1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, từ thực tiễn công an

116 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trong trường hợp xử lý kỷ luật người có chức vụ, quyền hạn .... Để đạt được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU VIỆT

VAI TRß CñA LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N TRONG PHßNG, CHèNG THAM NHòNG,

Tõ THùC TIÔN C¤NG AN TØNH H¶I D¦¥NG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU VIỆT

VAI TRß CñA LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N TRONG PHßNG, CHèNG THAM NHòNG,

Tõ THùC TIÔN C¤NG AN TØNH H¶I D¦¥NG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 8380101.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Hữu Việt

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG VÀ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 8

1.1 Hành vi tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 8

1.1.1 Khái niệm tham nhũng và tác hại của tham nhũng 8

1.1.2 Tác hại của hành vi tham nhũng 14

1.2 Vị trí, vai trò của công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng 17

1.2.1 Khái quát về vị trí và vai trò của công an nhân dân 17

1.2.2 Khái quát chung về phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng 20

1.2.3 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý kỷ luật 25

1.2.4 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng 28

1.2.5 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý dân sự đối với hành vi tham nhũng 33

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng 35

1.3.1 Yếu tố pháp luật 35

1.3.2 Yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội 36

1.3.3 Yếu tố con người 38

Trang 5

1.3.4 Yếu tố về cơ sở vật chất, khoa học – công nghệ 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 42

2.1 Các quy định của pháp luật của Việt Nam về phòng, chống tham nhũng 42

2.1.1 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam 42

2.1.2 Các hành vi tham nhũng theo quy định pháp luật Việt Nam 44

2.1.3 Xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp kỷ luật nhà nước 47

2.1.4 Xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp hình sự 48

2.1.5 Xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp dân sự 52

2.2 Các quy định của pháp luật về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng 53

2.2.1 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý tham nhũng bằng biện pháp kỷ luật 53

2.2.2 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý hình sự 56

2.2.3 Vai trò của lực lượng công an nhân dân thông qua hoạt động trong xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp dân sự 64

2.3 Thực trạng tham những và thực tiễn thực hiện vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 65

2.3.1 Thực trạng tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 65

2.3.2 Thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 67

2.3.3 Các nguyên nhân của một số hạn chế trong thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 73

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 82

Trang 6

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG

CÔNG AN NHÂN DÂN TRONG XỬ LÝ HÀNH VI THAM

NHŨNG 83

3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống nhũng 83

3.1.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý đối với hành vi tham nhũng thuộc thẩm quyền của Công an 83

3.1.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trong trường hợp xử lý kỷ luật người có chức vụ, quyền hạn 85

3.1.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng bằng biện pháp hình sự 87

3.1.4 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng bằng biện pháp dân sự 93

3.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương 94

3.2.1 Kiện toàn lực lượng công an tham gia phòng, chống, xử lý hành vi tham nhũng 94

3.2.2 Hoàn thiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và công nghệ có liên quan đến công tác phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng 97

3.2.3 Nâng cao ý thức pháp luật của toàn thể cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước trong phòng, chống tham nhũng 97

3.2.4 Nâng cao hiểu biết pháp luật, tạo điều kiện để quần chúng nhân dân tham gia phát hiện và đấu tránh với hành vi tham nhũng 100

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 102

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm thực hiện nhằm từng bước đẩy lùi tham nhũng Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lực lượng công an nhân dân là một trong những lực lượng nòng cốt trong phát hiện và xử lý tham nhũng Trong những năm qua, các đại án tham nhũng được đưa ra ánh sáng và

xử lý luôn có đóng góp quan trọng, có tính quyết định của lực lượng công an nhân dân, được Đảng và Nhà nước ta cùng quần chúng nhân dân tin tưởng

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã bộc lộ một số vướng mắc làm giảm hiệu quả phát hiện,

xử lý tham nhũng của lực lượng công an nhân dân Hiện nay vẫn chưa có Nghị định quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi tham nhũng Ngoài ra, các quy định về thời hạn giải quyết tố giác tội phạm, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố còn quá ngắn chưa phù hợp với tính chất phức tạp của các vụ án tham nhũng Tương tự như vậy, các quy định về thời hạn điều tra cũng quá ngắn không đủ để làm rõ triệt để sự thật khách quan trong các vụ

án tham nhũng Đồng thời, những vướng mắc trong các quy định về giám định cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả xử lý hành vi tham nhũng

Bên cạnh đó, những yếu tố khác như quân số mỏng, năng lực của một

bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, cơ sở hạ tầng, phương tiện kỹ thuật, công nghệ còn nhiều hạn chế và những hạn chế khác cũng ảnh hưởng đến đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thực tiễn phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương của lực lượng công an còn vướng mắc về pháp luật, hạn chế trong phối hợp giữa

Trang 8

các lực lượng Xuất phát từ thực tiễn đó học viên lựa chọn đề tài: “Vai trò của

lực lượng Công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, từ thực tiễn Công an tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về tham nhũng và các tội phạm tham nhũng, như:

Viện Khoa học Thanh tra (2011), Tài liệu bồi dưỡng về phòng, chống tham nhũng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật: Đây là tài liệu bồi

dưỡng cho các giáo viên trường đại học, cao đẳng và trung học các kiến thức

về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng Cuốn sách này đã làm rõ và có

hệ thống những vấn đề cơ bản về tham nhũng; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phòng, chống tham nhũng; các giải pháp phòng, chống tham nhũng

Nguyễn Văn Giang (2018), Nhận diện tham nhũng trong công tác cán bộ,

Tạp chí Cộng sản, (911): Bài viết này đưa ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về việc nhận diện đúng tham nhũng trong công tác cán bộ Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm ngăn chặn tình trạng tham nhũng trong công tác cán bộ

Trần Huy Đức (2019), Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận án tiến sĩ luật học,

Học viện Khoa học xã hội: Luận án đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tôi phạm tham nhũng và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự

về tội phạm tham nhũng ở Đà Nẵng Qua đó, luận án đã đưa ra một số giải pháp như: bổ sung thêm các tội danh vào nhóm tội phạm tham nhũng; hoàn thiện các quy định nhắm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản Bên cạnh đó, luận án cũng đề xuất một số giải pháp khác như tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 9

Bùi Đình Tiến, Tham nhũng trong công ước tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và vấn đề hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà

nước và Pháp luật, (6) Bài viết tập trung phân tích và so sánh các quy định

về tội phạm tham nhũng trong khu vực công tại Công ước chống tội phạm có

tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp quốc với các quy định tương ứng trong Bộ luật hình sự của nước ta Từ đó, bài viết đưa ra một số định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự của nước ta về các tội phạm tham nhũng

Nguyễn Thanh Bình (2017), Phòng chống tham ô, tham nhũng thời Lê

sơ, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (5) Bài viết đã phân tích và làm rõ

các quy định trong bộ Quốc triều hình luật về phòng, chống tham nhũng Từ

đó, bài viết đúc rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Theo đó bài cho rằng cần phải coi tham nhũng là loại tội phạm nguy hiểm nhất và cần phải được ngăn chặn, trừng trị kip thời và nghiêm khắc

Nguyễn Thị Thanh Dung (2019), Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc, Tạp chí Lý luận Chính trị, (1): Bài viết phân tích một

số kinh nghiệm quý báu của Hàn Quốc trong phòng, chống tham nhũng, như: cam kết chính trị mạnh mẽ, quyết liệt của Chính phủ; thành lập cơ quan phòng chống tham nhũng hiệu lực, hiệu quả; hành chính công vụ minh bạch, tinh gọn, hiệu quả; nhiều cải cách như cải cách chế độ tiền lương; cải cách trong mua sắm công,…

Cầm Thị Lai (2018), Kinh nghiệm từ sách lược phòng, chống tham nhũng của Trung Quốc, Tạp chí Lý luận chính trị, (12).: Bài viết phân tích

những sách lược phòng, chống tham nhũng rất quyết liệt của Trung Quốc: (1) làm cho không dám tham nhũng; và (2) làm cho không cần tham nhũng

Trang 10

Đồng thời cũng đã có một số công trình nghiên cứu về xử lý hành vi tham nhũng:

