1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức

95 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Phạm Thị Thùy ĐÁNH GIÁ NỒNG ĐỘ CỒN TRONG MÁU Ở CÁC BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU TẠI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phạm Thị Thùy

ĐÁNH GIÁ NỒNG ĐỘ CỒN TRONG MÁU Ở CÁC BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phạm Thị Thùy

ĐÁNH GIÁ NỒNG ĐỘ CỒN TRONG MÁU Ở CÁC BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

Chuyên ngành: SINH HỌC THỰC NGHIỆM

Mã số: 60420114

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BS NGUYỄN ĐỨC CHÍNH PGS TS NGUYỄN QUANG HUY

Trang 3

- Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, những người

Hà Nội, ngày 03 tháng 03 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Thùy

Trang 4

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATGT : An toàn giao thông

BAC (Blood alcohol concentration) : Nồng độ cồn trong máu

TNGT : Tai nạn giao thông

TNGTĐB : Tai nạn giao thông đường bộ

TNTT : Tai nạn thương tích

UBATGTQG : Ủy ban an toàn giao thông quốc gia

WHO (World Health Organization) : Tổ chức Y tế thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 3

1.1 Chuyển hóa của đồ uống có cồn trong cơ thể 3

1.1.1 Khái niệm đồ uống có cồn 3

1.1.2 Chuyển hóa rượu trong cơ thể con người 3

1.1.3 Cơ chế gây độc của đồ uống có cồn đối với cơ thể con người 4

1.1.4 Tại sao cần xác định mức độ cồn ở nạn nhân tai nạn giao thông đường bộ 5

1.1.5 Khái niệm nồng độ cồn trong máu 6

1.2 Tình hình sử dụng đồ uống có cồn và tai nạn giao thông trên thế giới 6

1.2.1 Tình hình sử dụng đồ uống có cồn liên quan đến lái xe trên thế giới 6 1.2.2 Va chạm đường bộ do sử dụng chất có cồn trên thế giới 8

1.2.3 Ảnh hưởng của đồ uống có cồn đến việc lái xe 9

1.2.4 Ảnh hưởng của đồ uống có cồn tới nguy cơ của một vụ va chạm 11

1.3 Tình hình sử dụng rượu bia và tai nạn giao thông tại Việt Nam 13

1.4 Công tác phòng chống tai nạn giao thông liên quan đến rượu bia: 16

1.4.1 Trên thế giới 16

1.4.2 Tại Việt Nam 17

1.5 Chấn thương sọ não 19

1.5.1 Khái niệm 19

1.5.2 Có những tổn thương gì ngay sau khi bị CTSN 19

1.5.3 Hậu quả của chấn thương sọ não 20

1.5.4 Di chứng tiếp diễn sau chấn thương sọ não 21

1.5.5 Đánh giá độ nặng của chấn thương sọ não theo thang điểm Glasgow 22

Trang 6

1.6 Chấn thương sọ não liên quan đến đồ uống có cồn khi tham gia giao

thông 23

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nhóm nghiên cứu 25

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 25

2.5 Phương pháp nghiên cứu 26

2.6 Biến số nghiên cứu 26

2.7 Quy trình thu thập số liệu tại bệnh viện 27

2.8 Quy trình xét nghiệm BAC ở bệnh nhân CTSN do tai nạn giao thông tại bệnh viện 28

2.8.1 Nguyên tắc phản ứng 28

2.8.2 Các bước chuẩn bị 28

2.8.3 Lấy mẫu bệnh phẩm (máu) 28

2.8.4 Tiến hành xét nghiệm 28

2.8.5 Kết quả 29

2.8.6 Tổng hợp kết quả 29

2.9 Quy trình tổng hợp thông tin 29

2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 31

3.1 Chấn thương sọ não do tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông 31

3.1.1 Tỷ lệ bệnh nhân CTSN do TNGT có nồng độ cồn trong máu 31

Trang 7

3.1.3 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật 37 3.1.4 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo tuổi và giới 38 3.1.5 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo nghề nghiệp 41 3.1.6 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo kết quả xét nghiệm 43 3.1.7 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo tình trạng có hay không đội mũ bảo hiểm 45

3.2 Mối liên quan giữa độ nặng của chấn thương sọ não và nồng độ cồn máu 47

3.2.1 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo chấn thương phối hợp 47 3.2.2 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo thang điểm Glasgow 49 3.2.3 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo phương pháp điều trị 51 3.2.4 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo thời gian nằm viện 51 3.2.5 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo kết quả điều trị 53

KẾT LUẬN 55 KIẾN NGHỊ 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Độ rượu của một số rượu thường gặp 3

Bảng 1.2: Ảnh hưởng của BAC đối với cơ thể và hành vi lái xe 10

Bảng 1.3 Giới hạn BAC cho người điều khiển phương tiện tại các quốc gia và khu vực 12

Bảng 1.4 Cách tính điểm Glasgow 22

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 26

Bảng 3.2 Mức tiêu thụ rượu bia bình quân đầu người qua các năm (từ 15 tuổi) 36

Bảng 3.3 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật 37

Bảng 3.4 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo giới tính 38

Bảng 3.5 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo tuổi 39

Bảng 3.6 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theosố lượng bạch cầu trong máu WBC 43

Bảng 3.7 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theosố lượng hồng cầu trong máu RBC 43

Bảng 3.8 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo 44

Bảng 3.9 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo thể tích hồng cầu trong máu HCT 45

Bảng 3.10 Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo tình trạngcó hay không đội mũ bảo hiểm 45

Bảng 3.11 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo chấn thương phối hợp 47

Bảng 3.12 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo thang điểm Glasgow 49

Bảng 3.13 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo phương pháp điều trị 51

Bảng 3.14 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo theo thời gian nằm viện 51

Bảng 3.15 Phân bố kết quả điều trị của bệnh nhân vi phạm luật theothời gian nằm viện 52

Bảng 3.16 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo theo kết quả điều trị 53

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Tình hình sử dụng chất có cồn theo đơn vị trên thế giới 7 Hình 1.2 Sử dụng chất có cồn và lái xe là yếu tố nguy cơ tử vong tai nạn giao thông 9 Hình 1.3 Ước lượng nguy cơ tử vong tương đối của những lái xe sử dụng chất có cồn theo tuổi và giới trong các vụ va chạm xe cộ đơn lẻ 13 Hình 1.4: Tỉ lệ tử vong giảm ở người lái xe ô tô và mô tô sau khi áp dụng tiêu chuẩn mức BAC tối thiểu là 0,05g/100ml, Úc, 1981-2001 17 Hình 3.1 Phân bố BAC của bệnh nhân CTSN do TNGT 32 Hình 3.2 Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo nghề nghiệpnồng độ Hemoglobin trong máu HGB 44

Trang 10

MỞ ĐẦU

Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo, mỗi năm có gần 1/3 số nạn nhân tử vong trong số 5,8 triệu người chết do tai nạn thương tích, dự tính đến năm 2030 tai nạn thương tích vẫn là một trong số 20 nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới, trong đó tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại hình tai nạn thương tích Tai nạn giao thông đã và đang là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong y

tế công cộng với tỷ lệ mắc là tử vong cao nhất trong các loại hình tai nạn thương tích toàn cầu Khoảng 1,2 triệu người chết và hàng triệu người bị thương tích hoặc tàn tật vì tai nạn giao thông hàng năm Một trong những nguyên nhân hàng đầu của tai nạn giao thông là do uống rượu-lái xe [62]

Tại Mỹ, nửa triệu người bị thương và 17.000 người tử vong mỗi năm do các

vụ va chạm giao thông liên quan đến sử dụng đồ uống có cồn trước khi lái xe Hầu hết 40% tổng số trường hợp thanh niên tử vong do tai nạn giao thông đường bộ có liên quan trực tiếp tới việc tiêu thụ chất có cồn [50]

Việt Nam là một trong các quốc gia có tỷ lệ nạn nhân tai nạn giao thông cao trên thế giới Số liệu của Cục quản lý Môi trường Y tế cho thấy tử vong do tai nạn thương tích tại các bệnh viện từ 2005 đến 2009 chiếm 15% tử vong chung Trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, tai nạn giao thông có tỷ suất tử vong cao nhất chiếm từ 18 đến 20 người trên 100.000 dân, cao gấp 2,4 lần so với đuối nước

và ngộ độc, gấp 5 lần so với tự tử và các loại thương tích khác [7] Theo kết quả khảo sát quốc gia công bố mới đây về tai nạn thương tích tại Việt Nam (VNIS

