QUAN
Giải phẫu học đáy chậu
Đáy chậu là thành dưới của ổ bụng [4], nếu nhìn từ dưới lên thấy có hình tứ giác mà 4 đỉnh là:
− Phía sau là xương cụt.
− Ở trước là ngành ngồi mu.
− Ở sau là dây chằng cùng ụ ngồi.
Một đường thẳng nối hai ụ ngồi chia hình tứ giác thành hai phần: phần trước được gọi là tam giác niệu dục và phần sau là tam giác hậu môn.
1.1.1 Tam giác niệu dục (Đáy chậu trước): Ở nam còn gọi là vùng niệu dục, có niệu đạo xuyên qua, từ nông vào sâu gồm các lớp: da, mạc đáy chậu nông, khoang đáy chậu nông, mạc hoành niệu dục dưới, khoang đáy chậu sâu, mạc hoành niệu dục trên và hoành chậu hông
− Mạc đáy chậu nông: là lớp mô dưới da vùng đáy chậu Mạc này gồm hai lớp: lớp mỡ nông và lớp mạc ở sâu
Khoang đáy chậu nông được giới hạn bởi lớp mạc ở dưới và hoành niệu dục dưới ở trên Trong khoang này, có gốc của các tạng cương dương vật cùng với các cơ như cơ ngang đáy chậu nông, cơ ngồi hang, và cơ hành xốp, cùng với mạch máu và thần kinh Các tạng cương được mô tả trong phần cơ quan sinh dục, trong đó thần kinh chủ yếu là nhánh đáy chậu của thần kinh thẹn Chức năng của hai cơ ở hai bên là co lại đồng thời, giúp làm cương dương vật và tống các giọt nước tiểu hoặc tinh dịch cuối cùng ra khỏi niệu đạo.
Các cơ trong ngăn đáy chậu nông chủ yếu có chức năng làm cương dương vật và duy trì sự cương Thần kinh vận động các cơ này đến từ nhánh đáy chậu của thần kinh thẹn, trong khi động mạch đáy chậu, một nhánh của động mạch thẹn trong, cung cấp mạch máu nuôi dưỡng cho chúng.
Khoang đáy chậu sâu được cấu tạo chủ yếu bởi hoành niệu dục, với mặt trên và dưới được che phủ bởi mạc hoành niệu dục trên và dưới Trong khoang này, có sự hiện diện của hai cơ quan quan trọng.
− Cơ thắt niệu đạo: nguyên uỷ ở mặt trong ngành dưới xương mu, bám tận ở đường giữa.
Cơ ngang đáy chậu sâu: nguyên uỷ từ ngành xương ngồi, bám tận trung tâm gân đáy chậu, trong cơ này có tuyến hành niệu đạo.
Trung tâm gân đáy chậu
Nằm ở vị trí trung điểm giữa hậu môn và âm đạo, các cơ ở khu vực này đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng đáy chậu Đặc biệt, đối với nữ giới, chúng hỗ trợ nâng đỡ tử cung và thường bị tổn thương trong quá trình sinh nở.
Hình 1.1 Giải phẫu học đáy chậu [4]
1 Cơ ngồi hang 2 Cơ hành xốp 3 Trung tâm gân đáy chậu 4 Cơ ngang đáy chậu nông 5 Cơ thắt ngoài hậu môn 6 Cơ nâng hậu môn
Có một cơ là cơ thắt ngoài hậu môn gồm có ba phần:
− Phần sâu bọc xung quanh phần trên ống hậu môn.
− Phần giữa đi từ xương cụt, bọc hai bên ống hậu môn để bám tận vào trung tâm gân đáy chậu.
− Phần dưới đi vòng quanh lỗ hậu môn.
Hình 1.2 Các tạng chậu hông và đáy chậu ở nam [4]
Hình 1.3 Đáy chậu và hành niệu ở đạo mặt cắt đứng ngang [4]
Hố ngồi trực tràng là một cấu trúc hình tam giác, với đáy là da và các thành bao gồm cơ nâng hậu môn và cơ bịt trong Phía sau, hố này thông với hố bên kia và phía trước có một ngách giữa hoành niệu dục và cơ nâng hậu môn Trong hố chứa mạch máu, thần kinh trực tràng dưới và mỡ, do đó dễ bị nhiễm trùng.
