1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị

109 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết đất đai thông qua hòa giải, trên cơ sở đó đề

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG ÁNH SÁNG

THỰC TRẠNG HÕA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG

TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Mã số: 88.501.03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN HỮU NGỮ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

PGS TS HỒ KIỆT

HUẾ - 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được sự quantâm, giúp đỡ quý báu của quý Thầy, Cô trong Ban Giám hiệu trường, Khoa Tài

nguyên đất và môi trường nông nghiệp, Phòng Đào tạoTrường Đại học Nông

Lâm - Đại học Huế Xin gửi tới quý Thầy, Cô lòng biết ơn chân thành và tình

cảm quý mến nhất

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Ngữ,người đã hướng dẫn khoa học, Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá

trình hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể và cá nhân ở UBND các phường, xã,Tòa án Nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục thống kê thị xã

Quảng trị, đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè đã góp ý, giúp đỡtôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tác giả luận văn

Hoàng Ánh Sáng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các sốliệu trong vùng nghiên cứu của luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai

công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận vănnày và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Ánh Sáng

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị” nhằm đánh giá được thực trạng công tác hòa giải

tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Quảng trị Qua đó đưa ra ý kiến và đề xuất

để nâng cao hiệu quả hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Quảng Trị

trong thời gian tới

Đề tài được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau: Phươngpháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu; Phương pháp tham vấn các đối tượng có

liên quan; Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu

Đề tài đã đánh giá được thực trạng và xác định được một số nguyên nhândẫn đến tranh chấp đất đai, hòa giải tranh chấp đất đai, xác định quy trình công

tác hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã; Tổ chức thăm dò, lấy ý kiến

đối với 02 đối tượng tác động trực tiếp trong quy trình hòa gaiir tranh chấp đất

đai là người sử dụng đất và cán bộ thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất

đai

Thị xã Quảng Trị thuộc vùng đồng bằng của tỉnh Quảng Trị, cách thànhphố tỉnh lỵ Đông Hà 12 km về phía Nam, có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, là

nơi hội tụ các tuyến đường giao thông quan trọng Tổng diện tích tự nhiên của

thị xã Quảng Trị là 7.282,3 ha chiếm 1,54% diện tích cả tỉnh, bao gồm 05 đơn vị

hành chính cấp xã là Phường 1, Phường 2, Phường 3, phường An Đôn và xã

Hải Lệ

Trong những năm qua, công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại thị xãQuảng Trị, tỉnh Quảng Trị có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào việc

phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự

an toàn xã hội tại địa phương Tuy nhiên, việc hòa giải tranh chấp đất đai tại thị

xã Quảng Trị có lúc, có nơi còn chưa kịp thời, còn bộc lộ những hạn chế nhất

định Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật

về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết đất đai

thông qua hòa giải, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp

luật, bảo đảm quyền và lợi ích cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng

về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay

Đề tài đã tiến hành thăm dò ý kiến của người sử dụng đất liên quan đếnvấn đề tranh chấp đất đai và hòa giải tranh chấp đất đai Xác định các nguyên

Trang 5

nhân dẫn đến tranh chấp đất đai, hòa giải tranh chấp đất đai: chính sách pháp

luật về đất đai; hiểu biết của người sử dụng đất; cơ sở dữ liệu về đất đai; cơ sở

vật chất, trang thiết bị phục vụ; nhân lực phục vụ;

Nghiên cứu đã đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả về hòa giải tranh chấp đấtđai trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

TÓM TẮT iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH/MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3

2.1 Mục đích chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.1 Khái quát về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 4

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai 11

1.1.3 Bản chất của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 12

1.1.4 Các nguyên tắc của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 19

1.1.5 Quy trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 22

1.1.6 Các yếu tố tác động đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 25

1.1.7 Ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 27

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 28

1.2.1 Tổng quan pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai của một số nước 28

Trang 8

1.2.2 Tổng quan pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam 30

1.2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai 32 1.2.3.1 Thực trạng áp dụng pháp luật tại Ủy ban Nhân dân các cấp 32

1.3 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾ ĐỀ TÀI 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 40