35.000 tử vong do tai nạn thương tích, tỷ suất tử vong do tai nạn thương tích năm 2010 là 38,6/100.000 dân, so với năm 2001 là 88/100.000 có sự thay đổi lớn nhưng tỷ lệ còn cao [8] Sử dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông được coi là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến tai nạn giao thông Các số liệu thống kê của Việt Nam cho thấy có tỷ lệ khá lớn người tham gia giao thông bị tai nạn có sử dụng rượu bia Cục Quản lý môi trường Y tế thống kê trong năm tháng

Trang 11

Giang cho thấy trong 1453 trường hợp tai nạn thương tích, tai nạn giao thông chiếm 60%, trong đó, số trường hợp bị tai nạn giao thông có sử dụng chất uống có cồn chiếm 45% [10] Số liệu của Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt từ năm 2000-2004, tỷ lệ người tham gia giao thông bị xử phạt vì sử dụng rượu bia cho thấy càng về cuối tuần, tỷ lệ người sử dụng rượu bia tham gia giao thông càng tăng lên Theo điều tra hộ gia đình, có 3,6% những người sử dụng rượu cho biết bị tai nạn giao thông do uống rượu, tỷ lệ này ở người sử dụng bia là 1,2% [50]

Mặc dù có nhiều nghiên cứu đề cập đến tình trạng người tham gia giao thông

bị tai nạn liên quan đến việc sử dụng đồ uống có cồn, nhưng các nghiên cứu sâu về ảnh hưởng đồ uống có cồn đến tai nạn giao thông, đặc biệt là tai nạn gây chấn thương sọ não, nguyên nhân hàng đầu gây thương tật và tử vong hầu như có rất ít hoặc chưa được công bố trong thời gian gần đây tại Việt Nam do phương tiện xét nghiệm và điều luật còn đang trong quá trình hoàn thiện

Bệnh viện Việt Đức - trung tâm ngoại khoa tuyến cuối của Việt Nam với số lượng bệnh nhân ngoại khoa vào khám và cấp cứu lớn, trong đó số trường hợp tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất Với đội ngũ cán bộ được trang bị kỹ năng tham gia nghiên cứu tốt, nhiều kinh nghiệm; trang thiết bị của bệnh viện Việt Đức mới, chính xác, việc tiến hành nghiên cứu sẽ đảm bảo độ tin cậy Thông tin về tác hại của đồ uống có cồn liên quan đến tại nạn giao thông nói chung, đến các nạn nhân chấn thương sọ não nói riêng là cần thiết, giúp cho việc khuyến cáo và đưa ra các phương pháp phòng tránh tai nạn giao thông hiệu quả hơn

Do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” với mục đích :

1- Tìm hiểu tỷ lệ bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông

2- Đánh giá mối liên quan giữa độ nặng của chấn thương sọ não và nồng

độ cồn trong máu

Trang 12

Chương 1 – TỔNG QUAN

1.1 Chuyển hóa của đồ uống có cồn trong cơ thể

1.1.1 Khái niệm đồ uống có cồn

Thuật ngữ “đồ uống có cồn” theo nghĩa thuần tuý là “ethyl ancohol hay ethanol”, một loại chất lỏng thu được từ việc lên men đường, nhưng theo nghĩa rộng nhất, thuật ngữ này được dùng để chỉ “các loại đồ uống như bia, rượu và rượu mạnh

có thể khiến con người bị say” [34]

Độ rượu là tỷ lệ thể tích ethanol trên thể tích dung dịch [55] Ví dụ: rượu Vokda có độ 40% tức là trong 100 ml rượu có 40 ml ethanol

Bảng 1.1 Độ rượu của một số rượu thường gặp

Loại đồ uống Độ rượu Loại đồ uống Độ rượu

1.1.2 Chuyển hóa rượu trong cơ thể con người

Khi uống rượu vào cơ thể, nó được hấp thu nhanh 20% tại dạ dày và 80% tại ruột non, sau 30-60 phút toàn bộ rượu được hấp thu hết Sau khi hấp thu, rượu được chuyển hóa chủ yếu tại gan (90%) Một lượng nhỏ rượu còn nguyên dạng (khoảng 5-10%) thải ra ngoài qua mồ hôi, hơi thở và nước tiểu Người lớn không nghiện chuyển hóa khoảng 7-10g ethanol một giờ với sự giảm dần nồng độ ethanol máu xấp xỉ 15-20mg/dL/giờ Người nghiện rượu hoặc đã dung nạp có thể chuyển hóa nhanh hơn và nồng độ ethanol máu có thể giảm với tốc độ 30-40 mg/dL/giờ Như

Trang 13

Quá trình chuyển hóa của rượu tại gan chia làm 3 giai đoạn:

- GĐ 1: chuyển ethanol thành acetaldehyd qua 3 con đường chuyển hóa: Enzyme ADH (alcohol dehydrogenase) là con đường chính >80%, oxy hóa ethanol thông qua việc làm tăng NADH dẫn đến tăng tỷ lệ NADH/NAD+ ; hệ thống microsome gan (MEOS): hoạt động ít khi nồng độ rượu thấp và tăng hoạt động khi nồng độ rượu cao và người nghiện rượu; hệ thống peroxidase-catalase: tham gia rất

ít trong chuyển hóa ethanol

- GĐ 2: Chuyển acetaldehyd thành acetate nhờ enzyme ALDH (Acetaldehyd dehydrogenase) cũng thông qua việc biến NAD thành NADH

- GĐ 3: Acetate thành AcetylCoenzyme A đưa vào chu trình Krebs chuyển hóa thành CO2 và nước Tốc độ chuyển hóa của acetate trong chu trình Krebs phụ thuộc vào lượng Thiamine trong máu

Ethanol + NAD Acetaldehyde + NADH + H+

1.1.3 Cơ chế gây độc của đồ uống có cồn đối với cơ thể con người

Ethanol gây độc cho các cơ quan trong cơ thể qua 2 cơ chế chính: qua hệ thống thần kinh và qua rối loạn chuyển hóa

- Qua hệ thống thần kinh: Ethanol làm suy giảm cả 2 quá trình hưng phấn và

ức chế hệ thần kinh trung ương Thực hiện điều này bằng 3 cách:

1 Ức chế dẫn truyền TK thông qua hệ Acetylcholine giảm tổng hợp Acetylcholine mà acetylcholine là chất dẫn truyền thần kinh của hệ phó giao cảm

2 Ức chế dẫn truyền TK thông qua hệ GABA bằng cách kích thích GABA mà GABA là chất ức chế hệ thống não

3 Ức chế dẫn truyền TK thông qua hệ NMDA Có 2 acid amine kích thích trong hệ thống TKTW là: Glutamate và Aspartat NMDA là 1 receptor của

Trang 14

glutamate Ngộ độc rượu cấp ức chế NMDA (gây giải phóng dopamine gây nghiện), ngộ độc rượu mạn tái hoạt NMDA

- Qua rối loạn chuyển hóa: Toan chuyển hóa: Toan lactic: do ethanol làm tăng NADH, mà NADH luôn có xu hướng loại trừ 1 ion H+ để thành NAD+, ion H+ đó

sẽ kết hợp với oxy để acid pyruvic đi vào chu trình Krebs Khi có quá nhiều NADH

và H+, acid pyruvic sẽ kết hợp với H+ thành lactate Toan cetone: Uống rượu làm giảm thiểu năng lượng, có thể có hạ đường huyết Dẫn đến tăng phân hủy glycogen

dự trữ ở gan Khi đó sẽ xuất hiện 2 cơ chế điều hòa của cơ thể nhầm làm tăng ĐH là: giảm tiết insuline và tăng tiết glucagon Điều này sẽ làm tăng chuyển acid béo tự

do vào trong tế bào gan, thúc đẩy quá trình oxy hóa acid béo thành acetyl coA (sản phẩm thoái hóa cuối cùng của G,P,L) Rồi sau đó acetylcoA biến thành acetoacetate gây toan cetone Toan hỗn hợp: phối hợp 2 cơ chế trên

- Hạ : Cơ chế do ethanol làm giảm tổng hợp cortisol, giảm tổng hợp GH, và có thể làm tăng bài tiết Insuline , ngoài ra còn do uống rượu nhiều nên người bệnh sẽ ăn kém [54,55]

1.1.4 Tại sao cần xác định mức độ cồn ở nạn nhân tai nạn giao thông đường bộ

Ngộ độc chất có cồn khiến việc đánh giá và điều trị nạn nhân trở nên phức tạp:

- Các ảnh hưởng của chất có cồn có thể lẫn với các triệu chứng chấn thương sọ não

