng kiến mới, cách làm hay để mang lại hiệu quả tốt nhất nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và hướng đến chính quyền phục vụ nhân dân “Những kết quả khả quan trong thực hiện cải cách hành chính đã giúp hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước tại địa phương từng bước được nâng lên Việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm được đổi mới và hoàn thiện cơ bản từ khâu dự đoán, dự báo, soạn thảo, ban hành, triển khai và tổ chức thực hiện đảm bảo đúng quy trình, công khai, dân chủ, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Công tác cải cách thủ tục hành chính được Tỉnh quan tâm đẩy mạnh và đã triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông điện tử theo hướng hiện đại cho tất cả các cơ quan hành chính cấp huyện và đang thực hiện đến các cơ quan hành chính cấp tỉnh và cấp xã Tỉnh

đã triển khai thực hiện đúng các quy định về tổ chức bộ máy của Chính phủ

và các Bộ, ngành Trung ương Các cơ quan hành chính từng bước được kiện

Trang 16

toàn, phân định rõ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo quản lý nhà nước đúng theo pháp luật và phục vụ xã hội trong giai đoạn mới Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhận thức được vai trò, ý nghĩa của cải cách hành chính và nổ lực trau dồi kiến thức, nghiệp vụ để phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp”[3, tr.18]

Thứ hai, cải cách tổ chức bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương: Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan

ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới; Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhận để khắc phục những chống chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặcdoanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện; ban hành và áp dụng các quy định mới về phân cấp Trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương Gắn phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ Định rõ những loại việc địa phương toàn quyền quyết định, những việc trước khi địa phương quyết định phải có ý kiến của Trung ương và những việc phải thực hiện theo quyết định của Trung ương; bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ; điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương; cải tiến phương thức quản lý,

lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp; thực hiện từng bước hiện đại

hóa nền hành chính

Thứ ba, đổi mới, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức:tiếp tục đẩy

mạnh công tác chỉ đạo điều hành, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu

Trang 17

các cơ quan, đơn vị và địa phương, gắn công tác thi đua, khen thưởng với cải cách hành chính, thực hiện phê bình, kiểm điểm người đứng đầu và cán bộ, công chức, viên chức thực hiện không tốt công tác cải cách hành chính Đồng thời, Tỉnh tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách hành chính bằng nhiều hình thức và tổ chức triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ về cải cách hành chính đến tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh

Ngoài các giải pháp nhằm tạo sự chuyển biến lớn từ trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thì bài toán về chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở cũng là một vấn đề đáng lo ngại bởi đội ngũ này là người trực tiếp tiếp xúc giải quyết các mối quan hệ hành chính với

tổ chức, công dân Gần đây chế độ chính sách có cải thiện nhưng chưa kích thích và thu hút được người tài về phục vụ địa phương Đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cấp cơ sở nói riêng thiếu ổn định, thiếu kế thừa, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và phục vụ tổ chức, công dân Trước khó khăn đó, Tỉnh đang nghiên cứu đề xuất thực hiện mô hình thi tuyển Phó Chủ tịch UBND cấp xã nhằm tạo nguồn cán bộ trẻ, tài năng phục vụ địa phương Đối với cán bộ, công chức thừa hành sẽ tiến hành khảo sát, điều tra thực trạng, phân loại, đào tạo, giải quyết tinh giản biên chế, điều động, luân chuyển công chức từ huyện về xã,… nhằm tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất cho cán

bộ, công chức cấp cơ sở để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới

Thứ tư, cải cách tài chính công Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài

chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia

và vai trò chỉ đạo của ngân sách Trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách.Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; quyền quyết định của các

Trang 18

bộ, sở, ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù

hợp với chế độ, chính sách

Thứ năm, hiện đại hóa nền hành chính Rất chú trọng nâng cao thực

hiện công tác hiện đại hóa hành chính, đến nay toàn có 100% huyện, thị xã, thành phố thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại và cũng đang thực hiện tại một số sở, ngành; trong năm 2015 sẽ tiến hành thực hiện đến các

xã nông thôn mới Tuy là một trong những đi đầu trong thực hiện cơ chế một cửa hiện đại nhưng đối với phần mềm và quá trình vận hành phần mềm cũng còn nhiều lúng túng Nguyên nhân là do chưa có quy chuẩn về kỹ thuật của phần mềm, quy định về tổ chức và quy chế hoạt động, tiêu chuẩn của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả hiện đại nên việc triển khai cho các địa phương chưa đồng nhất, vẫn còn nhiều lỗi trong quá trình sử dụng và cần tiếp tục hoàn thiện phần mềm Năm 2015, Các địa phương sẽ tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện một cửa hiện đại đến cấp xã và xây dựng quy định chung về các lĩnh vực thực hiện một cửa hiện đại, ban hành quy chế tổ chức hoạt động của

Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả khi Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối với các cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương

1.2 Một số yếu tố tác động đến CCHChiện nay

1.2.1 Yếu tố xã hội, kinh tế

Môi trường kinh tế, xã hội trước hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế, xã hội chung về cơ cấu ngành kinh tế, xã hội, cơ cấu vùng Tình hình

đó có thể tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau đối với các CCHC khác nhau.Môi trường kinh tế, xã hội cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu chi tiêu của người dân cũng như phân bố thu nhập thực tế bình quân đầu người theo tầng lớp, vùng miền Môi trường kinh

tế, xã hội thường được đề cặp đến những yếu tố như: Tốc độ tăng trưởng kinh

Trang 19

tế, xã hội, lãi suất, tỷ giá hối đoái, chính sách thuế, tệ nạn xã hội, giao dịch dân sự, hành chính

Trong quá trình phát triển nền kinh tế, xã hội thị trường định hướng XHCN, khu vực công có những thay đổi mạnh mẽ Ngân sách và các phương tiện đã bắt đầu được quản lý một cách chặt chẽ hơn và điều này có tác động đáng kể đến đầu tư, việc làm và chi phí hoạt động Kết quả là cần phải quan tâm đến hai vấn đề: một mặt, đó là vấn đề lựa chọn và ưu tiên trong định hướng chính sách công và mặt khác, vấn đề ngân sách chặt chẽ và giới hạn chi tiêu

1.2.2 Yếu tố pháp luật

Thể chế chính trị giữ định hướng, chi phối các hoạt động trong xã hội Môi trường chính trị, pháp luật thuộc nhóm các yếu tố vĩ mô, nó có tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới hoạt động của tất cả các tổ chức Sự tác động của môi trường thể chế, chính trị tới hoạt đông của các tổ chức phản ánh sự can thiệp của các chủ thể quản lý vĩ mô tới hoạt động cung cấp CCHC của cơ quan quản lý hành chính

1.2.3 Yếu tố tổ chức bộ máy cơ quan quản lý

Cải cách được tạo ra nhờ phân cấp quản lý dựa trên hai thay đổi to lớn Thứ nhất, hoạt động tư vấn của chính quyền địa phương có vai trò quan trọng hơn và chỉ chịu sự kiểm soát sau, đặc biệt là về mặt luật pháp và tài chính Thứ hai, chuyển giao nguồn lực để thực hiện một số nhiệm vụ, nhất là liên quan đến trách nhiệm về lãnh thổ như: qui hoạch nông thôn, phát triển địa phương, đào tạo nghề, qui hoạch đất đai, đô thị hoá huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai là địa bàn kinh tế còn khó khăn, hiện nay các dịch vụ hành chính công tại huyện Đak Pơ gắn với chức năng quản lý nhà nước của UBND cấp huyện, thông qua việc giải quyết các thủ tục hành chính tại cấp huyện Ví dụ, để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp tổ chức, công dân như: Đăng ký kinh

Trang 20

doanh, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sụng đất, chứng thực, hộ tịch…

1.2.4 Yếu tố khác

Thực tế cho thấy, sự thành công hay thất bại trong CCHC trước hết phải nói đến yếu tố con người Yếu tố con người trong CCHC gồm 02 bộ phận Thứ nhất: Đội ngũ cán bộ, công chứclà chủ thể tiến hành CCHC, đồng thời là đối tượng của công cuộc cải cách này Thứ hai: Quần chúng nhân dân (không phải là chủ thể, cũng không phải là khách thể của CCHC) là những người nhận các dịch vụ của nền hành chính và có tác động nhất định đến nền hành chính Như vậy có thể thấy, đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò hết sức quan trọng trong CCHC nhà nước Công chức có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền hành chính quốc gia Cán bộ, công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ nền hành chính nào Đội ngũ công chức có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống,quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội phù hợp với mục tiêu dân chủ XHCN Chất lượng CCHC phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ công chức, có hiểu biết về quản lý hành chính với trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm phong phú, đạo đức trong sáng Những đặc điểm cá nhân của “đối tượng thụ hưởng” CCHC cũng

là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng CCHC Người dân thể hiện quan điểm và thái độ đối với việc điều phối đời sống kinh tế - xã hội của Nhà nước, đặc biệt là đối với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay

1.3 Kinh nghiệm cải cách hành chính của một số huyện tại các địa phương và bài học kinh nghiệm

1.3.1 Kinh nghiệm của huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Cải cách TTHC theo cơ chế một cửa cùng với việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 (nay là TCVN ISO 9001:2008) đã đem lại những hiệu quả rõ nét, thiết thực cho tổ chức và công

Trang 21

dân trong các quan hệ giao dịch hành chính như giảm được phiền hà, giảm bớt về thời gian và công sức đối với người dân khi yêu cầu, giải quyết thủ tục Thái độ phục vụ của cán bộ, công chức có nhiều chuyển biến tốt, tạo được lòng tin từ công dân” [Error! Reference source not found., tr.24].Công tác tuyên truyền về thực hiện CCHC được tiếp tục triển khai sâu rộng trong nội bộ Đảng, chính quyền và nhân dân