2.1.2 Phạm vi 40

2.2 Nội dung nghiên cứu 40

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu 40

2.3.2 Phương pháp tham vấn các đối tượng có liên quan 42

2.3.3 Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu 42

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT 43

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 43

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 46

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Quảng Trị 51

3.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI TẠI THỊ XÃ QUẢNG TRỊ 52

3.2.1 Tình hình sử dụng đất 52

3.2.2 Biến động đất đai giai đoạn từ 2014 đến 2017 56

3.2.3 Công tác quản lý nhà nước về đất đai liên quan đến tranh chấp đất đai và hòa giải tranh chấp đất đai 60

3.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC HÕA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI THỊ XÃ QUẢNG TRỊ 63

Trang 9

3.3.1 Thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai tại thị xã Quảng Trị giai đoạn

7/2014 - 6/2018 63

3.3.2 Kết quả hòa giải tranh chấp đât đai tại Ủy ban Nhân dân các phường, xã 64 3.3.3 Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án Nhân dân thị xã

3.3.4 Những mặt đạt được

3.3.5 Những mặt tồn tại

3.3.6 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp đất đai

3.4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÕA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

3.4.1 Hoàn thiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở, UBND xã, phường

3.4.2 Hoàn thiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại tòa án

3.4.3 Giải pháp khác

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 KẾT LUẬN

2 KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Diện tích - Dân số - mật độ dân số năm 2017

Bảng 3.2 Diện tích tự nhiên phân theo đơn vị hành chính năm 2017

Bảng 3.3 Diện tích, cơ cấu hiện trạng sử dụng đất thị xã năm 2017

Bảng 3.4 Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng: Năm 2017 so với năm 2014 và 2016

Bảng 3.5 Số lượng vụ việc về HGTCĐĐ tại các phường, xã

giai đoạn 7/2014 - 6/2018

Bảng 3.6 Số lượng vụ việc về HGTCĐĐ tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị giai đoạn 7/2014 - 6/2018

Bảng 3.7 Mức độ tìm hiểu pháp luật đất đai của người dân thị xã Quảng trị

Bảng 3.8 Hình thức tìm hiểu pháp luật đất đai của người dân thị xã Quảng trị

Bảng 3.9 Hình thức tìm hiểu pháp luật của công chức hòa giải TCĐĐ

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ địa giới hành chính thị xã Quảng Trị 43

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hòa giải là biểu hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam Về bảnchất hòa giải nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm; tăng cường tình đoàn kết,

tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng; kịp thời giải quyết

những xích mích, mâu thuẫn ở cơ sở; ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật; góp

phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giảm bớt vụ việc phải đưa lên Tòa án nhân

dân hoặc UBND các cấp giải quyết, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà nước

và nhân dân

Với ý nghĩa cao đẹp và vai trò quan trọng nên công tác hòa giải luôn đượcĐảng, Nhà nước và xã hội quan tâm động viên, khuyến khích, nhân dân đồng

tình ủng hộ Sự ghi nhận tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992: “ Ở cơ sở, thành lập

các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật

và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật” và được khẳng

định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến

lược cải cách tư pháp đến năm 2020 “khuyến khích việc giải quyết một số tranh

chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài" là minh chứng cho sự tồn tại

và phát triển tất yếu của công tác hòa giải nói chung và hòa giải trong giải quyết

tranh chấp đất đai nói riêng Thể chế hóa quy định trên của Hiến pháp trong thời

gian qua Quốc hội đã ban hành Luật Hòa giải cơ sở và Luật Đất đai năm 2013

đây là hai văn bản nền tảng quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất

đai hiện nay Tuy nhiên, hòa giải tranh chấp đất đai vẫn quy định còn chung

chung, nhiều khi áp dụng chỉ mang tính hình thức và chưa đáp ứng được yêu

cầu thực tế đặt ra Chúng ta có thể thấy một số bất cập như sau:

Thứ nhất, quy định pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đấtđai hiện nay còn nhiều hạn chế nhất định cần phải tiếp tục hoàn thiện để phù hợp

với thực tế như: trình tự, thủ tục, thành phần tham gia hòa giải ở cơ sở, ở UBND

cấp xã, hiệu lực thi hành các văn bản công nhận hòa giải thành

Thứ hai, tranh chấp nào được thụ lý tại tòa án mà không qua hòa giải ở cơ

sở Luật Đất đai năm 2013 chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể dạng tranh

chấp đất đai nào phải qua hòa giải ở địa phương nên mỗi địa phương, tòa án áp

dụng rất khác nhau

Trang 13

Thứ ba, theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì UBND cấp

xã, phường phải phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội

khác để tiến hành hòa giải Trong thực tế, do quy định của pháp luật chưa rõ ràng,

bắt buộc phải là tổ chức xã hội nào như Đoàn thanh niên; Hội phụ nữ… nên nhiều

trường hợp thành phần tham gia hòa giải ở cấp xã không đúng Do đó, khi các bên

tranh chấp hòa giải không thành và tiến hành khởi kiện theo trình tự tố tụng dân sự

thì bị tòa án từ chối thụ lý và yêu cầu về địa phương tổ chức hòa giải lại vì lý do

thành phần tham gia hòa giải tại địa phương không đúng

Thứ tư, đối với các trường hợp hoà giải thành ở cơ sở, cấp xã (tranh chấphợp đồng mua bán nhà đất, hợp đồng tặng cho, thừa kế nhà đất ), pháp luật không

quy định cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các

bên, trình tự công nhận, hiệu lực bắt buộc các bên thực hiện biên bản hoà giải thành

đó Có quan điểm cho rằng do pháp luật không quy định cụ thể những trường hợp

này do đó nếu một hay cả hai bên thay đổi ý kiến thì coi như việc hoà giải không

thành và UBND cấp xã không phải hoà giải lại và việc tranh chấp thuộc thẩm

quyền của Toà án, khi đương sự khởi kiện, Toà án xem xét theo thủ tục chung

Như vậy, do pháp luật không quy định nên làm mất giá trị pháp lý của biên bản hoà

giải thành và vai trò của công tác hoà giải ở cơ sở, UBND xã, phường

Thứ năm, hiện nay công tác hòa giải ở địa phương, ở các cấp chính quyềnchưa thực sự được coi trọng và áp dụng triệt để còn mang tính hình thức Một

trong những nguyên nhân là do chúng ta chưa có cơ chế chính sách và đội ngũ

hòa giải viên chuyên nghiệp

Trong những năm qua, công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã

hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội tại địa

phương Tuy nhiên, việc hòa giải tranh chấp đất đai tại thị xã Quảng Trị có lúc, có nơi

còn chưa kịp thời, còn bộc lộ những hạn chế nhất định Do đó, việc nghiên cứu một

cách có hệ thống các quy định của pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất

đai, thực trạng giải quyết đất đai thông qua hòa giải, trên cơ sở đó đề xuất những kiến

nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích cho công dân là việc làm có

ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay Xuất phát từ thực tế đó và

được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn, tôi chọn nghiên cứu đề tài

"Thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tỉnh

Quảng Trị” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.

Trang 14

2. MỤC ĐÍCH/MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

xã Quảng Trị thời gian tới

- Làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản lý tại thị xã Quảng Trị nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Khái quát về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Hòa giải đi vào cuộc sống của nhân dân ta từ bao đời nay bởi người ViệtNam luôn coi trọng tình làng, nghĩa xóm Hoà giải không chỉ đơn thuần gópphần củng cố tình làng, nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồngdân cư, hạn chế các tranh chấp dân sự và phòng ngừa tội phạm, mà còn gópphần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Nguyễn Thị Tú (2006), “Hoà giải là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác Hoà giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự” [37].

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm nhiều khái niệm cấuthành như: Tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai, hòa giải trong giảiquyết tranh chấp đất đai

1.1.1.1 Quan niệm về tranh chấp đất đai

Tranh chấp, theo từ điển tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được hiểu là

việc “ Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”[29, tr

989] Theo đó được hiểu tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi có bất đồng,thường là trong vấn đề lợi ích, quyền lợi giữa hai hoặc nhiều bên với nhau.Dưới góc độ pháp lý, tranh chấp được hiểu là những xung đột, bất đồng vềquyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhưtranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại, tranh chấp lao động

Tranh chấp đất đai có quan điểm cho rằng “là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham ra quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất [30], hay quan điểm cho rằng: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”[4] Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Tranh chấp đất đai là tranh

chấp

Trang 17

về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan

hệ đất đai” Từ khái niệm này cho ta thấy tranh chấp đất đai ở đây là tranh chấp

về “quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất” Trước hết khi nghiên cứu về

quyền của người sử dụng đất có vấn đề đặt ra là tại sao không phải là tranh chấp

về quyền sở hữu đất đai? mà lại chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các

chủ thể Phải chăng quyền sử dụng đất có đầy đủ quyền năng như quyền sở hữu

tài sản khác theo quy định tại Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về quyền

sở hữu tài sản vì đất đai là một hàng hóa có giá trị đặc biệt Theo quy định tại

Điều 164 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì: "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm

hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của

pháp luật Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là

quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản" Theo quy định tại

Điều 17 và Điều 18 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật

Đất đai đều xác định rõ: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện

chủ sở hữu” Nhà nước có các quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện quyền đại

diện chủ sở hữu Nhà nước và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai Nhà

nước tham gia vào mối quan hệ pháp luật đất đai với tư cách là đại diện chủ sở

hữu toàn dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai, vừa với

tư cách là chủ thể của quyền lực công thực hiện chức năng quản lý mọi lĩnh vực

cần thiết của đời sống xã hội Nhà nước là người đại diện cho nhân dân thực

hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai Theo quy định Luật Đất đai thì nhà nước

có các quyền và nghĩa vụ cơ bản:

- Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như: Quyết định mụcđích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế

hoạch sử dụng đất (sau đây gọi chung là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); Quy

định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; Quyết định giao đất, cho thuê

đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Định giá đất

- Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông quacác chính sách tài chính về đất đai như: Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Thu

thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; Điều tiết phần giá

trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại

- Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông quahình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người

đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trang 18

- Về quản lý nhà nước về đất đai thì Nhà nước thống nhất quản lý về đấtđai gồm: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

và tổ chức thực hiện các văn bản đó; Xác định địa giới hành chính, lập và quản

lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Khảo sát, đo đạc, đánh giá,

phân hạng đất; Lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ

quy hoạch sử dụng đất

- Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai vàthống nhất quản lý nhà nước về đất đai qua các quyền như: Quốc hội ban hành

pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước;

thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong

phạm vi cả nước Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào

mục đích quốc phòng, an ninh; Thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong

phạm vi cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính

phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai Hội đồng nhân dân các cấp thực

hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương Uỷ ban

nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà

nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này

Do đó, không thể có tranh chấp quyền sở hữu đất đai mà đối tượng củatranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng đất đai và một số lợi ích khác

phát sinh từ quyền quản lý, quyền sử dụng như các loại tài sản có trên đất, hoa

lợi, lợi tức

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì quyền sử dụng đất là mộttrong ba thành tố của quyền sở hữu đất đai những quy định về chuyển quyền sử

dụng đất được quy định từ Điều 688 đến Điều 735 (gồm 48 Điều) bao gồm các quy

định như căn cứ xác lập quyền sử dụng đất; hình thức chuyển quyền sử dụng đất;

giá chuyển quyền sử dụng đất… Không chỉ được quy định trong Bộ luật Dân sự

năm 2005, quyền sử dụng đất còn được quy định cụ thể trong Luật Đất đai gồm:

Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền

sử dụng đất; Quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; Quyền

được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Hưởng thành quả lao động, kết quả

đầu tư trên đất… Do đó, khi phát sinh tranh chấp đất đai thì

thực chất là tranh chấp về quyền sử dụng đất và các loại tài sản có trên đất, hoa

lợi, lợi tức của hai hay nhiều bên trong quá trình giải quyết tranh chấp đó

Trang 19

Tương ứng với quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất còn có các nghĩa vụnói chung bao gồm: Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy

định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công

trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật; Đăng

ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn

bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Thực hiện nghĩa vụ tài chính

theo quy định của pháp luật; Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất; Tuân theo các quy

định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử

dụng đất có liên quan; Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật

trong lòng đất; Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết

thời hạn sử dụng đất ( Điều 170 luật Đất đai năm 2013)

Qua các phân tích trên có thể thấy: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâuthuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa hai hay nhiều bên khi tham gia vào

quan hệ đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Cách hiểu quan niệm

này cần hiểu linh hoạt khi đặt nó vào trong các mối quan hệ pháp luật có liên

quan như đã được phân tích trên

1.1.1.2 Giải quyết tranh chấp đất đai

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, t chức trong quá

trình quản lý và sử dụng đất đai trên cơ sở phục hồi các quyền và lợi ích hợp

pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm

pháp luật về đất đai [4].

Trong thực tế khi tranh chấp đất đai xảy ra thì các bên tranh chấp thường

sử dụng các phương thức phù hợp để giải quyết tranh chấp của mình Thông

thường các bên tranh chấp sẽ lựa chọn các phương thức sau:

- Tự thương lượng là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết

tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên Theo quy

định của Luật Đất đai năm 2013 việc tự thương lượng là việc đầu tiên nhà nước

khuyến kích các đương sự làm trước khi giải quyết theo các thủ tục khác.