Hoành chậu hông: Là lớp sâu nhất có hai cơ là cơ nâng hậu môn và cơ cụt.
Cơ nâng hậu môn là một cấu trúc quan trọng tạo nên sàn cơ ở đáy chậu, cho phép niệu đạo, hậu môn và âm đạo ở nữ giới đi qua Cơ này được chia thành ba phần chính: phần mu trực tràng, phần mu cụt và phần chậu cụt.
Cơ cụt: Có thể là cơ hoặc một tấm gân căng từ xương ngồi đến xương cụt và xương cùng.
Triệu chứng sau đi tiểu
1.2.1 Các nghiên cứu đã có về triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu
Bảng 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến triệu chứng sau đi tiểu
Canada và 4 nước Châu Âu 2006
US và Châu Âu 2009 Đông Nam Á 2018 n 19,165 2301 1,551 7470 14000 1,500
Internet Câu hỏi Độ tuổi >= 18 30-79 >= 18 30-80 >= 18 >= 18
1.2.2 Các triệu chứng sau khi đi tiểu Định nghĩa: các triệu chứng mà bệnh nhân trải qua ngay lập tức sau khi đi tiểu bao gồm cảm giác tiểu không hết và nhỏ giọt sau khi đi tiểu Mặc dù thuật ngữ ICS mới đã định nghĩa các triệu chứng sau khi đi tiểu, tuy nhiên các nghiên cứu niệu học cho tới nay tập trung vào các nhóm triệu chứng tống xuất hoặc chứa đựng; triệu chứng sau khi đi tiểu dường như ít nhận được sự chú ý, bất chấp gánh nặng tiềm ẩn của nó tới chất lượng cuộc sống và ảnh hưởng đến sức khỏe hàng ngày.
Cảm giác tiểu không hết là thuật ngữ mà bệnh nhân sử dụng để mô tả tình trạng sau khi đi tiểu Triệu chứng này từng được coi là liên quan đến việc chứa đựng hoặc tống xuất nước tiểu, nhưng đã được phân loại thành triệu chứng sau khi đi tiểu theo báo cáo thuật ngữ ICS năm 2002.
Nhỏ giọt sau khi đi tiểu là hiện tượng mất nước tiểu không chủ ý xảy ra ngay sau khi người bệnh hoàn tất việc đi tiểu, dẫn đến nước tiểu dính vào quần áo Triệu chứng này được phân loại là triệu chứng tống xuất và đã được ghi nhận trong tài liệu ICS từ năm 2002.
Trong nghiên cứu năm 2006 của Irwin, 16,9% nam giới đã được ghi nhận có triệu chứng liên quan đến việc đi tiểu Cảm giác tiểu không hết xuất hiện với tỷ lệ 13,5%, trong khi hiện tượng nhỏ giọt sau khi đi tiểu chiếm 5,5%.
Năm 2009, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc tiểu không hết ở nam giới trong cộng đồng dao động từ 5,4% đến 22,7% Ngoài ra, hiện tượng nhỏ giọt sau khi đi tiểu cũng phổ biến, với tỷ lệ thấp nhất là 14,9% và cao nhất là 29,7%.
Maserejian và cộng sự đã tiến hành một cuộc điều tra dịch tễ học về triệu chứng sau khi đi tiểu và ảnh hưởng của chúng đến chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu từ 2301 người Mỹ từ 30 đến 79 tuổi tham gia Cuộc khảo sát sức khỏe cộng đồng khu vực Boston Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện mắc chung các triệu chứng sau khi đi tiểu là 11,8%, với tỷ lệ này tăng theo độ tuổi Trong số các triệu chứng, nhỏ giọt sau khi đi tiểu là phổ biến và tiểu không hết đặc biệt cho thấy ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, hoạt động hàng ngày và sự rối loạn nhẹ trong tri giác.
Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá định kỳ các vấn đề liên quan đến tiểu tiện, đặc biệt là ở những bệnh nhân có triệu chứng tống xuất Cảm giác tiểu không hết là một trong những phàn nàn phổ biến nhất trong các vấn đề đường niệu Gotoh và cộng sự đã chỉ ra rằng triệu chứng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mà còn độc lập với các triệu chứng tống xuất và chứa đựng.
Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào làm rõ sinh lý bệnh của các triệu chứng xảy ra sau khi đi tiểu Ở nam giới, các bệnh lý liên quan đến niệu đạo như hẹp niệu đạo hoặc bệnh lý van niệu đạo có thể gây ra hiện tượng nhỏ giọt sau khi đi tiểu hoặc tiểu không kiểm soát Nguyên nhân gây ra các triệu chứng này thường liên quan đến chức năng và khó xác định trong hầu hết các trường hợp.
Bader và cộng sự đã phát hiện ra sinh lý bệnh của tiểu nhỏ giọt sau khi đi tiểu ở bệnh nhân cắt tuyến tiền liệt tận gốc, cho thấy quá trình tống xuất nước tiểu qua niệu đạo không hiệu quả Điều này gây rối loạn tính nhạy cảm của niệu đạo màng-không phải niệu đạo hành Mặc dù các bệnh nhân trong nghiên cứu đã trải qua phẫu thuật, quá trình tống xuất nước tiểu qua niệu đạo thường đã gặp vấn đề trước đó Tỷ lệ mới mắc tiểu nhỏ giọt sau đi tiểu tăng theo tuổi tác, cho thấy mối liên quan với những thay đổi sinh lý trong quá trình lão hóa, mặc dù sinh lý bệnh của hiện tượng này vẫn cần được làm rõ.
Cảm giác tiểu không hết thường đi kèm với triệu chứng tống xuất và mất chức năng tống xuất, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng Ngoài ra, bệnh nhân cũng có thể trải qua cảm giác tiểu không hết cùng với các triệu chứng như tiểu gấp hoặc tiểu nhiều lần, điều này có thể liên quan đến sự tăng nhạy cảm của bàng quang.
Triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới
Triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới lớn tuổi thường liên quan đến tuyến tiền liệt, với bế tắc do tuyến tiền liệt được coi là nguyên nhân chính cho đến cuối thế kỷ 20 Thuật ngữ bế tắc do tuyến tiền liệt áp dụng cho hầu hết các triệu chứng đi tiểu lắt nhắt ở người già Ngoài ra, tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (BPH) và các biểu hiện lâm sàng của nó bao gồm kích thước tuyến tiền liệt và mô học lành tính, đều liên quan đến các triệu chứng tiết niệu và sinh lý bệnh của tuyến tiền liệt.
1.3.1 Các nghiên cứu về triệu chứng đường tiết niệu dưới đã có
Bảng 1.2 Các nghiên cứu về triệu chứng đường tiết niệu dưới
TCĐTND bất kỳ (ít nhất 1
TC chứa đựng Không Không Không Không 27 47 46
Tiểu không kiểm soát 5 Không không không 5 3 Không
Tiểu gấp không kiểm soát 2 17 Không 7 1 1 9
Tiểu không kiểm soát khi gắng sức
TC tống xuất Không không không không 26 29 57
Tiểu ngắt quãng Không không 10 không 9 8 19
Tiểu rặn Không không 3 không 7 10 8
Tiểu nhỏ giọt Không không 23 không 14 19 46
Tiểu không thành dòng Không không không không không không 20
Tiểu ngập ngừng 7 46 3 Không không không 20
TC sau đi tiểu Không không không không 17 16 40
Nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu 32 63 Không không 6 8 30
Vào đầu những năm 1990, người ta nhận thấy rằng triệu chứng bế tắc do tuyến tiền liệt không phải lúc nào cũng xuất phát từ tắc nghẽn cơ học Tắc nghẽn đường ra của bàng quang có thể gây cản trở dòng chảy nước tiểu, dẫn đến bí tiểu cấp tính, nhiễm khuẩn niệu, sỏi bàng quang, thận ứ nước hoặc suy thận Ngoài ra, tắc nghẽn cũng có thể do rối loạn chức năng bàng quang, chẳng hạn như tăng hoặc giảm hoạt động cơ chóp bàng quang, hoặc tình trạng bàng quang tăng hoạt.