- Ngộ độc chất có cồn khiến cho nạn nhân bị chấn thương nghiêm trọng hơn

- Bệnh nhân bị say rượu có thể không nói được chỗ bị đau hay bị tổn thương

- Chất cồn có thể tương tác với các loại thuốc khác, đặc biệt là loại thuốc giảm đau và gây buồn ngủ

- Say rượu có thể gây phức tạp cho việc phẫu thuật, ảnh hưởng tới lựa chọn thuốc gây mê và cách giảm đau

Chất có cồn làm nghiêm trọng hơn các bệnh mạn tính:

Trang 15

- Bệnh nhân ngộ độc rượu (đồ uống có cồn) có thể đang bị các bệnh lý hoặc thần kinh khác làm khó khăn cho việc điều trị

- Say rượu làm nặng thêm các bệnh trước đó của bệnh nhân như các bệnh về tim, chứng máu không đông và bệnh nhiễm trùng

Chất có cồn làm tăng khả năng tái phạm:

- Bệnh nhân có sử dụng chất có cồn khi bị thương sẽ có nhiều nguy cơ lại bị thương sau đó

- Trong nhóm vi phạm quy định sử dụng chất có cồn và lái xe, nhiều người trong đó vi phạm nhiều lần

Chất có cồn có thể gây ra các biến chứng:

- Bệnh nhân ngộ độc chất có cồn có nguy cơ cao bị biến chứng trong giai đoạn hồi phục, thường gặp là nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng như bệnh viêm phổi, viêm da… [32,55]

1.1.5 Khái niệm nồng độ cồn trong máu (Blood Alcohol Concentration = BAC)

Trên thế giới hiện nay sử dụng hai khái niệm nồng độ cồn là nồng độ cồn trong máu (BAC: Blood Alcohol Concentration) và nồng độ cồn trong huyết thanh (SAC: Serum Alcohol Concentration) Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới có quy định về nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông, khái niệm hay được sử dụng là nồng độ cồn trong máu BAC Tỷ lệ quy đổi SAC:BAC nằm trong khoảng 1,04 đến 1,26 [54]

1.2 Tình hình sử dụng đồ uống có cồn và tai nạn giao thông trên thế giới

1.2.1 Tình hình sử dụng đồ uống có cồn liên quan đến lái xe trên thế giới

Tình hình sử dụng chất có cồn và sau đó lái xe có sự khác biệt đáng kể trên thế giới Tại những quốc gia tiêu thụ chất có cồn, những người uống cũng là người cầm lái Việc nhận thức được tình hình sử dụng chất có cồn và phòng tránh nguy cơ

và tiêu thụ có hại là nhân tố cơ bản để giảm tác hại chất có cồn nói chung, bao gồm

cả giảm va chạm đường bộ Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiêu thụ chất có cồn tại mỗi quốc gia bao gồm các nhân tố về môi trường, kinh tế- xã hội, tôn giáo, đặc

Trang 16

Báo cáo thực trạng toàn cầu về chất có cồn năm 2004 của WHO đã cho thấy

sự khác biệt đáng kể về tỉ lệ người kiêng rượu, người nghiện rượu nặng và thường xuyên say xỉn tại các nước [57] Ví dụ, tỉ lệ người kiêng rượu trong đối tượng dân

số trẻ theo báo cáo là khá thấp tại Luxembourg (2-5%) trong khi tỷ lệ này là 99,5% tại Ai Cập Những người nghiện rượu nặng (luôn vượt quá mức độ và số chén mỗi lần hoặc uống hàng ngày) chỉ chiếm 1-4% tại Ấn Độ, nhưng tại Colombia, tỷ lệ này

Trang 17

1.2.2 Va chạm đường bộ do sử dụng chất có cồn trên thế giới

TNGT đã trở thành nguy cơ đe dọa sức khoẻ và tính mạng cộng đồng lớn nhất ở Châu Á-Thái Bình Dương, với hơn 10 triệu người bị thương và thiệt mạng mỗi năm Thông tin này được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương đưa ra ngày 5/4/2004 [57]

WHO dự báo nếu xu hướng hiện nay còn tiếp tục duy trì, TNGT sẽ trở thành nguyên nhân gây hại cho sức khoẻ con người đứng hàng đầu thế giới vào năm 2020, chỉ sau bệnh đau tim và trầm cảm Khi đó số người chết và thương tật do TNGT sẽ tăng hơn 60% hiện nay Đằng sau nỗi đau thể xác, tinh thần, TNGT còn tác động mạnh tới xã hội

Ngoại trừ một số quốc gia nghiêm cấm sử dụng chất có cồn, sự ảnh hưởng của rượu bia là yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ va chạm giao thông đường bộ

và mức độ nghiêm trọng, hậu quả của chấn thương do va chạm Tần suất sử dụng chất có cồn và lái xe khác nhau giữa các quốc gia, nhưng hàng thập kỉ nghiên cứu

đã cho thấy những lái xe sử dụng chất có cồn có nguy cơ bị va chạm đường bộ cao hơn nhiều so với các lái xe không sử dụng chất có cồn

Sử dụng rượu bia dù chỉ một lượng rất nhỏ cũng làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông đặc biệt đối với người điều khiển phương tiện giao thông và người đi bộ Rượu bia không chỉ làm giảm tầm nhìn, thời gian xử lý mà còn tác động đến việc phán đoán tình huống và các yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông như vượt quá tốc độ, không đội mũ bảo hiểm, không thắt dây an toàn Theo Báo cáo thế giới về phòng chống tai nạn thương tích (TNTT), hầu hết các nước có mức thu nhập cao, khoảng 20% lái xe bị thương tích dẫn đến tử vong có lượng cồn trong máu vượt quá giới hạn cho phép Ngược lại, nghiên cứu ở những nước có mức thu nhập thấp và trung bình cho thấy từ 33-69% lái xe bị thương tích tử vong và 8-29% các lái xe bị các chấn thương không tử vong có sử dụng chất có cồn trước khi xảy ra va chạm [52] Ảnh hưởng của chất có cồn lên các va chạm gây tử vong của một số nước được trình bày trên hình 1.2

Trang 18

1.2.3 Ảnh hưởng của đồ uống có cồn đến việc lái xe

Tác dụng tức thời của chất có cồn lên não bộ có thể vừa làm ức chế và vừa làm kích thích tự nhiên, phụ thuộc vào lƣợng tiêu thụ (bảng 1.1) Theo một cách khác, chất có cồn gây ra sự suy yếu, làm tăng khả năng bị va chạm do nó làm giảm khả năng phán đoán, tăng thời gian phản ứng, cảnh giác thấp hơn và giảm nhạy bén trong quan sát Theo sinh lý học, chất có cồn làm giảm áp lực máu và ức chế trạng thái tỉnh táo và hô hấp Chất có cồn cũng làm giảm cảm giác đau và có khả năng gây mê Chất có cồn có thể làm suy giảm sự phán đoán và làm tăng nguy cơ va chạm mặc dù BAC chỉ ở mức thấp [46]

Trang 19

Bảng 1.2: Ảnh hưởng của BAC đối với cơ thể và hành vi lái xe [46]

BAC (g/100 ml) Những ảnh hưởng tới cơ thể

0,01-0,05

Tăng nhịp tim và nhịp thở Giảm các chức năng thần kinh trung ương Mâu thuẫn khi thể hiện các hành vi cư xử Giảm khả năng phán đoán và sự ức chế Cảm thấy phấn chấn, thư giãn và thoải mái

0,06-0,10

Giảm đau về mặt sinh lý ở hầu như toàn bộ cơ thể Giảm sự chú ý và cảnh giác, phản ứng chậm, làm giảm sự phối hợp và giảm sức mạnh của các cơ bắp

Giảm khả năng đưa ra các quyết định dựa trên lý trí hoặc khả năng đánh giá

Tăng sự lo âu và chán nản Giảm tính kiên nhẫn

0,10-0,15

Phản ứng chậm một cách rõ ràng Suy giảm khả năng giữ cân bằng và di chuyển Suy giảm một số chức năng thị giác

Nói líu lưỡi Nôn, đặc biệt nếu BAC tăng lên nhanh

Tử vong (nhiều trường hợp)

