Đảng và nhà nước luôn định hướng, phát huy tối đa vai trò của những người có uy tín, tiêu biểu, các vị chức sắc, chức việc và nhà tu hành ở khu dân cư để tuyên truyền các nội dung về ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH SANG
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI CHĂM TỪ THỰC TIỄN TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác,
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 8
1.2 Nội dung bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 15
1.3 Các điều kiện bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI CHĂM TẠI TỈNH AN GIANG 25
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm tại tỉnh An Giang 25
2.2 Thực tiễn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm tại tỉnh An Giang 29
2.3 Đánh giá chung về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo của người Chăm tại tỉnh An Giang 50
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI CHĂM TỪ THỰC TIỄN TỈNH AN GIANG 56
3.1 Quan điểm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 56
3.2 Giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 59
KẾT LUẬN 71
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo nên số lượng các nhà
tu hành đông, các tín đồ nhiều và đa dạng Bởi vậy, tôn giáo không còn là vấn đề nhỏ tập trung vào một nhóm thiểu số nữa mà đã là quan hệ xã hội phức tạp, cần có sự điều chỉnh toàn diện về mặt pháp luật trong nước
Cụ thể hóa quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào", Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định chủ thể thực hiện quyền tự do TN-TG là mọi người (khoản 1 Điều 6) Bên cạnh đó, Luật cũng quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin TN-TG; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ
sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo
Như vậy, quyền tự do TN-TG là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi
Nhà nước Việt Nam thừa nhận và bảo đảm cho mọi công dân có hoặc không
có TN-TG đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi; không có sự phân biệt đối xử vì những lý do TN-TG Các tôn giáo được nhà nước thừa nhận đều bình đẳng trước pháp luật Mọi người cần ý thức tôn trọng quyền tự do TN-TG của người khác, đồng thời chống lại các phần tử lợi dụng tôn giáo chống lại giai cấp công nhân, lợi ích dân tộc Qua đó nhà nước ta xem thấy sự tích cực trong tham gia các công tác xây dựng bảo
vệ tổ quốc, cùng chính quyền các cấp xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế xã hội đặt biệt là cùng chung tay với nhà nước cứu trợ thiên tai, chăm lo giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn Cho nên tôn giáo cũng
Trang 7góp phần quan trọng trong đời sống xã hội, vì vậy nhà nước đã mở rộng quyền tự do TN-TG cho các tôn giáo nhằm nâng cao tin thần lá lành đùm lá rách trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Ở Việt Nam tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm Theo tư liệu lịch sử người Chăm đã theo đạo Hồi từ thế kỹ thứ X-XI trong đó có hai khối đạo Hồi, một là theo khối đạo Hồi tại tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận là khối đạo Hồi giáo cũ còn được gọi
là người Chăm Bà Ni, hai là khối đạo Hồi theo người Chăm tại Châu Đốc tỉnh An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, là khối đạo hồi mới hay còn gọi là Chăm Islam Hiện nay đạo hồi ở Việt Nam có khoảng 80.000 tín đồ, 89 cơ sở thờ tự lớn nhỏ, 1062 chức sắc, chức việc, 07 tổ chức Hồi giáo được nhà nước công nhận Tôn giáo luôn là vấn đề hết sức nhảy cảm và phức tạp, các thế lực thù địch thường lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá cách mạng, kích động tín đồ làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội làm cho chính trị bất ổn, kinh tế không phát triển Vì vậy, công tác tôn giáo luôn là nhu cầu cấp thiết Đảng và nhà nước luôn định hướng, phát huy tối đa vai trò của những người có uy tín, tiêu biểu, các vị chức sắc, chức việc và nhà tu hành ở khu dân cư để tuyên truyền các nội dung
về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng còn gặp nhiều khó khăn riêng ở tỉnh An Giang hiện nay có nhiều tôn giáo đang sinh hoạt, hoạt động tôn giáo trên toàn tỉnh trong đó có đặc thù hai tôn giáo đó là tôn giáo khơme hay còn gọi là Phật giáo Nam Tông và đạo Hồi ở tỉnh An giang có đông đảo, đa số người dân tộc đang theo đạo, về mặt thực tiễn về ngôn luận và tiếp cận với đời sống xã hội của những người dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế dẫn đến việc, quyền tự do TN-TG cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tự do TN-TG, góp phần cung cấp những luận
cứ khoa học, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đấu tranh chống lại các thế lực lợi dụng tôn giáo, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội Xuất phát từ lý luận và thực tiễn cũng như phù
hợp với yêu cầu thực tiễn công tác, tôi lựa chọn đề tài: “Bảo đảm quyền tự do tín
Trang 8ngưỡng, tôn giáo người Chăm từ thực tiễn tỉnh An Giang” là thực sự cần thiết về
cả mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về TN-TG thì có nhiều các học giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước nhìn nhận, đánh giá, xem xét từ những góc độ khác nhau, có thể kể đến các công trình nghiên cứu dưới đây:
TS Đỗ Thị Kim Định, Thực tiễn áp dụng pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tôn giáo số 6 (132) năm 2014 Bài viết phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, cả thành tựu và hạn chế, để thấy việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở nước ta đang là một yêu cầu, một mục tiêu trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, tập thể tác giả, chủ biên: GS.TS
Hoàng Văn Hảo - TS Chu Hồng Thanh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1997, 288 trang
Một số công trình khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Động về quyền công dân ở Việt Nam có liên quan trực tiếp đến đề tài, giúp tác giả cả về phương pháp
nghiên cứu, học thuật và nội dung nghiên cứu Các công trình: Các quyền hiến định
về xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay (sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Tư
pháp, Hà Nội, 2004, 203 trang; Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp
Việt Nam (sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005, 253 trang; Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam (sách chuyên khảo), Nhà xuất
bản tư pháp, Hà Nội, 2006, 183 trang
TS Đỗ Minh Hợp (chủ biên), Tôn giáo phương Đông, quá khứ và hiện tại, Nhà
xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2006, 398 trang; sách đề cập đến lịch sử phát triển kinh
tế - xã hội, chính trị và văn hóa của các xã hội phương Đông; sách đã trình bày hoàn cảnh, quá trình hình thành các tôn giáo Phương Đông cùng với sự tác động của nó đến xã hội Cuốn sách đã giúp tác giả thấy rõ những tư liệu hiện có, những tư liệu gốc
về tôn giáo Phương Đông, thấy rõ được đặc thù và bản chất của các tôn giáo, phân tích sự hoạt động và vị trí trong đời sống xã hội và con người phương Đông
Trang 9Tuyên ngôn thế giới và hai công ước 1966 về quyền con người, tập thể tác giả,
Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002, 240 trang Nội dung cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan trực tiếp đến Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa (1966); đồng thời đề cập đến việc áp dụng các nguyên tắc và quy định trong ba văn kiện đó về thực tiễn trên thế giới và Việt Nam; giúp tác giả củng cố những kiến thức lý luận về quyền tự do TN-TG
Phạm Khiêm Ích (chủ biên), Quyền con người, các văn kiện quan trọng, Viện
Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội 1998, 595 trang; cuốn sách bao gồm 15 văn kiện quan trọng, tuy khác nhau về thời gian và địa điểm ra đời, nhưng lại rất giống nhau, nhất quán với nhau trong việc đề cao và bảo vệ các quyền tự nhiên, không thể bị tước
đoạt và thiêng liêng của con người; PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Nhà nước và pháp
luật tư sản đương đại, lý luận và thực tiễn (sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Tư pháp,
Hà Nội, 2008, 418 trang; cuốn sách là sự kết hợp các kiến thức trên các lĩnh vực lý luận nhà nước và pháp luật, Luật hiến pháp nước ngoài và Luật so sánh, từ đó đưa ra
một cách nhìn toàn diện về nhà nước và pháp luật tư sản
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định trong luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền tự do TN-TG đối với cộng đồng dân tộc Chăm An giang Nhằm góp phần hiểu biết và đánh giá quyền tự do TN-TG của đạo Hồi An Giang qua
đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện nâng cao hiệu quả công tác của cơ quan chính quyền địa phương trong việc quản lý để bảo đảm quyền tự do TN-TG người Chăm tại tỉnh An Giang cho phù hợp với thực tiễn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Phân tích, làm rõ thêm cơ sở lý luận, pháp luật về bảo đảm quyền tự do
TN-TG trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 10của Đảng và pháp luật, quy định của Nhà nước Việt Nam
- Nhìn nhận, đánh giá thực trạng các vấn đề bảo đảm quyền tự do TN-TG người Chăm tại tỉnh An Giang trong những năm gần đây qua đó rút ra những hạn chế cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân hạn chế đó
- Làm rõ sự cần thiết khách quan phải bảo đảm quyền tự do TN-TG của cơ quan thực thi pháp luật ở tỉnh An giang theo pháp luật Việt Nam hiện nay, nêu quan
điểm và các giải pháp hoàn thiện
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm quyền tự do TN-TG người Chăm tại tỉnh An Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các khía cạnh lý luận cơ bản của việc thực hiện pháp luật của các cơ quan chuyên trách ở địa phương nhằm bảo đảm quyền tự do TN-
TG người Chăm tại tỉnh An Giang, qua đó gắn liền với việc thực hiện pháp luật về tôn giáo, về quyền tự do TN-TG của cộng đồng người Chăm; trong đó nhấn mạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do TN-TG phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống những kẻ lợi dụng TN-TG vì mục đích ngoài tôn giáo ở An giang hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận của quản lý pháp luật về tôn giáo; thực tiễn quản lý pháp luật về tôn giáo liên quan đến quản lý nhà nước về tôn giáo chủ yếu dựa trên các quy định của pháp luật điều chỉnh trực tiếp về
cơ cấu tổ chức và hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên cơ sở số liệu minh họa của các tổ chức tôn giáo Việc nghiên cứu pháp luật về quản lý pháp luật có liên quan đến tôn giáo như đất đai, xây dựng, dân sự, hình sự, không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do TN-TG người Chăm tại tỉnh An Giang
Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật nhằm đưa ra một số giải pháp thực tiễn để bảo đảm quyền tự do TN-TG người Chăm
Trang 11tại tỉnh An Giang từ năm 2016 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Luận văn được hoàn thiện trên sự kế thừa các công trình nghiên cứu trước
đó có cùng cơ sở lý luận thực định quốc tế về quyền con người và quyền tự do
TN-TG, luận văn vận dụng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và quyền tự do TN-TG của công dân
- Chương 1: Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để phân tích, tổng hợp những vấn đề về phương thức, thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự
do TN-TG người Chăm tại tỉnh An Giang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Chương 2: Phương pháp thống kê để tập hợp các số liệu: thống kê tổng hợp
số liệu trong quá trình thực hiện các giải pháp nhằm bảo đảm việc thực thi có hiệu quả pháp luật về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Chương 3: Phương pháp tiếp cận liên ngành được sử dụng nhằm nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao với sự kết hợp của chuyên ngành chính trị học với kinh tế chính trị học, dục học, trị nhân lực
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Xác định công tác thực thi pháp luật với công đồng đạo Hồi ở An giang là vấn
đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền tự do TN-TG
của người Chăm ở tỉnh An giang là nhu cầu cấp thiết cần được quan tâm Luận văn
Trang 12vận dụng lý thuyết về thực thi pháp luật để nhìn nhận, đánh giá việc thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật; từ đó chỉ ra những bất cập của quá
trình thực thi và giải pháp tăng cường hiệu quả của quá trình thực thi pháp luật
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do TN-TG người Chăm tại tỉnh An Giang
Luận văn sẽ góp phần làm phong phú hơn nguồn tư liệu phục vụ cho hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học về khoa học pháp lý nói chung, pháp luật về tôn giáo, thực hiện pháp luật về tôn giáo nói riêng và cho đội ngũ công chức quản lý công tác tôn giáo
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được bố cục gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm tại tỉnh An Giang
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm từ thực tiễn tỉnh An Giang
Trang 13
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO 1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm tín ngưỡng
- Tín ngưỡng; là một niềm tin có hệ thống như một phần cấp thấp của tôn giáo,
mà con người tin vào để giải thích thế giới và vũ trụ mà để mang lại sự thịnh vương bình yên và thanh cao hạnh phúc cho bản thân và mọi người Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững Theo một cách hiểu đơn giản nhất, tín ngưỡng là tin theo và tôn thờ lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc là sự vật, hiện tượng, con người có thật được thần bí hóa Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được
mà khó có thể nhận thức được Tín ngưỡng còn thể hiện giá trị cuộc sống, ý nghĩa cuộc sống bền vững, đôi khi được hiểu là tôn giáo hay nói chính xác hơn, tín ngưỡng khi phát triển đến một mức nào đó thì có thể trở thành tôn giáo
Theo Nguyễn Trần Bạt thì “tín ngưỡng là kết quả của tâm lý ngờ vực, trong đó
lớn nhất và phổ biến nhất là ngờ vực ngay chính hiện tại, ngay chính những đại lượng vật lý”[4] Tín ngưỡng theo ông là nơi con người nghỉ ngơi, giải trí Hàng ngày, con
người tiếp xúc với nhiều sự kiện, nhiều hiện tượng, sự vật Tuy nhiên, với sự tò mò, thích khám phá con người không bao giờ dừng lại ở mức độ cảm nhận mà con người luôn đi tìm cho mình câu trả lời về các sự vật, sự kiện, hiện tượng đó Từ đó con người thu được kiến thức, tư tưởng và tín ngưỡng Và con người gọi là khoa học-một
hệ thống tri thức khi con người tìm hiểu nguồn gốc của mọi việc đã giải thích cho con người về thế giới, về thực tại dường như là chưa đủ để con người hiểu hết được những gì đang diễn ra trong đời sống của mình nhất là trong vấn đề tâm linh Sự hạn chế này khiến con người nảy sinh lòng tin dùng thế lực siêu nhiên, huyền bí để giải thích cho các vấn đề mà khoa học không thể lý giải nổi như sự hiện hữu của linh hồn, chiêm tinh, thế giới tồn tại bên ngoài thế giới đang sống do đó tín ngưỡng được hình thành
Trang 14* Khái niệm tôn giáo
Khái niệm tôn giáo: là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:
- Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”
- Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”
Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý:
- Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải
đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình
- Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần
ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải
Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo nhưng có thể chia thành hai trường phái chính:
- Thứ nhất, quan điểm phi mác xít cho rằng tôn giáo là cái thiêng liêng vĩnh hằng, gắn liền với con người và tồn tại cùng con người
- Thứ hai, quan điểm của Mác xít về vấn đề tôn giáo: Tôn giáo là mặt trời ảo tưởng quay xung quanh mặt trời hiện thực, là trái tim của thế giới không có trái tim,
là tinh thần của trạng thái thế giới không có tinh thần
Nhiều định nghĩa như vậy nhưng khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: Hiện hữu và phi hiện hữu, hữu hình và vô hình Đồng thời tôn giáo không chỉ là sự bất lực của con người
Trang 15mà còn thể hiện niềm tin sâu sắc của họ về một cuộc sống lý tưởng khi theo một tôn giáo nào đó Ngoài ra, tôn giáo được biết đến là hệ thống hoàn chỉnh các quan niệm,
ý thức tín ngưỡng, thể hiện tập trung ở lòng tin, tình cảm tôn giáo, hành vi và hoạt động tôn giáo Tôn giáo là hình thức tín ngưỡng có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và giáo hội, được tổ chức chặt chẽ
Như vậy, Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia
* Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Khái niệm: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản
của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Một khái niệm nữa cần được quan tâm trong tìm hiểu về quyền tự do TN-TG là
“tự do” Theo cách hiểu thông thường nhất, tự do là một khái niệm mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội lựa chọn và hành động theo đúng với
ý chí nguyện vọng của mình Còn tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo thường được coi là một nguyên tắc ủng hộ quyền tự do của cá nhân hay cộng đồng trong việc công khai hoặc bí mật thực hành, thờ phụng, rao giảng hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng Khái niệm này thường được thừa nhận bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do không theo một tôn giáo nào
Quan niệm của Thánh Công đồng Vantican II:
Con người có quyền tự do TN-TG, quyền tư do này con người không bị lệ thuộc vào áp lực cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ một quyền lực nào khác Với ý nghĩa đó, trong lĩnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, dù đó là hành động cá nhân
hay công khai, một mình hay đông người, trong những giới hạn chính đáng[15]
Tự do TN-TG còn có nghĩa là các cộng đoàn tôn giáo không bị ngăn cản trong việc tự do biểu lộ các hiệu năng riêng của giáo thuyết minh trong việc tổ chức xã hội
và làm cho toàn thể sinh hoạt nhân loại được sống Sau hết, theo bản chất xã hội của
Trang 16con người, cũng như theo bản chất của tôn giáo, con người có quyền tự do hội họp hay thành lập những hiệp hội giáo dục, văn hóa, từ thiện và xã hội do cảm thức tôn
giáo thúc đẩy[16]
Từ những cách hiểu khác nhau trên, tác giả đưa ra nhận định chung về quyền tự
do TN-TG: Là quyền con người mà trong đó mỗi cá nhân có thể lựa chọn tín ngưỡng,
tôn giáo theo ý muốn của mình, việc lựa chọn ở đây được hiểu là quyền theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo; quyền được thay đổi tôn giáo, quyền được thể hiện, bày tỏ tín ngưỡng tôn giáo của mình
Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng:
Là quyền con người nên quyền tự do TN-TG cũng mang đầy đủ các đặc điểm của quyền con người bên cạnh những đặc trưng riêng biệt của quyền này Những đặc điểm của quyền con người bao gồm: Mang tính phổ biến, không thể chuyển giao, không thể chia cắt, không thể bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất kỳ chính thể nào Tính phổ biến nghĩa là quyền tự do TN-TG là quyền của tất cả mọi người không có sự phân biệt nào, khi sinh ra con người đã được trao quyền này Không thể chuyển giao, chuyển nhượng đồng nghĩa với việc tất cả mọi người sẽ không bị bất cứ chủ thể nào tước đi quyền này một cách tùy tiện Không thể chia cắt khẳng định vị trí quan trọng của quyền tự do TN-TG là ngang bằng với các quyền con người khác Một đặc điểm quan trọng khác của quyền này đó là để quyền tự do TN-TG được bảo đảm tốt nhất, cần phải được thực hiện với các quyền con người khác Cụ thể, quyền tự do TN-TG được bảo đảm thì kèm theo đó là quyền lập hội, quyền tự do ngôn luận, quyền sở hữu Quyền tự do TN-TG thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị mang màu sắc dân sự nhiều hơn là chính trị Bởi tính cá nhân rất cao trong việc thể hiện niềm tin của con người cụ thể trong khi tính chính trị được thể hiện mờ nhạt thông qua việc một nhóm người cùng chung niềm tin tổ chức lại cùng nhau duy trì, thực hành tôn giáo
Ngoài ra, tôn giáo còn phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội và trình độ phát triển của xã hội Điều này được chứng minh trong lịch sử phát triển của các tôn giáo Vào đầu thế kỷ VII TCN, sự ra đời của Hồi giáo tại bán đảo Ả rập gắn liền với
sự biến chuyển của xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ xã hội có giai cấp, đòi
Trang 17hỏi phải thống nhất các bộ lạc tại Ả rập thành một nhà nước phong kiến Đạo Phật ra đời bắt nguồn từ những nguyên nhân chính trị sâu xa, là trào lưu chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn Kitô giáo ra đời là sự phản ứng của quần chúng trước chính sách áp bức bóc lột của đế quốc La Mã Như vậy, quyền tự do TN-TG được xác lập, thực hiện và phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại một số thời điểm và một số quốc gia nhất định
Quyền tự do TN-TG không phải là một quyền tuyệt đối Điều này có nghĩa là quyền này có thể bị giới hạn với các lý do nhất định và sự giới hạn đó được xem là hợp lý Các lý do hạn chế được đưa ra trong Điều 18 của Công ước về các quyền dân
sự, chính trị năm 1966 là bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền tự do cơ bản của người khác
Bảo đảm là gì? Là việc công tác quản lý tôn giáo của nhà nước để quy định cụ thể, tạo điều kiện cho mọi người thực hiện quyền tự do tôn giáo; làm rõ hơn các điểm bất cập trong thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo thời gian qua; xây dựng các quy định chặt chẽ hơn để tạo điều kiện cho tôn giáo tự do hoạt động theo đúng quy định của pháp luật
Khái niệm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Nhà nước luôn quan tâm mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta hiện nay hoàn toàn phù hợp với những chuẩn mực quốc tế có liên quan đến lĩnh vực TN-TG, bảo đảm quyền tự do TN-TG của mọi người dân nói chung và các cộng đồng tôn giáo nói chung bên cạnh đó còn có những phạm nhân đang chấp hành án phạt tù nói riêng phù hợp với Công ước quốc tế và ngang tầm với luật pháp của nhiều quốc gia có nền pháp chế lâu đời Qua đó, thể hiện tính ưu việt của chế độ, tinh thần nhân đạo, tính nhân văn trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực TN-TG
Thời gian gần đây những vấn đề thảo luận nhiều nhất trong lịch sử phát triển
của tôn giáo Trong lịch sử đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, chức sắc, tín đồ các tôn giáo đều có những đóng góp to lớn, quan trọng Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định, đoàn kết tôn giáo là nguồn lực nội sinh có ý
Trang 18nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Tôn trọng quyền tự do TN-TG, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta được cụ thể bằng pháp luật
và bảo đảm trên thực tế và đây là một trong những quyền cơ bản của công dân, được
khẳng định trên nguyên tắc Hiến định (Hiến pháp năm 2013)
Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 03/9/1945 tại phiên họp Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền tự do TN-TG của một bộ phận đồng bào có đạo; Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố TN-TG
tự do và lương - giáo đoàn kết” Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo Người từng kêu gọi các tôn giáo hãy xóa bỏ hiềm khích, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà
Kế thừa quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đều quan tâm đến nhu cầu TN-TG của nhân dân Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 đã ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/ PL-UBTVQH11 quy định về các hoạt động TN-TG Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-
CP ngày 01/3/2005 về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 “về nhà, đất liên quan đến tôn giáo”, tạo hành lang pháp lý ổn định, nhất quán để ghi nhận, bảo đảm thực hiện quyền tự do TN-TG của công dân ghi nhận quyền tự do TN-
TG là một trong những quyền cơ bản của con người Cụ thể hóa, Quốc hội khóa XIV thông qua, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 Có thể khẳng định, các tôn giáo có điều kiện phát triển, được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự; quan hệ quốc tế của các tôn giáo được mở rộng, sinh hoạt tôn giáo được công khai theo quy định của pháp luật Trước khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo năm
2004 So sánh các số liệu ở thời điểm trước và sau khi có pháp lệnh TN-TG, cho thấy quyền tự do tôn giáo của người dân luôn được bảo đảm và minh chứng sinh động là
Trang 19sự gia tăng chức sắc, cơ sở thờ tự và tín đồ các tôn giáo
Sự đoàn kết và đóng góp của các tôn giáo ở Việt Nam cùng chung tay, chung sức thể hiện trách nhiệm đối với xã hội, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước Chính sách pháp luật về tôn giáo đã phát huy nguồn lực của tôn giáo và khuyến khích các tổ chức tôn giáo tham gia vào các lĩnh vực của đời sống
xã hội, đã xuất hiện nhiều mô hình và tấm gương tiêu biểu của chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo trong công tác an sinh xã hội, phòng chống biến đổi khí hậu, từ thiện
1.1.2 Đặc điểm của bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Bảo đảm quyền con người về quyền tự do TN-TG bằng nhiều phương thức và biện pháp khác nhau, trong đó bảo vệ bằng các quy định pháp luật cũng như bảo đảm thực hiện các quy định đó trên thực tế là quan trọng nhất: “Bảo đảm quyền con người trong tư pháp là sự vận hành của các yếu tố khách quan nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong lĩnh vực tôn giáo, bảo vệ và thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về tôn giáo Vì lẽ đó, trong thực tiễn pháp lý, “bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tôn giáo trong tư pháp” được hiểu là các hoạt động giữ gìn, bảo vệ cho cộng đồng có đạo khỏi những xâm hại tiêu cực phản với mục tiêu và đường lối của Đảng và Nhà nước gây tổn thương các quyền con người, giúp họ tránh các nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tham gia tố tụng; chủ thể được bảo vệ ở đây được hiểu ở cả hai góc độ nạn nhân và không phải
là nạn nhân
- Tính quyền lực nhà nước: Bảo đảm quyền tự do TN-TG cho công dân là trách nhiệm của Nhà nước Mọi biện pháp bảo đảm đều được nhà nước cụ thể hóa bằng hệ thống văn bản pháp luật, bằng các quy định cụ thể và được bảo đảm thực thi bởi các
cơ quan cơ, cá nhân có thẩm quyền Do vậy, bảo đảm tự do TN-TG mang tính bắt buộc chung Mọi tổ chức, cá nhân đều phải thực hiện theo đúng quy định đã được Nhà nước quy định hoặc thừa nhận
- Tính xã hội và nhân văn sâu sắc: Quyền tự do TN-TG gắn với quyền con người
do đó, Nhà nước quy định các điều kiện bảo đảm để các cá nhân có cơ hội thể hiện quyền tự do TN-TG của mình
Trang 201.2 Nội dung bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1.2.1 Đối với mỗi cá nhân
(1) Mọi người có quyền tự do TN-TG là theo hoặc không theo một tôn giáo nào
- Mở rộng phạm vi chủ thể của quyền tự do TN-TG trên cơ sở đó các tổ chức,
cá nhân có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quyền tự do TN-TG của mình Vì quyền tự
do TN-TG được coi là một quyền tự thân, không do một tổ chức, một cá nhân hay một Nhà nước nào ban tặng và không ai được phép tước bỏ, ép buộc, xâm phạm và Nhà nước phải tôn trọng, bảo hộ quyền tự do ấy
- Thông qua việc giới hạn rõ ràng quyền tự do TN-TG của từng chủ thể, các chủ thể sẽ biết rõ phạm vi, mức độ thực hiện quyền của mình, các giới hạn của quyền để thực hiện đúng pháp luật và được Nhà nước bảo hộ
- Là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức, cá nhân đề nghị Nhà nước ghi nhận, bảo hộ quyền của mình và là cơ sở để khiếu nại, khởi kiện khi có các hành vi xâm hại tới quyền của tổ chức, cá nhân một cách bất hợp pháp
- Quyền tự do TN-TG còn là quyền được tự do bày tỏ niềm tin, đức tin của mình; quyền hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp; quyền tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi TN-TG và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo
(2) Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin TN-TG
(3) Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Quy định rõ hơn quyền của các đối tượng là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được đáp ứng nhu cầu TN-TG của cá nhân theo quy định của pháp luật có liên quan Đây là quy định rất tích
Trang 21cực cho các đối tượng này vì họ đang là đối tượng bị hạn chế một số quyền theo quy định của pháp luật, nhưng riêng quyền tự do TN-TG, họ được Nhà nước ghi nhận và được đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cá nhân họ Bên cạnh đó, việc ghi nhận sau khi họ chấp hành xong án phạt tù hoặc quản chế theo quy định của pháp luật thì được chủ trì lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo và quản lý tổ chức tôn giáo và
để thực hiện được quyền chủ trì lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo phải được tổ chức tôn giáo đăng ký và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là những quy định hoàn toàn mới, bảo đảm được quyền tự do TN-TG của mọi người, phù hợp với quy định về quyền con người, quyền tự do TN-TG của mọi người quy định tại Hiến pháp năm 2013 cũng như Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị
1.2.2 Đối với các tôn giáo
Khẳng định các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tôn giáo, tránh được sự mặc cảm của các tổ chức tôn giáo do ra đời sau hoặc có số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ, cơ sở thờ tự ít Quy định này một lần nữa nói lên chính sách tôn trọng, bảo hộ quyền tự do TN-TG của Nhà nước ta đối với các tổ chức tôn giáo là như nhau, cho dù tổ chức tôn giáo đó ra đời, được công nhận sớm hay muộn Bên cạnh sự bảo đảm của Nhà nước đối với quyền hoạt động TN-TG hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, Nhà nước cũng luôn khuyến khích, giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của TN-TG
Làm cho toàn Đảng, toàn dân nói chung và bà con tín đồ, chức sắc tôn giáo nói riêng và thực hiện đúng quan điểm, tư tưởng, chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước hiện nay, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, liên kết tôn giáo, bảo đảm cho đồng tôn giáo gắn bó với dân tộc, tuân thủ pháp luật, giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Thường xuyên vận hành đời sống vật chất và văn hóa tinh thần, nâng cao trình độ mọi mặt của các tôn giáo Thực hiện tín hiệu hiện đại, tích cực hoạt động đồng bào có hướng dẫn kết hợp xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng
Tăng cường công việc quản lý nhà nước, tạo điều kiện bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo bình thường theo luật, mọi tín hiệu, chức năng, nhà tu hành thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, góp phần vào new life Tăng cường truyền thông, hướng dẫn,
Trang 22giúp đỡ đồ đạc và chức năng tôn giáo nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động ngăn ngừa và đấu tranh không thành công và hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế hệ lực thù chống lại sự xây dựng và bảo vệ đất nước của dân tộc ta
1.2.3 Đối với giáo dục tôn giáo
Kể từ khi giành lại độc lập đến nay, quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước là tôn trọng quyền tự do TN-TG của nhân dân trong mô hình nhà nước thế tục Các tôn giáo đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, được quyền hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Trong đó vấn đề tôn giáo tham gia hoạt động giáo dục, có những thời điểm chúng ta tiếp tục duy trì các cơ sở giáo dục của tôn giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân nhưng cũng có thời kì hệ thống giáo dục quốc dân chủ yếu do nhà nước đảm nhiệm Từ sau Đổi mới đến nay, cùng với việc xác lập giáo dục đóng vai trò là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước đã chủ trương thực hiện
xã hội hóa trong hoạt động giáo dục và đào tạo, phát huy mọi nguồn lực trong xã hội
để đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo Trước những chủ trương của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và xã hội hóa giáo dục, các tổ chức tôn giáo, TN-TG đã ngày càng tham gia mạnh mẽ vào quá trình xã hội hóa giáo dục và đào tạo và dạy nghề
1.2.4 Đối với bảo đảm đất đai
Công tác quản lý nhà, đất liên quan đến tôn giáo được các địa phương quan tâm thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từng bước bảo đảm nhu cầu về nhà, đất và nơi sinh hoạt tôn giáo cho chức sắc, tín đồ các tổ chức tôn giáo Thực hiện Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo việc giao đất, cấp GCNQSD đất tôn giáo do Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND tỉnh xem xét, quyết định trên cơ sở lấy ý kiến phối hợp của Sở Nội vụ (Ban Tôn giáo) Kết quả đến nay, về cơ bản các cơ sở tôn giáo hoạt động hợp pháp đã được giao đất, cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật; đa số các cơ sở tôn giáo đã chấp hành tốt việc sử dụng đất, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ
tự đúng quy định
Như vậy, quyền tự do TN-TG là quyền của tất cả mọi người và quyền này không
bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi Luật tín ngưỡng, tôn giáo là một trong
Trang 23những cải cách pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa đầy đủ nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về một trong những quyền con người quan trọng, cơ bản hàng đầu, trong đó có việc cụ thể hóa các giới hạn của quyền TN-TG và nâng cao trách nhiệm bảo đảm thực thi quyền tự do TN-TG của mọi người
1.3 Các điều kiện bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1.3.1 Bảo đảm về pháp lý
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đều quan tâm đến nhu cầu TN-TG của nhân dân Trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992 và 2013 về quyền tự do TN-TG của công dân Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31-12-2008 “về nhà, đất liên quan đến tôn giáo”, tạo hành lang pháp lý ổn định, nhất quán để ghi nhận, bảo đảm thực hiện quyền tự do TN-TG của công dân Đây là điều rất cần thiết nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động TN-TG bảo đảm tính tương thích với luật pháp quốc tế Cụ thể hóa, Quốc hội khóa XIV thông qua, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo điều chỉnh hoạt động TN-TG ở Việt Nam tạo cơ sở pháp lý quan trọng, phù hợp với Hiến pháp 2013, khắc phục được những hạn chế, bất cập về cơ sở pháp lý trong tổ chức thực hiện QLNN về ANTT đối với hoạt động của đạo công giáo, đáng chú ý như sau:
Mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do TN-TG từ “công dân” thành “Mọi người”, thể hiện đúng bản chất quyền tự do TN-TG là quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013
Việc thay đổi này sẽ giúp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính nhanh gọn, thuận lợi hơn cho hoạt động tôn giáo, giúp công tác QLNN về ANTT đối với hoạt động của tôn giáo nói chung và đạo công giáo nói riêng có hiệu quả hơn
Về hoạt động tôn giáo, hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo
Trang 24Giảm các quy định xin, cho, bổ sung các quy định thông báo Luật đã giảm các quy định xin, cho, bổ sung các quy định thông báo như: Thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc; thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà
tu hành; thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo; thông báo kết quả đào tạo của từng khóa học của cơ sở đào tạo tôn giáo; thông báo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho những người không chuyên hoạt động tôn giáo; thông báo danh mục hoạt động tôn giáo; thông báo hội nghị thường niên Đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng hiện nay nhằm hạn chế sự can thiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo
Về phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực TN-TG Trước đây, các hoạt động vi phạm của giáo hội trong hoạt động tôn giáo chưa có chế tài xử lý thích hợp, chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở, lập biên bản đình chỉ và vận động chấp hành Cách xử lý này làm cho giáo sĩ, giáo dân hiểu rằng chính quyền sợ đụng chạm đến các vấn đề nhạy cảm về “Dân chủ”, “Nhân quyền”, “Tự do tôn giáo” nên
dè dặt, nương nhẹ trong xử lý vi phạm, dẫn tới các hoạt động tôn giáo lấn lướt chính quyền, vi phạm pháp luật Thực tế cho thấy, khi sự việc xảy ra liên quan đến đạo công giáo, một số linh mục quản xứ đã bất hợp tác với chính quyền và các cơ quan chức năng để giải quyết, trong khi người đứng đầu tổ chức
Tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm Phía sau chức sắc, chức việc tôn giáo có hàng vạn tín đồ, quần chúng tin theo, nên thời kỳ nào các thế lực thù địch cũng lợi dụng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điệu sai trái cho rằng, Việt Nam không có tự do tôn giáo; Luật tín ngưỡng, tôn giáo có khái niệm trừu tượng; Nhà nước dễ quy kết trách nhiệm và lên án các tổ chức tôn giáo, khi chính quyền không hài lòng, tự do TN-TG là quyền của mỗi người Chúng còn vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chia rẻ Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp với đồng bào có đạo Mỗi khi Nhà nước ta bổ sung hoặc thay thế những văn bản pháp luật mới để điều chỉnh hoạt động tôn giáo như Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Luật An ninh mạng… tương thích
Trang 25với luật pháp quốc tế về quyền con người, phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của chức sắc, tín đồ tôn giáo thì các thế lực thù địch lại dấy lên chiến dịch viết bài đăng tải trên các trang mạng, các blog… đòi bãi bỏ hoặc xuyên tạc, phủ nhận, tìm các chức sắc, tín đồ thực hiện, tạo ra sự đối lập với chính quyền
Chúng ta cần phải hiểu rõ, bản chất vấn đề tôn giáo là tổ chức mang tính xã hội
Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, khi thành lập tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo thì nhà nước có trách nhiệm bảo đảm
an ninh trật tự, đáp ứng nhu cầu tâm linh của mọi người và xử lý những người cản trở hoạt động tôn giáo chính đáng Các quốc gia đều quan tâm đến công tác quản lý nhà nước về tôn giáo Mỗi quốc gia có cách quản lý riêng tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Như vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng chính sách, pháp luật để bảo đảm quyền tự do TN-TG của mọi người và các tổ chức tôn giáo xây dựng Hiến chương, điều lệ hoạt động gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhờ đó, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều có điều kiện giao lưu quốc tế, xây dựng tổ chức thực hành chính đạo, mở rộng cơ sở thờ tự… Nhiều cá nhân, tổ chức tôn giáo nước ngoài đã thuyết pháp, giảng đạo tại một số cơ
sở thờ tự tại Việt Nam công khai theo quy định của pháp luật Thông qua những hoạt động này, các tôn giáo đã tăng cường trao đổi thông tin với tôn giáo đồng đạo để họ hiểu rõ hơn về chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam Sự đoàn kết và đóng góp của các tôn giáo ở Việt Nam cùng chung tay, chung sức đã thể hiện trách nhiệm đối với xã hội, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Chính sách, pháp luật về tôn giáo đã phát huy nguồn lực của tôn giáo và khuyến khích các tổ chức tôn giáo tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, đã xuất hiện nhiều
mô hình và tấm gương tiêu biểu của chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo trong công
tác an sinh, xã hội, phòng chống biến đổi khí hậu, từ thiện
Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt
về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, TN-TG, trình độ văn hóa,
Trang 26nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra Để bảo vệ dân tộc, bảo vệ lợi ích cộng đồng, bảo vệ công dân, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng quyền tự do TN-TG để phá hoại hòa bình, độc lập, kích động bạo lực hoặc tuyên truyền xuyên tạc gây chiến tranh, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, hoạt động mê tín dị đoan
và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác
Có thể thấy rằng so với tất cả các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 là một bước tiến quan trọng, một sự kế thừa và phát triển trong thời kỳ đất nước ta “Đổi mới và hội nhập sâu” với thế giới Chủ thể của quyền tự do TN-TG không còn là
“Công dân” nữa mà thay vào đó là “Mọi người” Sự thay đổi câu chữ không đơn giản
là cho hay hơn, rộng hơn mà quan trọng thể hiện được tư duy nhận thức phát triển của các nhà lập pháp Quyền tự do tôn giáo đã được coi là quyền con người mà bất
cứ ai cũng được thừa hưởng, là quyền không ai có thể xâm phạm, bất di bất dịch
1.3.2 Bảo đảm về chính trị
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, con người đã có những bước phát triển vượt bậc về nhận thức, chinh phục tự nhiên nhưng tôn giáo vẫn tiếp tục phát triển Nhiều tôn giáo, giáo phái mới xuất hiện, tín đồ các tôn giáo tăng lên, hoạt động, nghi lễ tôn giáo diễn ra với rất nhiều hình thức khác nhau Trong đời sống chính trị - xã hội của thế giới hiện đại, nảy sinh những vấn đề phức tạp mới liên quan đến yếu tố tôn giáo như khủng bố quốc tế, xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, bất đồng quan điểm…, gây ra những tác động ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội hiện đại
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, bằng công tác cán bộ và được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; và chỉ khi đường lối, chính sách của Đảng được thể chế hóa thành pháp luật thì nó mới trở thành phương tiện của Nhà nước, có sức mạnh cưỡng chế buộc các cơ quan, tổ chức phải
Trang 27thi hành Pháp luật nói chung và pháp luật về tôn giáo nói riêng chính là sự phản ánh,
cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội
1.3.3 Bảo đảm về tư tưởng
Các tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc; tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo;
“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của đạo Tin lành; “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Cao Đài; “Vì đạo pháp, vì dân tộc” của Phật giáo Hòa Hảo
Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc và tôn trọng, bảo đảm quyền tự do TN-TG tự do không TN-TG là nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Công tác tôn giáo phải được làm thường xuyên, phải được nghiên cứu sâu sắc tình hình thực tế, hiểu rõ phong tục tập quán, truyền thống TN-TG của nhân dân; việc thực hiện khoa học, chặt chẽ, có chất lượng cao, nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường các biện pháp giáo dục chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên; Quan tâm quần chúng tín đồ, tôn trọng và thực hiện đầy đủ quyền tự do TN-TG nhưng cương quyết xử lý những phần tử lợi dụng TN-TG vi phạm pháp luật Vì vậy công tác tôn giáo không chỉ góp phần giữ gìn ổn định chính trị, xã hội mà cần phải biết phát hiện, phát huy những yếu tố có ý nghĩa về văn hóa, đạo đức trong công tác tôn giáo, động viên được người có đạo tham gia các phong trào cách mạng, tham gia vào quá trình xây dựng đời sống mới, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.3.4 Bảo đảm về văn hóa, kinh tế, xã hội
* Bảo đảm về văn hóa
Xác định tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống chính trị, xã hội, coi tôn giáo như một “nguồn lực” quan trọng của quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, trên quan điểm “lịch sử cụ thể” của Chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ ngày đầu giành chính quyền Cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, chú ý tới vấn
Trang 28đề này bằng các văn bản quy phạm pháp luật Đến khoảng nửa cuối thế kỷ XX, đặc biệt là từ năm 1990 khi Nghị quyết số 24/ NQ-TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị Khóa VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” ban hành và đưa vào đời sống xã hội - vấn đề luật pháp về tôn giáo dần được ổn định và thể hiện tính nhất quán, nhằm phát huy những ưu điểm của tôn giáo đồng thời có hướng giải quyết những vấn đề nhạy cảm liên quan tới vấn đề này
Như vậy, tôn giáo đã trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm trong mọi thời kỳ cách mạng Việt Nam và trên nhiều phương diện, trong đó có phương diện quản lý nhà nước cũng như luật pháp về vấn đề này
* Bảo đảm về kinh tế
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
là trung tâm, phải đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo
vệ và cải thiện môi trường coi đó là tiền đề vật chất để thực hiện và bảo đảm quyền con người nói chung và quyền tự do TN-TG nói riêng Mục đích của chính sách kinh
tế nhà nước là phát triển dân sinh, dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, khoa học kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới
* Bảo đảm về xã hội
Xã hội ta là xã hội vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống làm mục tiêu phục vụ và thực hiện các chính sách xã hội theo quan điểm phát huy nhân tố con người, bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội Kết hợp sự trợ giúp của nhà nước với việc phát triển các quỹ
từ thiện xã hội, quỹ đền ơn đáp nghĩa, nhằm giúp đỡ có hiệu quả người được hưởng
Trang 29chính sách xã hội, nạn nhân chiến tranh, thiên tai, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những người tàn tật và người già không nơi nương tựa, là những điều kiện, biện pháp thực hiện nhằm bảo đảm quyền tự do TN-TG được thực hiện trên thực tế, góp phần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức,
viên chức và nhân dân
Kết luận chương 1
Trong chương này, luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về Khái niệm TN-TG,
Khái niệm quyền tự do TN-TG; Khái niệm bảo đảm quyền tự do TN-TG, Đặc điểm của bảo đảm quyền tự do TN-TG; Nội dung bảo đảm quyền tự do TN-TG; Các điều kiện bảo đảm quyền tự do TN-TG như điều kiện về chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng; pháp lý Đây là những cơ sở lý luận quan trọng, là cơ sở pháp lý, là khung tham chiếu để phân tích việc bảo đảm quyền tự do TN-TG
Kết quả nghiên cứu của chương 1, là cơ sở để phân tích đánh giá việc bảo đảm quyền tự do TN-TG người Chăm ở tỉnh An Giang được trình bày ở chương 2
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGƯỜI CHĂM TẠI TỈNH AN GIANG 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm tại tỉnh An Giang
2.1.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý tỉnh An Giang là tỉnh nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long Phía Bắc và Tây Bắc tiếp giáp với Campuchia với đường biên giới dài 104 km, chạy dọc theo kênh Vĩnh Tế Phía Tây 25 Nam giáp tỉnh Kiên Giang với đường ranh giới dài 69,789 km
Lãnh thổ An Giang bao gồm hai vùng: dãy cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, bao gồm các huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới; dãy đất nằm dọc bên hữu ngạn sông Hậu, thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, bao gồm các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn, thị xã Châu Đốc và thành phố Long Xuyên Chiều dài nhất theo hướng Bắc - Nam là 86 km, Đông - Tây là 87 km - Điểm cực Bắc: 100 57’B, thuộc xã Khánh An, huyện An Phú 26 - Điểm cực Nam: 10012’B, thuộc xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn - Điểm cực Tây: 1040 46’Đ, thuộc xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn - Điểm cực Đông: 1050 35’Đ, thuộc xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới
Vị trí địa lý là một trong những lợi thế quan trọng để An Giang phát triển thương mại và các ngành dịch vụ, du lịch Nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL, liền kề với trung tâm kinh tế lớn của vùng là Thành phố Cần Thơ, An Giang có cơ hội tạo lập các quan hệ kinh tế thương mại với các khu vực thị trường năng động, được tác động lôi kéo và tiếp thu ảnh hưởng lan tỏa từ sức phát triển của các địa phương liền kề trong vùng
2.1.2 Khái quát về tự nhiên
Địa hình: An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Vùng đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, bao gồm đồng bằng phù sa khá bằng phẳng, có độ nghiêng nhỏ và độ cao tương đối thấp; đồng bằng ven núi có
Trang 31nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau Đất đai vùng đồng bằng An Giang rất màu mỡ, phù hợp cho phát triển nông nghiệp Vùng đồi núi chia thành hai dạng chính: Dạng núi cao, có dốc lớn trên 25° và dạng núi thấp thoải, độ dốc nhỏ dưới 15° Khí hậu: Tỉnh An Giang nằm trong khu vực mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, ổn định, lượng ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào,… Có hai mùa rõ rệt trong năm: mùa khô và mùa mưa Chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam
và gió mùa Đông Bắc, do năm sâu trong đất liền nên ít bị ảnh hưởng của gió bão Tuy nhiên, lượng mưa trong năm lớn, tập trung vào mùa mưa (chiếm 90% tổng lượng mưa trong năm) lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu nên thường gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt Hiện tượng này xảy ra theo chu kỳ hàng năm, một mặt, gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống dân cư, mặt khác lại tạo nên các nguồn lợi đặc trưng của mùa nước nổi, có khả năng khai thác để phát triển thương mại - du lịch - dịch vụ
2.1.3 Khái quát về kinh tế - xã hội
Về xã hội: Tổng số dân của tỉnh An Giang năm 2018 là 2.149.457 người Từ đó
An Giang là tỉnh đông dân nhất của vùng ĐBSCL và đứng thứ 6 trong số những tỉnh đông dân nhất của nước ta Số người sống ở khu vực thành thị năm 2010 là 640.431 người, chiếm 29,8% và ở khu vực nông thôn là 1.509.206 người, chiếm 70,2% tổng dân số Mật độ dân số bình quân của tỉnh năm 2010 là 608 người/km2 thuộc loại cao trong vùng ĐBSCL và so với mức trung bình của cả nước Dân cư ở An Giang phân
bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành thị và vùng ven sông Tiền, sông Hậu, còn vùng đồi núi phía Tây và Tây Nam dân cư thưa thớt hơn: Thành phố Long Xuyên - mật độ 2.426 người/km2 , thị xã Châu Đốc - mật độ 1.063 người/km2 , huyện Tri Tôn
- 221 người/km2,… Dân cư sống trải dài theo trục lộ giao thông, dọc theo hai bên
bờ sông, kênh, gạch, quy tụ ở các trung tâm kinh tế - hành chính - văn hóa lớn Một
số khác sống trên các ghe, xuồng, bè hợp thành làng nổi trên sông - một loại hình cư trú độc đáo ở khu vực ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng Hiện nay trên toàn tỉnh có 29 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 4 dân tộc có số dân đông nhất: - Người Kinh chiếm 94,92% dân số, cư trú khắp nơi trên địa bàn tỉnh - Người Khơ Me
Trang 32chiếm 3,85% dân số, tập trung đông đúc ở hai huyên Tri Tôn và Tịnh Biên - Người Chăm chiếm 0,61% dân số, cư trú rãi rác ở các huyện như An Phú, Châu Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Thành Người Hoa chiếm 0,55% dân số, sống chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn Ngoài ra còn có các dân tộc khác sinh sống trên địa bàn tỉnh nhưng với số lượng không đáng kể như: người Tày, Mường, Nùng, Thái,… Các tôn giáo chính ở tỉnh An Giang là: đạo Phật, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài, đạo Công giáo, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đạo Hồi
2.1.4 Khái quát về kinh tế
Tổng GDP của An Giang tính đến năm 2015 là 16,9 nghìn tỷ đồng (theo giá so sánh 1994), gấp 1,5 so với năm 2006; còn tính theo giá thực tế là 45.533 tỷ đồng Như vậy, quy mô nền kinh tế của tỉnh đã được mở rộng khá nhanh và từng bước tăng khả năng đóng góp vào cho tăng trưởng của cả nước Tốc độ tăng trưởng bình quân thời
kỳ 2006-2009 là 11,32%, cao hơn 1,24 lần so thời kỳ 2001-2005 Ngoại trừ ngành nông, lâm, thủy sản đạt mức tăng trưởng thấp hơn so với thời kỳ trước (3,44% so với 5,18%), còn lại ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ đều đạt mức tăng trưởng cao hơn, tương ứng là 13,34% và 15,48% So với cả nước, tốc độ tăng trưởng của hai ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ của tỉnh cũng cao hơn mặt bằng chung của cả nước Cơ cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản và tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp
- xây dựng và dịch vụ
Thành phần kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là hợp tác
xã, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh và công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Điều này cho thấy sự phát triển về kinh tế của An Giang tập trung chủ yếu vào doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ gia đình, thiếu cở sở vật chất kĩ thuật và trình độ quản lý, không thu hút được nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp ngoài nước Tuy An Giang đã tận dụng khá tốt các lợi thế để phát triển kinh
tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và dịch vụ luôn đóng góp giá trị lớn trong GDP của tỉnh Điều này đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vững chắc, là một bước chạy đà tốt cho sự phát triển kinh tế xã hội
Trang 332.1.5 Về tình hình tôn giáo, tín ngưỡng
- Toàn tỉnh An Giang hiện có 11 tôn giáo được công nhận với 508 cơ sở thờ tự hợp pháp và trên 200 cơ sở tín ngưỡng, dân gian, gần 1,8 triệu tín đồ và khoảng 4000 chức sắc, chức việc Tình hình hoạt động tôn giáo cơ bản ổn định, các sinh hoạt tôn giáo ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ pháp luật của Nhà nước, hài hòa giữa việc đời việc đạo
* Về tôn giáo và đặc trưng văn hóa người Chăm ở An Giang
Ở An Giang hiện nay có khoảng trên 5.400 khẩu với trên 17.000 người Chăm, sống tập trung ở các xã Khánh Hòa, Vĩnh Trường, Phú Hiệp, Châu Phong, Khánh Bình, Nhơn Hội, Quốc Thái và Đa Phước thuộc địa bàn 3 huyện: An Phú, Phú Tân
và Tân Châu Người Chăm ở đây theo đạo Hồi giáo Islam, có những nét sinh hoạt văn hóa riêng biệt Họ cư trú trong những ngôi nhà sàn khang trang Có hai loại nhà sàn: “nhà sàn tốp” là nhà có 4 kèo tiếp giáp với cột giữa ở trước, “nhà sàn hấp” là loại nhà có hai kèo tiếp giáp với cột giữa và hai kèo kia gởi phân nửa qua cột giữa, phân nửa qua kèo Mái nhà lợp ngói hoặc lá, thường có bốn gian và một nhà bếp riêng Hai gian ngoài dùng để tiếp khách nam, hai gian trong dùng để ngủ và tiếp khách nữ Giữa hai gian có một vách ngăn, có cửa ra vào và che rèm thêu kết tua rất đẹp Trước nhà có hàng ba, có cầu thang, khi lên nhà giày dép của chủ nhà và khách đều để phía dưới cầu thang Khi khách đến nhà, chủ nhà trải chiếu mời khách ngồi nói chuyện,
ăn bánh và uống nước trà Người Chăm không dùng bàn ghế trong nhà Ngày xưa, phụ nữ Chăm thường bị cấm cung, không cho tiếp xúc người ngoài Ngày nay tập quán này đã được thay đổi dần, phụ nữ Chăm được đi học, mua bán và giao tiếp với
xã hội Người Chăm An Giang nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm truyền thống, con gái khoảng 11-12 tuổi đã được mẹ và bà truyền nghề dệt Thổ cẩm Chăm hiện nay chủ yếu dùng nguyên liệu từ sợi công nghiệp, nhưng vẫn giữ được phương pháp nhuộm
58 màu truyền thống từ nước nấu củ, vỏ, lá cây rừng và họa tiết hoa văn độc đáo, mang bản sắc riêng Nét độc đáo của văn hóa người Chăm ở An Giang là lễ hội Trong
đó lễ cưới và lễ Ramadan là ấn tượng nhất
Trang 34- Lễ hội của người Chăm: Người Chăm ở An Giang hầu hết là tín đồ Hồi Giáo (Islam) Vì vậy thời gian các lễ hội của người Chăm đã tiến hành theo Hồi lịch và được tổ chức hàng năm tại các Thánh đường ở mỗi địa phương Lễ Ramadan là một trong những lễ hội lớn tập trung nhiều người tại Thánh đường; thu hút thanh niên nhiều nhất là Thánh đường Mubarak thuộc xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân Lễ Ramadan còn là tháng Thánh lễ Ramadan, diễn ra từ ngày 1/9 đến 30/9 Hồi lịch Người Chăm gọi là “pănơh” có nghĩa “tháng nhịn” hay “tháng ăn chay” Đây là tháng để tín đồ tự sám hối sửa chữa Hàng năm còn có lễ hội lớn khác như: Lễ Roya Phik Trok (1/10 Hồi lịch) - Lễ bố thí cho người nghèo, Lễ Roya Haji (10/12 Hồi lịch) - Lễ hành hương đến Mecca (Thánh địa Hồi Giáo),…
2.2 Thực tiễn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm tại tỉnh An Giang
2.2.1 Bảo đảm về pháp lý
Bên cạnh các văn kiện của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước, quyền tự do
TG còn được quy định đầy đủ, chi tiết hơn tại các văn bản pháp luật như Luật
TN-TG, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003…
Luật TN-TG năm 2016 làm rõ quyền tự do TN-TG được quy định trong Hiến pháp gồm có 41 điều và 6 chương: Chương I Những quy định chung có 8 điều đưa ra những quy định chung, giải thích từ ngữ và thể hiện những nguyên tắc trong vấn đề TN-TG Chương II gồm 7 điều quy định về các hoạt động tín ngưỡng và hoạt động
tôn giáo (từ Điều 9 tới Điều 15) – Hoạt động tín ngưỡng của người có tín ngưỡng và
hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc Chương III gồm 10 điều (từ
Điều 16 đến Điều 25) quy định về tổ chức và hoạt động của các nhóm tôn giáo – Tổ
chức tôn giáo và hoạt động của tổ chức tôn giáo Chương IV gồm 8 điều (từ Điều 26
tới Điều 35) quy định về tài sản và hoạt động xã hội của nhóm TN-TG – Tài sản
thuộc cơ sở tín ngưỡng tôn giáo và hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc Chương V gồm 4 điều (từ Điều 36 tới Điều 39) quy định về quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc Chương VI
Trang 35gồm 2 điều 40 và 41 – Điều khoản thi hành [30]
Luật là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất điều chỉnh trực tiếp hoạt động
TN-TG ở nước ta hiện nay, đã quán triệt, thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách và pháp luật về TN-TG của Đảng, Nhà nước được ghi nhận trong các văn kiện và Hiến pháp, đồng thời kế thừa, phát triển những quy định phù hợp, mang tính khả thi, khắc phục những hạn chế, bất cập, đảm bảo tính tương thích với luật pháp quốc tế mà Việt Nam gia nhập
Ngoài hai văn bản quan trọng chính, quan trọng, quyền tự do TN-TG cũng được
đề cập trong các văn bản pháp luật có liên quan khác Điều 47 của Bộ luật Dân sự năm 2005 xác nhận quyền tự do TN-TG như quyền nhân thân cơ bản của công dân:
1 Cá nhân có quyền tự do TN-TG theo hoặc không theo tôn giáo nào
2 Không ai được xâm phạm quyền tự do TN-TG hoặc lợi dụng TN-TG để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác[31]
Việc ghi nhận tự do TN-TG vào các bộ luật cụ thể thể hiện sự quan tâm của Nhà nước cũng như tầm quan trọng của quyền con người này
Tại Điều 129 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân:
Người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền tự do TN-TG theo hoặc không theo một tôn giáo nào đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc
bị phạt tù từ 3 tháng đến một năm[34]
Điều 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ
tôn trọng quyền tự do TN-TG của nhau” Pháp luật không cho phép vợ hoặc chồng
xâm phạm tới quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người kia bởi bất cứ lý do nào[37] Luật Đất đai năm 2013 mở rộng các quy định trong lĩnh vực quản lý đất đai liên quan tới tôn giáo thể hiện sự quan tâm ngày càng tăng đối với vấn đề mang tính thời sự này Theo luật mới thì các cơ sở tôn giáo được hiểu rộng và bao quát hơn khi
đề cập thêm cả Thánh nguyện, niệm Phật đường bên cạnh các địa điểm được liệt kê
Trang 36tại Luật Đất đai năm 2003: Nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trụ sở tôn giáo
và các cơ sơ tôn giáo khác Điểm khác biệt lớn nhất khi so sánh luật cũ và luật mới là
khi định nghĩa về cơ sở tôn giáo là Luật năm 2013 đã bỏ đi chữ “được Nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất”[36Tuy nhiên, Luật Đất đai 2013 cũng đã có
những quy định mới sao cho phù hợp với tình hình thực tế hiện tại và công tác quản
lý được chặt chẽ hơn Điều 7 Luật Đất đai năm 2013 đã quy định người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất tại cơ sở tôn giáo là người đứng đầu nhằm nâng cao tính chịu trách nhiệm cho một tập thể, một tổ chức Ngoài ra một số vấn đề quan trọng như thẩm quyền, căn cứ đối với việc thu hồi đất do sử dụng đất sai mục đích hay mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, dân tộc đã được quy định một cách rõ ràng và đầy đủ hơn so với Luật trước đây góp phần giải quyết các vấn đề liên quan tới đất cơ sở tôn giáo
Điều 19 Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định quan điểm đối với vấn đề tôn giáo
trong lĩnh vực giáo dục: “Không truyền bá tôn giáo, tiến hành các nghi thức tôn giáo
trong nhà trường, cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân”[32]
Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 (có hiệu lực từ 01/01/2012) quy định đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng thì không phải là đối tượng phải chịu thuế tại Điều 3 của luật này
Luật Trẻ em năm 2016 tại Điều 4 quy định về việc nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử với trẻ em dựa trên yếu tố TN-TG
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 tại Điều 2 quy định không thể dùng TN-TG để ngăn cản quyền bầu cử và ứng cử của công dân
Tự do TN-TG trở thành một nguyên tắc trong việc áp dụng các văn bản pháp luật: Không vì TN-TG của ai đó mà họ bị đối xử một cách bất bình đẳng Có thể kể tới như
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004; Bộ luật Tố tụng Hành chính năm 2010, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; Bộ luật Lao động năm 2014
Hiện nay ở Việt Nam hệ thống pháp luật đã nêu rất rõ trong Hiến Pháp về quyền
Trang 37con người và quyền tự do TN-TG được pháp luật nghiêm túc bảo đảm bằng luật tôn giáo, nghị định, thông tư và những văn bản đi kèm để những công chức, viên chức nhà nước làm kim chỉ nam mà thực thi đúng theo đường lối của nhà nước nhằm bảo đảm quyền tự do TN-TG ở từng địa phương Trên thực tế quyền tự do TN-TG thực
tế đối với các cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang, luôn tự do và bình đẳng về tôn giáo được nhà nước bảo vệ và hỗ trợ phát triển, trong đó có mở học viện Phật giáo Nam Tông Khmer được nhập khẩu để phục vụ đào tạo các chức sắc và sinh hoạt tôn giáo của người dân tộc Khmer Người dân tộc Chăm theo đạo Hồi giáo và đạo Bàlamôn được tạo điều kiện thành lập các Ban đại diện cộng đồng để hỗ trợ việc sinh hoạt tôn giáo, gìn giữ và phát triển tôn giáo truyền thống Kinh Thánh song ngữ tiếng việt và Banar/Êđê/Jrai cũng được phát hành để đáp ứng nhu cầu của người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành Với tin thần mà luật TN-TG được nhà nước ban hành năm 2018, tỉnh An Giang đã đề ra những biện pháp hỗ trợ pháp lý dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh An Giang về công tác dân tộc gắn liền với tôn giáo, trong đó có dân tộc Chăm An Giang là một dân tộc đặt thù trong tỉnh An Giang Luôn được lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm sâu sắc Chỉ đạo, quán triệt, tổ chức, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc về quyền tự do TN-TG của các dân tộc tiểu số trên địa bàn tỉnh An Giang nhằm khắc phục tình trạng lạm dụng chức vụ để trục lợi cho cá nhân
Người Chăm An Giang cộng cư với các dân tộc khác trong tỉnh, nhưng vẫn giữ được nét truyền thống trong tổ chức đời sống cộng đồng, văn hoá lễ hội… Người Chăm An Giang là hậu duệ của người Chăm ở miền trung nước ta; chủ yếu theo đạo Islam, có quan hệ giao lưu văn hóa với đồng bào Chăm ở miền trung và TP Hồ Chí Minh, có liên hệ với cộng đồng Islam Đông Nam Á
Theo truyền thống, người Chăm sinh sống tập trung trong các Puk và Paley (tương tự như các xóm, làng của người Việt) An Giang có 9 Paley Chăm là: ParekSabâu (Khánh Bình), Koh Koi (Nhơn Hội), Koh Kakia (Quốc Thái), Pulao Ba (Lama) (Vĩnh Trường), Phũm Soài (Châu Phong), Koh Kapoah (Đa Phước), Mot
Trang 38Churt (Châu Phong), Katampong (Khánh Hoà), Vĩnh Hanh (Châu Thành), Mỹ Long (TP.Long Xuyên) Trong mỗi Paley có thể có nhiều Puk Các Puk, Paley có các ông Ahly, Hakêm… đại diện cộng đồng để quản lý trong ngoài xóm làng Chăm Các ông Ahly và Hakêm được dân làng bầu, phải là người cao tuổi, có uy tín, am hiểu phong tục tập quán, giáo lý Islam, vì mọi người, có lòng vị tha Đồng thời họ cũng phải là người lao động giỏi, có kinh nghiệm trong sản xuất, gia đình hạnh phúc, con cháu hoà thuận
Đạo Islam giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống đồng bào Chăm An Giang Hầu như mọi qui định trong cuộc sống cộng đồng đều bị chi phối bởi giáo lý Islam Tỉnh An Giang có 12 Masjid (thánh đường), 16 surao (tiểu thánh đường) Các thánh đường và tiểu thánh đường là trung tâm tôn giáo và cũng là trung tâm sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Chăm An Giang Đồng thời thánh đường còn được xem là trung tâm của một “Jamaah”- một đơn vị quản lý tín đồ Do đó đã có sự hợp nhất giữa tổ chức tự quản với tổ chức tôn giáo, hình thành các nhóm tự quản Puk
và Paley kiêm quản lý sura o và Masjid, vừa quản việc hành đạo trong “Jamaah” vừa quản lý các vấn đề trong các Puk và Paley
Tổ chức tự quản Puk, Paley do dân làng bầu chọn, có nhiệm vụ trông coi về phong tục tập quán, TN-TG, phân xử những thành viên trong cộng đồng vi phạm Luật tục… Thành viên của “tổ chức tự quản” là những người có uy tín trong tôn giáo, trong các tộc họ, là người am hiểu tập quán, phong tục lễ nghi, TN-TG của người Chăm Người phụ trách “tự quản” Puk là ông Ahly, là người đứng đầu Puk, nếu trong Puk có tiểu thánh đường (surao) thì kiêm luôn việc quản trị tiểu thánh đường Các vấn đề nảy sinh trong Puk sẽ được ông Ahly giải quyết Khi sự việc phức tạp, Ahly khó giải quyết thì sẽ được đưa lên Hakêm
Cùng với “Tổ chức tự quản” trên ở mỗi thánh đường chính thức thành lập một Ban quản trị thánh đường gồm các thành viên:
Đứng đầu là Giáo cả: do Hakêm đảm trách, là người quản trị cao nhất ở thánh đường Islam 2 Phó Giáo cả: do Naif đảm trách, là phụ tá cho Hakêm, là người thay mặt Hakêm giải quyết công việc khi Hakêm vắng mặt Một người phụ trách công tác
Trang 39xã hội, một người phụ trách công tác tôn giáo Ahly: là người phụ trách tiểu thánh đường, giúp việc cho Hakêm Bi-lăk (muszin): người làm nhiệm vụ ngâm những câu
kêu gọi tín đồ làm lễ vào trưa ngày thánh lễ Islam (thứ sáu hàng tuần) Khotip: giảng giải giáo lý cho tín đồ tại thành đường vào ngày thánh lễ thứ sáu hàng tuần I-mâm:
hướng dẫn tín đồ thực hiện nghi thức cầu nguyện vào ngày thánh lễ, thường là nam
tín đồ trưởng thành, am hiểu giáo lý, đạo đức gương mẫu Tuôl (Tuan): là giáo viên
chăm sóc cho trẻ em người Chăm đọc thánh kinh (mọi tín đồ đều phải biết đọc), phụ trách phổ biến giáo lý cho các môn đệ Thường là những người có điều kiện đã được học nhiều năm ở các trường Islam ở Mecca
Ông Seăk: là người chăm sóc dọn dẹp thánh đường sạch sẽ, được tập thể đồng
ý tuyển chọn và được hưởng một số hoa lợi tại thánh đường Qua cách tổ chức trên
ta thấy, Ban quản trị thánh đường Islam bao gồm các thành viên của “Tổ chức tự quản” Do đó đã có sự thống nhất giữa quản lý xã hội và quản lý tôn giáo trong đồng
bào Chăm An Giang
Ban quản trị thánh đường có nhiệm vụ quản lý hoạt động trong “Jamaah”, giải quyết các vụ việc trong Paley do các Ahly giải trình lên, hoặc những việc quan trọng vượt quá tầm của Ahly Ngoài ra Ban quản trị thánh đường còn làm đại diện cho cộng đồng để thực hiện quan hệ đối ngoại với các Paley khác, đồng thời làm đại diện của Paley tiếp xúc, quan hệ với chính quyền địa phương trong việc quản lý xã hội, thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật nhà nước
Ban Đại Diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang được thành lập (mỗi nhiệm
kỳ là 5 năm) gồm các đại biểu của các Ban quản trị thánh đường trong tỉnh Đây là cầu nối vững chắc giữa chính quyền, đoàn thể với đồng bào Chăm theo đạo Islam, bảo đảm cộng đồng Chăm Islam An Giang sống và hành đạo đúng tôn chỉ, mục đích
là "Tôn thờ thượng đế ALLAH, tôn kính đức Nabi MUHAMAD và thiên kinh Qur'an; sống và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đoàn kết tôn giáo- dân tộc góp phần làm cho quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp, xây dựng bảo vệ Tổ quốc XHCN Việt Nam ngày càng ổn định, phát triển”
Tổ chức tự quản ở các Puk, Paley đã hoà quyện vào các Ban quản trị thánh
Trang 40đường Vì vậy vai trò của Ban quản trị thánh đường trong việc duy trì ổn định của cộng đồng Chăm An Giang là rất lớn Tổ chức này có thể xem là cấp cơ sở của Ban đại diện cộng đồng Islam tỉnh An Giang, cùng với Ban đại diện cộng đồng Islam tỉnh
An Giang đồng thời thực hiện hai chức cơ bản là chức năng quản lý tôn giáo và chức năng quản lý xã hội trong cộng đồng Chăm An Giang
Tham mưu UBND tỉnh tổ chức đoàn thăm tặng quà nhân ngày Tết Chôl Chnăm Thmây, lễ Đôn ta của đồng bào Khmer, Lễ Rammadan, Roya Haji của đồng bào Chăm; Tết Nguyên Đán của người Hoa; và các lễ hội văn hóa của đồng bào Khmer, Chăm; tổ chức họp mặt cán bộ công chức, người có uy tín, nhân sĩ trí thức trong đồng bào dân tộc thiểu số nhân các ngày tết dân tộc và hỗ trợ tiền cho đối tượng hộ nghèo
và hộ cận nghèo DTTS được vui xuân đón tết
Xây dựng và triển khai Đề án “ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế xã hội bảo đảm an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn 2019-2025” theo Quyết định 414/QĐ-TTg ngày 12/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ UBND tỉnh hỗ trợ các Thánh đường của người Chăm sửa chữa, xây dựng lò hỏa táng đáp ứng với yêu cầu môi trường; Chính sách hỗ trợ cơ sở vật chất ở các cơ sở thờ tự trong việc tổ chức dạy chữ viết dân tộc để nhằm gìn giữ và bảo tồn các tiếng nói và chữ viết cho các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đẩy mạnh công tác phối hợp tốt với các sở, ngành đã ký kết chương trình công tác phối hợp có liên quan đến công tác dân tộc Quan tâm tổ chức triển khai những nhiệm vụ tại Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 10/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt các chỉ tiêu thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đối với đồng bào dân tộc thiểu số gắn với mục tiêu phát triển bền vững; Quyết định 1527/QĐ-UBND ngày 09/9/2014 của UBND tỉnh về kế hoạch triển khai chương trình hành động thực hiện chiến lược công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2016 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030
Chính quyền luôn quan tâm tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng pháp luật Nhiều cơ sở thờ tự được sửa chữa, xây dựng mới khang trang; nhiều