Trần Đức Hiển & Vũ Thanh Tùng (2015), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng của lực lượng công an nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, (24): Đây là một trong số ít bài

viết trực tiếp về vấn đề phát hiện và xử lý tham nhũng Trong bài này, các tác giả cũng đã chỉ ra những kết quả đạt được trong công tác phát hiện, điều tra

và xử lý tham nhũng Tuy nhiên, không thể phủ nhận những khó khăn, vướng mắc, nhất định Các tác giả cũng đã chỉ ra những nguyên nhân của những khó khăn này, như: sự tinh vi, xảo quyết của các đối tượng có hành vi tham nhũng; nhiều vướng mắc của pháp luật gây khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra và xử lý tham nhũng

Hải Đăng, Những khó khăn, vướng mắc về giám định tư pháp trong giải quyết một số vụ án tham nhũng, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số chuyên

đề Thực hiện Luật giám định Tư pháp: Bài viết này chỉ ra những khó khăn vướng mắc trong công tác trưng cầu giám định, tiếp nhận trưng cầu giám định; khó khăn, vướng mắc trong thực hiện giám định; khó khăn vướng mắc trong sử dụng kết quả giám định Tác giả bài viết cũng chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng này Trong đó, phần lớn là do còn thiếu nhiều quy định của pháp luật Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị, đề xuất

Trương Minh Mạnh, Đỗ Thành Trường (2015), Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản tham nhũng, Tạp chí Kiểm sát, (24).: Bài

viết chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng: trong nhiều trường hợp mặc dù xác định được số tiền, tài sản bị tham ô, chiếm đoạt nhưng không thu hồi được; việc thu hồi tài sản thực sự chưa hiệu quả Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là các quy định của pháp luật còn thiếu đồng bộ; các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự chưa bao quát hết được các khả năng trong thực tiễn;…

Trang 11

Các công trình này cung cấp những kiến thức lý luận nhất định, cũng như cũng chỉ ra được một số tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn xử lý hành vi tham nhũng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong xử lý hành vi tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Hải Dương Vì vậy, luận văn “Vai trò của lực lượng công an trong phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn Công an tỉnh Hải

Dương” là vấn đề có tính thời sự

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Luận văn có mục đích là nghiên cứu những vấn đề lý luận về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, đánh giá thực tiễn thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

Về lý luận: Luận văn phải làm rõ được các vấn đề lý luận về vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng: trong xử lý kỷ luật,

xử lý hình sự, dân sự đối với người có hành vi tham nhũng

Về thực tiễn: Luận văn làm rõ những kết quả đạt được và những tồn tại trong thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng Đồng thời, luận văn chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại này

Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật; nâng cao vai trò của công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng và thực tiễn thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: trên địa bàn tỉnh Hải Dương, về thời gian: Từ năm 2011 cho đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác –

Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng, chống tham nhũng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Để triển khai được các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và một số phương pháp khác

6 Tính mới và những đóng góp của luận văn

Luận văn có một số tính mới và đóng góp như sau:

Về lý luận: Luận văn làm rõ được một số vấn đề lý luận về: (1) vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý kỷ luật đối với hành vi tham nhũng; (2) Vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng; (3) Vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý dân sự đối với hành vi tham nhũng; và (4) Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân trong phòng, chống tham nhũng

Về thực tiễn: Luận văn chỉ ra được những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương Đồng thời luận văn cũng chỉ ra những mặt tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại này

Luận văn đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và một số giải pháp nâng cao vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng

Trang 13

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 03 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tham nhũng và vai trò của lực

lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện vai trò của lực lượng công

an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của lực lượng công an nhân dân

trong phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG VÀ

VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

1.1 Hành vi tham nhũng và phòng, chống tham nhũng

1.1.1 Khái niệm tham nhũng và tác hại của tham nhũng

1.1.1.1 Khái niệm tham nhũng

Tham nhũng là hiện tượng xã hội – pháp lý phát sinh trong xã hội có nhà nước, và có tính phổ biến ở mọi quốc gia, thời đại với những tính chất, quy mô khác nhau Tuy vậy, về tham nhũng có các quan niệm khác nhau

“Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức

vụ, quyền hạn đó để vụ lợi Vụ lợi là hành vi mưu cầu lợi ích vật chất, tinh thần cho riêng mình mà người có chức vụ, quyền hạn để đạt được hoặc giành được thông qua hành vi tham nhũng” [8, tr 27] Theo Trần Huy Đức thì:

…bản chất của tham nhũng được nhìn nhận từ các góc độ chính trị, đạo đức, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý, quản lý nhà nước

mà trong một tổng thể phản ánh nó là hiện tượng xã hội tiêu cực bao gồm tổng thể những hành vi có hại cho chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức, pháp luật; là những hành vi đi ngược với các chuẩn mực và giá trị xã hội; là những hành vi xã hội không mong muốn

và lên án, muốn khắc phục, loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội; những hành vi này được kiểm soát bởi ý chí của chủ thể thực hiện

là người có chức vụ, quyền hạn; những hành vi có tính phổ quát (ở đâu có quyền lực thì ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng và khi phổ biến, chúng trở thành tệ nạn xã hội và tồn tại bên cạnh các tệ nạn xã hội khác) [7, tr.30-31]

Trang 15

Ở đây tác giả đưa ra cách nhìn khá toàn diện về tham nhũng từ những góc nhìn khác nhau, nhưng chưa đưa ra định nghĩa về tham nhũng

Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, khi giải tích từ ngữ, định nghĩa “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (khoản 1 Điều 3)

Như vậy, chủ thể của hành vi tham nhũng chỉ có thể là người có chức

vụ, quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử,

do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm: a) Cán bộ, công chức, viên chức; b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; d) Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; đ) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó

Bản chất của tham nhũng xuất phát từ xung đột lợi ích giữa lợi ích riêng của người có chức vụ, quyền hạn (bao gồm lợi ích của người này hoặc lợi ích của người khác) với lợi ích chung Đối với cán bộ, công chức nhà nước

và những người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước, thì xung đột lợi ích ở đây thể hiện ở xung đột lợi ích giữa cá nhân công chức đó với lợi ích của nhà nước Ví dụ, lợi ích của Nhà nước là thu thuế để bảo đảm nguồn thu cho ngân sách, trong khi đó vì mong muốn được hưởng một khoản tiền hối lộ

từ doanh nghiệp thuộc đối tượng quản lý, công chức ngành thuế đã tiếp tay, hướng dẫn doanh nghiệp trốn thuế Hiện nay, ở Việt Nam cũng đã bắt đầu thừa nhận tham nhũng trong khu vực tư, đó là hiện tượng quản lý trong các

Trang 16

doanh nghiệp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi Vì vậy, xung đột lợi ích giữa người quản lý doanh nghiệp với doanh nghiệp chính là xung đột giữa lợi ích cá nhân của người quản lý doanh nghiệp với lợi ích của doanh nghiệp Khi thực hiện nhiệm vụ được giao, người có chức vụ, quyền hạn thoái hoá, biến chất đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giải quyết xung đột lợi ích thay vì tận tuỵ, mẫn cán và trách nhiệm vì lợi ích chung Như vậy, người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để phục vụ lợi ích riêng Lợi ích riêng ở đây có thể là lợi ích của chính người có chức vụ, quyền hạn, lợi ích của cá nhân hoặc lợi ích của tổ chức khác Người quản lý của một tổ chức hối lộ để có được đặc lợi cho tổ chức mình là ví dụ về lợi ích riêng Lợi ích trong trường hợp này không phải là lợi ích của cá nhân người có chức vụ, quyền hạn mà lợi ích của tổ chức