* Bài học kinh nghiệm

Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặcdoanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện; ban hành và áp dụng các quy định mới về phân cấp Trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương Gắn phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ Định rõ những loại việc địa phương toàn quyền quyết định, những việc trước khi địa phương quyết định phải có ý kiến của Trung ương và những việc phải thực hiện theo quyết định của Trung ương; bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ; điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương; cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp; thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính

1.3.2 Kinh nghiệm của huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai

Trong 10 năm qua, nhờ sự quan tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị,

sự tập trung, sáng tạo, đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực, huyện Đak Đoa đã hoàn thành cơ bản các mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2010 - 2020 Chỉ số CCHC của huyện ngày càng được cải thiện Kết quả này đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn huyện.“Hệ thống thể chế giữa các cơ quan hành chính Nhà nước được

Trang 22

điều chỉnh, mối quan hệ giữa các cơ quan với nhân dân được xây dựng và hoàn thiện hơn Tổ chức bộ máy tinh gọn theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời trình độ cán bộ, công chức ngày càng được cải thiện, tiến tới chuẩn cán bộ trên phạm vi toàn huyện Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước hiện đại, hiệu quả, pháp quyền, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong chỉ đạo, điều hành và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ để đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý hành chính, thực hiện hiệu quả việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001-2008 Đến nay, Ủy ban nhân dân huyện đã thực hiện việc nâng cấp

hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001-2015 và đang thực hiện trong hoạt động hành chính tại địa phương, hệ thống quản lý văn bản điều hành và một cửa điện tử liên thông của huyện” [Error! Reference source not found., tr.7]

* Bài học kinh nghiệm

Nghiêm túc thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, Ủy ban nhân dân huyện đã triển khai Đề án và thực hiện sáp nhập giảm 07/63 đơn vị sự nghiệp công lập đạt 11,1% và hợp nhất đơn vị của huyện với sở để huyện quản lý, đồng thời giảm một số bộ phận sự nghiệp tại các cơ quan hành chính về đơn vị sự nghiệp công lập, gắn với việc tinh giản biên chế theo quy định với đã giảm 10,3% đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức hội và hợp đồng lao động theo Nghị định

số 68 Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, chất lượng đội ngũ cán

Trang 23

bộ, công chức, viên chức ngày càng được cải thiện theo chiều hướng tăng lên

về trình độ chuyên môn, hướng tới 100% cán bộ, công chức đạt chuẩn

Công tác cải cách tài chính công đã được Ủy ban nhân dân huyện triển khai nhiều giải pháp thiết thực góp phần tăng thu ngân sách, đảm bảo thu ngân sách nhà nước (NSNN) và luôn đạt, vượt dự toán được giao hằng năm; quản lý chi NSNN chặt chẽ, triệt để tiết kiệm và hiệu quả Thực hiện huy động và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực tài chính, đảm bảo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đặc biệt là các công trình an sinh xã hội,

Trang 24

Tiểu kết Chương 1

Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về nội dung, vai trò, quy định pháp luật về CCHC Luận văn thống nhất quan điểm lý luận rằng, Nhà nước pháp quyền là nhà nước lấy nhân dân làm chủ thể, lấy pháp luật làm tiêu chí

để quản lý xã hội Cốt lõi của tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là nhà nước của dân, do dân và vì dân; nhà nước quản lý

xã hội và quản lý chính bản thân mình bằng pháp luật

Đó là nền hành chính vì dân, coi công dân là trung tâm và đề cao chức năng phục vụ công Bằng hành động thực tiễn, nền hành chính quan tâm đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm công bằng, bình đẳng, tạo điều kiện cần thiết để mọi thành viên xã hội với những địa vị, điều kiện, thể chất… khác nhau nhưng có cơ hội như nhau để phát triển; bù đắp cho những người được hưởng lợi ít nhất; quan tâm giúp đỡ, cung cấp dịch vụ cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn và những nhóm đối tượng yếu thế, có vị thế bất lợi trong nền kinh tế thị trường

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN ĐĂK PƠ, TỈNH GIA LAI

2.1 Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại huyện Đăk

Pơ tỉnh Gia Lai

Huyện Đak Pơ được thành lập theo Nghị định số 155/2003/NĐ-CP ngày 9/12/2003 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách từ diện tích và dân số phía tây huyện An Khê Cũng theo Nghị định này, phần đất phía đông huyện

An Khê cũ được thành lập thị xã An Khê Huyện lỵ thuộc thị trấn Đăk Pơ Diện tích: 503,73 Km2 Dân số: 44.181 người (số liệu thống kê năm 2018)