Hầu hết các nghiên cứu dịch tễ về TCĐTND ở nam giới chủ yếu tập trung vào tỷ lệ phổ biến, không phải tỷ lệ mắc triệu chứng Các nghiên cứu thường sử dụng bảng câu hỏi IPSS để đánh giá 7 triệu chứng của TCĐTND, nhưng chỉ mô tả bệnh nhân có triệu chứng từ trung bình đến nặng (IPSS>7) Điều này dẫn đến việc không làm nổi bật mức độ phổ biến của từng triệu chứng TCĐTND ở từng cá nhân, cũng như không đánh giá toàn diện các triệu chứng liên quan đến chứa đựng, tống xuất, và triệu chứng sau khi đi tiểu.
Nghiên cứu cho thấy triệu chứng tiểu không tự chủ (TCĐTND) có tỷ lệ phổ biến từ 16-52%, với mức độ từ trung bình (IPSS 8-19 điểm) đến nặng (IPSS >19 điểm) TCĐTND thường gặp ở nam giới và tỷ lệ mắc tăng theo độ tuổi Khoảng 11% nam giới trên 40 tuổi đã trải qua tình trạng tiểu không tự chủ trong năm trước, trong khi tỷ lệ này có thể vượt quá 9% ở nam giới trên 60 tuổi Nhiều bảng hỏi đã ước tính tỷ lệ mắc tiểu không tự chủ khoảng 5% ở độ tuổi từ 19.
Tỷ lệ mắc tiểu không tự chủ (TCĐTND) ở nam giới trên 80 tuổi là 32% và có sự khác biệt giữa các quốc gia Tuy nhiên, những khác biệt này chủ yếu xuất phát từ thiết kế hoặc phương pháp nghiên cứu, chứ không phải do yếu tố địa lý.
Trong nhiều năm qua, các nghiên cứu dựa trên quần thể đã chỉ ra tỷ lệ phổ biến của 7 triệu chứng theo thang điểm IPSS và danh sách các triệu chứng tống xuất, chứa đựng và sau đi tiểu Tỷ lệ phổ biến của nam giới có ít nhất 01 triệu chứng TCĐTND dao động từ 47-89%.
Triệu chứng phổ biến nhất liên quan đến tiểu đêm, trong khi triệu chứng tống xuất thường gặp nhất là nước tiểu nhỏ giọt tại chỗ Các triệu chứng đi tiểu ít gặp hơn so với triệu chứng tống xuất và chứa đựng, và mô hình này không thay đổi giữa các quốc gia Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ phổ biến của triệu chứng tiểu đêm tăng rõ rệt ở nam giới cao tuổi.
Các triệu chứng liên quan đến đường tiết niệu dưới thường xuất hiện dưới dạng nhiều triệu chứng thay vì chỉ một triệu chứng đơn lẻ Một trong những nhóm triệu chứng phổ biến là Bàng quang tăng hoạt (OAB), được Hiệp hội tự chủ quốc tế (ICS) định nghĩa là tình trạng tiểu gấp, tiểu nhiều lần và tiểu đêm, có thể kèm theo hoặc không có tiểu không tự chủ.
Việc so sánh tỷ lệ phổ biến các triệu chứng của TCĐTND gặp khó khăn do dữ liệu tự báo cáo có thể bị ảnh hưởng bởi phương pháp khảo sát, dẫn đến sai sót trong việc lấy mẫu và đo lường Sự đa dạng trong kết quả nghiên cứu cũng phản ánh sự khác nhau trong bảng câu hỏi và định nghĩa TCĐTND Thang điểm IPSS, mặc dù phổ biến, lại thiếu các câu hỏi về tiểu không tự chủ và cơn đau, hai triệu chứng ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của nam giới Hơn nữa, các nghiên cứu tự báo cáo không phản ánh chính xác chẩn đoán y khoa, với chỉ khoảng 50% cá nhân cảm thấy triệu chứng khó chịu và tỷ lệ tìm kiếm dịch vụ y tế còn thấp hơn.
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Triệu chứng đường tiết niệu dưới
1.3.3.1 Lão hóa và lối sống
Lão hóa là yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của tiểu đường type 2 Mặc dù tiểu đường type 2 thường được coi là một phần tự nhiên của quá trình lão hóa, nhưng theo Parsons, có nhiều yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh trong suốt quá trình này, có khả năng làm thay đổi thời điểm khởi phát bệnh.
Một nghiên cứu kéo dài 5 năm của Parson và các cộng sự cho thấy, ở nam giới từ 65 tuổi trở lên, việc tăng cường hoạt động thể chất có tác dụng chống lại tình trạng tiểu đường không phụ thuộc insulin (TCĐTND), trong khi béo phì (được định nghĩa là chỉ số BMI ≥ 30) làm gia tăng tỷ lệ mắc TCĐTND lên 41% Kết quả tương tự cũng được Penson và các cộng sự ghi nhận trong một nghiên cứu đoàn hệ 5 năm ở cộng đồng miền Bắc, với đối tượng từ 40 đến 79 tuổi và đa dạng về chủng tộc.
Hội chứng chuyển hóa, bao gồm tăng huyết áp, béo phì, tăng lipid máu và đề kháng insulin, cùng với các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường và hút thuốc lá, đều có mối liên quan với TCĐTND, mặc dù kết quả nghiên cứu còn bị trộn lẫn.
Một nghiên cứu kéo dài 4 năm đã chỉ ra rằng tiền căn bệnh lý mạch vành, trầm cảm và việc tiêu thụ rượu (7 ly hoặc nhiều hơn mỗi tuần) có liên quan đến tình trạng trầm cảm nặng Ngược lại, các yếu tố như chỉ số khối cơ thể (BMI), tăng huyết áp, chế độ ăn uống và hoạt động thể chất không có mối liên hệ đáng kể với tình trạng này.
Quá trình viêm liên quan đến cơ chế bệnh sinh của TCĐTND, với các dấu ấn viêm như yếu tố nguy cơ khách quan Nghiên cứu của Choi và cộng sự cho thấy nồng độ hsCRP ở bệnh nhân TCĐTND từ trung bình đến nặng cao hơn rõ rệt so với bệnh nhân không hoặc chỉ mắc TCĐTND nhẹ Ngược lại, nghiên cứu của Chang và cộng sự trên nam giới từ các phòng khám niệu không tìm thấy mối liên hệ giữa hsCRP và TCĐTND, dẫn đến tranh luận về giá trị của CRP trong chẩn đoán.
Khảo sát trên nam giới trên 30 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc tình trạng rối loạn tình dục (TCĐTND) cao hơn ở những người nhiễm HIV so với những người không nhiễm Đặc biệt, những người nhiễm HIV kèm theo AIDS có tỷ lệ mắc TCĐTND trung bình đến nặng cao hơn so với những người chỉ nhiễm HIV mà không có AIDS.
Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (IPSS)
Thang điểm IPSS là công cụ phổ biến để đánh giá triệu chứng tiểu tiện không bình thường (TCĐTND) khi nghi ngờ có phì đại tuyến tiền liệt (BPO) Được phát triển vào năm 1992 bởi Barry và cộng sự, AUA-SI đã trở thành bảng câu hỏi ngắn hữu ích trong chẩn đoán triệu chứng tống xuất Sau khi được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chấp nhận, AUA-SI đã được đổi tên thành IPSS, bổ sung thêm điểm riêng về chất lượng sống Điểm IPSS giúp xác định mức độ nhận biết triệu chứng của bệnh nhân mắc BPH và ảnh hưởng của chúng đến cuộc sống hàng ngày, đồng thời cung cấp một công cụ thống nhất cho các nhà lâm sàng trong việc đánh giá triệu chứng và so sánh các nghiên cứu lâm sàng.
Mục tiêu ban đầu là phát triển các chỉ số ngắn gọn, dễ thực hành và tự trả lời, có độ nhạy lâm sàng cao để đánh giá mức độ nặng của triệu chứng BPH Ủy ban AUA đã xem xét các chỉ số đã công bố và chưa công bố từ các nghiên cứu điều trị nhằm giảm nhẹ triệu chứng BPO, và xây dựng danh sách câu hỏi bao gồm tất cả triệu chứng phù hợp Chỉ những bệnh nhân có triệu chứng BPH rõ ràng mới được tham gia vào thử nghiệm đầu tiên Sau một nghiên cứu khách quan thứ hai với bảng câu hỏi ngắn hơn và đã được sửa đổi, Ủy ban quyết định giữ lại 7 câu hỏi, đánh giá từ thang điểm 0-5 dựa trên mức độ nặng tăng dần.
IPSS bao gồm 7 câu hỏi liên quan đến các triệu chứng tiểu tiện như tiểu không hết, tiểu nhiều lần, tiểu ngắt quãng, tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu chần chừ và tiểu đêm, với điểm số từ 0 đến 5 cho mỗi câu hỏi, tạo ra tổng điểm từ 0-35 Thêm vào đó, câu hỏi thứ 8 đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân với thang điểm từ 0 đến 6, phản ánh mức độ ảnh hưởng của triệu chứng rối loạn tiểu tiện đến cuộc sống của họ Các triệu chứng được phân loại thành nhẹ (AUA-SI = 5 lần
Tương quan giữa triệu chứng đường tiểu dưới và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
Biểu đồ 3.14 Mức độ hài lòng về chất lượng cuộc sống theo mức độ nặng của triệu chứng đường tiết niệu dưới
Mức độ hài lòng chất lượng cuộc sống Độ nặng của TCĐTND Tổng
Sống được 70 31,8 53 40,5 4 12,1 127 33,1 Sống tạm được 11 5 47 35,9 9 27,3 67 17,5 Sống khó khăn 3 1,4 19 14,5 8 24,2 30 7,8
Trong một nghiên cứu với 384 bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới (IPSS), hầu hết bệnh nhân cảm thấy hài lòng với chất lượng cuộc sống, với 34,4% cho rằng họ sống tốt và 33,1% cho rằng họ sống được Chỉ có 0,8% bệnh nhân cảm thấy khổ sở và 3,9% không thấy cuộc sống bị ảnh hưởng nhiều Ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng nhẹ, 55% cho biết họ sống tốt và 31,8% sống được Đối với nhóm triệu chứng trung bình, 40,5% cảm thấy sống được, trong khi 35,9% sống tạm được Cuối cùng, ở nhóm triệu chứng nặng, 27,3% cho rằng họ sống tạm được, 24,2% sống khó khăn và 27,3% sống khổ sở.
Bảng 3.11 Điểm chất lượng cuộc sống theo độ nặng của triệu chứng đường tiết niệu dưới Độ nặng của TCĐTND Điểm chất lượng cuộc sống p
Ở bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới, chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng điểm trung bình là 1,4 cho mức độ nhẹ, 2,6 cho mức độ trung bình và 3,8 cho mức độ nặng Sự gia tăng điểm số cho thấy chất lượng cuộc sống của bệnh nhân giảm sút, và sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001.
Sự cải thiện của triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn
Trong một nghiên cứu với 423 đối tượng, có 63 bệnh nhân gặp triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu Trong số này, 35 bệnh nhân cảm thấy khó chịu ở mức độ trung bình đến rất khó chịu và đã được hướng dẫn thực hiện các bài tập cơ sàn chậu cũng như mát xa niệu đạo.
− Có 06 trường hợp thất bại vì bệnh nhân không thể tự tập, hoặc không tập thường xuyên 29 TH còn lại bệnh nhân tuân thủ tập sàn chậu.
− 29 trường hợp bệnh nhân được đánh giá lại sau 2 tháng, và tiêu chuẩn đánh giá theo bảng câu hỏi về nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu (câu 9,10,11,12)
− 4 trường hợp không cải thiện chiếm 13,8%
− 15 trường hợp có cải thiện triệu chứng hơn trước 51,7%
− 10 trường hợp bệnh nhân không còn triệu chứng chiếm 34,5%