1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT

139 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, tình trạng học sinh yếu kém xuất hiện ngày càng nhiều ở các cấp học, bậc học và chất lượng giáo dục đang trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội. Ngành giáo dục đang đặt ra một nhu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục hơn bao giờ hết trong tất cả các ngành học và bậc học. Trước thực trạng đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã có bài phát biểu “Cần phải kịp thời động viên, khen thưởng số học sinh yếu kém có tiến bộ trong học tập ... Điều này, khác với trước đây chúng ta chỉ thưởng cho học sinh giỏi, xuất sắc mà quên đi các em yếu kém có tiến bộ ...”. Phó Thủ tướng cũng băn khoăn rằng, lâu nay chúng ta chưa chú trọng lắm tới phương pháp bồi dưỡng cho học sinh yếu kém. Cụ thể như số tài liệu, giáo trình giảng dạy cho đối tượng học sinh này còn rất khiêm tốn. Nên chăng, các tỉnh tự nghiên cứu, biên soạn tài liệu, Bộ Giáo dục Đào tạo sẽ tuyển chọn, tập hợp thành tài liệu chung nhất, phổ biến cho cả nước ... Đối với học sinh THPT, hóa học là môn học làm một số học sinh e ngại đặc biệt là học sinh trung bình, yếu. Để tìm giải pháp khắc phục tình trạng trên và đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện hơn, người giáo viên tâm huyết phải tìm ra những biện pháp giúp các em tự tin hơn khi học môn hóa. Một trong những phương pháp dạy học quan trọng để hoàn thiện kiến thức và kỹ năng là bài tập hóa học. Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường để giành lấy kiến thức, và cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức. Chính vì vậy, việc giải bài tập hóa học là một trong những yêu cầu cơ bản không thể thiếu. Và khi học sinh có kỹ năng giải bài tập tốt thường sẽ đạt kết quả cao trong những kỳ thi.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

  

Nguyễn Thị Mộng Tuyền

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

GIẢI BÀI TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA LỚP 10

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

  

Nguyễn Thị Mộng Tuyền

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

GIẢI BÀI TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA LỚP 10

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Mã số : 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ KIM THÀNH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, các học sinh và của người thân Bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc của mình tôi xin cảm ơn:

- Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thành, cô hướng dẫn của tôi, dù cô ở xa nhưng tôi luôn cảm thấy rất gần, cô đã cho tôi những góp ý chuyên môn vô cùng quí báu cũng như luôn quan tâm, động viên tôi trước những khó khăn trong khi thực hiện đề tài

- PGS.Tiến sĩ Trịnh Văn Biều, thầy đã giúp đỡ tôi rất nhiều khi tôi gặp trở ngại trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

- Tất cả các thầy cô đã giảng dạy trong quá trình học tập của tôi, thầy cô đã cung cấp nhiều kiến thức và tư liệu để tôi có thể hoàn thành luận văn

- Đồng nghiệp và bạn bè đã hỗ trợ tôi về chuyên môn, góp ý cho tôi khi tiến hành giảng dạy và cả khi tôi gặp khó khăn về thời gian trong quá trình vừa đi dạy vừa đi học

- Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên tổ Hóa của Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi được học sau đại học và hoàn thành luận văn này

- Giáo viên cùng các em học sinh đã giúp tôi hoàn thành tốt phần thực nghiệm sư phạm

- Và cuối cùng là đại gia đình của tôi, những người luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất về tinh thần, về vật chất, về thời gian … luôn bên tôi trong suốt quãng thời gian tôi thực hiện ước mơ của mình

Một lần nữa, xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn chân thành và sâu sắc

Nguyễn Thị Mộng Tuyền

Trang 4

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 4

1.2 Bài tập hóa học 6

1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học 6

1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học 7

1.2.3 Phân loại, lựa chọn và sử dụng bài tập hóa học 7

1.2.4 Điều kiện để học sinh giải bài tập được tốt 9

1.2.5 Bài tập hóa học dùng cho học sinh trung bình, yếu 10

1.3 Kỹ năng 11

1.3.1 Khái niệm về kỹ năng 11

1.3.2 Đặc điểm của kỹ năng 12

1.3.3 Sự hình thành kỹ năng 13

1.4 Kỹ năng giải bài tập hóa học 14

1.4.1 Khái niệm về kỹ năng giải bài tập hóa học 14

1.4.2 Các giai đoạn hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học 14

1.4.3 Con đường hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học 15

1.5 Một số vấn đề về học sinh trung bình, yếu môn hóa 16

1.5.1 Khái niệm 16

1.5.2 Những đặc điểm của học sinh trung bình, yếu 16

1.5.3 Nguyên nhân học sinh học yếu môn hóa 17

1.6 Thực trạng về việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa ở một số trường THPT 18

1.6.1 Mục tiêu điều tra 18

1.6.2 Phương pháp điều tra 18

Trang 5

1.6.3 Kết quả điều tra 19

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 22

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU CHƯƠNG 5, 6 HÓA HỌC 10 BAN CƠ BẢN 23

2.1 Những vấn đề cơ bản của chương 5, 6 hóa học lớp 10 ban cơ bản 23

2.1.1 Vị trí và vai trò 23

2.1.2 Mục tiêu cơ bản 23

2.1.3 Cấu trúc và nội dung 24

2.2 Những định hướng khi xây dựng các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập 25

2.2.1 Cần chú ý đến nhiệm vụ và đặc điểm của dạy học hóa học 25

2.2.2 Cần chú ý đến các đặc điểm và yêu cầu của việc giải bài tập 26

2.2.3 Cần chú ý đến các đặc điểm của học sinh trung bình, yếu 27

2.2.4 Cần chú ý đến cấu trúc của hệ thống kỹ năng giải bài tập 27

2.3 Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 ban cơ bản 27

2.3.1 Rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy 27

2.3.2 Rèn luyện kỹ năng phân tích và tóm tắt đề 30

2.3.3 Rèn luyện kỹ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng 32

2.3.4 Rèn luyện kỹ năng tính toán 35

2.3.5 Rèn luyện kỹ năng nhận biết dạng bài tập 37

2.3.6 Rèn luyện kỹ năng giải từng dạng bài tập 40

2.4 Thiết kế một số giáo án có sử dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 ban cơ bản 54

2.4.1 Giáo án bài “Hiđro clorua - Axit clohiđric - Muối clorua” 54

2.4.2 Giáo án bài “Luyện tập: Nhóm Halogen” 61

2.4.3 Giáo án bài “Oxi - Ozon” 69

2.4.4 Giáo án bài “Axit sunfuric – Muối sunfat” 76

2.4.5 Giáo án bài “Luyện tập: Oxi - Lưu huỳnh” 84

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 93

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 94

Trang 6

3.1 Mục đích thực nghiệm 94

3.2 Đối tượng thực nghiệm 94

3.3 Tiến hành thực nghiệm 94

3.4 Kết quả thực nghiệm 97

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 118

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GS : giáo sư

GV : giáo viên

ĐC : đối chứng ĐHSP : Đại học Sư phạm

HS : học sinh KNGBT: kỹ năng giải bài tập NXB : nhà xuất bản

PTHH : phương trình hóa học PTTH : phổ thông trung học PTPƯ : phương trình phản ứng SGK : sách giáo khoa

THPT : trung học phổ thông

TN : thực nghiệm Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trong các kiểu bài lên lớp 19

Bảng 1.2 Những vướng mắc của học sinh khi giải bài tập 19

Bảng 1.3 Các biện pháp rèn luyện KNGBT cho học sinh trung bình, yếu 20

Bảng 2.1 Cấu trúc và nội dung chương 5, 6 SGK Hóa học 10 cơ bản 24

Bảng 2.2 So sánh kim loại với phi kim 29

Bảng 2.3 Các công thức tính số mol 36

Bảng 2.4 Các công thức tính nồng độ 37

Bảng 2.5 Nhận biết anion 44

Bảng 2.6 Nhận biết chất khí 44

Bảng 3.1 Danh sách các lớp thực nghiệm và đối chứng 94

Bảng 3.2 Phân phối tần số bài kiểm tra 1 97

Bảng 3.3 Phân phối tần suất bài kiểm tra 1 98

Bảng 3.4 Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 98

Bảng 3.5 Phân loại kết quả bài kiểm tra 1 98

Bảng 3.6 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 1 99

Bảng 3.7 Phân phối tần số bài kiểm tra 2 102

Bảng 3.8 Phân phối tần suất bài kiểm tra 2 102

Bảng 3.9 Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 2 103

Bảng 3.10 Phân loại kết quả bài kiểm tra 2 103

Bảng 3.11 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 2 103

Bảng 3.12 Phân phối tần số bài kiểm tra 3 107

Bảng 3.13 Phân phối tần suất bài kiểm tra 3 107

Bảng 3.14 Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 3 107

Bảng 3.15 Phân loại kết quả bài kiểm tra 3 108

Bảng 3.16 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 3 108

Bảng 3.17 Phân phối tần số bài kiểm tra 4 111

Bảng 3.18 Phân phối tần suất bài kiểm tra 4 112

Bảng 3.19 Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 4 112

Bảng 3.20 Phân loại kết quả bài kiểm tra 4 112

Bảng 3.21 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 4 113

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 lớp 10A1 và 10A9 99

Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 lớp 10A2 và 10A4 99

Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 lớp 10A3 và 10A2 100

Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 lớp 10A15 và 10A14 100

Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 lớp 10C2 và 10C3 100

Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 lớp 10A1 và 10A9 104

Hình 3.7 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 lớp 10A2 và 10A4 104

Hình 3.8 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 lớp 10A3 và 10A2 104

Hình 3.9 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 lớp 10A15 và 10A14 105

Hình 3.10 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 lớp 10C2 và 10C3 105

Hình 3.11 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 3 lớp 10A1 và 10A9 108

Hình 3.12 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 3 lớp 10A2 và 10A4 109

Hình 3.13 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 3 lớp 10A3 và 10A2 109

Hình 3.14 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 3 lớp 10A15 và 10A14 109

Hình 3.15 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 3 lớp 10C2 và 10C3 110