Vị trí địa lý: Bắc giáp: Thị xã An Khê, huyện Kbang Nam giáp tỉnh Bình Định Tây giáp: Huyện Mang Yang.Đơn vị hành chính cấp xã, trị trấn: 7

xã, 01 thị trấn, bao gồm: Đăk Pơ, Phú An, Tân An, Cư An, Ya Hội, Yang Bắc, An Thành, Hà Tam

Huyện Đak Pơ có quốc lộ 19 đi qua, là tuyến giao thông huyết mạch nối liền vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, sang tận Campuchia.Đak

Pơ là một phần của Tây Sơn thượng đạo, một trong những căn cứ địa của nhà Tây Sơn dựng cờ tụ nghĩa Đak Pơ là một trong những khu vực chịu tác hại của chất độc màu da cam trong chiến dịch rải chất độc hóa học của quân đội Hoa Kỳ mở đầu từ ngày 10 tháng 8 năm 1961 Ngày mới thành lập (năm 2003) Đăk Pơ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn do cơ sở vật chất thiếu thốn, dân cư thưa thớt, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, trong khi trình độ canh tác lạc hậu, quanh năm đối mặt với đói nghèo Bắt tay xây dựng Đăk Pơ

từ con số không, quyết tâm đi lên bằng nội lực

Trang 26

Nhìn lại hơn 15 năm, quãng thời gian không dài so với lịch sử phát triển của tỉnh, song cũng đủ để làm thay đổi diện mạo một vùng đất nghèo khó bằng sự nỗ lực không ngừng, tinh thần đoàn kết, sự năng động, sáng tạo

và tư duy đổi mới của các thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân để đến hôm nay huyện Đak Pơ vui mừng, phấn khởi báo cáo những thành tựu đã đạt được

“Từ một huyện xuất phát điểm kinh tế thấp, đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 15% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp, đến nay tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp giảm còn 34,88%, công nghiệp - xây dựng 45,08%, thương mại - dịch vụ 23,04% Nông nghiệp liên tục phát triển khá theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành các vùng chuyên canh như mía, mì, ngô, rau…, với tổng giá trị sản xuất năm 2019 đạt 526 tỷ đồng, tăng 3,2 lần so với năm 2004 Công tác ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được chú trọng; công tác khuyến nông, khuyến lâm với nhiều mô hình kinh tế trang trại, nhiều chương trình, dự án ứng dụng quy trình công nghệ: IBM, ICM, đã đưa các loại giống mới, có năng suất cao vào sản xuất; chương trình lai cải tạo đàn bò, hỗ trợ bò đực giống cho làng đồng bào đồng bào dân tộc thiểu số, dự án bò thịt chất lượng cao phát triển khá tốt, đến nay tuy số lượng đầu con có giảm nhưng có 82,84% bò lai trong tổng đàn; diện tích gieo trồng tăng từ 12.652 ha năm

2004 lên 25.982 ha năm 2019, sản lượng tăng bình quân 6%/năm, từ đó làm cho giá trị ngành nông nghiệp hàng năm tăng từ 6% - 8%.Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai thực hiện 7/8 xã của huyện”[Error! Reference source not found., tr.3]

Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng đồng bộ, từ trung tâm huyện đến các xã đều có đường ô tô, hệ thống đường liên thôn, liên xã thông suốt trong mùa mưa Đến nay, có 8/8 xã sử dụng điện lưới quốc gia với 100% thôn, làng

Trang 27

có điện và 99,5% số hộ sử dụng điện; 87% người dân được dùng nước hợp vệ sinh góp phần làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc.Sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ sớm có bước đi tích cực trên cơ sở phát huy lợi thế có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 19, đường Trường Sơn Đông thông thương với các tỉnh trong khu vực, các vùng kinh tế trọng điểm trong nước

2.2 Cơ sở pháp lý để triển khai cải cách hành chính ở huyện Đăk

Pơ tỉnh Gia Lai

Thứ nhất, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 xác định mục tiêu cải cách hành chính rất rõ ràng

Quản lý hành chính công mới và quản trị nhà nước tốt đều có bản chất

là hướng tới xây dựng một nền hành chính minh bạch, tinh gọn, năng động và hiệu quả, nó hướng đến phục vụ công dân thay vì cai trị nhân dân như trong

mô hình hành chính công truyền thống Đây là những xu hướng cải cách hành chính đã xuất hiện khoảng 30 năm trở lại đây trên thế giới và ngày càng mở rộng như là xu thế tất yếu của thời đại Nếu quản lý công mới nhấn mạnh đến

sự tham gia của khu vực tư vào khu vực công, vận dụng những nguyên tắc của thị trường vào hoạt động cuả chính phủ, phi tập trung hóa và phi quy chế hóa, khoa học hóa quy trình quản lý, các quyết sách chính trị - hành chính để hướng đến một nền hành chính năng động, hiệu quả