Có thể thấy rằng hành vi tham nhũng là hành vi trái pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn Hành vi này có tính chất vụ lợi Nghĩa là, người

có chức vụ, quyền hạn sử dụng quyền lực cho mục đích cá nhân Đồng thời hành vi này trái với chuẩn mực đạo đức của người có chức vụ, quyền hạn Theo nghiên cứu của GS.TS Phạm Hồng Thái và Phạm Thị Giang thì trong

số các tiêu chí để đánh giá đạo đức công vụ thì có tiêu chí: tính trung thực, không thiên vị, vụ lợi trong hoạt động công vụ [28, tr.3] Tiêu chí này có thể

mở rộng ra khu vực tư, theo đó người có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý tổ chức như doanh nghiệp, tổ chức xã hội, … cũng phải trung thực, không thiên vị, vụ lợi khi thực hiện nhiệm vụ được giao Như vậy, hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi là hành vi trái với chuẩn mực đạo đức, trái pháp luật của người có trách nhiệm, quyền hạn

Vấn đề đặt ra là tham nhũng có phải là hành vi vi phạm pháp luật không? Về mặt lý luận không phải tất cả hành vi vi phạm đạo đức nào cũng là hành vi vi phạm pháp luật Một hành vi nào đó có thể gây ra hoặc đe doạ gây

Trang 17

ra thiệt hại cho xã hội nhưng nếu chưa được pháp luật quy định thì không coi

là vi phạm pháp luật [38, tr.420] Hành vi tham nhũng gây tổn hại đến trật tự pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức, đặc biệt lợi ích của nhà nước Vì vậy, hành vi tham nhũng là hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đáng kể cho cá nhân, tổ chức, nhà nước, xã hội

Có thể thấy, bài học kinh nghiệm ở các nước Mỹ La tinh và Châu Phi cho thấy tham nhũng thường dẫn đến trì trệ, bất ổn và nghèo đói Vì vậy, các nhà làm luật luôn khẳng định rõ trong luật, tham nhũng bị cấm đoán Do vậy, tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, pháp luật luôn đi sau thực tiễn, vì vậy dù nỗ lực nhưng các nhà làm luật khó có thể bao quát hoặc

dự đoán được tất cả các hành vi tham nhũng trong cuộc sống Vì vậy, vẫn có thể còn tồn tại những khoảng trống mà người có chức vụ, quyền hạn có thể lợi dụng để vụ lợi mà không có cơ sở pháp lý đầy đủ để xác định đây là hành vi

vi phạm pháp luật

Từ những vấn đề trên, có thể hiểu, tham nhũng là hành vi trái pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng, xâm phạm đến lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước, xã hội

1.1.1.2 Phân loại hành vi tham nhũng

Việc phân loại về hành vi tham nhũng, có nhiều cách khác nhau, dựa vào lĩnh vực công, tư người ta phân biệt: tham nhũng trong khu vực công, tham nhũng trong khu vực tư, dựa vào lĩnh vực của quản lý nhà nước phân biệt: tham nhũng trong lĩnh vực chính trị - hành chính; tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội v.v Trên cơ sở quy định của pháp luật, có những hành vi tham nhũng sau:

Đưa hối lộ: Là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đưa tài sản, tiền hoặc cam kết chia tỷ lệ phần trăm trong hợp đồng hoặc chia sẻ lợi ích tài

Trang 18

sản với người có chức vụ, quyền hạn khác để người này thực hiện một hoặc một số hành vi vì lợi ích của cơ quan, tổ chức của người đưa hối lộ Đưa hối

lộ cũng có thể xảy ra ở cả khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước

Nhận hối lộ: Ngược lại với đưa hối lộ thì nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn nhận tài sản, tiền hoặc chấp nhận cam kết tỷ lệ phần trăm trong hợp đồng hoặc chia sẻ lợi ích tài sản với người có chức vụ, quyền hạn khác để hoặc cho hành vi vì lợi ích của người đưa hối lộ hoặc người thứ ba Nhận hối lộ cũng có thể xảy ra ở cả khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước

Tham ô tài sản: Trong khu vực nhà nước, đây là hành vi của người có thẩm quyền quản lý tài sản của nhà nước, tổ chức hoặc doanh nghiệp của nhà nước (gọi chung là tài sản của nhà nước) chiếm đoạt tài sản của nhà nước Hành vi tham ô cũng có thể xuất hiện trong khu vực ngoài nhà nước

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản vì vụ lợi: Hành

vi này khác với hành vi tham ô ở điểm: Hành vi tham ô là chiếm đoạt tài sản nghĩa là chuyển quyền sở hữu tài sản từ Nhà nước hoặc tổ chức sang người tham ô Trong khi đó hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản vì vụ lợi không chuyển quyền sở hữu mà sử dụng tài sản Nhà nước cho mục đích cá nhân hoặc mục đích của người khác Ví dụ, sử dụng xe công để đưa gia đình đi tham quan, du lịch; hành vi sử dụng tài sản công để cho thuê nhằm tạo quỹ đen để chia chác giữa những người có thẩm quyền quản lý tài sản công…

Giả mạo trong công tác vì vụ lợi: Hành vi giả mạo là hành vi tạo ra thông tin, sự kiện hoặc bất kỳ hành vi nào che giấu hoặc làm sai sự thật Như vậy hành vi che giấu hoặc làm sai sự thật trong thi hành công vụ được coi là giảo mạo trong công tác vì vụ lợi Trong thực tiễn hành vi giả mạo trong công tác bao gồm: (1) sửa chữa, làm sai lệch nội dung, thông tin, tài liệu, giấy tờ;

Trang 19

(2) làm hoặc cấp giấy tờ hoặc tài liệu giả; (3) giả mạo chữ ký của người có thẩm quyền hoặc người có liên quan

Lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ chiếm đoạt tài sản: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành

vi của một người vượt quá quyền hạn của mình chiếm đoạt tài sản của người khác Việc chiếm đoạt tài sản có thể thông qua thủ đoạn uy hiếp tinh thần, lừa dối người khác Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng vị trí, quyền lực của mình đe doạ hoặc lừa dối để người khác chuyển giao tài sản cho mình Ví

dụ, một công chức nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về văn hoá yêu cầu doanh nghiệp trên địa bàn do mình quản lý nộp tiền để không bị yêu cầu di dời các biển quảng cáo…

Nhũng nhiều vì vụ lợi: Đây cũng là một trong những hành vi xảy ra trên thực tiễn Trên thực tế, đặc biệt ở các cơ quan giải quyết yêu cầu của công dân, như cơ quan hành chính, toà án, vẫn có hiện tượng, một số cán bộ, công chức cố ý không làm đúng bổn phận, trách nhiệm của mình mà tìm mọi cách vòi vĩnh, đòi công dân có yêu cầu công việc phải đáp ứng những đòi hỏi không chính đáng mới giải quyết

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi: Đây là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì lợi ích cá nhân mà gây ảnh hưởng đến người có chức vụ, quyền hạn khác để người này thực hiện hành vi theo yêu cầu của mình Thông thường, người có chức vụ, quyền hạn tác động đến người khác để người này thực hiện một hành vi có lợi cho mình hoặc người khác Ví dụ, ông A là Giám đốc Sở đã lợi dụng vị trí của mình tác động đến người đồng cấp khác để người này bổ nhiệm con của ông A lên vị trí trưởng phòng

Các hành vi khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi: Như hành vi bao che cho người khác vi phạm pháp luật; không làm đúng nhiệm vụ, quyền

Trang 20

hạn được giao, lơ là, thiếu trách nhiệm, bỏ mặc vi phạm xảy ra Ví dụ, trên thực tế có hiện tượng một số cán bộ, công chức cấp cơ sở để cho người dân lấn chiếm vỉa hè để kinh doanh, buôn bán, đổi lại các hộ kinh doanh sẽ nộp tiền định kỳ cho những cán bộ, công chức này

1.1.2 Tác hại của hành vi tham nhũng

Tham nhũng có tác hại nghiêm trọng trên ba phương diện: kinh tế, chính trị và xã hội

Tác hại kinh tế của tham nhũng

Tham nhũng trong khu vực nhà nước gây thiệt hại rất lớn cho nhà nước, đất nước và dân tộc Tham nhũng trong khu vực kinh tế nhà nước gây kiệt quệ tài nguyên, thâm hụt ngân sách Trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 ở nước ta đã xảy ra nhiều vụ tham nhũng kinh tế lớn gây thiệt hại hàng chục, hàng trăm, hàng tỷ và thậm chí hàng chục tỷ đồng