Hình 3.16 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 4 lớp 10A1 và 10A9 113

Hình 3.17 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 4 lớp 10A2 và 10A4 113

Hình 3.18 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 4 lớp 10A3 và 10A2 114

Hình 3.19 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 4 lớp 10A15 và 10A14 114

Hình 3.20 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 4 lớp 10C2 và 10C3 114

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, tình trạng học sinh yếu kém xuất hiện ngày càng nhiều ở các cấp học, bậc học và chất lượng giáo dục đang trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội Ngành giáo dục đang đặt ra một nhu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục hơn bao giờ hết trong tất cả các ngành học và bậc học Trước thực trạng đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân

đã có bài phát biểu “Cần phải kịp thời động viên, khen thưởng số học sinh yếu kém có tiến

bộ trong học tập Điều này, khác với trước đây chúng ta chỉ thưởng cho học sinh giỏi, xuất sắc mà quên đi các em yếu kém có tiến bộ ” Phó Thủ tướng cũng băn khoăn rằng, lâu nay chúng ta chưa chú trọng lắm tới phương pháp bồi dưỡng cho học sinh yếu kém Cụ thể như

số tài liệu, giáo trình giảng dạy cho đối tượng học sinh này còn rất khiêm tốn Nên chăng, các tỉnh tự nghiên cứu, biên soạn tài liệu, Bộ Giáo dục - Đào tạo sẽ tuyển chọn, tập hợp thành tài liệu chung nhất, phổ biến cho cả nước

Đối với học sinh THPT, hóa học là môn học làm một số học sinh e ngại đặc biệt là học sinh trung bình, yếu Để tìm giải pháp khắc phục tình trạng trên và đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện hơn, người giáo viên tâm huyết phải tìm ra những biện pháp giúp các em tự tin hơn khi học môn hóa

Một trong những phương pháp dạy học quan trọng để hoàn thiện kiến thức và kỹ năng

là bài tập hóa học Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường để giành lấy kiến thức, và cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức Chính vì vậy, việc giải bài tập hóa học là một trong những yêu cầu cơ bản không thể thiếu Và khi học sinh có kỹ năng giải bài tập tốt thường sẽ đạt kết quả cao trong những kỳ thi

Vì những lí do trên mà chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” với hi vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học ở trường trung học phổ thông

Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa chương “Nhóm Halogen” và chương “Oxi - Lưu huỳnh” lớp 10 ban cơ bản THPT nhằm nâng cao kết quả dạy học

3 Nhiệm vụ của đề tài

Trang 11

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Nghiên cứu chương “Nhóm Halogen” và chương “Oxi - Lưu huỳnh”

- Tìm hiểu thực trạng về việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 ban cơ bản THPT

- Đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 ban cơ bản THPT

- Thiết kế giáo án để rèn luyện kỹ năng giải bài tập chương “Nhóm Halogen” và chương “Oxi - Lưu huỳnh” cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 ban cơ bản THPT

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp đã đề

xuất

- Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa chương “Nhóm Halogen” và chương “Oxi - Lưu huỳnh” lớp 10 ban cơ bản THPT

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học hóa học ở trường THPT

5 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung được giới hạn trong chương “Nhóm Halogen” và “Oxi - Lưu huỳnh” hóa học lớp 10 cơ bản THPT

- Địa bàn nghiên cứu: Các trường THPT Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 9 năm 2011

Nếu như có các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu được xây dựng có tính khoa học, khả thi cao thì sẽ giúp các em học sinh trung bình, yếu giải bài tập tốt, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy hóa học

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài

- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

- Phương pháp diễn dịch và qui nạp

- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa

- Phương pháp xây dựng giả thuyết

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 12

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra thu thập thông tin

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

7.3 Nhóm c ác phương pháp toán học

- Xử lí kết quả thực nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng các phần mềm tin học

8 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa “Nhóm Halogen” và “Oxi - Lưu huỳnh” lớp 10 ban cơ bản THPT

Trang 13

Khóa luận tốt nghiệp: “ Phương pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn hóa học lấy lại căn bản” của sinh viên Trần Thị Hoài Phương - Khoa Hóa - Đại học Sư phạm Tp.HCM

Những điểm nổi bật của đề tài:

- Đề tài đã đưa ra những phương pháp để bồi dưỡng học sinh yếu lấy lại căn bản

- Phần hình thành ở học sinh kỹ năng giải toán hóa học tác giả đã nêu rõ những điều cần lưu ý khi giải bài tập định tính và định lượng cho học sinh

Khóa luận tốt nghiệp: “Phụ đạo học sinh yếu môn hóa lấy lại căn bản” của sinh

viên Trần Đức Hạ Uyên - Khoa Hóa - Đại học Sư phạm Tp.HCM (năm 2002)

Tài liệu gồm 66 trang khổ A4, nội dung nghiên cứu gồm 7 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Kiến thức lớp 10

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm - Điều tra tình hình học hóa ở trường PTTH - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu môn hóa và phương pháp phụ đạo cho học sinh yếu Chương 4: Phương pháp phụ đạo cho học sinh yếu lấy lại căn bản

Chương 5: Hệ thống bài tập cho học sinh yếu

Chương 6: Phân tích kết quả - Rút kinh nghiệm

Chương 7: Kết luận - Đề xuất

Những điểm nổi bật của đề tài:

- Đề tài đã nêu bật những nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu môn hóa thông qua việc phỏng vấn và trò chuyện với học sinh học yếu môn hóa và một số giáo viên dạy môn hóa

Trang 14

- Tác giả đã đưa ra hệ thống bài tập dành cho học sinh yếu

Khóa luận tốt nghiệp: “Rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học cho học sinh phổ thông trung học” của sinh viên Phạm Kiều Trang - Khoa Hóa - Đại học Sư phạm Tp.HCM

(năm 1999)

Tài liệu gồm 65 trang khổ A4, nội dung nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học

Chương 3: Rèn luyện kỹ năng giải bài tập về cân bằng phương trình hóa học và lập công thức phân tử

Những điểm nổi bật của đề tài:

- Ở chương 2 tác giả đề cập đến vấn đề giải bài tập cho từng đối tượng học sinh, có sự phân loại học sinh yếu và giải bài tập phụ đạo phù hợp với từng loại học sinh yếu

- Đề tài đã đưa ra các phương pháp cân bằng phương trình hóa học, lập công thức phân

tử, các bài tập vận dụng rất hay và đa dạng

Khóa luận tốt nghiệp: “Rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học chương Oxi - Lưu huỳnh cho học sinh THPT” của sinh viên Hồ Hải Quỳnh Trân - Khoa Hóa - Đại học Sư

phạm Tp.HCM (năm 2002)

Tài liệu gồm 101 trang khổ A4, nội dung nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học chương Oxi - Lưu huỳnh và thực nghiệm sư phạm

Chương III: Kết luận

Những điểm nổi bật của đề tài:

- Phần cơ sở lý luận, đề tài đã trình bày khá chi tiết về kỹ năng giải bài tập hóa học

- Tác giả đã chú trọng rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học chương Oxi - Lưu huỳnh thông qua các giáo án, và các giáo án soạn rất chi tiết

- Ngoài ra, đề tài đã đưa ra cách giải một số dạng bài tập thường gặp trong chương này khá đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: “Rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh THPT - chương Halogen” của sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Phương - Khoa Hóa - Đại học Sư phạm

Tp.HCM (năm 2003)

Tài liệu gồm 133 trang khổ A4, nội dung nghiên cứu gồm 6 chương:

Trang 15

Chương I: Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Chương II: Cơ sở lý luận

Chương III: Thực trạng dạy và học môn hóa học ở một số trường THPT hiện nay

Chương IV: Phân loại và phương pháp giải bài tập chương Halogen

Chương V: Rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh - Chương Halogen

Chương VI: Kết luận

Những điểm nổi bật của đề tài:

- Phần tác dụng của bài tập hóa học, tác giả đã lấy ví dụ cụ thể cho từng tác dụng

- Tác giả đã phân loại và nêu ra phương pháp giải từng dạng bài tập cho chương Halogen khá đầy đủ

- Tác giả đã chú trọng rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học chương Halogen thông qua các giáo án, và các giáo án soạn rất chi tiết

Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu về các biện pháp để rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT

1.2 Bài tập hóa học

1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học [32], [40], [55]

Theo các nhà lý luận dạy học cho rằng: Bài tập hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả những bài toán và câu hỏi mà khi hoàn thành chúng học sinh nắm được một tri thức hay một kỹ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng

Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Bài tập là những bài ra cho học sinh để tập vận dụng những điều đã học”

Bài tập hóa học là những bài tập có nội dung liên quan đến hóa học Nội dung của bài tập hóa học thông thường bao gồm những kiến thức chính yếu trong bài giảng Bài tập hóa học có thể là những bài tập định tính đơn giản chỉ yêu cầu học sinh nhớ và nhắc lại các kiến thức vừa học hoặc đã học xong nhưng cũng có thể là những bài tập định lượng liên quan đến cả những kiến thức hóa học lẫn toán học, đôi khi bài tập còn là những bài tập tổng hợp yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức đã học từ trước kết hợp với những kiến thức vừa học để giải Tùy từng mục đích của bài học mà bài tập có thể giải dưới nhiều hình thức và nhiều cách giải khác nhau

Trang 16

Sau khi nghe giáo viên giảng bài xong nếu học sinh nào mà giải được các bài tập mà giáo viên đưa ra thì xem như học sinh đã lĩnh hội một cách tương đối những kiến thức mà giáo viên truyền đạt

1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học [7], [8], [14], [34], [40]

Việc dạy học không thể thiếu bài tập Sử dụng bài tập để luyện tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học

Bài tập hóa học có ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt

- Ý nghĩa trí dục:

+ Làm chính xác hóa khái niệm hóa học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào việc giải bài tập thì học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc

+ Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất

+ Rèn luyện các kỹ năng hóa học như: cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học … Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn luyện

kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh

+ Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, lao động sản xuất

và bảo vệ môi trường

+ Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tư duy

- Ý nghĩa phát triển: Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo

- Ý nghĩa giáo dục: Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say

mê khoa học hóa học

1.2.3 Phân loại, lựa chọn và sử dụng bài tập hóa học [8], [14], [34], [40]

1.2.3.1 Tại sao phải phân loại bài tập hóa học

Bài tập hóa học rất đa dạng và phong phú, do vậy sẽ rất khó khăn cho học sinh trong việc tiếp cận tri thức và kỹ năng từ việc giải quyết các bài tập hóa học nếu không có sự phân loại bài tập hóa học một cách hợp lý Ngoài ra, người giáo viên giảng dạy môn hóa cũng sẽ gặp khó khăn trong công việc đi tìm các phương pháp dạy học tối ưu đối với bài tập hóa học Hay nói cách khác ích lợi của việc phân loại bài tập hóa học:

- Đối với học sinh: dễ học, dễ nhớ

- Đối với giáo viên: dễ dạy, dạy có hiệu quả

Vì sao việc phân loại bài tập lại giúp học sinh dễ học, dễ nhớ?