Do đó, từ những quan niệm về một nền hành chính tốt đặt trong điều kiện quản trị Nhà nước pháp quyền thì cần phải luôn luôn đặt tư duy luôn luôn đổi mới, cách cách tổ chức và hoạt động, cơ chế một cách toàn diện Đó

là quá trình diễn ra liên tục, luôn luôn được thực hiện có tổng kết và đánh giá, rút kinh nghiệm sửa lại cho phù với tình hình mới nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hành chính nhà nước Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII của Đảng (1995) đã ra Nghị quyết về việc tiếp tục

Trang 28

xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước

Hằng năm, UBND huyện Đăk Pơ triển khai đến các cơ quan, đơn vị có liên quanđến báo cáo kết quả tự đánh giá, chấm điểm chỉ số CCHC và chủ động tổng hợp gửi cấp trên thẩm định kết quả theo đúng thời gian quy định Kết quả xếp hạng chỉ số CCHC của huyện Đak Pơ: Năm 2015 xếp thứ 9/17; năm 2016 xếp thứ 5/17; năm 2017 xếp thứ 15/17 và năm 2018 xếp thứ 5/17 các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Qua đó, dựa trên các Kế hoạch kiểm tra của tỉnh hằng năm về chỉ số CCHC, UBND huyện tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với các cơ quan, đơn vị còn tồn tại những hạn chế, khuyết điểm nhằm đưa ra biện pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả chỉ số CCHC trong những năm tiếp theo

Thứ hai,ban hành hệ thống văn bản cải cách thể chế hành chính nhà nước trên cơ sở triển khai thực hiện Hiến pháp 2013, các bộ, ngành, địa

phương đã tích cực rà soát, hệ thống hóa

“Quá trình tác động có chủ định của các cơ quan có thẩm quyền thông qua các biện pháp chính trị, tổ chức, kỹ thuật, chuyên môn hoặc các biện pháp khác để sửa đổi các khâu không hợp lý trong quy trình QLNN trên các lĩnh vực quản lý theo luật định nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tinh gọn thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng thuận lợi cho hoạt động QLNN phát triển phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc thù ngành, địa phương phục vụ đắc lực nhiệm vụ nâng cao hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia”[Error! Reference source not found.]

Rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của cơ quan, địa phương, theo đó, thực hiện Nghị định số 37/2014/NĐ-

CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ về việc quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Hiện

Trang 29

nay, toàn huyện có 13 cơ quan chuyên môn, 09 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Các cơ quan trong hệ thống bộ máy hành chính của huyện đã được xác định

rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; cơ cấu tổ chức hợp lý, từng bước tăng tính chuyên nghiệp trong thực hiện công vụ; không ngừng đổi mới phương pháp quản lý phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Công tác rà soát, quy định cụ thể vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện luôn được thực hiện theo quy định Xác định rõ những chức năng, nhiệm vụ có tính tương đồng giữa các cơ quan để phân biệt rõ trách nhiệm quản lý của từng cơ quan, đơn vị, khắc phục hiện tượng chồng chéo, bỏ sót và giải quyết tốt các mối quan hệ phối hợp trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Ngoài ra, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cũng đã xây dựng quy chế làm việc nhằm cải tiến chế độ làm việc, trách nhiệm người đứng đầu đối với công tác cải cách hành chính ở địa phương Huyện thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn

vị trực thuộc UBND huyện thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động của các cơ quan chuyên môn cấp huyện, UBND cấp xã để có cơ sở đánh giá xếp loại cuối năm và kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện sai phạm nếu

Thực hiện phân cấp quản lý về nguồn nhân lực, về tài chính (khoán kinh phí chi tiêu cho các cơ quan, đơn vị) Mục tiêu cơ bản của việc phân cấp quản lý là phát huy dân chủ, nâng cao tính chủ động, năng động của các cấp quản lý gắn với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định Bên cạnh đó, phân cấp quản lý cũng nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý hành chính, do đó việc phân cấp quản lý hoạt động hành chính là hết sức quan trọng và cần thiết Triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công của cơ quan, địa phương Thực hiện

Trang 30

Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về thực hiện quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, đã tiến hành rà soát, sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo hướng tinh gọn, đa ngành, đa lĩnh vực; phân cấp và thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công về tổ chức thực hiện, nhân lực, tài chính… Từ đó

có thể bố trí sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với năng lực chuyên môn và yêu cầu của vị trí công tác; sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công từng bước giảm dần, tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ

sở vật chất đảm bảo điều kiện tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức

và người lao động “Việc triển khai thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03/02/2018 của Chính phủ và Kế hoạch số 26-KH/TU ngày 15/3/2018 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (ban hành theo Quyết định số 2268/QĐ-UBND ngày 06/7/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh) Việc triển khai thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập của cơ quan, đơn vị theo Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-

CP ngày 24/01/2018 của Chính phủ và Kế hoạch số 35-KH/TU ngày 04/6/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (theo Quyết định số 2413/QĐ-UBND ngày 17/7/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh) Thực hiện quy định về số lượng lãnh đạo tại các cơ quan, đơn vị và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về biên chế, tổ chức bộ máy theo quy định, phân cấp quản lý giữa chính quyền cấp trên với chính quyền cấp dưới” [55,tr.8]