Trong những năm gần đây bắt đầu xuất hiện lợi ích nhóm Các nhóm lợi ích liên kết với nhau (giữa cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất với doanh nghiệp sân sau) làm lũng đoạn nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế Chính sách cổ phần hoá của Đảng và Nhà nước ta rất đúng đắn nhưng không ít nhóm lợi ích lợi dụng để chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng của Nhà nước thông qua việc bán cổ phần với giá rẻ mạt Ngoài ra, liên minh giữa nhóm cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất với nhóm kinh doanh không lành mạnh đã tạo

ra sự bất bình đẳng trên thị trường cạnh tranh Những doanh nghiệp sân sau hoặc được sự bảo kê của những cán bộ, công chức “sâu mọt” này đã chiếm hết những khu đất vàng, những lĩnh vực hoặc hoạt động màu mỡ, tiềm năng Không ít những doanh nghiệp có được những lợi thế như vậy nhưng do năng lực yếu kém nên làm ăn thua lỗ gây thất thoát tài sản, tài nguyên của Nhà nước và nhân dân Trong khi, các doanh nghiệp làm ăn chân chính thì gặp muôn vàn khó khăn để vươn lên trên thị trường

Trang 21

Trong thực tế, với sự bao che, bỏ qua của không ít cán bộ, công chức, nhiều chủ thể kinh doanh làm ăn phi pháp, trốn thuế, cung cấp sản phẩm, dịch

vụ kém chất lượng gây thiệt hại cho người tiêu dùng,…

Tham nhũng cũng dẫn đến một tâm lý đáng lo ngại trong môi trường kinh doanh, đó là tâm lý cố gắng kết thân để tạo ra sự bảo trợ của người có chức vụ, quyền hạn để từ đó “đục nước béo cò”, lợi dụng sơ hở của chính sách để làm lợi mà không tập trung thực sự vào phát triển kinh tế, công nghệ, việc làm, … Như vậy, tham nhũng cũng góp phần tạo ra sự trì trệ Một nhóm giàu lên chóng mặt trong khi nền kinh tế không thực sự phát triển

Tham nhũng cũng làm cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước nản lòng Với thực trạng,“chi phí bôi trơn”, “doanh nghiệp sân sau”,… sẽ làm cho các nhà đầu tư, kinh doanh nản lòng Các nhà đầu tư sẽ không lựa chọn hoặc rời bỏ Việt Nam nếu như vẫn tiếp tục tồn tại tình trạng tham nhũng như hiện nay Các nhà đầu trong nước sẽ không mặn mà với các lĩnh vực kinh tế cơ bản như sản xuất, khoa học và công nghệ vì ngại tình trạng “doanh nghiệp sân sau” cũng như sự nhũng nhiễu của không ít cán bộ, công chức ở các địa phương Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nền kinh tế trì trệ

Tác hại chính trị của tham nhũng

Sự tác động xấu của tham nhũng đối với kinh tế sẽ làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước ta Mặc dù đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước

ta sáng suốt và đúng đắn, tuy nhiên do một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất tham nhũng, lãng phí làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng trước nhân dân Khủng hoảng niềm tin nếu không được giải quyết triệt để và mạnh mẽ sẽ dẫn đến sự mất niềm tin của nhân dân

Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước không ngừng tìm mọi cách để lôi kéo nhiều bộ phận nhẹ dạ, cả tin trong nhân dân rêu rao, nói xấu và chống phá các thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân

Trang 22

ta Một trong những nội dung mà chúng sử dụng chống phá chế độ là tham nhũng Chúng xuyên tạc rằng tham nhũng là bản chất của chế độ chúng ta Mặc dù đây là những luận điệu xuyên tạc, không khách quan, không đúng sự thật, nhưng nếu tham nhũng không được ngăn chặn triệt để thì sẽ tạo cơ hội cho các thế lực phản động chia rẽ Đảng và nhân dân

Vì vậy, đấu tranh phòng và chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm bảo vệ uy tín của Đảng, bảo vệ chế độ do Đảng và nhân dân đã đổ mau nhiêu xương máu gây dựng và phát triển

Tác hại xã hội của tham nhũng

Một thực trạng đáng báo động là tham nhũng diễn ra không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong tất cả các mặt của đời sống xã hội: công tác cán

bộ, giáo dục, y tế, công tác xã hội, … Tham nhũng làm đảo lộn trật tự xã hội, xói món những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tham nhũng gây ra một nhận thức sai trái trong một bộ phận không nhỏ nhân dân, đó là “một người làm quan cả họ được nhờ” hay “muốn giàu có phải làm quan” Với cách suy nghĩ lệch lạc đó, có không ít người học hành để có được tấm bằng để vào cơ quan nhà nước, rồi xoay sở, chạy chọt để được “làm quan” Như vậy tham nhũng gây ra hiện tượng này và hiện tượng này góp phần làm cho tham nhũng ngày càng bùng phát, phức tạp và khó dập tắt

Tham nhũng cũng gây ra hiện tượng không tốt trong xã hội, đó khi giải quyết công việc gì liên quan đến công quyền hoặc dịch vụ công, người dân lại nghĩ đến “quan hệ, tiền tệ” Trong mắt bộ phận này thì mọi việc đều có thể giải quyết bằng quan hệ và tiền tệ

Tham nhũng cũng làm chảy máu chất xám Trong nhiều cơ quan nhà nước, những người có tài thực sự không được trọng dụng, trong khi đó những người giỏi xu nịnh, khéo chiều lòng lãnh đạo lại được cất nhắc lên các vị trí cao hơn Những người chỉ chăm chú xu nịnh thì sẽ không có thời gian cũng

Trang 23

như sự tập trung để trau dồi chuyên môn cũng như kỹ năng quản lý Vì vậy, tham nhũng góp phần tạo ra một thực trạng: người giỏi bỏ đi ra làm việc tại các khu vực tư hoặc ra nước ngoài Trong khi đó, một bộ phận không nhỏ cán

bộ, công chức trong khu vực nhà nước không làm được việc mà sáng cắp ô đi chiều cắp ô về

1.2 Vị trí, vai trò của công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng

1.2.1 Khái quát về vị trí và vai trò của công an nhân dân

Điều 3 Luật Công an nhân dân quy định:

Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự,

an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

Vai trò nòng cốt của lực lượng công an nhân dân trong bảo vệ an ninh

tổ quốc, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và

vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội được ghi nhận không những trong quan điểm xuyết của Đảng, trong văn bản quy phạm pháp luật mà còn trong thực tiễn Một thực tiễn cho thấy với niềm tin vào lực lượng công an nhân dân, cho đến nay rất nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vẫn còn thói quen đề nghị công an giải quyết bất kỳ những vấn đề gì vướng mắc

kể cả những tranh chấp dân sự thông thường Thực tiễn này cho thấy niềm tin của quần chúng nhân dân vào lực lượng công an nhân dân Yếu tố này cũng cho thấy cần phải làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn về vai trò của lực lượng công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Trước hết, với những vai trò được xác định trong Luật Công an nhân dân, lực lượng công an nhân dân tham mưu cho các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước và các đoàn thể về đẩy mạnh các chương trình giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng với phương châm bảo đảm các cán bộ,

Trang 24

công chức và quần chúng nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng Lực lượng công an nhân dân cùng phối hợp với các cơ quan Đảng, cơ quan thanh tra tổ chức nhiều buổi nói chuyện chuyên đề, các hội thảo và các khoá đào tạo ngắn cho cán bộ, công chức, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp và rộng rãi quần chúng nhân dân

về các kiến thức về phòng, chống, phát hiện và xử lý tham nhũng Như vậy, trong công tác phòng ngừa tham nhũng, lực lượng công an nhân dân cùng với các cơ quan khác luôn là lực lượng trên tuyến đấu Lực lượng công an nhân dân không chỉ đơn thuần giữ vai trò quả đấm thép trong công tác trấn áp tội phạm mà còn giữ vai trò là lực lượng tiên phong trong giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức và quần chúng nhân dân Việc nhận thức lực lượng công an nhân dân chỉ làm công tác xử lý tội phạm là không đúng Lực lượng công an nhân dân Việt Nam là lực lượng hàng ngày gắn bó với quần chúng nhân dân, hiểu quần chúng nhân dân như gia đình Vì vậy, cần phát huy vai trò giáo dục pháp luật của công an nhân dân