- Phương thức hòa giải là việc các bên tiến hành thương lượng giải quyếttranh chấp với sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên ở cơ sở, các cán bộ đại diện

chính quyền ở cấp xã, phường, thị trấn, các tổ chức xã hội và những người có

Trang 20

uy tín khác, hoặc thẩm phán nếu vụ án được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân

sự tại tòa án Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và

uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định cuối cùng của

việc giải quyết tranh chấp không phải của người trung gian hòa giải mà hoàn

toàn phụ thuộc các bên tranh chấp Trình tự thủ tục hòa giải ở cơ sở, ở cấp xã,

phường, thị trấn hiện nay được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 và Luật

Hòa giải cơ sở cùng các văn bản hướng dẫn thi hành khác

- Giải quyết bởi cơ quan hành chính được hiểu như là cách tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước trong việc tiếp nhận, giải quyết tranh chấp nhằm đảm

bảo quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức Theo quy định tại khoản 2 Điều 136

Luật Đất đai năm 2003 thì tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy

định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của luật này thì thuộc thẩm quyền giải quyết

của các cơ quan hành chính nhà nước Hiện nay, theo quy định tại Điều 203 Luật

Đất đai năm 2013 thì các đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại

giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất

thì do Tòa án nhân dân giải quyết Đối với trường hợp đương sự không có Giấy

chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của

Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh

chấp đất đai là lựa chọn cơ quan hành chính giải quyết hoặc khởi kiện ra tòa theo

quy định pháp luật về tố tụng dân sự

- Giải quyết thông qua tòa án là việc đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án cónhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định, ưu điểm của hình

thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án là: Do là cơ quan xét xử của Nhà

nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao Nếu không chấp hành sẽ

bị cưỡng chế, do đó khi đã đưa ra tòa án thì quyền lợi của người thắng kiện sẽ

được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án

Song mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những đặc điểmriêng, được thực hiện thông qua các nguyên tắc, hình thức, thủ tục riêng và có

ưu điểm và nhược điểm riêng của mình Việc lựa chọn phương thức để giải

quyết tranh chấp cần được cân nhắc dựa trên hàng loạt các vấn đề: mục tiêu cụ

thể cần đạt được trong tranh chấp, bản chất của tranh chấp, chi phí tiền bạc, thời

gian của các bên đương sự

Trang 21

1.1.1.3 Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Theo từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách n thoả”[29, tr430] Theo Từ điển tiếng

Việt của Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, năm 1995 thì “Hòa giải cũng là giải

quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các

bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải

là bên tranh chấp)” Theo từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư

pháp Hà Nội, năm 2006 thì “ Hòa giải: Thuyết phục các bên tranh chấp tự giải

quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa Thông thường, việc hòa giải được

tiến hành sau khi thương lượng (khiếu nại) giữa các bên đã không đạt được kết

quả” Một định nghĩa khác của hòa giải là “sự can thiệp; sự làm trung gian hòa

giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm

thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ Việc giải quyết tranh

chấp thông qua người trung gian hòa giải.”

Các khái niệm nêu trên cho thấy hòa giải có các yếu tố sau: Phải có tranhchấp giữa các bên; Là hành vi hoặc một tập hợp cách hành vi với mục đích

thuyết phục; Có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp; Trong

quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập (hòa giải viên ở

cơ sở cấp xã, phường, các tổ chức xã hội, người có uy tín trong tố tụng dân sự

là thẩm phán) để cho ý kiến tư vấn, đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành

giữa các bên trong tranh chấp Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá

trình này không gọi là hòa giải mà là tự thương lượng; Việc hòa giải phải có

tính chất thuyết phục, giúp đỡ hai bên đi đến điểm chung chứ không phải là sự

áp đặt hay đơn thuần là các hành vi mang tính môi giới Nói chung, tất cả các

hành vi trong quá trình hòa giải đều mang tính tự nguyện; Mục đích của việc hoà

giải là nhằm làm cho hai bên tự nguyện chấp dứt xung đột hoặc đưa hai bên

ngồi lại với nhau để thương lượng, giải quyết vấn đề hoặc đi tới những điểm mà

hai bên có thể thỏa thuận được

Hòa giải là thủ tục đầu tiên của quá trình giải quyết tranh chấp đất đai

Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải và tòa án đều là các phương

thức độc lập mà các chủ thể có thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp tranh chấp