Trang 31

Sự chồng chéo về các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Điều này gây khó khăn cho cán bộ làm công tác chuyên môn, đặc biệt là đối với những cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước liên thông dẫn đến tình trạng một cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước phải qua nhiều cơ quan, mỗi cơ quan sẽ giải quyết theo cách hiểu của mình Kết quả cuối cùng là hướng đến sự thuận tiện gây mất thời gian Nhiều văn bản quy phạm pháp luật của cấp Trung ương chậm ban hành hoặc ban hành thiếu đồng bộ, chồng chéo; trong khi nhiều luật mới có

sự bổ sung, điều chỉnh đã được ban hành có hiệu lực Từ đó làm cho quá trình triển khai thực hiện khi giải quyết cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước bị lúng túng và gặp nhiêu khó khăn

Thứ ba, ban hành hệ thống pháp luật về cải cách thủ tục hành chính triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp

Theo báo cáo năm 2018, “năm 2018 tiếp tục ghi nhận những nỗ lực trong đẩy mạnh cải cách TTHC của Chính phủ và các bộ, ngành, đặc biệt là việc quyết liệt triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp Tại Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã yêu cầu các bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể quy định tại Nghị quyết theo thẩm quyền được giao Qua đó, nhằm tạo chuyển biến tích cực trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm như: Cắt giảm danh mục hàng hóa, sản phẩm phải kiểm tra chuyên ngành; bãi bỏ, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh; ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết TTHC… Chỉ thị số 07/CT-

Trang 32

TTg ngày 05/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh triển khai, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ

và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp trong năm 2018 đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong cải cách TTHC Giá trị trung bình của lĩnh vực cải cách TTHC năm 2018 của các bộ đạt 81,78%, cao hơn 5,48% so với năm 2017 (năm 2017 giá trị là 76,30%) Có 12 bộ đạt kết quả Chỉ số thành phần cải cách TTHC trên mức giá trị trung bình đạt được của 18 bộ, bao gồm: Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương; Bộ Ngoại giao; Thanh tra Chính phủ; Bộ Xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Thông tin và Truyền thông Bộ Y tế tiếp tục đứng cuối Chỉ số thành phần cải cách TTHC, với kết quả là 49,12% (Năm 2017 kết quả là 49,78%)” [59]

Thứ tư, ban hành hệ thống pháp luật quy định về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tập trung cho việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, phân định và làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, cũng như xác định rõ hơn việc thực hiện chức năng xây dựng, ban hành thể chế, kế hoạch, chính sách, quản lý vĩ mô đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội “Ngoài ra, việc phân định rõ thẩm quyền, trách

nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ trưởng cũng là một trong những kết quả nổi bật của nội dung cải cách tổ chức bộ máy Các bộ đã tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, bước đầu khắc phục những chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, đã chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện.Nhìn chung, cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã được sắp xếp, góp phần xây dựng một bộ máy tinh gọn, hợp lý, tương xứng với

Trang 33

chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước của mỗi cơ quan; định rõ tính chất và các loại hình tổ chức trực thuộc để tham mưu và thực thi pháp luật” [11,

Thứsáu, ban hành hệ thống pháp luật quy định cải cách tài chính côngsử dụng hợp lý nguồn tài chính công, đổi mới cơ chế, chính sách tài chính cho doanh nghiệp nhà nước, cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công

Lĩnh vực cải cách tài chính công tại Chỉ số CCHC cấp bộ năm 2018, thay đổi tiêu chí “Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính” bằng tiêu chí “Tổ chức thực hiện công tác tài chính - ngân sách”, đồng thời, bổ sung thêm 01 tiêu chí và 08 tiêu chí thành phần, nâng tổng số tiêu chí và tiêu chí thành phần của lĩnh vực này là 04 tiêu chí và 14 tiêu chí thành phần Thực hiện giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước hàng năm; tổ chức thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước về tài chính, ngân sách và thực hiện cơ chế tự chủ về

sử dụng kinh phí quản lý hành chính tại bộ Đối với tiêu chí bổ sung “Công tác quản lý, sử dụng tài sản công” được đánh giá trên 04 tiêu chí thành phần: Ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản công thuộc phạm vi quản lý

Trang 34

theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích chuyên dùng theo quy định tại Nghị định số 152/2017/NĐ-CP của Chính phủ; ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng theo quy định tại Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quy định về quản lý tài sản công

Huyện thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ; việc phân bổ biên chế và giao dự toán chi ngân sách cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thực hiện theo định mức của Ủy ban nhân dân tỉnh Thực hiện việc công khai dự toán và quyết toán ngân sách theo đúng quy định của Luật Ngân sách