Lực lượng công an nhân dân cũng là lực lượng trên tuyến đấu trong công tác phân tích, đánh giá tình hình tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng, chỉ ra nguyên nhân của tội phạm tham nhũng và từ đó tham mưu hoặc trực tiếp tham gia vào công tác triệt tiêu, hạn chế nguyên nhân, điều kiện của tội phạm tham nhũng Đây là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu lực lượng công an nhân dân Bởi lẽ, các chiến sĩ của lực lượng công an nhân là những người được đào tạo kiến thức và nghiệp vụ bài bản về tội phạm và tình hình tội phạm Hơn ai hết, lực lượng công an nhân hiểu rõ được bản chất, quy luật, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm Từ đó, cùng với sự phối hợp của các

cơ quan khác, lực lượng công an nhân dân sẽ làm rõ được nguyên nhân và điều kiện thực sự của tội phạm tham nhũng, để từ đó tham mưu cho cấp uỷ và chính quyền các cấp có giải pháp ngăn ngừa, hạn chế, triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm tham nhũng

Trang 25

Dù Đảng và Nhà nước ta không ngừng giáo dục cán bộ, công chức nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, nhưng trên thực tế tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp Đảng và Nhà nước vẫn phải nuốt nước mắt cắt đi những ung, nhọt trên cơ thể mình để trong sạch hoá đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Trong cuộc đầu tranh đó, lực lượng công an nhân dân là lực lượng nòng cốt

Lực lượng công an nhân dân luôn tích cực trong việc bám sát quần chúng nhân dân, nắm được nhiều nguồn tin quan trọng từ quần chúng nhân dân, để từ đó chủ động theo dõi, nắm bắt, phát hiện và xử lý tham nhũng Bên cạnh đó, lực lượng công an nhân luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tham gia công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng như cơ quan thanh tra và cơ quan kiểm toán nhà nước

Lực lượng công an nhân dân tiếp nhận thông tin từ các cơ quan này để tiếp tục điều tra làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc Mối quan hệ công việc giữa lực lượng công an nhân dân với quần chúng nhân dân, các cơ quan nhà nước thông qua tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Căn cứ vào các thông tin trên cũng như các thông tin được xác minh ban đầu và quy định của pháp luật, lực lượng công an nhân dân sẽ tiến hành khởi tố vụ án và tiến hành thực hiện các nghiệp vụ điều tra để làm sáng tỏ sự thật khách quan để trả lời câu hỏi hành vi tham nhũng có cấu thành tội phạm hay không?

Theo Điều 1 của Luật Phòng, chống tham nhũng, phạm vi điều chỉnh của luật quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng Qua quy định này có thể thấy phòng, chống tham nhũng là những biện pháp được áp dụng nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, xử lý tham nhũng

Trang 26

Từ những quy định của Luật có thể thấy vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng thực chất là xem xét vai trò của Công an nhân dân trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng

1.2.2 Khái quát chung về phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng

Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh [46, tr 144]

Tham nhũng do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện Người có chức

vụ, quyền hạn luôn gắn với một cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhất định Vì vậy, việc phát hiện và xử lý ban đầu đối với hành vi tham nhũng trước hết thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có chức vụ, quyền hạn Cơ quan quản lý người có chức vụ, quyền hạn phát hiện tham nhũng thông qua các hoạt động sau đây:

Kiểm tra: Kiểm tra là hoạt động phải được thực hiện thường xuyên bởi

cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm phát hiện ra những biểu hiện sai trái, lệch lạc

để chấn chỉnh, xử lý Việc kiểm tra không phải tràn lan, vô tổ chức mà phải theo kế hoạch, chương trình cụ thể Người đứng đầu cơ quan quản lý phải chủ động trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch kiểm tra thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện ra các vi phạm trong công tác cũng như tiết kiệm thời gian, chi phí, hạn chế đến mức thấp nhất các xáo trộn trong công tác Bên cạnh công tác kiểm tra thường xuyên, định kỳ, các cơ quan, tổ chức và đơn vị cần có những hoạt động kiểm tra đột xuất khi có thông tin hoặc có dấu hiệu tham nhũng Hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng, được áp dụng cho tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị mà không phụ thuộc thuộc khu vực nhà nước hay không

Giám sát: Cơ quan quyền lực nhà nước là cơ quan có chức năng giám sát việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan nhà nước khác (cơ

Trang 27

quan hành chính nhà nước, toà án, viện kiểm sát, kiểm toán nhà nước) Trong quá trình giám sát, cơ quan đại diện của nhân dân sẽ đánh giá sự nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật của các đối tượng giám sát Nếu phát hiện có dấu hiệu tham nhũng, tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm, cơ quan giám sát sẽ chuyển hồ sơ cho cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân xử lý theo thẩm quyền và quy định của pháp luật Trong khu vực doanh nghiệp cũng có hoạt động giám sát, đó là hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý và cơ quan kiểm soát trong doanh nghiệp Các cơ quan đó bao gồm: Đại hội đồng cổ đông (công ty cổ phần), Hội đồng quản trị (công ty cổ phần), Hội đồng thành viên (công ty trách nhiệm hữu hạn), Ban kiểm soát (công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn) Đặc biệt, trong các công ty cổ phần đại chúng có tồn tại chức danh thành viên độc lập Hội đồng quản trị có vai trò quan trọng trong việc giám sát việc tuân thủ pháp luật, điều lệ, quy chế công ty của đội ngũ quản lý công ty

Thanh tra: Điều 2 Luật thanh tra năm 2010 quy định:

Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước

có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử

lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Công tác thanh tra đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện tham nhũng Qua hoạt động thanh tra, cơ quan thanh tra sẽ phát hiện ra những sai phạm, hành vi tham nhũng để từ đó có biện pháp xử lý theo thẩm quyền, kiến nghị xử lý hoặc chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xử lý

Trang 28

Kiểm toán: Theo Điều 4 Luật kiểm toán nhà nước năm 2015 thì đối tượng của kiểm toán nhà nước là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán Kết quả của quá trình kiểm toán nhà nước kết luận kiểm toán Trong kết luận kiểm toán chỉ ra các vi phạm (nếu có) và đưa ra kiến nghị để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý Trong lĩnh vực ngoài doanh nghiệp, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập cũng có vai trò quan trọng trong việc phát hiện tham nhũng trong lĩnh vực tư

Tố cáo, tố giác tội phạm, tin báo tội phạm của công dân:

Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là một đặc trưng của Nhà nước

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân vì vậy vai trò của nhân dân trong công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng là rất quan trọng Quần chúng nhân dân với ý thức cảnh giác cao

độ, luôn nguồn cung cấp thông tin hiệu quả cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phát hiện tham nhũng Đầu tiên, nhân dân cũng chính là các đối tượng thụ hưởng các dịch vụ công và cũng chính là các đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhiều hành vi tham nhũng như nhũng nhiễu, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, … Vì vậy, hơn ai hết, nhân dân là người biết tường tận hành vi tham nhũng Thông tin do nhân dân cung cấp là

cơ sở ban đầu để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá và tiến hành các bước tiếp theo để phát hiện và xử lý tham nhũng Vì vậy, cần có

cơ chế để bảo đảm nhân dân có thể cung cấp thông tin về tham nhũng cho các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Có ba cơ chế cơ bản

Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 thì:

Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho

cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại

Trang 29

hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực

Theo tinh thần của điểm (a) Khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018, tố cáo là quyền của công dân Nếu phát hiện ra hành vi có dấu hiệu tham nhũng thì cá nhân có quyền làm đơn tố cáo nộp lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thông thường, đơn tố cáo được gửi cho các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, thanh tra, kiểm toán, các cơ quan hành chính nhà nước chuyên ngành, … Nếu đủ căn cứ thụ lý tố cáo và thuộc thẩm quyền của mình, cơ quan tiếp nhận sẽ thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền của cơ quan tiếp nhận thì cơ quan này sẽ chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền Trong quá trình giải quyết tố cáo, tham nhũng có thể được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, tin báo, tố giác về tội phạm là một kênh thông tin về tội phạm tham nhũng có giá trị để cơ quan có thẩm quyền có thông tin ban đầu trong quá trình phát hiện ra tội phạm tham nhũng

Phát hiện tham nhũng bởi các phương tiện thông tin đại chúng và mạng

xã hội: Ngày nay với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội như báo đài, báo giấy, báo hình, báo điện tử, facebook, twitter,

… đã góp phần làm cho thông tin được cập nhật liên lục Các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội cũng có thể là những thông tin sơ khởi, ban đầu giúp cho các cơ quan có thẩm quyền phát giác ra hành vi tham nhũng để tiến thành các thủ tục luật định như kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra nhằm phát hiện ra tham nhũng

Trang 30

Vai trò của Công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ nét trong hoạt động điều tra

Điều tra: Các hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán chỉ mới dừng ở bước phát hiện ra hành vi tham nhũng nhưng để xác định xem hành vi tham nhũng có cấu thành tội phạm hay không? Có cần phải truy tố và tiếp đến

là xét xử hay không phải thông qua quá trình điều tra chặt chẽ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Thông qua hoạt động điều tra, cơ quan điều tra xác định sự thật khách quan, xác định xem hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không? Có đủ căn cứ để ra kết luận điều tra và đề nghị viện kiểm sát nhân dân truy tố bị can Nếu không có đủ căn cứ thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra Như vậy, điều tra là một giai đoạn đặc biệt quan trọng trong công tác phát hiện tham nhũng Tính quan trọng của nó thể hiện ở chỗ nó sẽ là giai đoạn làm rõ vụ việc tham nhũng có dấu hiệu tội phạm hay không có phải xử lý bằng biện pháp hình sự hay không Điều tra là khâu then chốt trong công tác chống tham nhũng là khâu có tính quyết định đến số phận của những người có hành vi tham nhũng Vì vậy, điều tra cũng là khâu thể hiện tính nghiêm minh và hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng Điều tra cũng là khâu, là giai đoạn thu thập và xác minh được đầy đủ thông tin nhất, toàn diện nhất của toàn bộ lịch sử của vụ việc tham nhũng Tuy nhiên, điều tra cũng có mối quan hệ mất thiết với kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và hoạt động phát hiện tham nhũng khác Các hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và hoạt động phát hiện tham nhũng là những hoạt động cung cấp thông tin ban đầu về tội phạm tham nhũng Trên cơ sở những thông tin ban đầu đó, cơ quan điều tra sẽ tiến hành thu thập thêm thông tin, chứng cứ, tiến hành giám định và các nghiệp vụ điều tra khác theo quy định của pháp luật để làm rõ sự thật khách quan

Sau khi phát hiện tham nhũng, xác định được sự thật khách quan thì sẽ

Trang 31

tiến hành xử lý tham nhũng Như phần trên đã phân tích, căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi tham nhũng mà xác định hình thức xử lý thích đáng Người có chức vụ, quyền hạn có thể vừa bị xử lý kỷ luật vừa bị xử lý vi phạm hành chính nếu hành vi tham nhũng cấu thành vi phạm hành chính Thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Nếu hành vi tham nhũng cấu thành tội phạm thì người phạm tội tham nhũng sẽ bị truy tố, xét xử và áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự Bên cạnh bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự, người có hành vi tham nhũng có thể bị buộc bồi thường thiệt hại nếu hành vi tham nhũng gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp

1.2.3 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý kỷ luật

Áp dụng hình thức kỷ luật nhà nước thuộc thẩm quyền của:

(1) Người đứng đầu hoặc bộ máy quản lý (lãnh đạo) cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có chức vụ, quyền hạn làm việc Việc giao cho người đứng đầu hoặc bộ máy quản lý (lãnh đạo) cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có chức vụ, quyền hạn làm việc có thẩm quyền áp dụng hình thức kỷ luật là phù hợp Bởi vì, người đứng đầu, cơ quan đơn vị là người trực tiếp quản lý, điều hành người có chức vụ, quyền hạn, nên hiểu được thực tế thực hiện công việc của người có chức vụ, quyền hạn Hơn nữa, cần cho thủ trưởng đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật mới bảo đảm tính nghiêm minh trong mệnh lệnh của thủ trưởng đơn vị, tránh tình trạng người có nhiệm vụ, quyền hạn coi thường mệnh lệnh của thủ trưởng khi biết rằng thủ trường không có thẩm quyền xử lý kỷ luật

(2) Đối với một số chức danh do người có thẩm quyền hoặc cơ quan cấp trên thuộc hệ thống ngành dọc hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung bổ nhiệm thì người hoặc cơ quan này sẽ áp dụng hình thức

Trang 32

kỷ luật nhà nước đối với người vi phạm hoặc uỷ quyền cho người đứng đầu

cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc xử lý kỷ luật Trường hợp này chỉ nên giới hạn đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý đơn vị, các chức danh còn lại nên để thủ trưởng đơn vị trực tiếp kỷ luật

Lực lượng công an nhân dân không có thẩm quyền trực tiếp tham gia vào quá trình xử lý kỷ luật người có chức vụ, quyền hạn trừ trường hợp xử lý

kỷ luật cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân, người thuộc lực lượng công an nhân dân Tuy nhiên, lực lượng công an nhân dân vẫn có vai trò nhất định đối với quá trình xử lý kỷ luật cán bộ, công chức Vai trò đó được thể hiện như sau:

Lực lượng công an nhân dân, với nhiệm vụ nòng cốt trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm Vì vậy, lực lượng công an nhân dân nắm được những thông tin về tình hình tội phạm Với nghiệp vụ của mình, lực lượng công an nhân dân sớm phát hiện ra những biểu hiện tiêu cực tại một cơ quan, đơn vị nào đó Với tinh thần phòng hơn chống, lực lượng công an nhân dân sẽ nhắc nhở, tham mưu, hỗ trợ thủ trưởng đơn vị thu thập các chứng cứ cần thiết cũng như tổ chức đấu tranh, vận động, giáo dục người có liên quan chấm dứt các hành vi sai trái trước khi quá muộn Như vậy, với vai trò này, lực lượng công an nhân dân góp phần ngăn chặn ngay từ đầu các hành vi tham nhũng hoặc ngăn chặn hậu quả của hành vi tham nhũng Bởi lẽ khi hậu quả đã xảy ra rồi thì việc khắc phục hậu quả không phải là một việc dễ dàng Ở giai đoạn này, lực lượng công an nhân dân có thể cung cấp cho thủ trưởng đơn vị, cơ quan có thẩm quyền các chứng cứ để thủ trưởng đơn vị, cơ quan có thẩm quyền có căn cứ xử lý kỷ luật cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật

Để bảo đảm hiệu quả công tác này, giữa cơ quan, đơn vị ngoài ngành với đơn

vị trực tiếp trong lực lượng công an nhân dân cần có chương trình phối hợp đầy đủ, rõ ràng và cụ thể Trong đó, văn bản phối hợp giữa các đơn vị cần làm

rõ vai trò, nhiệm vụ của lực lượng công an nhân dân cũng như vai trò, nhiệm

Trang 33

vụ của cơ quan, đơn vị đối tác với tinh thần phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm kỷ luật (bao gồm cả hành vi tham nhũng) trong nội bộ cơ quan, đơn vị

là nhiệm vụ chính của các cơ quan, đơn vị đó, trong đó đề cao trách nhiệm của người đứng đầu Lực lượng công an nhân dân chỉ hỗ trợ và tham mưu thêm khi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm, lực lượng công an nhân dân phát hiện thấy những dấu hiệu tiêu cực trong cơ quan, đơn vị Cần lưu ý, lực lượng công an nhân dân không tư vấn cho thủ trưởng đơn vị hay cơ quan có thẩm quyền về các hình thức xử lý kỷ luật Thủ trưởng đơn vị hoặc cơ quan có thẩm quyền cần phải chủ động căn

cứ vào các quy định của pháp luật và các tình tiết của vụ việc để lựa chọn hình thức kỷ luật thích đáng Lực lượng công an nhân dân chỉ tham mưu cho thủ trưởng đơn, cơ quan có thẩm quyền trong việc thu thập thông tin, đánh giá

sự thật khách quan để có đầy đủ chứng cứ để xử lý kỷ luật người vi phạm Đương nhiên, các tài liệu mà lực lượng công an nhân dân thu thập được bằng nghiệp vụ hợp pháp là chứng cứ được sử dụng để xử lý kỷ luật cán bộ, công chức trừ trường hợp tài liệu đó phải được bảo mật và chưa được công bố theo quy định của pháp luật