≥ 0,40

Hôn mê Ngưng thở

Tử vong, thường do suy hô hấp

Trang 20

1.2.4 Ảnh hưởng của đồ uống có cồn tới nguy cơ của một vụ va chạm

Sự suy giảm do đồ uống có cồn có ảnh hưởng rõ ràng tới nguy cơ bị tai nạn của người lái xe và người đi bộ và thường được báo cáo như một yếu tố nghiêm trọng góp phần gây tai nạn giao thông đường bộ ở các nước cơ giới hóa Người lái

xe sử dụng chất có cồn có nguy cơ bị va chạm cao hơn nhiều so với những người không có cồn trong máu, và nguy cơ này tăng lên nhanh chóng cùng với sự gia tăng BAC Đối với những người điều khiển xe môtô, nếu BAC trên 0,05 g/100 ml được ước lượng là có nguy cơ bị va chạm cao gấp 40 lần so với những người có BAC bằng 0 [36]

Năm 1964, một nghiên cứu bệnh chứng được tiến hành tại Michigan, Mỹ đã chỉ ra rằng những người lái xe có sử dụng đồ uống có cồn có nguy cơ bị va chạm cao hơn nhiều so với những người có mức BAC bằng 0, và nguy cơ này tăng lên nhanh chóng cùng với sự tăng của mức độ cồn trong máu [29] Những kết quả này

đã được chứng thực và tăng cường thông qua các nghiên cứu trong những năm 80,

90 và vào năm 2002 [30,37,48]

- Người lái xe ô tô và xe máy có BAC > 0 đã là đối tượng nguy cơ cao của thương tích giao thông đường bộ hơn là người không sử dụng chất có cồn Trong nhóm lái xe chung, khi mức BAC bắt đầu tăng từ 0, nguy cơ bị va chạm bắt đầu tăng đáng kể ở mức BAC bằng 0,04g/ 100ml

- Lái xe trẻ chưa có kinh nghiệm: nếu có mức độ BAC từ 0,05g/ 100ml thì nguy

cơ va chạm giao thông tăng gấp 2,5 lần so với nhóm đã có kinh nghiệm lái xe

- Lái xe trẻ từ 20-29 tuổi: có nguy cơ cao gấp 3 lần so với nhóm trên 30 tuổi ở mọi mức BAC

- Lái xe tuổi vị thành niên: có nguy cơ bị va chạm giao thông tử vong gấp 5 lần

so với nhóm tuổi trên 30 ở mọi mức BAC

- Lái xe vị thành niên có BAC 0,03 g/100ml chở từ 2 người trở lên có nguy cơ

bị va chạm giao thông cao gấp 34 lần so với lái xe 30 tuổi trở lên không sử dụng chất có cồn và không chở khách

Trang 21

- Việc lái xe sử dụng chất có cồn làm tăng nguy cơ bị va chạm của người đi bộ

và đi xe hai bánh có động cơ

Những nghiên cứu này cung cấp cơ sở cho việc thiết lập giới hạn hợp pháp của lượng cồn trong máu và hơi thở tại rất nhiều quốc gia trên thế giới (bảng 1.2) [52]

Bảng 1.3 Giới hạn BAC cho người điều khiển phương tiện tại các quốc gia và khu vực [52]

Nước hoặc khu vực BAC (g/100ml)

Zimbawe 0,08 Nhật 0,00 Lesotho 0,08

*Tùy theo luật pháp từng bang

Trang 22

Những nghiên cứu đó cũng tìm ra nguy cơ tương đối gây ra va chạm bắt đầu tăng rõ rệt khi BAC đạt mức 0,04g/dl và ở mức 0,1 g/100 ml thì nguy cơ tương đối xảy ra va chạm cao gấp 5 lần so với mức BAC bằng 0, và khi mức BAC là 0,24 g/100 ml thì nguy cơ va chạm cao gấp 140 lần so với nguy cơ tương đối ở mức BAC bằng 0 [43]

Hình 1.3 Ước lượng nguy cơ tử vong tương đối của những lái xe sử dụng chất có cồn

theo tuổi và giới trong các vụ va chạm xe cộ đơn lẻ [43]

1.3 Tình hình sử dụng rượu bia và tai nạn giao thông tại Việt Nam

Việc sử dụng rượu bia là một thói quen mang đậm nét văn hóa truyền thống

ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Sử dụng rượu bia hợp lý sẽ đem lại cho con

người cảm giác hưng phấn, khoan khoái Tuy nhiên nó lại có thể gây nghiện và gây

ra các tác hại khác, đặc biệt là sử dụng rượu bia trước khi tham gia giao thông dễ gây tai nạn

Theo số liệu thống kê của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia (UBATGTQG) trong riêng 09 ngày Tết Nguyên đán 2014 đã xảy ra 338 vụ TNGT làm 286 người chết và 324 người bị thương Trong tháng 02/2014 xảy ra hơn 2700

Trang 23

mỗi ngày xảy ra 33 vụ TNGT, làm chết 30 người, 75 người bị thương Các chuyên gia cũng cho rằng một trong những nguyên nhân liên quan đến mùa lễ hội và việc uống đồ uống có cồn khi tham gia giao thông tăng cao vào dịp này Như vậy, chỉ riêng 02 tháng đầu năm 2014 đã có trên 1800 người chết vì TNGT (Nguồn UBATGTQG)

Theo nghiên cứu ”Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam” của Viện Chiến lược và Chính sách y tế, tỷ lệ tham gia giao thông có sử dụng rượu bia nhiều nhất thuộc về những người điều khiển xe máy Tại Sơn La, bệnh nhân bị tai nạn giao thông do sử dụng rượu bia nhập vào khoa ngoại của Bệnh viện đa khoa tỉnh chiếm từ 7-10% Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, hàng năm có từ 15-20% bệnh nhân nhập viện do tai nạn giao thông, 2/3 trong số đó khi nhập viện hơi thở có cồn (chiếm 5-7% tổng số bệnh nhân) [50]

Số liệu của Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt từ năm 2000-2004,

tỷ lệ người tham gia giao thông bị xử phạt vì sử dụng rượu bia cho thấy càng về cuối tuần, tỷ lệ người sử dụng rượu bia tham gia giao thông càng tăng lên Theo điều tra hộ gia đình, có 3,6% những người sử dụng rượu cho biết họ đã bị TNGT do uống rượu, tỷ lệ này ở người sử dụng bia là 1,2% Nam giới chiếm tỷ lệ cao nhất trong số người được xét nghiệm lạm dụng rượu bia Liên quan đến nghề nghiệp thì nông dân là nhóm có tỷ lệ sử dụng rượu cao nhất [50]

Nghiên cứu của Hiệp hội An toàn Đường bộ Toàn cầu (GRSP) về tình trạng

sử dụng bia rượu khi tham gia giao thông được thực hiện từ tháng 11/ 2008 đến tháng 05/2009 tại hai trung tâm lớn về cấp cứu chấn thương của Việt Nam và Hà Nội là bệnh viện Việt Đức và Xanh Pôn, cho thấy tình trạng sử dụng bia rượu trong tham gia giao thông khá phổ biến, tỷ lệ nạn nhân có BAC lên tới 56,4%, trong đó 33,4% có BAC vượt quá quy định theo Luật GTĐB năm 2008 [39]

Theo số liệu nghiên cứu giám sát đo BAC của bệnh nhân tai nạn giao thông nhập viện ở 5 bệnh viện chấn thương tại Yên Bái, Đà Nẵng, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh và Bệnh viện Việt Đức từ tháng 08 đến tháng 10/2009 của Cục Quản lý môi trường y tế, có 3774 bệnh nhân tai nạn giao thông được xét nghiệm BAC

Trang 24

Trong đó trung bình 67,5% bệnh nhân có BAC với tỷ lệ từ 41% ở Bệnh viện Việt Đức đến 95% ở Bình Dương Trong số bệnh nhân xét nghiệm BAC, có tới 58,5% bệnh nhân có mức giới hạn trên 50 mg/dl Trên 95% lái xe là nam giới [23]

Ngoài ra, nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu chính sách và phòng chống chấn thương về tình hình tai nạn giao thông tại 3 tỉnh Yên Bái, Đà Nẵng và Bình Dương từ 11/2007 đến 2/2008 cho thấy thông tin về sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông của bệnh nhân nhập viện tại 3 tỉnh Trong 3 tỉnh, Yên Bái ghi nhận được 3,8% là có sử dụng rượu/bia khi bị tai nạn giao thông Những nguyên nhân gây TNGT chủ yếu là do ý thức chấp hành giao thông của người dân chưa tốt, kiến thức

về ATGT chưa đầy đủ, điều kiện đường xá xuống cấp và hệ thống biển báo giao thông chưa đầy đủ, mật độ tham gia giao thông ngày càng tăng, bên cạnh nguyên nhân lạm dụng rượu bia khi tham gia giao thông [20]

Do tính chất nghiêm trọng của tai nạn giao thông liên quan đến đồ uống có cồn nên chính phủ đã ra nhiều quy định về việc hạn chế lạm dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông Ngoài những quy định về uống rượu bia khi tham gia giao thông trong Luật giao thông đường bộ 2009 quy định cụ thể: nghiêm cấm người

“điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc

hơi thở có nồng độ cồn”, còn đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy thì

nồng độ cồn trong máu hoặc trong hơi thở không được “vượt quá 50 miligam/100

mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở ” [1] Về phía ngành y tế, Bộ Y tế đã ban

hành Quyết định 1356/QĐ-BYT ngày 18/4/2008 về ghi chép biểu mẫu tình hình tai nạn giao thông tại bệnh viện và Quyết định 933/QĐ-BYT ngày 23/3/2010 về quy định hướng dẫn đo nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân TNGT tại bệnh viện để xác định nồng độ cồn (Ethanol) trong máu phục vụ cho việc chẩn đoán xác định tai nạn giao thông có sử dụng rượu, bia Kết quả này sẽ là cơ sở pháp lý để xét bảo hiểm y tế cho các bệnh nhân bị tai nạn giao thông (với những trường hợp không vi phạm luật An toàn giao thông) Mặt khác, quy trình này giúp cảnh sát xử lý các vấn

đề khác liên quan đến tai nạn giao thông

Trang 25

1.4 Công tác phòng chống tai nạn giao thông liên quan đến rượu bia:

1.4.1 Trên thế giới

Trên thế giới cho đến nay mới có 88 quốc gia (49%) có luật uống rượu- lái

xe sử dụng giới hạn BAC <= 0,05 g/dl 86% các quốc gia ở khu vực Châu Âu có các quy định về BAC, ở các khu vực khác trên thế giới hoặc không có giới hạn BAC hoặc có giới hạn trên 0,05 g/dl [19]

Do nguyên nhân gây tử vong hàng đầu vì TNGT nên chính phủ, các tổ chức quốc tế, các cơ quan ban ngành liên quan đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và đưa

ra những văn bản chính thức để giảm thiểu tử vong do TNGT

Tại Úc, chương trình can thiệp bền vững giảm các vụ va chạm có liên quan đến chất có cồn đã được triển khai từ những năm 1970 Các thông tin nghiên cứu về tác hại của chất có cồn đã được thu thập, và đây là cơ sở để vận động chính sách và phê duyệt qui định về mức độ tối đa BAC cho lái xe Mặc dù cùng theo hệ thống liên bang, song mỗi bang lại chịu trách nhiệm về các vấn đề an toàn đường bộ riêng

Do đó, tiêu chuẩn tối đa về BAC của các bang không có sự đồng nhất Ở một số bang tiêu chuẩn là 0,05 BAC trong khi ở nơi khác là 0,08 BAC Sau khi phê chuẩn qui định về tiêu chuẩn BAC, việc thực thi pháp luật trên diện rộng của cảnh sát giao thông được thực hiện từ những năm 1980 cùng với việc triển khai các chương trình can thiệp khác bao gồm tuyên truyền, vận động cộng đồng, các chương trình tại cộng đồng, thay đổi giấy phép về chất có cồn Sau hơn 30 năm thực hiện, yếu tố chất có cồn trong các vụ va chạm đã giảm một nửa và thái độ của cộng đồng về sử dụng chất có cồn và lái xe đã thay đổi căn bản, theo đó, cộng đồng đã nhận thức rằng sử dụng chất có cồn khi lái xe là hành vi thiếu trách nhiệm xã hội [52]

Trang 26

Hình 1.4: Tỉ lệ tử vong giảm ở người lái xe ô tô và mô tô sau khi áp dụng tiêu chuẩn mức BAC tối thiểu là 0,05g/100ml, Úc, 1981-2001 [52]

Tại Pháp, năm 2002, những hình phạt cho lái xe sử dụng chất có cồn nghiêm khắc hơn và một số luật mới được ban hành An toàn giao thông đường bộ của Pháp trong giai đoạn 2002-2004 là một thành công lớn, khi tử vong do giao thông đường

bộ giảm 32% Kết quả trên là tổng hợp của nhiều biện pháp, trong đó tập trung chủ yếu vào tốc độ và sử dụng chất có cồn khi lái xe [52] Liên quan đến sử dụng chất

có cồn khi lái xe, các biện pháp bao gồm giảm mức độ BAC từ 0,08 (quy định từ năm 1978) xuống 0,05 và 0,02 cho lái xe buýt Việc thực thi pháp luật cũng được triển khai nghiêm túc, như xét nghiệm nồng độ cồn trong hơi thở tăng lên 15% Bên cạnh đó, việc xử phạt cũng nghiêm khắc hơn, trong đó, phạt từ 3 lên 6 điểm nếu BAC từ 0,05 đến 0,08 (phạt đến 12 điểm thì tước bằng lái xe) Kết quả là việc sử dụng chất có cồn và lái xe đã giảm mạnh, năm 2004 giảm 40% so với năm 2003 Một nghiên cứu đã cho thấy 38% số người được cứu sống trong năm 2003 và 2004

do cải thiện hành vi về sử dụng chất có cồn khi tham gia giao thông [33]

1.4.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, ngày 27 tháng 12 năm 2001, Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách Quốc gia phòng, chống tai nạn, thương tích giai đoạn 2002 – 2010 với mục tiêu giảm thiểu tỉ lệ tử vong do tai nạn giao thông

Trang 27

197/2001/QĐ-Việt Nam cũng đã có các chính sách và luật pháp cụ thể nhằm kiểm soát việc

sử dụng rượu bia Rượu bia là sản phẩm áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt, dao động từ 15-75% tùy theo loại sản phẩm và nồng độ của rượu Việc kinh doanh cũng bị hạn chế bằng cách không cho bán bằng máy tự động, không bán ở những điểm công cộng như bệnh viện, trường học, công sở, bến tàu, bến xe,…Ngoài ra, nghị định chính phủ 150/2005/NĐ-CP không cho phép bán rượu cho trẻ em và trẻ vị thành niên (<16 tuổi) [50]

Ngày 18/4/2008, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định 1356/QĐ-BYT về việc báo cáo tình hình tai nạn giao thông tại bệnh viện (Phụ lục 1, 2)

Đến ngày 01/7/2009, Luật Giao thông đường bộ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua thay thế cho Luật giao thông đường bộ ngày 29/6/2001 đã có hiệu lực thi hành Luật Giao thông đường bộ cũng

có quy định chặt chẽ hơn đối với hành vi sử dụng đồ uống có cồn (rượu, bia) của

người điều khiển phương tiện tham gia giao thông, cụ thể: nghiêm cấm người “điều

khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở

có nồng độ cồn”, còn đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy thì nồng độ

cồn trong máu hoặc trong hơi thở không được “vượt quá 50 miligam/100 mililít

máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở ” Như vậy, với những đối tượng điều khiển ô

tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường, do mức độ nguy hiểm cao hơn nên Luật quy định nghiêm cấm sử dụng đồ uống có cồn (rượu, bia ); đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đường, tuy Luật không cấm nhưng quy định nồng độ cồn thấp hơn so với quy định của Luật năm 2001 và là mức 35 nước trên thế giới áp dụng [1, 3]

Đến ngày 1/7/2009, Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 có hiệu lực, tại khoản 12 điều 23 quy định không thanh toán BHYT cho các đối tượng bị thương tổn về thể chất do hành vi vi phạm pháp luật của người đó gây ra

Trong các nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, tỷ lệ người tham gia giao thông gây tai nạn do sử dụng rượu, bia chiếm tỷ lệ khá cao Để thuận lợi cho việc xác minh bệnh nhân có sử dụng rượu bia hay không, ngày 23/3/2010, Bộ Y tế đã

Trang 28

ban hành Quyết định số 933/QĐ-BYT quy định hướng dẫn đo nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân TNGT tại bệnh viện Quyết định này nhằm xác định nồng độ cồn trong máu của những người tham gia giao thông phục vụ cho việc xác định nguyên nhân tai nạn giao thông và làm cơ sở thanh toán BHYT

1.5 Chấn thương sọ não

1.5.1 Khái niệm

Chấn thương sọ não là tình trạng người bệnh bị sang chấn vào đầu gây tổn

thương hộp sọ và các cấu tạo khác bên trong hộp sọ sau tai nạn

CTSN là loại chấn thương tác động mạnh mẽ quá mức bù chỉnh của não, gây rối loạn hàng loạt chức năng hoặc tổn thương thực thể ở não Về mặt tổn thương bệnh lý, CTSN gồm có hai loại là CTSN hở và CTSN kín

- CTSN kín bao gồm tất cả các CTSN có tổn thương sọ não nhưng chưa gây rách màng cứng (màng bao bọc não), chưa gây thông não bộ với môi trường bên ngoài Tổn thương hộp sọ có thể lún sọ, rạn vỡ sọ Tổn thương não gồm chấn động não, giập não, chèn ép não do máu tụ, phù não, lún sọ, tràn khí

- CTSN hở bao gồm tất cả các CTSN gây rách màng cứng, khai thông não bộ với bên ngoài Loại này gây nguy cơ nhiễm khuẩn não cao

Ngoài ra còn nhiều cách phân loại khác như theo bản chất tổn thương não, vị trí tổn thương não…[45,47]

1.5.2 Có những tổn thương gì ngay sau khi bị CTSN

- Máu tụ nội sọ: Quan trọng bậc nhất là sự hình thành máu tụ nội sọ do nhiều

điểm hoại tử não hợp thành hoặc do đứt rách những động mạch lớn do chấn thương quá mạnh Các khối máu tụ này có thể khu trú ở nhiều vùng của não Tùy theo mức

độ chấn thương, máu tụ có thể tập trung ở ngoài màng cứng, dưới màng cứng, trong não, trong não thất, dưới lều tiểu não Trong đó, máu tụ trong não thất là một hậu quả nặng nề của CTSN Khi bị vỡ, đứt các mạch máu lớn, máu tràn vào các não thất đến mức nặng là “lụt não thất” cũng thường xảy ra trong trường hợp xuất huyết não trong đột quỵ mạch máu não

Trang 29

- Phù não: Có hai loại phù não là phù não do căn nguyên mạch và do nhiễm

độc tế bào Trong các hậu quả của CTSN, phù não là biến chứng phổ biến nhất và nguy hại nhất, đe dọa tính mạng nạn nhân

- Thoát vị não: Trường hợp phù não nặng sẽ gây nên thoát vị não Phù não

chèn ép quá mạnh gây nên tình trạng một phần của não bị đẩy ra, chui vào các khoang, khe, lỗ hở, đặc biệt nguy hiểm nhất là thể thoát vị não tại lỗ lớn của xương chẩm gây chèn ép hành tủy, nơi có “nút sống” là trung tâm chi phối hô hấp và tim mạch Do đó, thoát vị não lỗ chẩm là một nguy cơ tử vong trong giây phút nếu không được phát hiện sớm và xử trí tại chỗ kịp thời

- Hội chứng tăng áp lực nội sọ: Tất cả những biến chứng của chấn thương sọ

não, trong đó có vai trò quan trọng của phù não đã dẫn đến hội chứng tăng áp lực nội sọ với ba triệu chứng chủ yếu: đau đầu (cảm giác đau theo nhịp mạch đập, đau giật hay đau như nổ tung đầu Đau với cường độ ngày càng tăng lên làm bệnh nhân kêu rên, la hét); nôn mửa do tăng áp lực nội sọ chèn ép các nhân dây thần kinh sọ não; phù đĩa thị hay phù gai thị

- Thiếu máu não: Tại vùng thiếu máu não sẽ phát sinh những “ổ thiếu máu”

kể cả trong trường hợp thiếu máu não không do chấn thương (thiếu máu não tạm thời hoặc vĩnh viễn, nhồi máu não…) Ở thiếu máu não sẽ hình thành ba vùng: vùng thiếu máu não quá mức sẽ xuất hiện vùng não hoại tử, không hồi phục; vùng bán ảnh là vùng nhu mô não cũng bị thiếu máu tương đối nặng nhưng chưa đến mức hoàn toàn bị hủy hoại, vẫn còn khả năng hồi phục; vùng não nguyên lành, vùng này

có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là vùng gần mạng lưới động mạch, có nhiều khả năng nhận và chuyển tiếp máu “ứng cứu” cho tế bào não tại vùng bán ảnh [24,26]

1.5.3 Hậu quả của chấn thương sọ não

- Chảy máu não: Sau chấn thương sọ não kín vẫn có thể xảy ra chảy máu

não với những ổ máu tụ nhỏ và vừa, rải rác ở nhiều vùng của não Diến biến bệnh lặng lẽ nhưng vẫn có thể phát sinh biến chứng không kém nguy hiểm nên phải theo dõi chặt chẽ Sau chấn thương, bệnh nhân tỉnh táo, không có rối loạn ý thức nhưng sau một thời gian ngắn lại đi vào hôn mê Người ta gọi đấy là “khoảng tỉnh” chứng

tỏ chảy máu não lại tái phát hoặc xuất phát từ những ổ đụng giập não

Trang 30

- Chấn động não: Là trường hợp CTSN loại nhẹ nhất Nạn nhân không mất ý

thức, không có “khoảng tỉnh” nhưng không phải là hết hậu quả đáng lo ngại [24]

1.5.4 Di chứng tiếp diễn sau chấn thương sọ não

Tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của CTSN có thể xuất hiện sau một thời gian tạm ổn định

- Hội chứng đau đầu sau chấn thương sọ não có hai thể: thể xuất hiện sớm và

thể muộn, với diễn biến dai dẳng kéo dài, khó khăn trong điều trị

kinh có ổ khu trú Hình thái lâm sàng rất đa dạng, phức tạp tùy theo ổ khu trú đó ở vùng nào của não Lại có những vùng có ổ khu trú xuất hiện không chỉ là những cơn động kinh mà còn phối hợp cả những rối loạn tâm thần rất khó điều trị

- Bệnh lý cột sống cổ: Thường xuất hiện sớm và nặng do lực chấn động từ sọ

não dội xuống cột sống cổ CTSN còn đẩy mạnh tốc độ tiến triển thoái hóa đĩa đệm

- cột sống, gây thoát vị đĩa đệm và nguy hại nhất là thoát vị đĩa đệm chèn ép tủy sống cổ, hẹp ống sống cổ dẫn đến liệt tứ chi

- Giảm hoặc mất trí nhớ, đau đầu dai dẳng: Giảm sút trí tuệ, trường hợp nặng

dẫn đến mất ngôn ngữ, đòi hỏi quá trình điều trị phục hồi chức năng rất phức tạp và lâu dài

CTSN là chấn thương gây đau đớn và di chứng nặng nề nhất cho bệnh nhân, đồng thời cũng mang lại chi phí tốn kém nhất CTSN sẽ để lại hậu quả rất nặng nề cho bản thân, gia đình và xã hội cả về mặt sức khoẻ, kinh tế và tâm lý

Về mặt sức khoẻ, sau chấn thương người bệnh ít nhiều gì cũng bị ảnh hưởng trên hệ thần kinh Di chứng thường gặp nhất là động kinh(co giật), nói đớ, ngọng, méo miệng, đi lại khó khăn, rối loạn về thần kinh-tâm thần, tính khí thất thường…

Về mặt kinh tế-xã hội, người bị CTSN thường bị ảnh hưởng về sức khoẻ nên thường nghỉ việc sớm, thu nhập giảm sút Chi phí cho một ca điều trị CTSN cũng khá đắt

Trong gia đình, người bệnh lúc nào cũng mang mặc cảm là người tàn phế, bị

Trang 31

trụ cột gia đình, nay rơi vào cảnh khốn khó, đôi lúc phải khánh kiệt vì chi phí điều trị mà thu nhập lại không có [24, 26, 38]

1.5.5 Đánh giá độ nặng của chấn thương sọ não theo thang điểm Glasgow

Trang 32

Đánh giá độ nặng theo thang điểm Glasgow được coi là nhanh, cụ thể và tương đối chính xác, không phụ thuộc vào tổn thương thực thể của não, hộp sọ [47]

1.6 Chấn thương sọ não liên quan đến đồ uống có cồn khi tham gia giao thông

CTSN là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do tai nạn giao thông Theo một thống kê của Bộ Y tế Việt Nam năm 2011, trong số 12.749 trường hợp cấp cứu do tai nạn giao thông có tới 2.365 trường hợp bị CTSN, trong đó nhiều trường hợp phát hiện có BAC và gần 30% số nạn nhân CTSN do không đội mũ bảo hiểm Tai nạn

do xe gắn máy gây ra chiếm đa số, kế đến là xe ô tô

Theo số liệu của Cục Quản lý môi trường y tế, trong năm tháng (từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2011) tại 5 bệnh viện ở Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Giang cho thấy trong 1453 trường hợp tai nạn thương tích, tai nạn giao thông chiếm 60%, trong đó, số trường hợp bị tai nạn giao thông có sử dụng chất uống có cồn chiếm 47,5%, số trường hợp CTSN chiếm 31,5% [10]

Tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý Môi trường Y tế tổng hợp từ 84 bệnh viện thực hiện Quyết định 1356/QĐ-BYT ngày 18/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc báo các tình hình TNGT nhập viện từ tháng 1 – 12/2009 cho thấy: có 419.612 trường hợp bệnh nhân tới cấp cứu, trong đó có 34,3% là do TNGT

Số trường hợp TNGT có sử dụng rượu bia chiếm 11,0%; nam chiếm 96,0%; lứa tuổi từ 20-59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 85%, 15-19 tuổi chiếm 11,4% Tỷ lệ TNGT do mô tô, xe máy chiếm tỷ lệ cao nhất 71,6% [7]

Như vậy có thể thấy TNGT liên quan đến CTSN và lạm dụng rượu bia là mối quan tâm của toàn thế giới Việt Nam nằm trong số những quốc gia có TNGT tăng, CTSN cũng cao, đặc biệt tiêu thụ mạnh rượu bia nên tình hình CTSN liên quan đến đồ uống có cồn cũng đặc biệt được quan tâm

Do vậy cần có những nghiên cứu đầy đủ, toàn diện phản ánh mức độ nguy hại của việc lạm dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông giúp cho việc đưa ra khuyến cáo và chính sách phù hợp (quy định BAC vượt ngưỡng) nhằm góp phần tăng cường hiệu quả của chương trình phòng chống TNTT quốc gia, giảm thiểu sử

Trang 33

Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nhóm nghiên cứu

Các trường hợp chấn thương sọ não do tai nạn giao thông được chẩn đoán bằng hình ảnh (qua chụp cắt lớp vi tính CT), và trên lâm sàng bằng thang điểm Glasgow vào điều trị cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, có xét nghiệm BAC theo quy trình ban hành của Bộ Y tế

Là người điều khiển xe máy

Không phân biệt giới, trên 16 tuổi

Bao gồm cả các trường hợp tử vong tại viện

Thời gian từ lúc xảy ra tai nạn đến khi bệnh nhân vào cấp cứu tại bệnh viện không quá 06 tiếng

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Không thuộc các đối tượng nằm trong nghiên cứu trên

Các trường hợp chấn thương sọ não do tai nạn giao thông tử vong trước viện Gia đình và bệnh nhân từ chối cung cấp thông tin

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Các tháng 06, 07, 10, 11, 12 năm 2012 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

2.3 Phương pháp thu thập số liệu

- Thông tin thu thập dựa vào biểu mẫu ghi chép thông tin của bệnh nhân tai nạn giao thông theo Quyết định 1356/QĐ-BYT ngày 18/04/2008 của Bộ Y tế (Biểu mẫu 1) và Hồ sơ ghi chép thông tin của bệnh nhân được lưu tại phòng Hồ sơ - Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức

- Biên bản pháp y các bệnh nhân tử vong

- Việc thực hiện xét nghiệm nồng độ cồn trong máu được thực hiện theo quy định 933/QĐ-BYT ngày 23/3/2010 của Bộ Y tế

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu được xử lý theo chương trình SPSS.16.0

Trang 34

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu qua hồ sơ bệnh án và biên bản pháp y

2.6 Biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu

Tên biến Định nghĩa biến

Tuổi Tuổi của bệnh nhân đến thời điểm nhập viện

Giới tính Giới tính của bệnh nhân: nam, nữ

Nghề nghiệp

Học sinh, sinh viên; Cán bộ, công chức; Công nhân;

Bộ đội, công an; Nông dân; Lao động tự do; Khác; Không rõ

Chấn thương sọ não

(Chụp cắt lớp vi tính)

Bệnh nhân có bị chấn thương sọ não hay không? Có, Không

Chấn thương phối hợp Bệnh nhân có bị các tổn thương khác : chấn thương

hàm mặt, Cổ, Chi, Ngực bụng, Đa chấn thương Điểm Glasgow ≤ 5, 6-8, 9-12, ≥ 13

Việc sử dụng mũ bảo hiểm Có, Không

Nồng độ cồn trong máu mg/100ml hay mg/dl máu hay mg%

WBC Số lượng bạch cầu trong máu (X 109

/L ) RBC Số lượng hồng cầu trong máu (X 1012/L )

HGB Nồng độ Hemoglobin trong máu (g/l)

HCT Thể tích hồng cầu trong máu (%)

Cách thức điều trị Có phẫu thuật, không phẫu thuật

Thời gian nằm viện Thời gian từ khi vào viện đến khi xuất viện

Kết quả điều trị Chuyển viện, Ra viện, Nặng xin về

Trang 35

2.7 Quy trình thu thập số liệu tại bệnh viện

- Tiếp nhận bệnh nhân chấn thương đầu do tai nạn giao thông tại phòng khám cấp cứu

- Phỏng vấn bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân theo bộ câu hỏi theo mẫu ghi chép thông tin tai nạn giao thông

- Bệnh nhân được lấy máu làm xét nghiệm, được chỉ định chụp cắt lớp vi tính

để chẩn đoán có chấn thương sọ não hay không, được chụp XQ, siêu âm ổ bụng để xác định có chấn thương phối hợp hay không

- Tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân sẽ được chuyển viện hoặc được chuyển vào khoa Phẫu thuật Thần kinh để phẫu thuật hoặc điều trị hồi sức Các trường hợp bệnh nhân tử vong tại viện sẽ được tiến hành lập biên bản pháp y và chuyển biên bản pháp y về khoa Giải phẫu bệnh

- Sau khi xuất viện, hồ sơ của bệnh nhân sẽ được lưu tại kho Hồ sơ - phòng Kế

Bệnh nhân bị chấn thương đầu

do tai nạn giao thông Phòng khám cấp cứu bệnh viện

Phòng xét nghiệm, XQ, siêu âm,

chụp cắt lớp vi tính

Thu thập số liệu nghiên cứu từ phòng khám cấp cứu, phòng lưu Hồ sơ, khoa Giải phẫu bệnh Chuyển viện hoặc chuyển Khoa Phẫu thuật Thần kinh

Trang 36

2.8 Quy trình xét nghiệm BAC ở bệnh nhân CTSN do tai nạn giao thông tại bệnh viện:

2.8.3 Lấy mẫu bệnh phẩm (máu)

- Sát trùng: Dùng dung dịch sát khuẩn (không dùng cồn)

Trang 37

- Xét nghiệm được tiến hành trên máy phân tích hoá sinh theo kỹ thuật định lượng cồn trong huyết thanh

- Bấm máy tính cài đặt test

- Bấm máy để chạy xét nghiệm

2.8.5 Kết quả

- Máy AU sẽ tự động tính nồng độ chất thử cho từng xét nghiệm

- Khi kết quả > 300mg/dl (300mg%) phải pha loãng mẫu bằng nước muối sinh

lý và chạy lại mẫu Kết quả sẽ nhân với độ pha loãng

- Đơn vị của kết quả: mg/100ml hay mg/dl hay mg%

2.8.6 Tổng hợp kết quả

- Kết quả chuyển về đơn vị điều trị bệnh nhân theo quy định của bệnh viện

2.9 Quy trình tổng hợp thông tin

- Thu thập phiếu phỏng vấn thông tin tai nạn giao thông từ phòng khám cấp cứu vào 16h ngày thứ 6 hàng tuần

- Thu thập số liệu nghiên cứu từ hồ sơ được lưu tại kho Hồ sơ – phòng Kế hoạch Tổng hợp sau khi bệnh nhân xuất viện, từ biên bản pháp y tại Khoa Giải phẫu bệnh

2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được sự chấp thuận và đồng ý của Ban giám

đốc bệnh viện, cũng như các khoa phòng liên quan trong bệnh viện

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích kỹ về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự hợp tác, chấp thuận của đối tượng nghiên cứu

- Mọi thông tin về cá nhân của đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

- Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi được Hội đồng Đạo đức của trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua

Trang 38

- Kết quả nghiên cứu được báo cáo tới Ban giám đốc, các khoa phòng trong bệnh viện nơi tiến hành nghiên cứu khi quá trình nghiên cứu kết thúc

- Kết quả nghiên cứu còn là cơ sở để trình các cơ quan chức năng, các cấp có thẩm quyền liên quan đến TNGT và đồ uống có cồn trong chương trình phòng

chống TNTT Quốc gia

Trang 39

Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Chấn thương sọ não do tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông

3.1.1 Tỷ lệ bệnh nhân CTSN do TNGT có nồng độ cồn trong máu

Trong 05 tháng nghiên cứu 06, 07, 10, 11, 12 năm 2012 có 1263 trường hợp bệnh nhân CTSN do TNGT liên quan đến xe máy vào cấp cứu tại bệnh viện, trong

đó có 412 bệnh nhân có BAC chiếm tỷ lệ 32,6%, 252 bệnh nhân có BAC vượt ngưỡng cho phép theo quy định của Luật giao thông đường bộ là 50 mg/dl, chiếm tỷ

lệ 20%

3.1.2 Tỷ lệ bệnh nhân CTSN do TNGT có BAC vượt ngưỡng cho phép

Thông qua xét nghiệm BAC để tìm hiểu về việc sử dụng rượu bia của bệnh nhân CTSN do TNGT trước khi tham gia giao thông Đối tượng được chọn cho nghiên cứu là những người điều khiển xe máy nên trong nghiên cứu, BAC được chia làm hai nhóm theo Luật giao thông đường bộ dành cho người lái xe máy là dưới 50 mg/dl và trên 50 mg/dl

Bảng 3.1 Phân bố BAC của bệnh nhân CTSN do TNGT

Tổng 412 100,0

Trang 40

Hình 3.1 Phân bố BAC của bệnh nhân CTSN do TNGT

Trong 05 tháng nghiên cứu 06, 07, 10, 11, 12 năm 2012, chúng tôi đã thu thập được thông tin 412 bệnh nhân là người điều khiển xe máy trên 16 tuổi bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đến cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức và được xét nghiệm BAC Đây là thời điểm không có những ngày lễ lớn trong năm như Tết dương lịch, Tết âm lịch, 30/4, 1/5, lễ quốc khánh Tại Việt Nam, vào những ngày lễ lớn, tai nạn giao thông lại tăng lên đáng kể, đặc biệt là tình trạng sử dụng rượu bia cũng tăng lên nhiều Vì vậy, chúng tôi đã chọn những thời điểm trên tiến hành nghiên cứu để có số liệu đánh giá khách quan tình hình CTSN liên quan đến TNGT

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì trong 412 bệnh nhân CTSN do TNGT được xét nghiệm BAC có 160 trường hợp có BAC dưới 50 mg/dl, chiếm tỷ

lệ 38,8%; 252 trường hợp vi phạm luật GTĐB có nồng độ cồn trong máu vượt ngưỡng cho phép là 50 mg/dl, chiếm tỷ lệ 61,2%

Số liệu thống kê trong 5 năm gần đây cho thấy mỗi năm bệnh viện Việt Đức tiếp nhận khám và điều trị cấp cứu khoảng 33,000 đến 35,000 trường hợp tai nạn thương tích các loại, trong đó tai nạn giao thông khoảng 18,000 đến trên 18,000 trường hợp Rất nhiều trong số đó là CTSN và liên quan đến sử dụng đồ uống có cồn (Báo cáo năm của bệnh viện Việt Đức)

Theo một nghiên cứu của Viện pháp Y quốc gia, trong số 500 trường hợp tử vong do TNGT năm 2001 thì có tới 34% các trường hợp nồng độ ethanol trong máu

Ngày đăng: 05/07/2021, 09:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Độ rượu của một số rượu thường gặp - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 1.1. Độ rượu của một số rượu thường gặp (Trang 12)
Hình 1.1. Tình hình sử dụng chất có cồn theo đơn vị trên thế giới - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Hình 1.1. Tình hình sử dụng chất có cồn theo đơn vị trên thế giới (Trang 16)
Tại Úc: tỷ lệ 7% chưa phản ánh hết tình hình thực tế do việc kiểm tra nồng độ cồn không được phép thực hiện ở người đã tử vong - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
i Úc: tỷ lệ 7% chưa phản ánh hết tình hình thực tế do việc kiểm tra nồng độ cồn không được phép thực hiện ở người đã tử vong (Trang 18)
Bảng 1.3. Giới hạn BAC cho người điều khiển phương tiện tại các quốc gia và khu vực [52] - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 1.3. Giới hạn BAC cho người điều khiển phương tiện tại các quốc gia và khu vực [52] (Trang 21)
Hình 1.3. Ước lượng nguy cơ tử vong tương đối của những lái xe sử dụng chất có cồn theo tuổi và giới trong các vụ va chạm xe cộ đơn lẻ  [43]  - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Hình 1.3. Ước lượng nguy cơ tử vong tương đối của những lái xe sử dụng chất có cồn theo tuổi và giới trong các vụ va chạm xe cộ đơn lẻ [43] (Trang 22)
Hình 1.4: Tỉ lệ tử vong giả mở người lái xe ôtô và môtô sau khi áp dụng tiêu chuẩn mức BAC tối thiểu là 0,05g/100ml, Úc, 1981-2001 [52] - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Hình 1.4 Tỉ lệ tử vong giả mở người lái xe ôtô và môtô sau khi áp dụng tiêu chuẩn mức BAC tối thiểu là 0,05g/100ml, Úc, 1981-2001 [52] (Trang 26)
Bảng 1.4. Cách tính điểm Glasgow - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 1.4. Cách tính điểm Glasgow (Trang 31)
Bảng 2.1. Các biến số nghiên cứu - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 2.1. Các biến số nghiên cứu (Trang 34)
Chƣơng 3- KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
h ƣơng 3- KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN (Trang 39)
Hình 3.1. Phân bố BAC của bệnh nhân CTSN do TNGT - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Hình 3.1. Phân bố BAC của bệnh nhân CTSN do TNGT (Trang 40)
Bảng 3.2. Mức tiêu thụ rượu bia bình quân đầu người qua các năm (từ 15 tuổi) - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.2. Mức tiêu thụ rượu bia bình quân đầu người qua các năm (từ 15 tuổi) (Trang 44)
Bảng 3.3. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.3. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật (Trang 45)
Bảng 3.4. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo giới tính - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.4. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo giới tính (Trang 46)
Bảng 3.5. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo tuổi - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.5. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo tuổi (Trang 47)
Hình 3.2. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo nghề nghiệp - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Hình 3.2. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo nghề nghiệp (Trang 49)
Bảng 3.6. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo số lượng bạch cầu trong máu WBC  - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.6. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo số lượng bạch cầu trong máu WBC (Trang 51)
/l) (bảng 3.7). Nhƣ vậy có thể thấy các trƣờng hợp CTSN do TNGT có BAC vƣợt ngƣỡng cho phép có số lƣợng hồng cầu trong máu thấp dƣới  chỉ số bình thƣờng chỉ chiếm 16,7% - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
l (bảng 3.7). Nhƣ vậy có thể thấy các trƣờng hợp CTSN do TNGT có BAC vƣợt ngƣỡng cho phép có số lƣợng hồng cầu trong máu thấp dƣới chỉ số bình thƣờng chỉ chiếm 16,7% (Trang 52)
Bảng 3.10. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo tình trạng có hay không đội mũ bảo hiểm  - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.10. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo tình trạng có hay không đội mũ bảo hiểm (Trang 53)
Bảng 3.9. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo thể tích hồng cầu trong máu HCT  - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.9. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo thể tích hồng cầu trong máu HCT (Trang 53)
Bảng 3.11. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo chấn thương phối hợp - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.11. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo chấn thương phối hợp (Trang 55)
3.2. Mối liên quan giữa độ nặng của chấn thƣơng sọ não và nồng độ cồn máu - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
3.2. Mối liên quan giữa độ nặng của chấn thƣơng sọ não và nồng độ cồn máu (Trang 55)
Bảng 3.12. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo thang điểm Glasgow - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.12. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo thang điểm Glasgow (Trang 57)
3.2.2. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo thang điểm Glasgow - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
3.2.2. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo thang điểm Glasgow (Trang 57)
Bảng 3.14. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo theo thời gian nằm viện - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.14. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo theo thời gian nằm viện (Trang 59)
Bảng 3.13. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo phương pháp điều trị - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.13. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo phương pháp điều trị (Trang 59)
Bảng 3.15. Phân bố kết quả điều trị của bệnh nhânvi phạm luật theo  thời gian nằm viện  - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.15. Phân bố kết quả điều trị của bệnh nhânvi phạm luật theo thời gian nằm viện (Trang 60)
Bảng 3.16. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo theo kết quả điều trị - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
Bảng 3.16. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo theo kết quả điều trị (Trang 61)
Một số hình ảnh bệnh nhân chấn thương sọ não vào cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức  - Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức
t số hình ảnh bệnh nhân chấn thương sọ não vào cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Trang 78)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w