Trong năm 2019, huyện tiếp tục thực hiện thẩm định, tham mưu kinh phí thực hiện chính sách về tiền lương, tiền công, an sinh xã hội theo đúng quy định Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý đối với các cơ quan hành chính

và đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động nguồn lực để chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, thể dục thể thao,… theo chỉ đạo

và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh Việc thực hiện CCHC về tài chính công của huyện năm 2020 đã hướng tới vào các nội dung trọng tâm như:

- Kết quả thực hiện tự chủ tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực thuộc: mức độ tự chủ; việc nâng cao chất lượng, mở rộng hoạt động để tăng nguồn sự nghiệp; việc tăng thu nhập từ nguồn thu sự nghiệp

- Kết quả thực hiện tự chủ tại cơ quan, đơn vị, địa phương: việc ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ tại cơ quan, đơn vị, địa phương; việc tiết kiệm kinh phí quản lý hành chính tại cơ quan, đơn vị, địa phương

Trang 35

- Tình hình tổ chức thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước về tài chính, ngân sách của năm 2020

Chính vì vậy, “đã thực hiện có hiệu quả công tác cải cách tài chính công bằng việc giao cho các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sử dụng biên chế, kinh phí chi tiêu nội bộ Qua đó, nhiều đơn vị

đã siết chặt hơn việc quản lý tài sản công, tiết kiệm được kinh phí cho đơn vị, tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở Nghị định số 130/2005/NĐ-CP

và Nghị định số 43/2006 NĐ-CP Theo đó, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn huyện đã tiến hành xây dựng chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sử dụng biên chế và kinh phí chi tiêu nội bộ; quản lý, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức phù hợp Đối với Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ sau khi được ban hành, các đơn

vị sự nghiệp công lập đã tiến hành thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ, phát huy tính dân chủ, sáng tạo của người lao động, thay đổi kỹ năng quản lý, thực hiện tiết kiệm nghiêm túc, đúng quy chế” [55,tr.7]

Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, trong thời gian qua đã chú trọng bố trí tập trung CCHC phân cấp ngân sách đã có những đổi mới cơ bản, “nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm của các đơn vị, các địa phương và các ngành sử dụng ngân sách, giảm được nhiều khâu, thủ tục không cần thiết trong phân bổ ngân sách Bên cạnh đó, huyện đã tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Các chế độ, chính sách an sinh xã hội được đảm bảo bằng hoặc cao hơn định mức quy định của Nhà nước Đồng thời thực hiện có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn Đến nay, huyện đã phân loại và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 7 đơn vị sự nghiệp công lập với mức

tự chủ tài chính từ 20% đến 100% chi thường xuyên Đồng thời, tỉnh đã quyết định danh mục các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được Nhà nước giao tài sản cho một số đơn vị như cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp để các

Trang 36

đơn vị chủ động sử dụng tài sản dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; tiến hành rà soát, lập danh mục các đơn vị sự nghiệp đủ điều kiện chuyển mô hình hoạt động thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ” [56,tr.5]

Có thể nói, việc thực hiện cải cách tài chính công trên địa bàn là một chủ trương rất đúng đắn, phù hợp với nhu cầu thực tiễn trong thời kỳ đổi mới Qua đó càng nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị, tăng cường sự giám sát của cán bộ, công chức, viên chức trong việc sử dụng biên chế, kinh phí để hoàn thành nhiệm vụ được giao Đồng thời từng bước hạn chế tình trạng cấp trên can thiệp quá sâu vào công việc cấp dưới, cấp dưới trông chờ vào sự chỉ đạo cụ thể của cấp trên; chủ động phân bổ tài chính theo nhu cầu Hiệu quả còn thể hiện rõ là thu nhập của người lao động từng bước được cải thiện; thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong khâu phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, để đảm bảo công khai minh bạch, hiệu quả, tập trung dân chủ trong quản lý tài chính công, mỗi cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, trong đó quy định rõ thẩm quyền chi, định mức các khoản chi cụ thể để đảm bảo cân đối thu - chi, bảo quản, sử dụng tài sản công và làm tốt giám sát việc tuân thủ quy chế chi tiêu nội bộ Xây dựng nội dung cải cách tài chính công gắn liền với các nội dung quản lý, sử dụng ngân sách là việc làm không thể thiếu đối với từng cơ quan, đơn vị, tuy nhiên cần phát huy dân chủ

và công khai, minh bạch trong chi ngân sách và sử dụng tài sản công Đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức tích cực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng điện, nước, xăng dầu, văn phòng phẩm, mua sắm trang thiết bị làm việc nhằm tránh lãng phí, thất thoát ngân sách Nhà nước

Đánh giá về mặt hạn chế

Trang 37

- “Tình trạng trễ hẹn trong giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ TTHC vẫn còn phổ biến ở một số lĩnh vực trọng tâm, như: đất đai, xây dựng, lao động - thương binh và xã hội.”[11, tr.8]