Trong quá trình điều tra tội phạm tham nhũng, lực lượng công an nhân dân thu thập được chứng cứ như lời khai của những người liên quan, các tài liệu, giấy tờ, kết luận giám định… Các tài liệu này có thể là chứng cứ để thủ trưởng đơn vị, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để xử lý kỷ luật người có chức vụ, quyền hạn Tuy nhiên, không phải tất cả các lời khai, tài liệu, giấy tờ, kết luận giám định, … đều có thể được cung cấp cho thủ trưởng đơn vị hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình thức kỷ luật cán

bộ, công chức Lực lượng công an, nhân dân chỉ cung cấp những tài liệu, chứng cứ mà theo quy định của pháp luật, các tài liệu, chứng cứ đó không thuộc trường hợp bảo mật Lực lượng công an nhân dân không chủ động cung

Trang 34

cấp chứng cứ, tài liệu cho thủ trưởng đơn vị hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình thức kỷ luật cán bộ, công chức mà chỉ cung cấp khi có yêu cầu bằng văn bản của thủ trưởng đơn vị hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình thức kỷ luật cán bộ, công chức Một vấn đề nữa cần đặt ra

là các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra có thể sẽ bị Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án không thừa nhận Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ các thông tin, tài liệu mà thủ trưởng đơn vị hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình thức kỷ luật cán bộ, công chức thu thập được từ lực lượng công an nhân dân trong quá trình điều tra chỉ có giá trị tham khảo Thủ trưởng đơn vị, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tự chịu trách nhiệm trong việc xác định chứng cứ nào có thể được sử dụng để xử lý kỷ luật cán bộ, công chức

1.2.4 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng

Vai trò của lực lượng công an nhân dân được thể hiện rõ nét và đầy đủ nhất trong hoạt động xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi tham nhũng

Trước hết, lực lượng công an nhân dân chủ động phát hiện ra các vụ án tham nhũng Mặc dù, cơ quan thanh tra được giao nhiệm vụ là đầu mối trong công tác phòng, chống tham nhũng Nhưng với vai trò tiên phong trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong công tác phát hiện, điều tra và xử lý các tội phạm về tham nhũng, lực lượng công an nhân dân vẫn giữ vai trò trung tâm Bằng nghiệp vụ, lực lượng công an nhân dân có khả năng nắm bắt được các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, từ quần chúng nhân dân Trên cơ những thông tin đó, lực lượng công nhân dân sẽ tổ chức tiến hành trinh sát nhằm phát hiện tội phạm về tham nhũng Vì sao lực lượng công an nhân có thể triển khai được hoạt động này? Bởi vì lực lượng công an nhân dân luôn gần gũi, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Những thông tin phản ánh của nhân dân về lối sống, khả năng kinh tế của một người có

Trang 35

chức vụ, quyền hạn nào đó, cũng như những thông tin về thực trạng tham nhũng, nhũng nhiễu ở một cơ quan, tổ chức nào đó sẽ nhanh chóng đến với lực lượng công an nhân dân qua nhiều kênh Với vai trò và trách nhiệm cũng như nghiệp vụ chuyên nghiệp trong công tác phòng, chống tội phạm về tham nhũng, lực lượng công an nhân dân sẽ bố trí lực lượng tiến hành làm rõ phản ánh của nhân dân Vì vậy, trong công tác phát hiện tội phạm về tham nhũng không thể thiếu vai trò của lực lượng công an nhân dân

Lực lượng công an nhân dân cũng luôn trên tuyến đầu trong công tác tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố Trong đó có nhiều tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố về các tội phạm về tham nhũng Dù lực lượng công an nhân Việt Nam là lực lượng tinh nhuệ, luôn luôn quyết thắng trong các cuộc đấu tranh bảo vệ các thành quả to lớn của cách mạng Nhưng tội phạm nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng ngày càng tinh vi, xảo quyệt Lực lượng công an nhân không thể lẻ loi trong cuộc chiến đầy khó khăn này Vì vậy, sự hợp tác của quần chúng nhân dân cũng như của các cơ quan, tổ chức khác là rất cần thiết Với cơ chế về tin báo,

tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, lực lượng công an nhân dân có thêm kênh thông tin hiệu quả trong công tác phát hiện ra tội phạm về tham nhũng Thực tiễn cho thấy, đa số các tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố được gửi đến các đơn vị thuộc lực lượng công an nhân Vì vậy, trong đa số các trường hợp, lực lượng công an nhân là đầu mối tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm về tham nhũng và kiến nghị khởi tố về tội phạm về tham nhũng Sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm về tham nhũng và kiến nghị khởi tố về tội phạm về tham nhũng, đơn vị lực lượng công an nhân phải xác định xem tin báo, tố giác về tội phạm về tham nhũng và kiến nghị khởi tố về tội phạm về tham nhũng có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không? Nếu tin báo, tố giác về tội phạm về tham nhũng và kiến nghị khởi

Trang 36

tố về tội phạm về tham nhũng không thuộc thẩm quyền của đơn vị, thì đơn vị phải nhanh chóng chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết Nếu tin báo,

tố giác về tội phạm về tham nhũng và kiến nghị khởi tố về tội phạm về tham nhũng thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị (cơ quan điều tra thuộc lực lượng công an nhân dân) thì đơn vị phải tiến hành xác minh, đánh giá thông tin, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ để xác định xem có căn cứ để khởi tố vụ

án hình sự hay không? Trong quá trình xác minh thông tin, cơ quan điều tra tiến hành nhiều nghiệp vụ như: (1) thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (2) trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản Kết quả của quá trình xác minh tin báo, tố giác về tội phạm về tham nhũng và kiến nghị khởi tố về tội phạm về tham nhũng sẽ là quyết định không khởi tố vụ án hình sự (nếu không có căn cứ khởi tố) hoặc quyết định khởi tố

vụ án hình sự (nếu có căn cứ khởi tố)

Nếu cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì quá trình tố tụng hình sự được tiếp tục với giai đoạn điều tra mà vai trò chủ yếu là của cơ quan điều tra Trong giai đoạn điều tra, lực lượng công an tiến hành các nghiệp vụ điều tra để thu thập chứng cứ làm căn cứ để kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân truy tố bị can Trong phần lớn các vụ án hình sự, chứng cứ được thu thập trong giai đoạn điều tra được sử dụng để kết tội bị cáo và xác định hình phạt cho bị cáo

Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố bị can và tiến hành các thủ tục hỏi cung bị can và lấy lời khai của người làm chứng và những người có liên quan Các vụ án tham nhũng thường rất phức tạp với nhiều người có liên quan Vì vậy, công tác lấy lời khai rất khó khăn Hơn nữa, bị can cũng như những người có liên quan (thường là đồng nghiệp của bị can, những người có những mối quan hệ công việc… với bị can) thường là những người có năng lực, hiểu biết pháp luật và có nhiều kinh

Trang 37

nghiệm sống Vì vậy, việc lấy lời khai đòi hỏi điều tra viên trong lực lượng công an nhân phải nắm vững pháp luật, giỏi kỹ năng, nghiệp vụ và có hiểu biết về lĩnh vực liên quan Ví dụ, khi điều tra vụ án tham nhũng về đầu tư xây dựng, điều tra viên phải am tường lĩnh vực đầu tư xây dựng Với sự hiểu biết của mình, các bị can trong các vụ án tham nhũng sẵn sàng sử dụng quyền im lặng để không hợp tác với cán bộ điều tra Đây là một thách thức rất lớn, đòi hỏi điều tra viên phải thu thập, xác minh các nguồn chứng cứ khác để buộc bị can phải tâm phục, khẩu phục để khai báo trung thực Trong nhiều trường hợp, điều tra viên phải tổ chức cho đối chất giữa các bị can và giữa bị can với những người liên quan để tìm ra sự thật khách quan

Các vụ án tham nhũng thường có một khối lượng hồ sơ đồ sộ Vì vậy, công tác khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật phải được thực hiện một cách chặt chẽ và đầy đủ nhằm tránh bỏ sót chứng cứ quan trọng Trên thực tế, phần lớn các trường, tài liệu, đồ vật được thu giữ đầy đủ trong giai đoạn điều tra Đây là những nguồn chứng cứ quan trọng phục vụ cho công tác điều tra, truy tố và xét xử

Khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, phương tiện: Thực tế, ở các vụ tham nhũng, cơ quan điều tra chủ yếu tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, phương tiện Bởi vì đây là những nơi cất giấu hoặc lưu giữ các tài liệu, đồ vật quan trọng liên quan đến vụ án Ngày nay, thông tin hầu như đều được cất giữ trong các phương tiện điện tử Vì vậy, việc khám xét các phương tiện điện tử như máy vi tính, máy tính xách tay, điện thoại di dộng, thư tín điện tử, … là rất cần thiết Tuy nhiên, việc khám xét liên quan đến quyền riêng tư Do đó, không phải trường hợp nào cơ quan điều tra cũng có thể tiến hành khám xét

Vì vậy, việc khám xét chỉ được thực hiện khi tuân thủ theo đúng điều kiện và thủ tục khám xét do pháp luật tố tụng hình sự quy định

Thu giữ tài liệu, đồ vật: Việc thu giữ tài liệu, đồ vật bao gồm phương

Trang 38

tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thư tín, thư tín điện tử, bưu phẩm, bưu kiện và các đồ vật khác Đối với các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án hoặc chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc điều tra vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành thu giữ các tài liệu, đồ vật để phục vụ công tác điều tra cũng như các công tác tố tụng tiếp theo

Sau khi thu thập các tài liệu, đồ vật, cơ quan điều tra sẽ tiến hành nghiên cứu để thu thập chứng cứ để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Trong rất nhiều trường hợp các chứng cứ thu thập được từ việc các tài liệu, đồ vật sẽ giúp cho cơ quan điều tra tìm ra sự thật, chỉ ra hành vi phạm tội của bị can mặc dù bị can luôn kêu oan hoặc im lặng không chịu khai báo thành khẩn

Các vụ án tham nhũng thường liên quan đền tài sản Vì vậy, trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có thể tiến hành trưng cầu giám định, định giá tài sản Đây là công việc rất quan trọng để xác định giá trị của tài sản liên quan đến vụ án, xác định thiệt hại mà Nhà nước, tổ chức, cá nhân phải gánh chịu Việc trưng cầu giám định, định giá tài sản liên quan đến mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Để bảo đảm việc giám định, định giá tài sản chính xác và hiệu quả cần phải khẳng định rõ nét trong luật quyết định trưng cầu giám định hoặc định giá tài sản là một quyết định bắt buộc mà cơ quan, tổ chức được trưng cầu phải tuân theo Cần

có các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị được trưng cầu giám định trong việc bảo đảm tuân thủ nghiêm chỉnh quyết định trưng cầu của cơ quan điều tra cũng như bảo đảm tiến độ và kết quả giám định, định giá

Sau khi kết thúc các nghiệp vụ điều tra, cơ quan điều tra sẽ xác định với tình tiết của vụ án liệu có đủ căn cứ để ra kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân truy tố bị can hay ra quyết định đình chỉ điều tra

Trong suốt quá trình tố tụng, lực lượng công an được giao nhiệm vụ

Trang 39

tạm giữ, tạm giam bị can, bị cáo Lực lượng cảnh sát tư pháp còn có nhiệm vụ dẫn giải bị cáo để Toà án cũng như bảo vệ an ninh, trật tự cho phiên toà Sau khi toà ra bản án kết luận bị cáo phạm tội về tham nhũng và quyết định hình phạt, lực lượng công an nhân dân được giao nhiệm vụ thi hành bản án hình sự (phạt tù, tử hình,…) đối với người phạm tội Trong suốt thời gian, phạm nhân được giam giữ, cải tạo tại các cơ sở giam giữ, lực lượng công an nhân dân lại tiếp tục đảm nhiệm công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân nhằm giúp phạm nhân hoàn lương

Từ phân tích, cho thấy lực lượng công an nhân dân có vai trò rất quan trọng trong xử lý các vụ án tham nhũng bằng con đường hình sự Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng được tóm tắt như sau:

- Lực lượng công an nhân dân là đầu mối tiếp nhận thông tin từ quần chúng nhân dân, các cơ quan, tổ chức trong phát hiện tội phạm về tham nhũng

- Lực lượng công an nhân dân là lực trực tiếp thực hiện các hành vi tố tụng để bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử bao gồm: thực hiện tạm giữ, tạm giam, dẫn giải bị can, bị cáo

- Lực lượng công an nhân là lực lượng (cụ thể là cơ quan điều tra) chủ yếu tiến hành hoạt động điều tra nhằm thu thập và xác minh thông tin, tài liệu

để xây dựng và củng cố chứng cứ làm căn cứ ra các quyết định tố tụng trong suốt quá trình xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng

- Lực lượng công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện công tác thi hành án hình sự: tổ chức thi hành bản án tử hình, tổ chức giam giữ người bị kết án, giám sát quá trình cải tạo của phạm nhân,…

1.2.5 Vai trò của lực lượng công an nhân dân trong trong phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động trong xử lý dân sự đối với hành vi tham nhũng

Có thể thấy lực lượng công an nhân dân có vai trò trọng tâm và xuyên

Trang 40

suốt trong toàn bộ quá trình xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng Trong thực tiễn vấn đề trách nhiệm dân sự của người có hành vi tham nhũng chưa đặt ra Tuy nhiên, hành vi tham nhũng cũng gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và cá nhân Vì vậy về nguyên lý người có hành vi phạm nhũng phải bồi thường thiệt hại nhằm trả lại Nhà nước, tổ chức, cá nhân về trạng thái ban đầu (góc độ tài sản) như trước khi có hành vi tham nhũng gây ra thiệt hại Nếu đặt vấn đề trách nhiệm dân sự của người có hành vi tham nhũng thì quy trình giải quyết sẽ được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân

và quyết định của toà án Vậy lực lượng công an nhân dân có vai trò gì?

Mặc dù không trực tiếp đưa ra quyết định liên quan đến trách nhiệm dân sự của người có hành vi phạm tội về tham nhũng nhưng vai trò của lực lượng công an nhân dân là không thể phủ nhận

Trước tiên, trong giai đoạn điều tra, lực lượng công an nhân dân tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại và những người có liên quan khác, tiến hành hỏi cung bị can, trưng cầu giám định, … Các hoạt động này góp phần quan trọng trong việc xây dựng và củng cố hồ sơ Hồ sơ được xây dựng và củng cố trong quá trình điều tra là nguồn chứng cứ quan trọng để Toà án sử dụng, xem xét và đánh giá trách nhiệm dân sự của người phạm tội về tham nhũng

Lực lượng công an nhân dân là lực lượng nhân danh Nhà nước bắt đầu tiến trình tố tụng hình sự để xử lý hành vi tham nhũng Lực lượng công an nhân dân cũng được đào tạo chính quy, bài bản về pháp luật Vì vậy, trong quá trình điều tra, lực lượng công an nhân dân có thể hiểu và đánh giá được trách nhiệm dân sự của người phạm tội về tham nhũng Do đó, pháp luật cần quy định cho phép lực lượng công an nhân dân được đưa ra kiến nghị về trách nhiệm dân sự của bị can đối với Nhà nước Trên cơ sở đó, trong bản luận tội, Viện kiểm sát nhân dân cũng nhân danh nhà nước đưa ra yêu cầu Toà án

Ngày đăng: 05/07/2021, 07:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w