Trang 17

Bài tập hóa học vô cùng phong phú, đa dạng đi kèm theo rất nhiều ngành hóa học khác nhau (hóa đại cương, vô cơ, phân tích, hữu cơ trong hữu cơ lại có hyđrocacbon, dẫn xuất hyđrocacbon, rượu, phenol ) nếu không có sự phân loại thì sự nắm bắt các kỹ năng giải bài tập của các học sinh sẽ rất lan man Nếu sự phân loại được thực hiện hợp lý thì các kỹ năng giải quyết bài tập của học sinh được rèn luyện thành thạo với mỗi dạng, do vậy khi gặp một bài tập học sinh có thể nhanh chóng xác định dạng và phương pháp giải quyết Nói cách khác việc phân loại bài tập hóa học giúp học sinh nhanh chóng xác định đúng đắn được dạng bài tập và phương pháp giải quyết bài tập

1.2.3.2 Cơ sở phân loại bài tập hóa học

Hiện nay có rất nhiều cách phân loại bài tập khác nhau trong các tài liệu giáo khoa Vì vậy cần có cách nhìn tổng quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại

Ở công đoạn dạy học bài mới ta nên phân loại bài tập hóa học theo nội dung để phục

vụ cho việc dạy học và củng cố bài mới Tên của mỗi loại có thể như tên các chương trong sách giáo khoa

Ví dụ ở lớp 10 THPT ta có:

- Bài tập về cấu tạo nguyên tử

- Bài tập về bảng tuần hoàn và định luật tuần hoàn

- Bài tập về liên kết hóa học

- Bài tập về phản ứng hóa học nói chung và phản ứng oxi hóa - khử

- Bài tập về halogen

- Bài tập về oxi, ozon, lưu huỳnh

Ở công đoạn ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và kiểm tra - đánh giá do mang tính chất tổng hợp, có sự phối hợp giữa các chương nên ta phân loại dựa trên những cơ sở sau:

- Dựa vào tính chất hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thể chia thành bài tập lí thuyết và bài tập thực nghiệm

- Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia bài tập đòi hỏi sự tái hiện kiến thức (biết, hiểu, vận dụng), bài tập rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá)

- Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia bài tập định tính và định lượng

- Dựa vào kiểu hay dạng bài tập có thể chia thành:

+ Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất

+ Bài tập xác định thành phần phần trăm của hỗn hợp

Trang 18

+ Bài tập nhận biết các chất

+ Bài tập tách các chất ra khỏi hỗn hợp

+ Bài tập điều chế các chất

+ Bài tập bằng hình vẽ …

- Dựa vào khối lượng kiến thức có thể chia bài tập đơn giản hay phức tạp

1.2.3.3 Lựa chọn và sử dụng bài tập hóa học

Lựa chọn bài tập

Trong nhiều năm qua, do yêu cầu luyện thi và tuyển sinh vào các trường đại học và trung học chuyên nghiệp nên bài tập hóa học rất phát triển, không ngừng được bổ sung nhiều bài mới có nội dung hay và tác dụng tốt

Trên thị trường sách cũng có rất nhiều sách bài tập hóa học Vấn đề cần đặt ra là phải

biết lựa chọn bài tập để dùng, làm sao cho có hiệu quả nhất

Việc lựa chọn bài tập cần từ các nguồn sau đây:

- Các sách giáo khoa hóa học và sách bài tập hóa học phổ thông

- Các sách bài tập hóa học có trên thị trường

- Các bài tập trong giáo trình đại học dùng cho học sinh giỏi hoặc cải biến cho phù hợp với phổ thông

Sử dụng bài tập trong dạy học hóa học

Ở bất cứ công đoạn nào trong quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập hóa học Khi dạy học bài mới có thể sử dụng bài tập hóa học để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề,

để chuyển tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố bài, để hướng dẫn học sinh học bài ở nhà

Khi ôn tập, củng cố, luyện tập và kiểm tra - đánh giá thì nhất thiết phải dùng bài tập Tùy vào mục đích mà giáo viên có thể chọn những bài tập thích hợp như:

- Sử dụng bài tập để củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức và hình thành quy luật của các quá trình dạy học

- Sử dụng bài tập để rèn kỹ năng

- Sử dụng bài tập để rèn tư duy logic

- Sử dụng bài tập để rèn luyện năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

1.2.4 Điều kiện để học sinh giải bài tập được tốt [7], [8]

Trang 19

- Nắm chắc lý thuyết: Các định luật, quy tắc, quá trình hóa học, tính chất lý hóa học của các chất

- Nắm được các dạng bài tập cơ bản: Nhanh chóng xác định bài tập cần giải thuộc dạng nào

- Nắm được một số phương pháp giải thích hợp với từng dạng bài toán

- Nắm được các bước giải một bài toán hóa học chung và với từng bài nói riêng

- Biết một số thủ thuật và phép biến đổi toán học, cách giải phương trình và hệ phương trình bậc 1, 2

1.2.5 Bài tập hóa học dùng cho học sinh trung bình, yếu

Vì kiến thức học sinh trung bình, yếu chưa được vững nên khi ra những bài tập cho học sinh trung bình, yếu giáo viên chỉ cần chọn những bài tập đơn giản, cơ bản, có yêu cầu vừa phải, nhắm vào trọng tâm, nâng cao trình độ dần từng bước và bài tập tương tự chỉ khác nhau chút ít Tránh những bài tập quá khó học sinh không hiểu được, quan trọng là hướng dẫn cho các em vạch ra sơ đồ định hướng ứng với từng loại bài tập Có nhiều cách đưa ra bài tập cho học sinh trung bình, yếu tùy vào đặc điểm của học sinh và mục đích sử dụng bài tập mà giáo viên có thể chọn hướng ra bài tập khác nhau

Hướng thứ nhất giáo viên có thể đưa ra những nhóm bài tập tương tự nhau, mỗi nhóm bài tập tương tự nhau gồm mỗi nội dung khác nhau Đối với mỗi nhóm bài tập giáo viên nên giải 1 hoặc 2 bài làm mẫu còn các bài khác giáo viên nên tóm tắt đề, hướng dẫn học sinh vạch ra định hướng giải, sau đó học sinh căn cứ vào sơ đồ định hướng, bắt chước cách giải của giáo viên để tự giải các bài tập này Việc sử dụng bài tập như vậy có tác dụng kích thích

tư duy của những học sinh có trí nhớ kém, tư duy chậm phát triển Quá trình giải thường xuyên các bài tập lâu dần sẽ hình thành kỹ năng giải bài tập cho học sinh, giúp học sinh lấy lại căn bản

Ví dụ: Có bài tập dạng SO2 phản ứng với dung dịch NaOH:

Hấp thụ hoàn toàn 12,8 gam SO2 vào 250ml dung dịch NaOH 1M Tính khối lượng muối thu được

Để giải bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh cách xác định muối tạo thành là lập tỉ lệ

2

NaOH

SO

n

n , rồi áp dụng vào bài tập trên

Sau khi giải xong, giáo viên cho học sinh làm bài tập tương tự nhưng muối tạo thành khác bài tập trên

Trang 20

Tính khối lượng muối thu được khi:

a Hấp thụ hoàn toàn 2,24 lít SO2 (đktc) vào 250 ml dung dịch NaOH 1M

b Hấp thụ hoàn toàn 6,72 lít SO2 (đktc) vào 200 ml dung dịch NaOH 1M

Hướng thứ hai giáo viên có thể đưa ra những bài tập có nội dung nêu bật lên trọng tâm tức là nêu bật lên các tính chất đặc trưng nhất của một chất nào đó hoặc những bài tập có điểm gút Giáo viên vạch ra định hướng giải, hướng dẫn mở những điểm gút rồi học sinh sẽ làm tiếp các phần còn lại của bài tập Thông qua bài tập, giáo viên chuyển những kiến thức

ở phần lý thuyết mà các em đã học sang hệ thống bài tập và các bài tập mà giáo viên sử dụng trong trường hợp này là các bài tập cơ bản để học sinh tiếp thu từ từ, khi các em đã giải được thành thạo thì mới nâng cao Việc sử dụng bài tập như vậy có tác dụng củng cố kiến thức, tạo nền tảng để các em học cao hơn

Ví dụ: Sau khi học xong tính chất hóa học của đơn chất và các hợp chất lưu huỳnh,

giáo viên muốn học sinh củng cố lại kiến thức có thể cho bài tập như sau:

Trong các chất sau: H2S, S, SO2, H2SO4 đặc Chất nào

a chỉ thể hiện tính khử?

b chỉ thể hiện tính oxi hóa?

c thể hiện cả tính khử và tính oxi hóa?

Viết phương trình hóa học để minh họa

Hướng thứ ba giáo viên có thể đưa ra những bài tập khó, dễ xen kẽ nhau tạo cho học sinh ý thức không ỷ lại Việc ra những bài tập như vậy ngoài việc hoàn thiện và củng cố kiến thức còn tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực và phát triển tư duy

1.3 Kỹ năng

1.3.1 Khái niệm về kỹ năng [8]

Trong quá trình sống, con người luôn luôn biểu hiện những năng lực nhất định để thực hiện những hoạt động nào đó Khi thực hiện các hoạt động ấy, con người cần phải có những tri thức (khoa học và kinh nghiệm) cần thiết, phải có trình độ thành thục các thao tác, động tác nào đó tương ứng với hoạt động, phải có khả năng tập trung chú ý, tư duy, tưởng tượng trí nhớ … Có như vậy, con người mới có thể thực hiện được hoạt động theo mục đích, mục tiêu Tất cả những yếu tố trên biểu hiện năng lực của con người ở hoạt động ấy

Kỹ năng là một khái niệm khá phức tạp Có nhiều cách hiểu về kỹ năng

- Cách thứ nhất: Hiểu kỹ năng như là sự thể hiện của năng lực con người

Trang 21

Đại Từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa thông tin 1998 định nghĩa kỹ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế” Năng lực là “khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc”

- Cách thứ hai: Hiểu kỹ năng như là hệ thống các thao tác, cách thức hành động

“Kỹ năng là tổng hợp những thao tác, cử chỉ phối hợp hài hoà, hợp lý nhằm đảm bảo cho hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh thần, cơ bắp ít nhất trong những điều kiện thay đổi” Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn

- Cách thứ ba: Không chỉ coi kỹ năng là kỹ thuật, cách thức hành động mà còn coi kỹ năng là sự thể hiện của năng lực con người, đòi hỏi con người phải luyện tập theo một quy trình nhất định

Theo tác giả Nguyễn Thị Côi thì: “kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với các điều kiện cho phép” Kỹ năng đòi hỏi con người phải:

+ Có tri thức và những kinh nghiệm cần thiết về hành động

+ Vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm thu nhận được vào hành động một cách phù hợp với điều kiện cụ thể cho phép (phải linh hoạt, sáng tạo)

Vấn đề kỹ năng vẫn còn có nhiều ý kiến, song về cơ bản các ý kiến cũng không có gì mâu thuẫn với nhau Các tác giả tuỳ theo lĩnh vực khoa học của mình mà nhấn mạnh khía cạnh này hoặc khía cạnh khác

Như vậy, theo những cách hiểu về kỹ năng ở trên có 2 cách tiếp cận kỹ năng theo 2 phương diện khác nhau đó là xét kỹ năng dưới dạng năng lực hoạt động và xétkỹ năng dưới dạng hệ thống các thao tác

Ta có thể hiểu một cách tổng quát: “Kỹ năng là hệ thống phức tạp các thao tác hợp lý

có hiệu quả được hình thành qua quá trình rèn luyện” Thực chất của quá trình hình thành kỹ năng là quá trình rèn luyện để nắm vững hệ thống các thao tác

1.3 2 Đặc điểm của kỹ năng [8]

- Kỹ năng luôn luôn gắn với hành động Kỹ năng là sản phẩm của quá trình đào tạo,

rèn luyện

- Kỹ năng có tính đa cấp:

+ Kỹ năng đơn giản gắn với những hoạt động đơn giản

+ Kỹ năng tổng quát gắn với những hoạt động phức tạp (bao gồm nhiều hoạt động:

kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giáo dục …)

Trang 22

- Kỹ năng là một thành tố tạo nên năng lực của mỗi cá nhân

Năng lực = thể chất + hiểu biết + kỹ năng

Năng lực bộc lộ trong hoạt động và gắn liền với một số kỹ năng tương ứng Mức độ hoàn thiện của kỹ năng là một trong những thuộc tính quan trọng của mỗi người Điều này làm cho những con người khác nhau hoàn thành công việc với hiệu quả khác nhau Kỹ năng

có tính cụ thể, riêng lẻ còn năng lực có tính tổng hợp khái quát

1.3.3 Sự hình thành kỹ năng [31], [37], [38]

Sự hình thành kỹ năng là làm cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm biến đổi và làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong các bài tập, trong nhiệm

vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể

Muốn vậy khi hình thành kỹ năng cho học sinh cần phải:

- Giúp cho học sinh tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ

với chúng

- Giúp học sinh hình thành một đường lối chung (khái quát) để giải quyết các đối tượng, các bài tập cùng loại

- Xác lập được mối liên hệ giữa những bài tập khái quát và các kiến thức tương ứng

Sự dễ dàng hay khó khăn trong sự vận dụng kiến thức là tùy thuộc ở khả năng nhận dạng kiểu nhiệm vụ, bài tập Nội dung của bài tập, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa và

bị che phủ bởi những yếu tố làm lệch hướng đến sự hình thành kỹ năng

Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng Vì thế tạo ra tâm thế thuận lợi cho học tập sẽ giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc hình thành kỹ năng

Đối với học sinh mỗi môn học đều cần phải có một số kỹ năng nhất định Chẳng hạn như môn toán thì cần phải có kỹ năng tính toán các phép tính, biến đổi, vẽ hình, vẽ đồ thị … còn môn văn học thì cần phải có kỹ năng phân tích, chứng minh, bình luận, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ …

Đối với môn hóa học cũng vậy, cũng nhất thiết cần phải có một số kỹ năng nhất định:

- Kỹ năng thực hành thí nghiệm: sử dụng dụng cụ thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, quan sát, giải thích thí nghiệm, tìm ra các phản ứng để minh họa

- Kỹ năng tư duy hóa học: so sánh, phân tích, tổng hợp để giải thích các hiện tượng trong chương trình hoặc trong đời sống

- Kỹ năng giải bài tập hóa học: hiểu và nhớ các tính chất của các chất, biết và vận dụng những điều kiện đã cho để giải quyết các yêu cầu của đề bài

Trang 23

1.4 Kỹ năng giải bài tập hóa học [37], [38], [39]

1.4.1 Khái niệm về kỹ năng giải bài tập hóa học

Kỹ năng giải bài tập hóa học của học sinh theo chúng tôi là khả năng sử dụng có mục đích, sáng tạo những kiến thức hóa học để giải các bài tập hóa học

Một học sinh có kỹ năng giải bài tập hóa học tức là biết phân tích đầu bài, từ đó xác định được hướng giải đúng, trình bày lời giải một cách logic, chính xác trong một thời gian nhất định Có thể chia 2 mức kỹ năng giải bài tập hóa học:

- Kỹ năng giải bài tập hóa học cơ bản

- Kỹ năng giải bài tập hóa học phức hợp

Trong mỗi mức lại có 3 trình độ khác nhau:

- Biết làm: Biết được quy trình giải một loại bài tập cơ bản nào đó tương tự như bài giải mẫu nhưng chưa nhanh

- Thành thạo: Biết cách giải nhanh, ngắn gọn, chính xác theo cách giải gần như bài mẫu nhưng có biến đổi chút ít hoặc bằng cách giải khác nhau

- Mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo: Đưa ra được những cách giải ngắn gọn, độc đáo do biết vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học (không chỉ đối với bài tập hóa học gần như bài mẫu mà

cả bài tập hóa học mới)

1.4.2 Các giai đoạn hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học

Việc hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học có thể chia thành các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Học sinh vận dụng những lý thuyết để giải những bài tập hóa học cơ bản nhất Qua đây sẽ hình thành ở học sinh các thao tác giải cơ bản như: viết tên hoặc kí hiệu các nguyên tố hóa học, viết công thức theo hóa trị, tính hóa trị dựa vào công thức, viết tên

và công thức hóa học của một số đơn chất, hợp chất, tính phân tử khối, khối lượng mol

- Giai đoạn 2: Học sinh vận dụng kiến thức, thao tác để giải bài tập cơ bản giúp hình thành kỹ năng giải bài tập cơ bản

- Giai đoạn 3: Hình thành kỹ năng bài tập phức hợp thông qua việc cho học sinh giải

những bài tập phức hợp đa dạng phức tạp hơn

Nếu xét việc hình thành từng kỹ năng riêng lẻ thì gồm các bước sau:

- Bước 1: Giải bài mẫu cụ thể để biết được algorit thao tác giải một bài tập hóa học

- Bước 2: Luyện giải một số bài tập hóa học tương tự bài mẫu nhằm giúp học sinh nắm được sơ đồ định hướng giải một bài tập hoá học

Trang 24

- Bước 3: Rèn luyện giải các bài tập phức hợp (khác bài mẫu) ngày một phức tạp hơn,

đa dạng hơn từ thấp đến cao nhằm giúp học sinh sử dụng sơ đồ định hướng để giải các bài tập phức hợp

1.4.3 Con đường hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học

Theo lý luận dạy học thì kỹ năng được hình thành là do luyện tập Theo chúng tôi có nhiều cách luyện tập để hình thành khả năng giải bài tập hóa học như sau:

- Luyện tập theo mẫu: Cho học sinh giải bài tập hóa học tương tự bài tập mẫu Việc luyện tập này có thể tập trung ngay ở một bài học nhưng cũng có thể rải rác ở một số bài hoặc bài tập ở nhà

- Luyện tập không theo mẫu:

+ Học sinh luyện tập trong tình huống có biến đổi

+ Những điều kiện và yêu cầu của bài tập hóa học có thể biến đổi từ đơn giản đến phức tạp cùng với sự phát triển của kiến thức

Vì vậy các bài tập hóa học cho học sinh luyện tập cũng cần được xếp từ dễ đến khó giúp cho học sinh phát triển các kỹ năng bậc cao

- Luyện tập thường xuyên:

Mỗi kỹ năng được hình thành phải nhuần nhuyễn (thành thạo) do đó cần thường xuyên tạo điều kiện để học sinh rèn luyện kỹ năng qua tiết học trong các khâu của quá trình dạy học ở nhà

- Luyện tập theo nhiều hình thức giải các bài tập hóa học khác nhau

Sử dụng đa dạng các loại bài tập hóa học để có nhiều hình thức rèn luyện kỹ năng giải như: giải bằng lời, giải dưới dạng viết và giải bằng thực nghiệm

Để hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học cho học sinh thì giáo viên cần thực hiện các vấn đề sau đây:

- Xác định từng kỹ năng cụ thể trong hệ thống kỹ năng giải bài tập hóa học và mức độ của nó ở mỗi lớp học, cấp học tương ứng

- Xác định hệ thống bài tập hóa học tương ứng chủ yếu để học sinh luyện tập kỹ năng giải bài tập cơ bản, bài tập tổng hợp

- Xây dựng sơ đồ định hướng khái quát, sơ đồ định hướng hành động và các algorit thao tác giải mỗi loại bài tập cơ bản điển hình và bài tập hóa học cơ sở để hướng dẫn học sinh giải bài tập

Trang 25

- Hướng dẫn học sinh hoạt động tìm kiếm lời giải bài tập mẫu và bài tập tương tự nhằm giúp học sinh nắm được sơ đồ định hướng giải bài tập hóa học nói chung và mỗi loại bài tập hóa học cụ thể nói riêng

- Sử dụng các bài tập hóa học trong mỗi bài, mỗi chương để hình thành và rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học cho học sinh, giúp học sinh luyện tập học theo mẫu, luyện tập không theo mẫu, luyện tập thường xuyên và luyện tập theo nhiều hình thức giải bài tập hóa học khác nhau

1.5 Một số vấn đề về học sinh trung bình, yếu môn hóa

1.5.1 Khái niệm

Theo quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông (Ban hành kèm theo Quyết định số 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì tiêu chuẩn để xếp loại học sinh trung bình, yếu như sau:

Loại trung bình: Điểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 5,0 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên Không có môn học nào điểm trung bình dưới 3,5

Loại yếu: điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên và không có môn học nào điểm trung bình dưới 2,0

Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này, chúng tôi dùng khái niệm học sinh trung bình môn hóa để chỉ những học sinh có điểm kiểm tra khoảng 5 - 6, học sinh yếu môn hóa

để chỉ những học sinh có điểm kiểm tra khoảng 3 - 4

1.5.2 Những đặc điểm của học sinh trung bình, yếu

Qua trao đổi ý kiến với đồng nghiệp, tham khảo tài liệu chúng tôi đã rút ra một số đặc điểm của học sinh trung bình và yếu

Học sinh yếu có đặc điểm sau:

- Có nhiều lỗ hổng kiến thức và kỹ năng

- Tiếp thu kiến thức chậm, nắm kiến thức hời hợt, không biết vận dụng kiến thức vào bài tập

- Năng lực tư duy kém, thiếu linh hoạt

- Thực hành, tính toán kém hay sai sót, nhầm lẫn

Trang 26

- Diễn đạt thiếu mạch lạc, lập luận thiếu căn cứ, sử dụng thuật ngữ hóa học thiếu chính xác

- Thái độ học tập thờ ơ, phương pháp học tập môn hóa chưa tốt

Học sinh trung bình có đặc điểm sau:

- Tiếp thu bài khá nhanh, đôi khi nắm những mặt không bản chất của bài giảng, chỉ lĩnh hội được một mặt bản chất khi ôn tập nhiều lần, dễ quên

- Chưa thật sự chăm chú trong giờ học, hoạt động không đều trong giờ học

Nhìn chung những học sinh trung bình, yếu thường có kiến thức chưa vững chắc Học sinh không nắm được những kiến thức làm nền tảng của bộ môn, không có phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm của môn học hóa học do đó không phát triển được kỹ năng học tập Học sinh nghe, nhưng không hiểu những vấn đề giáo viên trình bày, có khi hiểu nhưng tự bản thân các em không thể hình dung lại toàn bộ chuỗi kiến thức một cách logic,

và khi đặt các em vào tình huống có vấn đề, vận dụng những kiến thức vừa lĩnh hội để giải quyết vấn đề thì các em không làm được mà cần có sự giúp đỡ của giáo viên

1.5.3 Nguyên nhân học sinh học yếu môn hóa

Theo tác giả học sinh học yếu môn hóa có thể do một số nguyên nhân sau:

- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình

Học sinh

- Mất căn bản kiến thức

- Khả năng tiếp thu bài chậm so với học sinh bình thường

- Không chịu học do chưa có động cơ học tập đúng đắn

Trang 27

- Làm bài không cẩn thận, ẩu tả trong quá trình làm bài

- Chưa có phương pháp học tập đúng đắn

Phụ huynh

- Còn một số phụ huynh HS thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em, phó mặc mọi việc cho nhà trường

- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến các

em không chú tâm vào học tập

- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn bản và rồi yếu kém

Bộ môn hóa

- Đặc thù của môn Hóa là vừa học lý thuyết vừa thực nghiệm Nếu thiết bị dạy học, điều kiện thí nghiệm ở một số trường phổ thông hạn chế thì việc học sẽ không sinh động, nên học sinh ít có hứng thú

- Môn hóa là một trong số các môn khoa học tự nhiên nên nó có mối liên quan nhất định với các môn: toán, lý, sinh Nếu học sinh học yếu những môn này thì ít nhiều cũng ảnh hưởng đến việc học tập môn hóa

- Tại một số trường phổ thông, số giờ qui định để học môn hóa là 2 - 3 tiết trong một tuần Với số tiết như vậy học sinh ít có thời gian để luyện tập các kỹ năng giải bài tập hóa học, các em sẽ dễ phạm sai lầm trong quá trình giải bài tập

1.6 Thực trạng về việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa ở một số trường THPT

1.6.1 Mục tiêu điều tra

- Nắm được kỹ năng giải bài tập hóa học của học sinh hiện nay

- Nắm được những vướng mắc của học sinh hiện nay khi giải bài tập hóa học

- Nắm được kiểu bài lên lớp mà giáo viên thường rèn kỹ năng giải bài tập cho học sinh

- Nắm được tính khả thi của các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu

1.6.2 Phương pháp điều tra

Chúng tôi đã phát phiếu điều tra (phụ lục 5) cho 42 giáo viên có đối tượng học sinh học lực trung bình, yếu dạy hóa học ở tỉnh Long An (có 8 GV), Tp Hồ Chí minh (có 14 GV), Đaklak (có 5 GV), lớp cao học tại Tp Hồ Chí Minh khóa 20 (có 6 GV), 21 (có 9 GV)

Trang 28

1.6.3 Kết quả điều tra

1 Đối tượng học sinh mà thầy (cô) đang dạy chủ yếu là

- Giỏi : 0%

- Khá : 0%

- Trung bình : 67%

- Yếu : 33%

2 Thầy (cô) thường rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh ở kiểu bài lên lớp nào?

Bảng 1.1 Mức độ rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trong các kiểu bài lên lớp

Kiểu bài lên lớp Rất thường xuyên Thường xuyên thoảng Thỉnh Không sử dụng

Truyền thụ kiến thức mới 24% 45% 31% 0%

5 Theo thầy (cô) khi giải bài tập, học sinh còn vướng mắc ở những điểm nào?

Bảng 1.2 Những vướng mắc của học sinh khi giải bài tập

Chưa viết được phương trình phản ứng 93% 7%

Chưa cân bằng được phương trình phản

Chưa nhớ điều kiện xảy ra phản ứng 95% 5%

Chưa biết cách trình bày khoa học, logic 85% 15%

Các thao tác tư duy còn chậm 90% 10%

Trang 29

lượng của các ký hiệu, công thức, phương trình

Chưa thành thạo các kỹ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng 90% 10%

Chưa thành thạo các kỹ năng tính toán 88% 12%

Chưa biết cách nhận biết từng dạng bài tập 90% 10%

Chưa nắm được cách giải từng dạng bài tập 83% 17%

6 Để nâng cao hiệu quả rèn luyện KNGBT cho học sinh trung bình, yếu, xin thầy (cô) cho biết ý kiến về các biện pháp sau:

Bảng 1.3 Các biện pháp rèn luyện KNGBT cho học sinh trung bình, yếu

1 Rèn luyện cho HS các thao tác tư duy 90% 10%

2 Rèn luyện kỹ năng tóm tắt đề và phân tích đề 98% 2%

3 Rèn luyện kỹ năng viết và cân bằng phương

4 Rèn luyện kỹ năng tính toán 98% 2%

5 Rèn luyện kỹ năng giải từng dạng bài tập 95% 5%

6 Rèn luyện kỹ năng nhận biết từng dạng bài tập 90% 10%

Nhận xét

Từ các số liệu thu được ở trên chúng tôi nhận thấy:

- Đa số các giáo viên thường rèn kỹ năng giải bài tập hóa học cho học sinh chủ yếu là

ở bài ôn tập, luyện tập, truyền thụ kiến thức mới Còn bài thực hành thì giáo viên khó có thể

sử dụng vì ở kiểu bài này chủ yếu là rèn kỹ năng thí nghiệm thực hành

- Về kỹ năng giải bài tập của học sinh trung bình, yếu hiện nay không có giáo viên nào cho là tốt vì các em bị hổng kiến thức, mất căn bản và chưa có ý thức học tập tốt Do đó, có 79% giáo viên cho rằng việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho đối tượng học sinh này là rất cần thiết Có 19% giáo viên cho rằng việc này là cần thiết, số còn lại là cho rằng bình thường

- Về những vướng mắc của học sinh khi giải bài tập thì khoảng hơn 81% giáo viên cho rằng khi giải bài tập định tính thì phần lớn các em chưa viết, cân bằng được phương trình phản ứng, chưa nhớ rõ điều kiện phản ứng Các thao tác tư duy như so sánh, phân tích và tổng hợp … còn chậm Khoảng 95% giáo viên cho rằng các em chưa nắm vững các kỹ năng thực hành, chưa biết gắn lý thuyết với thực hành Khoảng hơn 83% giáo viên cho rằng khi giải bài tập định lượng thì phần lớn các em chưa nắm vững các định luật cơ bản hóa học, ý nghĩa định tính, định lượng của các ký hiệu, công thức, phương trình Chưa thành thạo các

Trang 30

kỹ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng, các kỹ năng tính toán Chưa biết cách nhận biết từng dạng bài tập và chưa nắm được cách giải từng dạng bài tập

- Về các biện pháp để nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh

trung bình, yếu thì có 100% GV cho rằng nên rèn luyện kỹ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng Khoảng hơn 90% cho rằng nên rèn cho học sinh các thao tác tư duy, kỹ năng tóm tắt đề và phân tích đề, kỹ năng tính toán, kỹ năng giải từng dạng bài tập và nhận biết từng dạng bài tập