- “Thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết số 36a/NQ-CP còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, việc ban hành Kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ, cấp tỉnh còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra” [11, tr.6].Tại một số cơ quan, đơn vị đã quán triệt chỉ đạo, điều hành qua môi trường điện

tử, hạn chế sử dụng văn bản giấy, nâng cao hiệu lực quản lý, năng suất lao động và giảm chi phí hành chính

2.3 Thực trạng thực hiện cải cách hành chính ở huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai hiện nay

2.3.1 Về cải cách thể chế

- Thành tựu:“Trong năm 2019, huyện đã đổi mới và nâng cao chất

lượng công tác xây dựng văn bản QPPL Để triển khai thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng văn bản QPPL trong năm 2019, huyện đã ban hành các kế hoạch sau:

+ Ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND ngày 27/12/2018 triển khai thực hiện công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2019 trên địa bàn huyện;

+Ban hành Kế hoạch số 96/KH-UBND ngày 27/12/2018 triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2019 trên địa bàn huyện;

+ Ban hành Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 28/12/2018 triển khai công tác quản lý nhà nước về thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2019 trên địa bàn huyện Và ban hành các văn bản triển khai thực hiện các Kế hoạch

Trong công tác hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách về các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền của cơ quan, địa phương: Công

Trang 38

tác xây dựng văn bản QPPL: Năm 2019 UBND huyện ban hành 01 văn bản QPPL: Quyết định số 01/2019/QĐ-UBND ngày 22/8/2019 về việc bãi bỏ một

số văn bản QPPL của UBND huyện Đak Pơ ban hành Việc ban hành văn bản QPPL đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

Công tác kiểm tra, tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật: Năm 2019, thực hiện tự kiểm tra 01 văn bản QPPL (01 Quyết định) do UBND huyện ban hành Kết quả tự kiểm tra, văn bản đảm bảo về thể thức, kỹ thuật trình bày và nội dung của một văn bản QPPL theo quy định

- Kiểm tra theo thẩm quyền: UBND các xã, thị trấn không ban hành văn bản QPPL nên không có đối tượng kiểm tra theo thẩm quyền

Công tác rà soát văn bản QPPL: Năm 2019, Thực hiện 02 đợt rà soát văn bản QPPL do HĐND, UBND huyện ban hành Kết quả rà soát tính đến ngày 30/9/2019 như sau:

- Tổng số văn bản được tập hợp rà soát: 16 văn bản QPPL (Gồm: 02 Nghị quyết; 14 quyết định)

- Còn hiệu lực thi hành: 12 văn bản QPPL (gồm có: 02 Nghị quyết (kể

cả 01 Nghị quyết đang còn hiệu lực thi hành một phần) và 10 Quyết định)

- Hết hiệu lực thi hành một phần: 01 văn bản (01 Nghị quyết)

- Hết hiệu lực thi hành toàn bộ: 04 văn bản (04 Quyết định)

Sau khi có kết quả rà soát, ngày 05/11/2019, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 1495/QĐ-UBND về việc công bố danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực thi hành toàn bộ và hết hiệu lực thi hành một phần

Công tác hệ thống hoá văn bản QPPL: Trong năm 2019, UBND huyện

đã thực hiện hệ thống hóa văn bản QPPL do HĐND, UBND huyện Đak Pơ ban hành tính đến ngày 31/12/2018 Kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL:

- Lĩnh vực kinh tế: có 02 Nghị quyết

- Lĩnh vực tổ chức bộ máy: có 09 Quyết định

- Lĩnh vực khác: 04 Quyết định

Ngày đăng: 05/07/2021, 10:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả điều tra xã hội học công dân và doanh nghiệp về hài lòng về tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin thủ tục hành chính  - Luận văn thạc sĩ cải cách hành chính từ thực tiễn huyện đăk pơ, tỉnh gia lai
Bảng 2.1. Kết quả điều tra xã hội học công dân và doanh nghiệp về hài lòng về tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin thủ tục hành chính (Trang 40)
Bảng 2.2. Kết quả điều tra xã hội học công dân và doanh nghiệp về hài lòng về thái độ ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức hướng dẫn, tiếp  - Luận văn thạc sĩ cải cách hành chính từ thực tiễn huyện đăk pơ, tỉnh gia lai
Bảng 2.2. Kết quả điều tra xã hội học công dân và doanh nghiệp về hài lòng về thái độ ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức hướng dẫn, tiếp (Trang 44)
Bảng 2.4. Kết quả điều tra xã hội học công dân và doanh nghiệp về mức độ kịp thời, đầy đủ và thuận tiện trong việc truy cập, khai thác thông tin  - Luận văn thạc sĩ cải cách hành chính từ thực tiễn huyện đăk pơ, tỉnh gia lai
Bảng 2.4. Kết quả điều tra xã hội học công dân và doanh nghiệp về mức độ kịp thời, đầy đủ và thuận tiện trong việc truy cập, khai thác thông tin (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm