1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến bệnh chàm tay của nhân viên y tế tại quận 5 thành phố hồ chí minh

161 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 6,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 01.BÌA

  • 02.LỜI CAM ĐOAN

  • 03.MỤC LỤC

  • 04.DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • 05.THUẬT NGỮ VIỆT ANH

  • 06.DANH MỤC CÁC BẢNG

  • 07.DANH MỤC CÁC HÌNH

  • 08.DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

  • 09.DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

  • 10.ĐẶT VẤN ĐỀ

  • 11.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

  • 12.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • 13.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

  • 14.BÀN LUẬN

  • 15.KẾT LUẬN

  • 16.KIẾN NGHỊ

  • 17.DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

  • 18.TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • 19.PHỤ LỤC

Nội dung

88 Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay trong dân số chung ở một số nước và trong nghề y qua bản câu hỏi ..... Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu ở trên, đề tài “Tỉ lệ và một số yếu tố nghề n

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Một số khái niệm cơ bản về bệnh chàm tay

1.1.1 Định nghĩa chàm tay

Bệnh chàm ở bàn tay (gọi tắt là chàm tay) là một dạng của bệnh chàm, liên quan đến các ngón tay và lòng bàn tay Bệnh thường ảnh hưởng cả hai bàn tay [89, 125] Phần lớn có triệu chứng khởi đầu là khô da tay, tay trở nên sần sùi, tróc vảy, viêm đỏ và sau đó là nứt da tay [7]

Bệnh chàm còn gọi là viêm da; là một bệnh ngoài da không lây (bệnh da do dị ứng miễn dịch), biểu hiện rất đa dạng nhưng có đặc tính chung là ngứa, có mụn nước, có hồng ban và hay tái phát Bệnh chàm phát triển qua 6 giai đoạn từ: hồng ban, sẩn, mụn nước, rịn nước, đóng mài cho đến dày da Ở giai đoạn sau cùng, sang thương có thể giảm dần (tự lành) hoặc tiến triển về hướng mạn tính (dày da và lichen hóa) [21]

Hình 1.1 Sinh bệnh học của bệnh Chàm/Chàm tay

Nguyên nhân sinh bệnh của bệnh chàm/chàm tay vẫn chưa rõ, nhưng bệnh có liên quan đến yếu tố thể tạng (gien) và yếu tố ngoại lai (các dị ứng nguyên) [14, 23, 53, 54, 78, 85, 119] (hình 1.1)

Bệnh chàm/chàm tay có liên quan với gien thì được gọi là chàm thể tạng/chàm tay dạng thể tạng [32-34] Nếu liên quan với yếu tố ngoại lai thì được gọi là chàm tiếp xúc/chàm tay tiếp xúc [35, 51]

Các yếu tố thể tạng trong bệnh chàm/chàm tay bao gồm 2 nhóm gien: gien liên quan đến da và gien liên quan với quá trình miễn dịch (phụ lục 1)

1.1.2 Phân loại trong bệnh chàm tay

Có nhiều cách phân loại trong bệnh chàm tay Có thể phân loại dựa vào hình dạng lâm sàng (thể tạng, tổ đỉa hoặc đồng tiền…) [38] hoặc thời gian mắc bệnh (chàm cấp, chàm mạn) a Phân loại dựa vào cơ chế bệnh sinh

2 Bảng 1.1 Phân loại bệnh chàm/chàm tay theo cơ chế sinh bệnh học

Có Chàm tiếp xúc trên nền chàm thể tạng Chàm thể tạng

Không Chàm tiếp xúc Không bị chàm b Phân loại dựa vào biểu hiện lâm sàng

Dựa vào biểu hiện lâm sàng, chàm tay có 5 dạng lâm sàng chính (bảng 1.4) Dạng thường gặp nhất là chàm tiếp xúc do kích ứng nguyên phát, do dị ứng Do đó, để chẩn đoán chàm tay do dị ứng là làm patch test để tìm dị ứng nguyên Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh chàm tay là khám lâm sàng

Bảng 1.2 Các dạng lâm sàng của bệnh chàm tay [70, 72]

Phân loại Đặc điểm lâm sàng Cơ chế Chẩn đoán

Kích ứng Mọi vị trí

Hiệu ứng gây hại trực tiếp không đặc hiệu

Dị ứng Mặt lưng bị nhiều hơn mặt lòng bàn tay

Hiện tượng quá mẫn muộn Làm Patch test

Thể tạng Có thể lan đến cổ tay

Có thể bị từ nhỏ Không rõ

Dựa vào bệnh sử và đặc điểm lâm sàng

Mụn nước, bóng nước ở lòng bàn tay và rìa ngón tay

Không rõ Dựa vào đặc điểm lâm sàng

Tăng sừng Mảng dày sừng ở lòng bàn tay > mặt lưng tay Không rõ Dựa vào đặc điểm lâm sàng c Phân loại dựa vào thời gian mắc bệnh [44]

- Chàm cấp: bệnh khởi phát và tự giới hạn trong 2 - 3 tuần, mặc dù bệnh có thể tái phát Thường có bội nhiễm do viêm mô tế bào tại chỗ Dạng lâm sàng thường gặp của chàm cấp là dạng mụn nước (tổ đỉa) [107]

- Chàm mạn tính: bệnh kéo dài hơn 3 tuần, thường gặp là dạng tăng sừng và có những đường nứt trên da (hình 1.2)

Hình 1.2 Chàm tay mạn tính

1.1.3 Phân độ nặng nhẹ trong bệnh chàm tay [126]:

- Mức độ nhẹ: đỏ da và tróc vảy ở rìa các ngón tay và trên các đốt mặt lưng bàn tay (hình 1.5)

Hình 1.3 Chàm tay mức độ nhẹ

- Mức độ trung bình: diện tích da ở bàn tay bị tổn thương nhiều hơn Có thể bị toàn bộ bàn tay (hình

Hình 1.4 Chàm tay mức độ trung bình

- Mức độ nặng: ngoài diện tích da bị như ở mức độ trung bình, ở mức độ này: khô da nhiều hơn, dày sừng, tróc vảy nhiều, nứt da, sưng phù và hồng ban

Hình 1.5 Chàm tay mức độ nặng

- Chỉ số HECSI (Hand eczema Severity Index): đây là chỉ số đánh giá độ nặng bệnh chàm tay, điểm được chấm từ 0 – 360 điểm (0 điểm: không bệnh, điểm càng cao cho thấy bệnh chàm tay nặng và ảnh hưởng trên diện tích rộng) Tác giả Held và cộng sự đã kiểm định độ tin cậy của chỉ số HECSI giữa những người chấm điểm trong nghiên cứu bệnh chàm tay (ICC=0,9) [58] Từ kết quả của nghiên cứu này, chỉ số HECSI đã được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về bệnh chàm tay do HECSI đánh giá toàn bộ các dấu hiệu lâm sàng

1.1.4 Chẩn đoán bệnh chàm tay a Lâm sàng:

Khám lâm sàng phát hiện các sang thương: hồng ban, mụn nước (vết tích mụn nước), rỉ dịch, da khô bong vảy, da khô tăng sừng và nứt da b Cận lâm sàng: Để tìm các dị ứng nguyên trong bệnh chàm tay là xét nghiệm áp da (patch test) Xét nghiệm này sử dụng các dị ứng nguyên có sẵn, áp lên vùng da lành, mỗi dị ứng nguyên 1 vị trí và đọc kết quả sau 48 giờ [54]

1.1.5 Điều trị bệnh chàm tay [28, 36, 94] a Dạng bôi

- Kem dưỡng da tay (kem giữ ẩm): giúp phục hồi hàng rào bảo vệ da, cung cấp một lớp bảo vệ trên bề mặt da, giữ nước và chống lại sự xâm nhập của các chất gây kích ứng và dị ứng

- Thuốc bôi có chứa Corticoid: có tác dụng trong việc giảm viêm và ngứa có 4 loại Corticoid được xếp loại từ nhe, trung bình, mạnh và rất mạnh Việc lựa chọn độ mạnh của thuốc thích hợp sẽ tạo độ ẩm tốt cho da

Hình 1.6 Cơ chế tác dụng của kem giữ ẩm và Corticoid

- Thuốc bôi điều hòa miễn dịch: có tác dụng ức chế hoạt động của tế bào Lympho T, kháng immunoglobuline E từ đó làm giảm phản ứng viêm (thuốc bôi Tacrolimus) b Dạng uống

- Thuốc kháng Histamin: giúp giảm triệu chứng ngứa Một số thuốc kháng Histamin vừa có tác dụng chống ngứa, vừa có tác dụng chống viêm (Cetirizin, Rupatadine)

- Thuốc kháng sinh: khi có tình trạng nhiễm trùng, viêm nung mủ ở bàn tay

1.1.6 Phòng bệnh chàm tay [43, 72] a Các yếu tố ảnh hưởng đến chàm tay

Bệnh chàm tay có thể trầm trọng hơn và/hoặc có thể khởi phát do một số yếu tố chính như sau [46, 47]:

- Tiếp xúc với các hóa chất gây kích ứng da như: xà bông, dầu gội đầu, dầu xả, các hóa chất tẩy rửa và vệ sinh nhà cửa, chất dung môi, xi măng…

- Ra mồ hôi tay, thường gặp trong những trường hợp đeo găng tay trong một thời gian dài làm nóng và tăng tiết mồ hôi tay

- Thỉnh thoảng stress, bội nhiễm nấm/vi trùng có thể làm bệnh nặng hơn b Phòng ngừa bệnh chàm tay

Chàm tay là một bệnh nghề nghiệp

1.2.1 Đại cương về bệnh nghề nghiệp

Lao động giúp con người tạo ra của cải vật chất Trong đó, nghề nghiệp là một quá trình lao động gắn với sự mưu sinh của từng con người Dân gian ta có câu “nghề nào, nghiệp nấy”, chứng tỏ người dân cũng nhận thấy có những tác hại và bệnh tật liên quan đến nghề nghiệp Trên cơ sở này, các nhà quản lý đã đưa ra khái niệm về bệnh nghề nghiệp như sau: “đó là những bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đến người lao động Bệnh xảy ra cấp tính hoặc từ từ Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng Bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được” [1] Các tác hại trong nghề nghiệp bao gồm: những yếu tố trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động [10] Theo lịch sử y học, ngay từ thời xa xưa, Hippocrates đã mô tả và đặt tên cho một chứng bệnh: “cơn khó thở của những người thợ mỏ” [11] Ngày nay, với sự tiến bộ của y học, chúng ta đều biết đây là bệnh bụi phổi, một bệnh được xếp vào danh mục bệnh nghề nghiệp và được bảo hiểm dành cho các công nhân hầm mỏ Như vậy, bệnh nghề nghiệp không phải mới có trong thời kỳ công nghiệp hiện đại mà đã có từ xa xưa Danh sách các bệnh nghề nghiệp thay đổi tùy theo các quốc gia, chẳng hạn như ở Pháp có 88 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, Trung Quốc có 102 bệnh nghề nghiệp [5], Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO: International Labour Organization) đã công nhận 108 bệnh nghề nghiệp [67] Trong đó, bệnh da nghề nghiệp là nhóm bệnh có mức độ phổ biến và thường gặp nhất: đứng từ hàng 1 đến 4 tùy theo quốc gia, chiếm tỉ lệ: 50% ở Nga, 65% ở Pháp, 70% ở Mỹ [25] Bệnh nghề nghiệp tạo ra gánh nặng tài chính rất lớn cho người lao động, gia đình của họ, cũng như sự phát triển kinh tế xã hội ILO ước tính tai nạn nghề nghiệp và các bệnh liên quan gây ra thiệt hại khoảng 4% GDP toàn cầu, tương đương với 2,8 nghìn tỷ USD mỗi năm [20]

Tại Việt Nam, Bộ Y Tế phối hợp với Bộ Lao Động - Thương Binh và

Xã Hội đã chia bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm thành 5 nhóm Trong đó, nhóm bệnh da nghề nghiệp bao gồm những bệnh da phát sinh hoặc nặng thêm do tác hại của các yếu tố độc hại nghề nghiệp phát sinh trong quá trình làm việc Nhóm này được xếp theo 4 loại căn nguyên sau: cơ học, lý học, hóa học, sinh học (90% là do chất hóa học) Bệnh da nghề nghiệp gặp ở mọi ngành nghề: công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, thể thao và các ngành dịch vụ như ngành y tế [24] Đứng đầu trong bệnh da nghề nghiệp đó là viêm da tiếp xúc kích ứng và viêm da tiếp xúc dị ứng [4]

Bệnh nghề nghiệp được phân thành 2 loại: đặc hiệu và không đặc hiệu Bệnh nghề nghiệp đặc hiệu là những bệnh chỉ gặp ở một số nghề nghiệp nhất định hoàn toàn do tác hại đặc trưng của nghề gây ra (bệnh giảm áp ở thợ lặn, bệnh bụi phổi ở công nhân hầm mỏ ) Bệnh nghề nghiệp không đặc hiệu là những bệnh mà người bình thường cũng có thể mắc; người lao động dễ bị mắc hơn do quá trình lao động đã tiếp xúc với tác hại nghề nghiệp Tỉ lệ mắc bệnh nghề nghiệp không đặc hiệu ở người lao động cao hơn rõ rệt so với người dân bình thường (viêm phế quản mạn tính ở những người lao động có tiếp xúc với bụi, đau vùng thắt lưng ở công nhân bốc vác ) Để xác định bệnh nghề nghiệp không đặc hiệu cần phải quan sát, phân tích kỹ điều kiện tiếp xúc tác hại nghề nghiệp trong quá trình lao động và cần so sánh đối chiếu tỉ lệ mắc bệnh ở những nhóm người không tiếp xúc với yếu tố tác hại nghề nghiệp đó [9]

Hoạt động nghề nghiệp thường bị chàm tay nhất là những công việc có đôi tay thường xuyên bị ẩm ướt (wet work), đặc biệt là tiếp xúc với các dung dịch hóa chất như: chất tẩy rửa (nhân viên y tế, thợ làm tóc, người lau chùi nhà- xe, rửa chén bát), xi-măng (thợ hồ), các chất dung môi (thợ sơn)… Các hóa chất trên làm mất lớp bảo vệ da và gây tổn thương chàm Ngoài ra, việc tiếp xúc lặp đi lặp lại các hóa chất cũng làm tổn thương da Hậu quả của kích ứng da nhiều lần làm cho bệnh chàm tay trở nên dai dẳng [6, 37]

1.2.2 Các nghiên cứu xây dựng bằng chứng bệnh chàm tay là bệnh nghề nghiệp trên thế giới

Tại các nước phát triển (Mỹ, các nước Bắc Âu), bệnh chàm tay được công nhận là một bệnh da nghề nghiệp Đây là một bệnh nghề nghiệp không đặc hiệu, tỉ lệ bệnh chàm tay ở các ngành nghề cao hơn so với tỉ lệ bệnh trong dân số [47]

Tại Đức, từ năm 1990 – 1999, khảo sát 24 ngành nghề cho thấy 54% người lao động mắc bệnh da do nghề nghiệp, chủ yếu là chàm tay dạng tiếp xúc kích ứng và dị ứng, gặp ở những công việc có liên quan với nước (wet work)

Số mắc bệnh mới mỗi năm là 4,1/10000 người lao động [39]

Tại Mỹ, trong số các bệnh da nghề nghiệp thì chàm tay chiếm tỉ lệ từ 9% - 35%, nhưng nếu tính trong viêm da tiếp xúc do nghề nghiệp thì chàm tay chiếm tỉ lệ hơn 80% [47] Dạng chàm tay mạn tính chiếm 17,49% và chiếm đến 33,33% trong số những người từng bị bệnh chàm tay [50]

Tỉ lệ hiện mắc của bệnh chàm tay khác biệt khá lớn giữa các sắc dân trên thế giới tùy theo đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xét nghiệm (bảng 1.3)

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu bệnh chàm tay vẫn còn ít Có nhiều đề tài nghiên cứu về bệnh da (từ bệnh da nhiễm trùng đến bệnh da miễn dịch dị ứng, tân sinh) ở các ngành nghề, nhưng riêng về bệnh chàm tay thì số lượng rất ít Cụ thể là có đề tài nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị chàm tay [22], chàm tay ở công nhân xây dựng [2] Riêng đối tượng là nhân viên y tế thì chưa có

Bảng 1.3 Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay ở các quốc gia trên thế giới [41]

Cách thức định bệnh

Số lượng người tham gia (người)

Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay (%)

Khám da liễu 3140 3 năm 4,6 8,0 3,2 * Bảng câu hỏi 2185 1 năm 5,2 10,6 8,2

Mỹ Khám da liễu 20749 Thời điểm 0,5 **

Na Uy Bảng câu hỏi 14667 1 năm 4,9 13,2 8,9

Thụy Điển Bảng câu hỏi 16587 1 năm 8,8 14,6 10,6 Đức Khám da liễu 1196 1 năm 5,6 10,5 6,7

*: Bao gồm những ca nhẹ

**: Được bác sỹ chẩn đoán

1.2.3 Các thiệt hại do bệnh chàm tay

Bệnh chàm tay tuy không gây nguy hiểm tính mạng nhưng lại gây ngứa rất nhiều, gây phiền toái đến sinh hoạt và giao tế trong cuộc sống thường ngày (bắt tay, nắm tay); ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất lao động và chất lượng cuộc sống của người bệnh [42, 49, 84]

Bệnh gây hao tổn to lớn về mặt kinh tế (hao tổn trực tiếp và gián tiếp) Hao tổn trực tiếp bao gồm: chi phí y tế, phí đền bù thiệt hại do bệnh nghề nghiệp, mất khả năng lao động và chi phí để phục hồi sức khỏe Hao tổn gián tiếp xuất phát từ việc mất ngày công lao động, giảm thu nhập, có thể phải đổi nghề và ảnh hưởng đến tinh thần [84]

Một nghiên cứu khác trên những người bị chàm tay ở Gothenburg, Thụy Điển cho thấy: 69% thường xuyên đi gặp bác sỹ vì bệnh chàm tay; nghỉ việc để bệnh lành hoàn toàn là 4 tuần; 80% có rối loạn cảm xúc do chàm tay [84]

Chàm tay có thể gây mất ngủ, gây bất thường tính khí, và ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ cá nhân [60]; 80% người bị chàm tay có rối loạn cảm xúc [84] Bị ảnh hưởng đến tinh thần cũng được coi là nguyên nhân gây tổn hại kinh tế Chàm tay có thể khiến người lao động mất việc làm và giảm thu nhập.

Bệnh chàm tay ở nhân viên y tế

1.3.1 Các công cụ chẩn đoán bệnh chàm tay cho quần thể

Bệnh chàm tay đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ những thập niên 90 của thế kỷ 20 Việc chẩn đoán bệnh chàm tay không khó Khám lâm sàng được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh chàm tay [110] nhưng lại rất tốn kém và cần có nhân lực có chuyên môn da liễu để thực hiện Chính vì vậy, các nhà chuyên môn và chức trách của các nước Bắc Âu đã họp và đưa ra các công cụ để chẩn đoán bệnh chàm tay cho quần thể (dùng trong các cuộc điều tra, các nghiên cứu dịch tễ học) a Bản câu hỏi tự chẩn đoán [83, 99]

Bảng 1.4 Bản câu hỏi tự chẩn đoán Nguồn: Smit và cộng sự, 1992 Contact Dermatitis, 26 (1)

Bạn có nghĩ là Bạn bị chàm tay trong vòng 12 tháng qua không?

Những đối tượng trả lời “có” sẽ được chẩn đoán là có bệnh Khi sử dụng công cụ này để tìm tỉ lệ bệnh chàm tay trong cộng động thì kết quả tìm được sẽ có tên là tỉ lệ tự chẩn đoán mắc bệnh chàm tay trong 1 năm b Bản câu hỏi chẩn đoán dựa vào danh sách các triệu chứng [95, 104]

Bảng 1.5 Bản câu hỏi chẩn đoán dựa vào danh sách các triệu chứng Nguồn: Smit và cộng sự, 1992 Contact Dermatitis, 26 (1)

Câu 1: Bạn có bị các triệu chứng sau đây trong vòng 12 tháng qua?

- Đỏ/sưng bàn tay hoặc ngón tay

- Nứt da ở bàn tay hoặc ngón tay

- Mụn nước ở bàn tay hoặc ngón tay

- Tróc vảy da ở bàn tay hoặc ngón tay

Câu 2: các triệu chứng kể trên có kéo dài hơn 3 tuần?

Câu 3: các triệu chứng trên có thường gặp hơn 1 lần trong 12 tháng? Định nghĩa chàm tay:

Kích ứng da: trả lời “có” cho 1 câu trả lời ở câu 1 và “có” ở câu 2 và/hoặc câu 3

Chàm tay: trả lời “có” cho 2 hoặc nhiều hơn 2 các câu trả lời ở câu 1 và “có” ở câu 2 và/hoặc câu 3

Khi sử dụng công cụ này để tìm tỉ lệ bệnh chàm tay cho cộng đồng, kết quả tìm được có tên là tỉ lệ mắc bệnh chàm tay trong 1 năm

Hai bản câu hỏi trên đã được so sánh với chẩn đoán lâm sàng để kiểm tra tính giá trị vào năm 1992 (bảng 1.6)

Bảng 1.6 Tính giá trị của 2 bản câu hỏi so với chẩn đoán lâm sàng [99]

Chẩn đoán dựa vào danh sách triệu chứng (%)

Tự chẩn đoán (%) Độ nhạy 100 65 Độ đặc hiệu 64 93

Giá trị tiên đoán dương 38 68

Giá trị tiên đoán âm 100 92 Độ nhạy và độ đặc hiệu của bảng câu hỏi dựa vào danh sách các triệu chứng lần lượt là 100% và 64%; vì vậy được dùng như một công cụ để phát hiện ca bệnh trong nghiên cứu một quần thể lớn, rồi sau đó khám lâm sàng cho những ca dương tính Trong khi độ nhạy và độ đặc hiệu của bảng câu hỏi tự chẩn đoán là 65% và 93%; do đó được dùng để ước lượng tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay [99] Hai bản câu hỏi này thường đi chung với nhau trong các nghiên cứu về bệnh chàm tay c Bản câu hỏi NOSQ-2002

Bệnh da nghề nghiệp là một trong những bệnh nghề nghiệp thường gặp nhất ở các nước Bắc Âu Bệnh da nghề nghiệp trên tay và cánh tay (bệnh chàm tay) thường tái phát hoặc mãn tính Tác động kinh tế và xã hội trên các cá nhân và xã hội là đáng kể Chính vì những lý do trên, các nước Bắc Âu đã họp và thống nhất phát triển 1 công cụ là bản câu hỏi NOSQ-2002 (NOSQ: Nordic Occupational Skin Questionnaire) dùng để chẩn đoán bệnh chàm tay cho các nghiên cứu về bệnh da nghề nghiệp Ngoài những câu hỏi tự chẩn đoán và câu hỏi chẩn đoán dựa vào triệu chứng, bản câu hỏi này còn khảo sát các bệnh ngoài da có liên quan đến công việc và các phơi nhiễm Bản câu hỏi đã được chuẩn hóa này có lợi cho việc nghiên cứu bệnh da nghề nghiệp và công tác dự phòng bệnh, cũng như giúp cho việc so sánh dữ liệu về bệnh này giữa các quốc gia trong khối Bắc Âu được dễ dàng Có 2 loại NOSQ-2002 đó là bản câu hỏi thu gọn và bản câu hỏi đầy đủ Bản câu hỏi thu gọn dùng để sàng lọc và theo dõi các bệnh da nghề nghiệp ở tay và cẳng tay Bản câu hỏi đầy đủ dùng để khảo sát bệnh chàm tay và các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc hoặc trong dân số Bản câu hỏi này có độ nhạy là 87% và độ đặc hiệu là 79% [110]

Tóm lại, có 3 công cụ (3 bản câu hỏi) để chẩn đoán bệnh chàm tay trong cộng đồng Trong đó, bản câu hỏi NOSQ-2002 thường được sử dụng trong các nghiên cứu về bệnh chàm tay do bản câu hỏi này chứa đựng cả 2 bản câu hỏi kia và kèm khảo sát thêm các yếu tố liên quan đến phơi nhiễm

1.3.2 Các nghiên cứu xác định tỉ lệ mắc bệnh chàm tay ở NVYT

Có rất nhiều nghiên cứu xác định tỉ lệ bệnh chàm tay liên quan đến ngành y, đối tượng nghiên cứu bao gồm: NVYT, bác sỹ (BS), điều dưỡng (ĐD), sinh viên điều dưỡng (SVĐD) a Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay qua bản câu hỏi Đa số các tác giả dùng bản câu hỏi chẩn đoán bệnh chàm tay dựa vào danh sách các triệu chứng để xác định tỉ lệ bệnh chàm tay của nhân viên y tế Các triệu chứng trong bản câu hỏi được hỏi trong 12 tháng do đó tỉ lệ bệnh qua bản câu hỏi còn được gọi là tỉ lệ hiện mắc thời khoảng 1 năm (1 year prevalence)

Có 3 đề tài nghiên cứu tỉ lệ mắc bệnh của NVYT (bao gồm cả BS, ĐD, kỹ thuật viên sinh học) Một đề tài được thực hiện tại Copenhagen (Đan Mạch), vào tháng 3 năm 2009, với cỡ mẫu là 3181 nhân viên y tế tại 3 bệnh viện Đối tượng nghiên cứu gồm BS, điều dưỡng, trợ lý điều dưỡng và kỹ thuật viên sinh học Bản câu hỏi được gởi bằng thư, tỉ lệ trả lời thư là 71% (có sai lệch chọn lựa) Trong đó, nhóm bác sỹ trả lời thư chiếm 17%, nhóm điều dưỡng trả lời thư chiếm 55% Kết quả cho thấy có 21% NVYT bị chàm tay, trong đó 11% bị chàm tay mức độ nặng/rất nặng Một đề tài khác được thực hiện tại Hà Lan vào năm 2013, một nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát tỉ lệ chàm tay ở 1232 NVYT từ các bệnh viện và nhà dưỡng lão Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi NOSQ-

2002 để chẩn đoán bệnh chàm tay và bản câu hỏi PRODISQ (PROductivity and DISease Questionnaire) để đánh giá mức thiệt hại do bệnh chàm tay gây ra Kết quả cho thấy: có 12% nhân viên y tế mắc bệnh chàm tay và 1,7% phải rời bỏ công việc do bệnh này [116] Tỉ lệ này thấp hơn so với đề tài ở Đan Mạch Tuy nhiên tỉ lệ trả lời thư quá thấp (56,9%) (có sai lệch chọn lựa), làm cho các kết quả kém tin cậy Một đề tài được tiến hành tại Thụy Điển năm 2018 cho thấy tỉ lệ mắc bệnh trong 1 năm của NVYT là 21%

Bảng 1.7 Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay của NVYT qua bản câu hỏi

Quốc gia Đối tượng nghiên cứu

Cỡ mẫu % hồi đáp % chàm tay Đan Mạch BS, ĐD, kỹ thuật viên sinh học (2009)

Hà Lan BS, ĐD, trợ lý ĐD,

Thụy Điển BS, ĐD, trợ lý ĐD,

28.672 43 21 Ở đối tượng là BS, các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay thay đổi tùy theo quốc gia Chẵn hạn như nghiên cứu tại Nhật Bản năm

2004 cho thấy tỉ lệ hiện mắc chàm tay ở bác sỹ là 25,1% [97] Trong khi tại Trung Quốc năm 2005, có 12,9% bác sỹ bị bệnh chàm tay Khoa bị nhiều nhất là khoa sản [106] Trong 2 nghiên cứu này, tỉ lệ trả lời thư khá thấp cho thấy có sự sai lệch về chọn lựa

Bảng 1.8 Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay của BS qua bản câu hỏi

Quốc gia Năm nghiên cứu Cỡ mẫu % hồi đáp % chàm tay

Trung Quốc 2005 [106] 361 79,2 12,9 Ở đối tượng nghiên cứu là ĐD, các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bệnh cao hơn so với đối tượng là BS Tại Queensland, Úc vào năm 2003, tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay ở điều dưỡng 50,0% Tỉ lệ này thay đổi tùy theo khoa, thấp nhất là khoa nội (43,2%) và cao nhất là khoa hồi sức (59,3%) (không có sự khác biệt thống kê về tỉ lệ chàm tay giữa các khoa [104]) Tại Nhật Bản vào năm 2003, tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay ở điều dưỡng tại là 35% (cỡ mẫu 363 người) Tỉ lệ trả lời thư là 84% Tỉ lệ hiện mắc thay đổi theo từng khoa, thấp nhất là khoa tâm thần (6%) và cao nhất là khoa phẫu thuật (48%) [103] Tại Trung Quốc năm 2004, tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay ở điều dưỡng là 18,3% Khoa bị chàm tay nhiều nhất là khoa ICU chiếm 26,7% [105] Vào năm 2006 tại Nhật Bản, có một nghiên cứu tương tự với cỡ mẫu lớn hơn (1162 điều dưỡng) cho thấy: 53,3% điều dưỡng bị chàm tay [100] Tại Thổ Nhĩ Kỳ, năm 2009, có một nghiên cứu cho thấy có 47,5% điều dưỡng (bệnh viện Nhi) bị chàm tay [91]

Bảng 1.9 Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay của ĐD qua bản câu hỏi

Quốc gia Năm nghiên cứu Cỡ mẫu % hồi đáp % chàm tay Úc 2003 [104] 262 58,8 50,0

Thổ Nhĩ Kỳ 2010 [91] 185 85,3 47,5 Ở đối tượng nghiên cứu là SVĐD, tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay thay đổi tùy theo năm học của sinh viên Tại Úc, vào năm 2004, có nghiên cứu cho thấy tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay thay đổi từ sinh viên năm thứ nhất (10,8%) cho đến sinh viên năm thứ ba (27,4%) Tỉ lệ hiện mắc chung là 18,5% Tỉ lệ trả lời thư là 85,9% [102] Tại Hàn Quốc, năm 2006, một nghiên cứu tương tự cho thấy: tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay ở sinh viên điều dưỡng tại đây thay đổi từ 6,9% ở sinh viên năm thứ nhất đến 22,9% ở sinh viên năm thứ tư Tỉ lệ hiện mắc chung là 10,4% Tỉ lệ các khối sinh viên tham gia trả lời khá đồng đều (có

4 khối sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, mỗi khối chiếm gần 1/4) Tỉ lệ trả lời thư là 74,8% [101]

Bảng 1.10 Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay của SVĐD qua bản câu hỏi

Quốc gia Năm nghiên cứu Cỡ mẫu % hồi đáp % chàm tay Úc 2004 [102] 232 85,9 18,5

Trong lĩnh vực chuyên khoa Răng Hàm Mặt, cũng có các đề tài nghiên cứu liên quan đến các đối tượng là BS, kỹ thuật viên Răng và nhân viên vệ sinh răng miệng Chẵn hạn như tại Thụy Điển vào năm 1999, một nghiên cứu bệnh chàm tay được thực hiện trên đối tượng là bác sỹ nha khoa Nghiên cứu này khảo sát bệnh chàm tay thông qua bảng câu hỏi được gởi tới 3500 bác sỹ nha khoa (được chọn ngẫu nhiên) tại 3 thành phố lớn ở Thụy Điển Tỉ lệ trả lời câu hỏi cao (88%) Những nha sỹ không trả lời thư sẽ được gọi điện thoại để tìm hiểu vì sao họ không trả lời thư Trong đó: 52% không liên lạc được, 9% từ chối trả lời câu hỏi, số còn lại chấp nhận phỏng vấn qua điện thoại Trong số những người trả lời qua điện thoại: 82% vẫn còn làm nha sỹ, 14% báo rằng họ bị chàm tay và 8% có tiền căn chàm lúc nhỏ Lý do (thường gặp nhất) họ không trả lời câu hỏi bởi vì họ không có thời gian Các bác sỹ nha khoa tại đây có đặc điểm là rửa tay nhiều lần và đeo găng nhiều giờ Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay là 13,5% [90] Tại Nhật, năm 2011, tác giả Minamoto và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang ở đối tượng là nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực răng hàm mặt (nha sỹ, nhân viên vệ sinh răng miệng, kỹ thuật viên răng) Tỉ lệ trả lời thư là 31,4% Tỉ lệ hiện mắc thời khoảng 1 năm là 36,2% [86] Tỉ lệ trả lời thư quá thấp làm cho kết quả của nghiên cứu kém tin cậy b Tỉ lệ hiện mắc bệnh chàm tay qua khám lâm sàng

Một số nghiên cứu bệnh chàm tay của NVYT thực hiện việc chẩn đoán bệnh qua khám lâm sàng Một số đề tài thực hiện khám lâm sàng được thực hiện sau khi có kết quả chẩn đoán từ bản câu hỏi (tất cả các đối tượng được chẩn đoán bị chàm tay qua bản câu hỏi đều được mời khám lâm sàng) Tỉ lệ bệnh chàm tay qua khám lâm sàng luôn thấp hơn so với tỉ lệ bệnh chàm tay qua bản câu hỏi

Các mô hình thay đổi hành vi và can thiệp thay đổi hành vi

1.4.1 Các mô hình thay đổi hành vi

Có nhiều mô hình lý thuyết dùng để thay đổi hành vi trong các nghiên cứu về sức khỏe, chủ yếu phân làm 3 nhóm lớn: cá nhân (personal); giữa các cá nhân (interpersonal) và cộng đồng (Community and group) [52]

Mô hình hành vi sức khỏe cá nhân gồm:

- Mô hình niềm tin sức khỏe

- Thuyết hành động hợp lý và hành vi dự định

- Mô hình xuyên lý thuyết

Mô hình hành vi sức khỏe giữa các cá nhân gồm:

- Thuyết nhận thức xã hội

- Thuyết mạng lưới xã hội

Mô hình thay đổi hành vi sức khỏe cộng đồng gồm:

- Mô hình truyền thông – thuyết phục

- Mô hình truyền bá sự đổi mới

- Thuyết thay đổi tổ chức

- Mô hình cấu trúc thay đổi hành vi

Trong lĩnh vực y tế công cộng, các mô hình lý thuyết giúp hiểu rõ mối liên quan giữa hành vi cá nhân và sức khỏe; giúp lập kế hoạch can thiệp trong nghiên cứu sức khỏe và giúp phát triển các công cụ đánh giá sức khỏe [51] a Mô hình niềm tin sức khỏe

Mô hình niềm tin sức khỏe được phát triển vào năm 1950 tại Mỹ [95] trong các hoạt động của y tế công cộng và nghiên cứu hành vi sức khỏe [51] Đây là một trong những mô hình được biết nhiều nhất trong lĩnh vực thay đổi hành vi: truyền thông những hành vi liên quan đến sức khỏe cho những cá nhân để họ tự đánh giá bên trong họ những lợi ích của việc thay đổi hành vi và tự quyết định có hành động hay không

Hình 1.7 Mô hình niềm tin sức khỏe

Mô hình niềm tin sức khỏe xác định 4 yếu tố:

- Sự nhạy cảm hiểu được về sức khỏe kém

- Hiểu được mức độ nghiêm trọng của sức khỏe kém

- Hiểu được lợi ích của thay đổi hành vi

- Hiểu được những trở ngại của việc hành động

Tập hợp 4 yếu tố trên thúc đẩy nhận thức của cá nhân và thúc đẩy cá nhân hành động (thực hiện những hành vi tốt cho sức khỏe) Những thông điệp cải tiến sức khỏe thông qua phương tiện truyền thông rất cần thiết để giúp cá nhân vượt qua những thói quen không tốt; truyền thông giáo dục sức khỏe sẽ thúc đẩy cá nhân sẵn sàng hành động, làm đòn bẩy cho sự thay đổi hành vi b Thuyết hành động hợp lý và hành vi theo dự định

Thuyết hành động hợp lý

(theory of reasoned action) được Fishbein và Ajzen xây dựng từ năm 1975 [48] Đến năm 1991, Ajzen phát triển thêm lý thuyết hành vi theo dự định (theory of planned behavior) [27] Hai thuyết này thường được dùng chung trong các nghiên cứu hành vi sức khỏe, dùng để dự đoán và giải thích hành vi cá nhân; sự thay đổi hành vi là hệ quả của niềm tin và kiến thức [87]

Hình 1.8 Thuyết hành động hợp lý và hành vi theo dự định

“Nguồn:Fishbein và Ajzen, 1991” [27, 48] c Mô hình xuyên lý thuyết

Mô hình xuyên lý thuyết

(transtheoretical model) còn gọi là các bước thay đổi hành vi (stages of change) [19, 93] Lý thuyết này giả định rằng các cá nhân có mức độ khác nhau về động cơ và sự sẵn sàng thay đổi, và khái quát hóa về các bước thay đổi hành vi có chủ ý

Hình 1.9 Mô hình xuyên lý thuyết

“Nguồn: the health communication capacity collaborative, 2016” [112]

1.4.2 Các nghiên cứu can thiệp thay đổi hành vi trong phòng ngừa bệnh chàm tay của NVYT

Năm 1999, tại Đức, Loffler và cộng sự tiến hành nghiên cứu can thiệp kéo dài 3 năm (1999 - 2002) tại các trường điều dưỡng nhằm dự phòng nguyên phát bệnh da nghề nghiệp cho nhân viên y tế [79] Nghiên cứu này khảo sát tác động của chương trình đào tạo đặc biệt đối với các học viên chăm sóc sức khỏe

Có 521 sinh viên từ 14 trường điều dưỡng được chọn ngẫu nhiên, chia làm 2 nhóm: nhóm can thiệp là nhóm được nhận một chương trình giảng dạy mọi vấn đề liên quan đến phòng ngừa nguyên phát và nhóm chứng là nhóm không có chương trình này Đơn vị để chọn phân bố ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp là trường Nghiên cứu khảo sát: sự thay đổi của da tay, việc sử dụng kem dưỡng da tay, kiến thức chăm sóc da được đánh giá đều đặn trong 3 năm Khám lâm sàng để chẩn đoán bệnh da sau 18 tháng và sau 3 năm học Chương trình giảng dạy bao gồm các kiến thức về: cấu trúc da, cách dự phòng bệnh chàm tay (dùng kem dưỡng da, cách rửa tay, cách tẩy trùng bàn tay) Kem dưỡng da được cung cấp cho mọi sinh viên (nhóm can thiệp và nhóm chứng), ghi nhận lượng kem sử dụng và đánh giá việc sử dụng kem dưỡng da bằng kỹ thuật huỳnh quang

Có 325 sinh viên được theo dõi sau 3 năm, tỉ lệ mất mẫu là 37,6% Nhóm sinh viên bỏ cuộc không có tiền căn thể tạng dị ứng Ở nhóm can thiệp, tình trạng da tay tốt hơn so với nhóm chứng Trong khi ở nhóm chứng, sau 3 năm, da tay bị bệnh nhiều (OR=4,8; KTC95% 2,9 - 7,8) Ở nhóm can thiệp, số lần rửa tay ít hơn so với nhóm chứng nhưng vẫn đảm bảo tiến trình khử trùng bàn tay so với nhóm chứng Theo tác giả, chương trình chăm sóc da và bảo vệ da cần được tiến hành thường xuyên trong chương trình giảng dạy sinh viên học ngành chăm sóc sức khỏe Tác giả khuyến cáo: chương trình giảng dạy này làm giảm bớt bệnh chàm tay của nhân viên y tế, giảm bớt các quy trình phức tạp của dự phòng thứ phát hoặc dự phòng cấp 3 Điểm mạnh của nghiên cứu đó là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng Điểm hạn chế của đề tài là thời gian can thiệp lâu (3 năm) đưa đến tỉ lệ mất mẫu cao (37,6%) Tuy nhiên tác giả có phân tích đặc điểm của nhóm mất mẫu Ngoài ra, làm nghiên cứu can thiệp nhưng tác giả không nêu được RR, NNT làm giảm độ mạnh khi khuyến cáo

Năm 2001, tại Copenhagen, Held và cộng sự làm nghiên cứu can thiệp để điều tra liệu một chương trình giáo dục sức khỏe có hiệu quả trong việc phòng ngừa các bệnh da ở bàn tay [59] Nghiên cứu được tiến hành ở 107 sinh viên điều dưỡng, nhóm can thiệp có 61 người, nhóm chứng có 46 người, theo dõi trong 10 tuần thực tập tại bệnh viện Chương trình giáo dục sức khỏe được phổ biến cho nhóm can thiệp trước khi đi thực tập Có 2 buổi giáo dục sức khỏe, mỗi buổi cách nhau 2 tuần, thời lượng cho mỗi buổi là 2 giờ Nội dung của buổi giáo dục sức khỏe bao gồm các khuyến cáo sau: làm khô tay sau khi rửa tay, đeo găng tay khi làm công việc có tiếp xúc với nước (kể cả khi làm việc trong thời gian ngắn), găng tay phải sạch và khô, lót bông gòn dưới găng tay khi phải đeo găng trên 10 phút, không đeo nhẫn khi làm việc, không dùng dung dịch sát khuẩn nhanh trừ khi công việc đòi hỏi phải vệ sinh tay trong trường hợp đặc biệt, dùng kem dưỡng da tay trong khi làm việc và sau khi làm việc, bôi kem dưỡng da toàn bộ bàn tay bao gồm kẽ ngón tay, đầu ngón tay và mặt lưng bàn tay, các công việc ở nhà cũng được thực hiện tương tự Tất cả những người tham gia đều nhận được bản câu hỏi, khám lâm sàng da tay, đo chỉ số TEWL và làm patch test Nhóm can thiệp được khuyến cáo hạn chế sử dụng dung dịch sát khuẩn nhanh trong buổi giáo dục sức khỏe Trong nghiên cứu này, có 13 người bỏ cuộc: 7 người từ nhóm can thiệp và 6 người từ nhóm chứng (1 sinh viên bỏ học vì bị chàm tay nặng, 10 sinh viên bỏ học vì lý do khác, 2 sinh viên không tham gia trong lần khám lâm sàng lần 2) Kết quả cho thấy: không có sự khác biệt về số lần rửa tay, đeo găng tay, dùng kem dưỡng da giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng vào thời điểm khởi đầu và lúc kết thúc can thiệp, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng trong việc sử dụng dung dịch sát khuẩn nhanh (p=0,002) Việc sử dụng dung dịch sát khuẩn nhanh làm tăng bệnh da ở nhóm chứng (p=0,016), chỉ số TEWL tăng ở nhóm chứng (p

Ngày đăng: 05/07/2021, 07:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w