Trang 31

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1 chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài bao gồm:

1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Ở phần này chúng tôi đã liệt kê, nhận xét 5 khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về việc lấy lại kiến thức căn bản và việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh của sinh viên Khoa Hóa - trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

2 Bài tập hóa học Chúng tôi đã nêu rõ khái niệm bài tập hóa học, ý nghĩa tác dụng của bài tập hóa học, phân loại, lựa chọn và sử dụng bài tập hóa học, những điều kiện để học sinh giải bài tập tốt, hướng sử dụng bài tập dùng cho HS trung bình, yếu

3 Kỹ năng Chúng tôi đã đưa nhiều cách hiểu về kỹ năng, từ đó đưa ra khái niệm về kỹ năng, đặc điểm kỹ năng, sự hình thành kỹ năng

4 Kỹ năng giải bài tập hóa học Phần này chúng tôi đã trình bày khái niệm về kỹ năng giải bài tập hóa học, các giai đoạn hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học, con đường hình thành kỹ năng giải bài tập hóa học

5 Một số vấn đề về học sinh trung bình, yếu môn hóa Phần này chúng tôi đã trình bày

về khái niệm, những đặc điểm của học sinh trung bình, yếu và những nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu môn hóa

6 Tìm hiểu thực trạng về việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa ở trường THPT

Trang 32

Ch ương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU CHƯƠNG 5, 6 HÓA HỌC 10 BAN

CƠ BẢN 2.1 Những vấn đề cơ bản của chương 5, 6 hóa học lớp 10 ban cơ bản

2.1 1 Vị trí và vai trò

Chương 5, 6 trong chương trình hóa học 10 nói về phi kim và các hợp chất của chúng Nhóm halogen và nhóm oxi được nghiên cứu ngay sau khi nghiên cứu lí thuyết chủ đạo nên chúng có vị trí và vai trò:

- Hoàn thiện và phát triển các nội dung của lí thuyết chủ đạo và vận dụng các kiến thức

lí thuyết để nghiên cứu giải thích tính chất các nhóm nguyên tố, các chất cụ thể

- Làm rõ mối quan hệ qua lại chặt chẽ, biện chứng giữa: thành phần, cấu tạo các chất với tính chất lí, hóa học Mối quan hệ giữa tính chất của các chất với ứng dụng và phương pháp điều chế chất, phương pháp bảo quản và sử dụng các chất

- Giúp hoàn thiện phát triển khái niệm chất hóa học

- Hình thành cho HS phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức hóa học: khoa học thực nghiệm có lập luận trên cơ sở lí thuyết Trong nhận thức HS được hình thành, hoàn thiện tư duy, sự suy lí trên cơ sở lí thuyết chủ đạo:

+ Từ cấu tạo chất dự đoán tính chất các chất và kiểm nghiệm bằng thực nghiệm hóa học

+ Từ các chất cụ thể suy luận cấu tạo nguyên tử, dạng liên kết trong phân tử trên cơ sở

Trang 33

- Biết tính chất vật lí, tính chất hóa học cơ bản và một số ứng dụng, cách điều chế của các đơn chất oxi, ozon, lưu huỳnh Biết những tính chất hóa học của các hợp chất quan trọng của oxi và lưu huỳnh, một số ứng dụng vá cách điều chế

2.1.2.2 Về kỹ năng

Tiếp tục hình thành và củng cố một số kỹ năng:

- Quan sát, làm một số thí nghiệm về tính chất hóa học, tính chất vật lí của các chất

- Cân bằng PTHH của phản ứng oxi hóa - khử bằng phương pháp thăng bằng electron

- Vận dụng những kiến thức đã được học về: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, phản ứng oxi hóa - khử, độ âm điện … để giải thích một số tính chất của các đơn chất và hợp chất

- Giải một số bài tập định tính và định lượng có liên quan đến kiến thức trong chương

2.1.2.3 Về giáo dục tình cảm, thái độ

Thông qua nội dung dạy học về tính chất hóa học và ứng dụng của các chất đã được học, giáo dục cho HS:

- Lòng say mê học tập, yêu khoa học, ý thức vươn lên chiếm lĩnh khoa học, kĩ thuật …

- Có ý thức bảo vệ môi trường, đặc biệt là nguồn nước và môi trường không khí, thái

độ đúng đắn đối với các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí, ý thức bảo vệ tầng ozon

- Có ý thức phòng bệnh do thiếu iot

2.1.3 Cấu trúc và nội dung

Bảng 2.1 Cấu trúc và nội dung chương 5, 6 SGK Hóa học 10 cơ bản

- 1 kiểm tra 1 tiết

Bài 21 Khái quát về nhóm halogen

Bài 22 Clo

Bài 23 Hiđro clorua - Axit clohiđric và muối clorua

Bài 24 Sơ lược về hợp chất có oxi của clo

Bài 25 Flo - Brom - Iot

Bài 26 Luyện tập: Nhóm Halogen

Bài 27 Bài thực hành số 2: Tính chất hóa học của khí clo và hợp chất của clo

Bài 28 Bài thực hành số 3: Tính chất hóa học của brom và iot

Chương 6 NHÓM OXI

12 tiết: - 7 lí thuyết

- 2 luyện tập

- 2 thực hành

Trang 34

- 1 kiểm tra 1 tiết

Bài 29 Oxi - Ozon

Bài 30 Lưu huỳnh

Bài 31 Bài thực hành số 4: Tính chất của oxi - lưu huỳnh

Bài 32 Hiđro sunfua - Lưu huỳnh đioxit - Lưu huỳnh trioxit

Bài 33 Axit sunfuric - Muối sunfat

Bài 34 Luyện tập: Oxi và lưu huỳnh

2.2 Những định hướng khi xây dựng các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập 2.2.1 C ần chú ý đến nhiệm vụ và đặc điểm của dạy học hóa học

Nhiệm vụ dạy học hóa học

- Cung cấp cho học sinh những cơ sở khoa học của hóa học, đó là: những khái niệm, định luật, lý thuyết hóa học và những sự kiện hóa học vô cơ và hữu cơ cần thiết để nhận thức thế giới vật chất và đáp ứng những đòi hỏi của xã hội

- Hình thành những kỹ năng thí nghiệm, thực hành và giải bài tập

- Hình thành cho học sinh phương pháp tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học:

phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và khái quát, phương pháp suy luận từ hiện tượng quan sát đến bản chất và ngược lại

- Trang bị cho học sinh những kiến thức kỹ thuật tổng hợp (những ứng dụng của hóa học vào công nghệ sản xuất)

- Nâng cao nhận thức của học sinh về vai trò, nhiệm vụ của hóa học đối với đời sống,

xã hội, kinh tế và môi trường

- Hình thành thế giới quan khoa học, góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lao động và thẩm mỹ … giáo dục lòng yêu nước và ý thức cộng đồng

Đặc điểm dạy học hóa học

- Trong quá trình dạy học hóa học luôn có sự liên hệ mật thiết giữa nội dung và kiến thức hóa học với thế giới tự nhiên và cuộc sống đời thường của con người

- Trong dạy học hóa học các phương pháp nhận thức sau đây được sử dụng một cách thường xuyên:

+ Phương pháp diễn dịch - quy nạp

+ Phương pháp cụ thể - trừu tượng

+ Phương pháp quan sát - thí nghiệm

- Định luật tuần hoàn - hệ thống tuần hoàn và các kiến thức về cấu tạo chất là lý thuyết chủ đạo của các hệ thống kiến thức hóa học

- Cần sử dụng nhiều sơ đồ, hình vẽ, mô hình để giúp học sinh tư duy trừu tượng

Trang 35

- Thí nghiệm hóa học là phương tiện không thể thiếu được trong dạy học hóa học

- Bài tập hóa học là công cụ rất hiệu nghiệm để củng cố, khắc sâu và mở rộng kiến thức cho học sinh

Xuất phát từ những đặc điểm và nhiệm vụ của dạy học hóa học cần phải rèn cho học sinh các thao tác tư duy, những kỹ năng: phân tích và tóm tắt đề, viết và cân bằng phương trình phản ứng, tính toán, nhận biết dạng bài tập và giải từng dạng bài tập

2.2.2 Cần chú ý đến các đặc điểm và yêu cầu của việc giải bài tập

Đặc điểm của việc giải bài tập:

- Khi giải bài tập hóa học học sinh có thể trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm

- Việc giải bài tập hóa học có rất nhiều tác dụng như: giúp học sinh hiểu sâu hơn các khái niệm đã học, mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú, củng cố kiến thức,

hệ thống kiến thức, thúc đẩy sự phát triển kỹ năng, tạo điều kiện để tư duy phát triển tốt …

- Trong quá trình giải bài tập, học sinh sử dụng nhiều các phép tính, quy tắc tam suất, cân bằng phương trình phản ứng, các định nghĩa của các khái niệm, các định luật Đồng thời, học sinh còn phải có tính kiên trì, chịu khó, cẩn thận chính xác, khoa học, cao hơn nữa đòi hỏi học sinh phải có tư duy

- Học sinh dễ mắc phải những sai lầm khi giải bài tập do vô ý, tính toán chưa chính xác, chưa có kỹ năng làm bài tập nên làm bài không hoàn chỉnh …

- Khi giải bài tập học sinh cần phải xác lập những mối quan hệ nhất định giữa các tri thức và kỹ năng Đồng thời cần phải biết vận dụng kiến thức đã học kết hợp với việc tính toán để tìm ra đáp số

Các yêu cầu khi giải bài tập:

- Thuộc các kí hiệu hóa học, hóa trị của các nguyên tố, khối lượng nguyên tử của một

số nguyên tố, công thức hóa học của một số chất cần dùng

- Nắm chắc lý thuyết, các dạng bài tập cơ bản, một số phương pháp giải thích hợp với từng dạng toán, các bước giải một bài toán hóa học

- Khái quát được đầu bài và ghi tóm tắt đầu bài

- Cân bằng phương trình hóa học, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học

- Biết một số thủ thuật và phép biến đổi toán học, cách giải phương trình và hệ phương trình bậc 1, 2 …

Trang 36

Xuất phát từ những đặc điểm, yêu cầu của việc giải bài tập nên phải rèn cho học sinh những kỹ năng: phân tích và tóm tắt đề, viết và cân bằng phương trình phản ứng, tính toán, nhận biết dạng bài tập và giải từng dạng bài tập

2.2.3 Cần chú ý đến các đặc điểm của học sinh trung bình, yếu

Học sinh trung bình, yếu thường có kiến thức chưa vững chắc, không nắm chắc được các dạng bài tập và phương pháp giải, kỹ năng tính toán chậm, còn lúng túng và khó khăn trong khi thực hiện các phép toán cơ bản Bên cạnh đó các em còn chậm hiểu, khả năng phân tích, tổng hợp còn hạn chế, không biết phân tích bài toán Do đó các em cần phải được rèn các thao tác tư duy và những kỹ năng như: phân tích và tóm tắt đề, viết và cân bằng phương trình phản ứng, tính toán, nhận biết dạng bài tập và giải từng dạng bài tập

2.2.4 Cần chú ý đến cấu trúc của hệ thống kỹ năng giải bài tập

Kỹ năng giải bài tập là một hệ thống bao gồm nhiều kỹ năng khác nhau, đó là:

- Viết ký hiệu hóa học, công thức hóa học

- Biểu diễn các phản ứng hóa học bằng công thức hóa học và phương trình hoá học

- Cân bằng phương trình hóa học

- Tính khối lượng nguyên tử của các nguyên tố, tính toán theo công thức và phương trình hóa học Thực hiện các phép toán đơn giản như: các phép tính đại số; giải phương trình bậc 1, bậc 2; giải phương trình 1 ẩn số, 2 ẩn số

- Phân tích đề bài và tóm tắt đề bài

- Kỹ năng nhận biết dạng bài tập và giải các bài tập khác nhau

- Kỹ năng tư duy hóa học: so sánh, phân tích, tổng hợp

Do đó muốn học sinh giải bài tập tốt phải rèn từng kỹ năng cụ thể như: kỹ năng tư duy hóa học, phân tích và tóm tắt đề, viết và cân bằng phương trình phản ứng, tính toán, nhận biết dạng bài tập và giải từng dạng bài tập

2.3 Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa lớp 10 ban cơ bản

2.3.1 Rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy

Theo lý thuyết tâm lý học thì tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

Chúng ta đã biết việc phát triển tư duy là một khâu rất quan trọng trong quá trình dạy học Nếu như học sinh có kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy tốt sẽ giải bài tập tốt Sự

Trang 37

phát triển tư duy nói chung được dựa trên sự rèn luyện thành thạo và vững chắc các thao tác

tư duy sau:

 Phân tích

Phân tích là hoạt động tư duy phân chia một vật, một hiện tượng ra các yếu tố, các bộ phận nhằm mục đích nghiên cứu chúng một cách đầy đủ, trọn vẹn hơn theo một hướng nhất định

Ví dụ: Trong khi giải một bài toán hóa học thì phải phân tích dữ kiện bài toán nghĩa là

tập trung vào suy nghĩ vào câu hỏi của bài toán, nghĩ xem muốn trả lời được nó thì cần phải biết những gì? Công thức tính là gì? Xác định cái nào cho sẵn trong bài toán, cái nào cần tìm? Muốn tìm được cái này phải biết những gì?

Ví dụ: Khi giải một bài toán hóa học Đầu tiên, học sinh phải phân tích đề bài Xem từ

những dữ kiện đã cho trong bài toán có thể suy ra điều gì? Tính ngay được cái gì? Những dữ kiện nào đề bài cho, dữ kiện nào đề bài hỏi, bài toán sử dụng các kiến thức hóa học nào Sau

đó, các em tổng hợp các dữ kiện để thấy sự liên hệ giữa chúng mà đề ra được phương pháp giải thích hợp

sự so sánh không những phân biệt và chính xác hóa khái niệm mà còn giúp hệ thống hóa chúng lại Có hai cách so sánh thường dùng trong dạy học hóa học là so sánh tuần tự và so sánh đối chiếu

Trang 38

So sánh tuần tự là so sánh trong đó nghiên cứu xong từng đối tượng rồi so sánh với nhau

Ví dụ: Sau khi học xong nhóm halogen và oxi - lưu huỳnh thì so sánh chúng với nhau

So sánh đối chiếu là cách nghiên cứu hai đối tượng cùng một lúc hoặc khi nghiên cứu đối tượng thứ hai, người ta phân tích thành từng bộ phận rồi đối chiếu với từng bộ phận của đối tượng thứ nhất So sánh đối chiếu nhằm làm hiểu hết các mặt đối lập của 2 khái niệm, để hiểu sâu hơn nội dung

Ví dụ: So sánh kim loại với phi kim

Kim loại và phi kim có tính chất hoàn toàn trái ngược nhau

Bảng 2.2 So sánh kim loại với phi kim

- Dẫn điện tốt - Dẫn điện kém hoặc không dẫn điện

- Dẫn nhiệt tốt - Dẫn nhiệt kém

- Có ánh kim - Hầu hết không có ánh kim

- Ở nhiệt độ thường, hầu hết ở trạng thái rắn - Ở nhiệt độ thường, hầu hết ở thể lỏng và

Quy nạp là phép phán đoán dựa trên sự nghiên cứu nhiều sự vật, hiện tượng đơn nhất

để đi đến kết luận chung, tổng quát những mối quan hệ bản chất nhất và chung nhất

V í dụ: Các nguyên tử trong nhóm oxi – lưu huỳnh có 2 electron hóa trị do đó tính chất

hóa học của các nguyên tố trong nhóm này tương tự nhau

 Khái quát hoá

Khái quát hoá là tìm ra những cái chung và bản chất trong số những dấu hiệu, tính chất

và những mối liên hệ giữa chúng thuộc về một loại vật thể hoặc hiện tượng

Ví dụ: Hình thành khái niệm axit

Loại suy

Loại suy là phép phán đoán đi từ cái riêng biệt này đến cái riêng biệt khác Bản chất

Trang 39

của sự loại suy là dựa vào sự giống nhau của hai sự vật hiện tượng về một dấu hiệu nào đó

mà đi đến sự giống nhau về những dấu hiệu khác nữa Kết luận từ phép loại suy bao giờ cũng gần đúng, có tính giả thiết, nhất thiết phải kiểm tra lại bằng thực nghiệm

Ví dụ: Axit HCl có chứa hiđro trong thành phần Dung dịch của nó làm quỳ tím hóa

đỏ, tác dụng với bazơ, oxit bazơ, tác dụng kim loại Zn giải phóng H2

Axit H2SO4 loãng cũng có hiđro trong thành phần Dung dịch của nó cũng làm quỳ tím hóa đỏ, tác dụng với bazơ, oxit bazơ nhưng không biết tác dụng kim loại Zn có giải phóng

H2 hay không?

Dựa vào sự giống nhau về các tính chất đã nêu trên, suy ra axit H2SO4 cũng giống như axit HCl cả về tác dụng với Zn

Sau đó kiểm tra bằng cách làm thí nghiệm

Rèn luyện thao tác tư duy cho học sinh trung bình, yếu cần tiến hành theo từng giai đoạn, dựa trên những tài liệu học tập cụ thể và sau đó ra cho học sinh những bài tập áp dụng chúng Sau mỗi bài giảng lý thuyết giáo viên cần có phần tóm tắt ý chính mỗi bài để học sinh nắm được các kiến thức cần thiết, cốt lõi Ngoài ra, sau khi kết thúc vài bài hoặc một chương … giáo viên nên cho học sinh những bài tập mang tính giáo khoa như so sánh, giải thích, chứng minh tính chất của một chất để giúp học sinh hoàn thiện kiến thức

2.3.2 Rèn luyện kỹ năng phân tích và tóm tắt đề

Mỗi bài toán đều có 3 yếu tố cơ bản: dữ kiện là cái đã cho biết trong đề bài, ẩn số là cái chưa biết, cái cần tìm và những điều kiện là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số

Do đó để giải được một bài toán hóa học thì bước đầu tiên cần phải làm là đọc kỹ đề bài toán, phân tích đề bài để tìm hiểu nội dung bài toán, nhận thức rõ đâu là các dữ kiện đã cho, đâu là cái phải tìm, các mối liên hệ giữa các dữ kiện và ẩn số

Để hiểu đề của một bài toán thì phải chú ý vào những từ ngữ quan trọng của đề bài toán, cần phải hiểu được những thuật ngữ nêu trong đề toán Do đó cần phải biết tóm tắt bài toán dưới dạng ngắn ngọn, cô đọng nhất

Tóm tắt bài toán là ghi lại nội dung bài toán một cách ngắn gọn nhất nhưng đầy đủ cái

đã cho và cái cần tìm của bài toán, nhìn vào tóm tắt ta có thể nêu lại bài toán

Khi tóm tắt đề bài toán cần gạt bỏ những cái không bản chất, thứ yếu để hướng sự suy nghĩ của học sinh vào những điểm chính của đề toán

Việc hướng dẫn học sinh trung bình, yếu tóm tắt bài toán có ý nghĩa quan trọng Vì dùng sơ đồ, ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn để tóm tắt đề toán là cách tốt nhất để diễn tả một

Trang 40

cách trực quan các điều kiện của bài toán, giúp ta lược bỏ được những cái không bản chất để tập trung vào bản chất của bài toán Nhờ vậy, khi nhìn vào tóm tắt bài toán, các em biết được những dữ kiện và yêu cầu của bài toán một cách cụ thể, rõ ràng nhất Mặt khác, muốn tóm tắt được bài toán yêu cầu học sinh phải hiểu kĩ đề bài, biết cách phân tích đề, tìm được mối quan hệ giữa các dữ kiện trong bài Từ đó, các em dễ tìm ra hướng giải

Hơn nữa, nếu chúng ta không chú ý hướng dẫn học sinh cách tóm tắt bài toán thì kĩ năng phân tích đề của các em sẽ kém đi và khi gặp những đề bài toán khá dài các em sẽ lúng túng và sẽ thấy khó khăn khi tìm hướng giải bài toán Trong một số trường hợp, dựa vào sơ

đồ tóm tắt học sinh sẽ hiểu rõ bản chất của dạng toán được học và biết cách phân biệt chúng Chẳng hạn: dạng toán tính theo phương trình phản ứng, xác định thành phần hỗn hợp

Để tóm tắt được đề bài thì học sinh cần phải đọc kĩ đề bài, tìm hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ quan trọng, xác định đâu là ẩn số, đâu là dữ kiện Dùng kí hiệu tóm tắt đề bài cho gì? Hỏi gì?

Ví dụ: Hòa tan 11,5 g hỗn hợp Cu, Al, Mg vào dung dịch HCl dư thì thu được 5,6 lít

khí H2 (đktc), dung dịch A và phần không tan B Cho B vào H2SO4 đặc, nóng (dư) thì thu được 2,24 lít khí SO2 (đktc) Xác định % mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu

Để giúp học sinh trung bình, yếu phân tích đề và tóm tắt đề giáo viên có thể đưa ra một

số câu hỏi sau:

- Kim loại nào phản ứng với HCl sinh ra khí H2?

- Phần không tan B là gì?

Phân tích nội dung bài toán:

Bài toán yêu cầu xác định % mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu ⇒ dạng toán xác định thành phần hỗn hợp

Bài tập này cho 3 kim loại ⇒ có 3 ẩn số ⇒ cần 3 dữ kiện

Bài toán cho đủ 3 dữ kiện: 11,5 gam hỗn hợp Cu, Al, Mg; 5,6 lít khí H2 (đktc) và 2,24 lít khí SO2 (đktc)

Kim loại tác dụng với HCl sinh ra khí H2 là Al, Mg Kim loại Cu không phản ứng với dung dịch HCl chính là phần không tan Và Cu phản ứng với H2SO4 sinh ra khí SO2

Vậy từ lượng khí SO2 ta tính được lượng Cu Từ khối lượng hỗn hợp và lượng khí H2

ta tính được lượng Al và Mg

Tóm tắt:

Ngày đăng: 05/07/2021, 08:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Ái, Dương Tất Tốn, Bài tập hóa học 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập hóa học 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Cao Thị Thiên An (2008), Phân Dạng và phương pháp giải bài tập hóa học 10 , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân Dạng và phương pháp giải bài tập hóa học 10
Tác giả: Cao Thị Thiên An
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
3. Ngô Ngọc An (2006), Hóa học cơ bản và nâng cao THPT 10, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học cơ bản và nâng cao THPT 10
Tác giả: Ngô Ngọc An
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
4. Ngô Ngọc An, Lê Hoàng Dũng (2007), Ôn tập và kiểm tra hóa học 10, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn tập và kiểm tra hóa học 10
Tác giả: Ngô Ngọc An, Lê Hoàng Dũng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2007
5. Nguyễn Cao Biên (2008), Rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo cho học sinh lớp 10 THPT thông qua hệ thống bài tập hóa học, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, trường Đại học Sư phạm Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo cho học sinh lớp 10 THPT thông qua hệ thống bài tập hóa học
Tác giả: Nguyễn Cao Biên
Năm: 2008
6. Trịnh Văn Biều (2003), Các phương pháp dạy học hiệu quả , NXB Đại học Sư phạm Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiệu quả
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Tp. HCM
Năm: 2003
7. Trịnh Văn Biều (2000), Giảng dạy hóa học ở trường phổ thông , NXB Đại học Sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy hóa học ở trường phổ thông
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Tp.HCM
Năm: 2000
8. T rịnh Văn Biều (2002), Lí luận dạy học hóa học , NXB Đại học Sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hóa học
Tác giả: T rịnh Văn Biều
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Tp.HCM
Năm: 2002
9. Trịnh Văn Biều (2005), Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học , NXB Đại học Sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Tp.HCM
Năm: 2005
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn hóa học lớp 10, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn hóa học lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2009
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông môn Hóa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông môn Hóa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Nguyễn Hải Châu, Vũ Anh Tuấn (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn hóa học , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn hóa học
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Vũ Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
13. Hoàng Chúng (1982), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục , NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1982
14. Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông và đại học - Một số vấn đề cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông và đại học - Một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
15. Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung (2006), Phương pháp dạy học hóa học tập I , NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học tập I
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
16. Lê Văn Dũng (2001), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS THPT thông qua bài t ập hóa học , Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS THPT thông qua bài tập hóa học
Tác giả: Lê Văn Dũng
Năm: 2001
17. Nguyễn Thị Hồng Gấm (2005), Rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần hóa vô cơ ở trường THCS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần hóa vô cơ ở trường THCS
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Gấm
Năm: 2005
18. Cao Cự Giác (2007), Phương pháp giải bài tập hóa học 10 tự luận và trắc nghiệm , NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giải bài tập hóa học 10 tự luận và trắc nghiệm
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM
Năm: 2007
19. Trần Thành Huế (1996), Một số tổng kết về bài tập hóa học, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tổng kết về bài tập hóa học
Tác giả: Trần Thành Huế
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1996
20. Trần Thị Trà Hương (2009), “Hệ thống bài tập chương Halogen nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 10 THPT” Hóa học và ứng dụng , (13), tr 10 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống bài tập chương Halogen nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 10 THPT” "Hóa học và ứng dụng
Tác giả: Trần Thị Trà Hương
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Những vướng mắc của học sinh khi giải bài tập - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 1.2. Những vướng mắc của học sinh khi giải bài tập (Trang 28)
Bảng 1.3. Các biện pháp rèn luyện KNGBT cho học sinh trung bình, yếu - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 1.3. Các biện pháp rèn luyện KNGBT cho học sinh trung bình, yếu (Trang 29)
Tiếp tục hình thành và củng cố một số kỹ năng: - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
i ếp tục hình thành và củng cố một số kỹ năng: (Trang 33)
- Hình thành những kỹ năng thí nghiệm, thực hành và giải bài tập. - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Hình th ành những kỹ năng thí nghiệm, thực hành và giải bài tập (Trang 34)
Bảng 2.2. So sánh kim loại với phi kim - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 2.2. So sánh kim loại với phi kim (Trang 38)
Bảng 2.3. Các công thức tính số mol - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 2.3. Các công thức tính số mol (Trang 45)
Bảng 2.4. Các công thức tính nồng độ - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 2.4. Các công thức tính nồng độ (Trang 46)
- Sử dụng bảng nhận biết anion (hoặc chất khí). - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
d ụng bảng nhận biết anion (hoặc chất khí) (Trang 53)
Bảng 2.5. Nhận biết anion - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 2.5. Nhận biết anion (Trang 53)
HS quan sát bảng tính tan và nhận xét tính tan muối clorua.  - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
quan sát bảng tính tan và nhận xét tính tan muối clorua. (Trang 69)
- Đặc điểm cấu hình electron lớp ngoài cùng của nguyên tử nguyên tố halogen. -  Cấu tạo phân tử của các halogen - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
c điểm cấu hình electron lớp ngoài cùng của nguyên tử nguyên tố halogen. - Cấu tạo phân tử của các halogen (Trang 73)
GV gọi 2 HS lên bảng viết các phương trình phản ứng. - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
g ọi 2 HS lên bảng viết các phương trình phản ứng (Trang 75)
- Nhận xét cấu hình electron của oxi. - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
h ận xét cấu hình electron của oxi (Trang 81)
Ozon: một dạng thù hình của oxi. CTPT: O 3 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
zon một dạng thù hình của oxi. CTPT: O 3 (Trang 83)
- Quan sát thí nghiệm, hình ảnh … rút ra được nhận xét về tính chất, điều chế axit sunfuric - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
uan sát thí nghiệm, hình ảnh … rút ra được nhận xét về tính chất, điều chế axit sunfuric (Trang 85)
a. Viết cấu hình electron của nguyên tử O và S. - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
a. Viết cấu hình electron của nguyên tử O và S (Trang 94)
GV treo bảng 1 và yêu cầu 1  em học sinh lên trình bày  và điền thông  tin vào  bảng  1 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
treo bảng 1 và yêu cầu 1 em học sinh lên trình bày và điền thông tin vào bảng 1 (Trang 96)
và điền thông tin vào bảng 2.  - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
v à điền thông tin vào bảng 2. (Trang 97)
GV gọi một HS lên bảng giải  bài  tập 8  -  sách giáo  khoa trang 147.  - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
g ọi một HS lên bảng giải bài tập 8 - sách giáo khoa trang 147. (Trang 98)
GV gọi một HS lên bảng giải bài tập5 - sách giáo khoa trang 147.  - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
g ọi một HS lên bảng giải bài tập5 - sách giáo khoa trang 147. (Trang 99)
Trên cơ sở đó chúng tôi đã chọn các lớp theo bảng 3.1. - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
r ên cơ sở đó chúng tôi đã chọn các lớp theo bảng 3.1 (Trang 103)
Bảng 3.4. Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 3.4. Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 (Trang 107)
3.4.2.1. Các bảng số liệu - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
3.4.2.1. Các bảng số liệu (Trang 111)
Bảng 3.10. Phân loại kết quả bài kiểm tra 2 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 3.10. Phân loại kết quả bài kiểm tra 2 (Trang 112)
3.4.3.1. Các bảng số liệu - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
3.4.3.1. Các bảng số liệu (Trang 116)
Bảng 3.15. Phân loại kết quả bài kiểm tra 3 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 3.15. Phân loại kết quả bài kiểm tra 3 (Trang 117)
Bảng 3.16. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 3 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 3.16. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 3 (Trang 117)
3.4.4.1. Các bảng số liệu - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
3.4.4.1. Các bảng số liệu (Trang 120)
Bảng 3.19. Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 4 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 3.19. Phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 4 (Trang 121)
Bảng 3.21. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 4 - Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS trung bình, yếu môn hóa lớp 10 THPT
Bảng 3.21. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 4 (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w