Trang 22

của người trung gian thứ ba Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013

hiện hành thì hòa giải tranh chấp đất đai là thủ tục được Nhà nước khuyến

khích và ưu tiên áp dụng để giải quyết tranh chấp đất đai, tổ hòa giải cơ sở, Ủy

ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức xã

hội và đoàn thể để giải quyết

Hòa giải trong giai đoạn đầu tiên là các bên chủ động gặp gỡ để tựthương lượng giải quyết, sau đó nếu các bên tranh chấp không tự giải quyết

được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh

chấp để hòa giải Việc hòa giải ở Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi

có đất tranh chấp nhằm giúp đỡ, hướng dẫn các bên tranh chấp đạt được thỏa

thuận chung trong đó đại diện Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các tổ

chức xã hội, đoàn thể giữa vai trò là trung gian hòa giải

Trong trường hợp tranh chấp đất đai được hòa giải thành ở cơ sở, ở cấp

xã, phường, thị trấn thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn sẽ lập biên bản

hòa giải thành và các bên tự nguyện thực hiện các thỏa thuận mà các bên đã đưa

ra Nếu các bên hòa giải không thành, các bên buộc sẽ phải sử dụng đến phương

thức giải quyết tranh chấp bằng con đường hành chính hoặc bằng con đường

Tòa án Việc giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường Tòa án thì thủ tục tố

tụng dân sự luôn chủ động dành cơ hội để các bên tranh chấp tiếp tục thương

lượng hòa giải với nhau Các bên sẽ có điều kiện cân nhắc thấu đáo những

hướng dẫn, phân tích của Thẩm phán về điểm mạnh, điểm yếu của các bên Trên

cơ sở những cân nhắc đó các bên sẽ nhận thức rõ ràng hơn về vụ việc, tại các

thời điểm khác nhau của quá trình tố tụng các bên tranh chấp vẫn luôn dành

quyền chủ động thỏa thuận về phương án giải quyết hợp tình, hợp lý Nếu các

thỏa thuận về phương án giải quyết không trái quy định pháp luật và đạo đức xã

hội thì ý chí của họ sẽ được Tòa án công nhận dưới hình thức quyết định, bản

án của Tòa án

Căn cứ vào quan niệm chung về hòa giải có thể đưa ra khái niệm hòa giải

trong giải quyết tranh chấp đất đai như sau: Hòa giải trong giải quyết tranh chấp

đất đai là phương thức giải quyết tranh chấp những bất đồng, mâu thuẫn trong sử

dụng đất của các bên với sự tham gia của người trung gian thứ ba giúp các bên tự

thỏa thuận và tìm ra cách giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp đất đai.

Tác giả tiếp cận quan niệm hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai làphương thức giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở, tại Ủy ban nhân dân xã,

phường, thị trấn và trong giai đoạn tố tụng tư pháp với vai trò của hòa giải viên,

Trang 23

của đại diện chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội và của tòa án là

người trung gian thứ ba giúp các bên tự thỏa thuận và tìm ra cách giải quyết các

mâu thuẫn, tranh chấp đất đai

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai có những đặc trưng chung của các tranh chấp dân sự,đồng thời nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các loại tranh chấp khác

cụ thể như:

Thứ nhất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở

hữu, vì thế không có tranh chấp về quyền sở hữu đất đai mà chỉ có tranh chấp về

quyền sử dụng đất, quyền quản lý và các loại tài sản có trên đất, một số hoa lợi,

lợi tức một số lợi ích phát sinh từ quyền quản lý và quyền sử dụng đất

Thứ hai, trong giải quyết tranh chấp đất đai mặc dù các chủ thể không có

quyền sở hữu đất đai nhưng vẫn có quyền định đoạt quyền sử dụng đất trong

phạm vi quy định của pháp luật

Thứ ba, chủ thể tham gia vào quan hệ giải quyết tranh chấp đất đai không

phải là chủ sở hữu đối với đất đai Các chủ thể chỉ có quyền quản lý, sử dụng đất

khi nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho thuê lại, chuyển nhượng quyền sử dụng

đất, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc nhà nước công nhận quyền sử

dụng đất Chủ thể của tranh chấp đất đai có thể là cá nhân; tổ chức, hộ gia đình;

cộng đồng dân cư hay các đơn vị hành chính

Thứ tư, hiện nay, các dạng tranh chấp đất đai rất phong phú, nhiều khi đan

xen lẫn nhau Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai dạng lớn, đó là các

tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp

và tranh chấp mà người sử dụng đất đã sử dụng đất hợp pháp nhưng phát sinh

tranh chấp trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

Dạng thứ nhất về các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là

người có quyền sử dụng hợp pháp thì dạng tranh chấp này luôn luôn có sự tranh

chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc

một phần trong diện tích đó Có thể có dạng như sau: Tranh chấp về quyền sử

dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính; Tranh chấp đòi lại

đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất; Tranh chấp quyền sử dụng

đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn; Tranh chấp về

quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với

Trang 24

quyền sử dụng đất; Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới

được phép sử dụng và quản lý;

Dạng thứ hai về tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng

hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền,

nghĩa vụ của mình như: Thực hiện các giao dịch về dân sự, hoặc do chủ trương,

chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc do người

khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của mình

mà dẫn đến tranh chấp Có một số dạng sau: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi,

chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo

lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; Tranh chấp do người khác gây

thiệt hại hoặc hạn chế quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất;

Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nông nghiệp với

đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cao su với đất

trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình phân bố và quy

hoạch sử dụng; Tranh chấp về giải toả mặt bằng phục vụ các công trình công

cộng, lợi ích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải tỏa

Hiện nay, ngoài ra còn dạng tranh chấp nữa, đó là tranh chấp trong lĩnhvực quản lý nhà nước về đất đai tức là tranh chấp hành chính về đất đai Các

tranh chấp thuộc nhóm này thường nảy sinh khi các đương sự tham gia thực

hiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà

1.1.3 Bản chất của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

1.1.3.1 Tính đặc thù của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai hòa giải luôn là phương thứcban đầu để giải quyết tranh chấp và có tính đặc thù như sau:

- Thứ nhất, hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp Trong quá

trình tranh chấp hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp được sử dụng

trong suốt quá trình giải quyết với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các

bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy

định pháp luật và đạo đức xã hội Hòa giải trong giải quyết tranh

Trang 25

chấp đất đai là thủ tục đầu tiên bắt buộc các bên phải thực hiện trước khi thực

hiện các giai đoạn giải quyết tranh chấp tiếp theo như ở Tòa án và ở UBND

hành chính các cấp

- Thứ hai, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các

bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp Điều này làm cho

hòa giải có sự khác biệt với thương lượng Người trung gian có thể là hòa giải

viên ở cơ sở, đại diện chính quyền và các tổ chức xã hội ở UBND cấp xã,

phường, thị trấn và trong tố tụng dân sự là thẩm phán Người này phải có vị trí

độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp Bên

thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không

có quyền đưa ra phán quyết

- Thứ ba, thỏa thuận về giải quyết các tranh chấp phải do chính các bên

tranh chấp quyết định, quá trình hòa giải không bị áp đặt bởi bên thứ ba Biên

bản hòa giải do chính cấp cơ sở, UBND cấp xã và tòa án các cấp lập

Như vậy, hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp

đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải

quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức

xã hội

1.2.3.2 Bản chất của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Từ những đặc điểm của tranh chấp đất đai và đặc trưng của hòa giải tronggiải quyết tranh chấp đất đai đã tạo nên bản chất của hòa giải có những nét riêng

và những nét tương đồng với các hòa giải khác như sau:

Thứ nhất, quyền tự do ý chí, quyền tự định đoạt của các bên là nội dung xuyên suốt quá trình giải quyết tranh chấp

Khi tranh chấp đất đai xảy ra các bên tranh chấp tự do lựa chọn cách giảiquyết như tự thương lượng thỏa thuận với nhau, hòa giải ở cơ sở, ở UBND xã,

phường, thị trấn hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của mình và có thể yêu cầu UBND hành chính các cấp xem xét giải quyết

Quyền tự định đoạt của các đương sự là quyền dân sự và trong nguyên tắc hòa

giải thì việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được

khuyến khích Khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự

không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực [ 31]

Trang 26

Trước hết các bên tự thương lượng, tự mình đưa ra cách giải quyết để haibên thống nhất trên cơ sở tự nguyện, không bên nào áp đặt để buộc bên kia phải

thực hiện Trong trường hợp các bên không tự hòa giải được thì làm đơn yêu cầu

UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất đang tranh chấp tiến hành hòa giải Tại cơ sở

UBND xã, phường, thị trấn các hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các

bên tranh chấp đạt được thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện Theo quy định Luật Hòa

giải thì hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được

thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp

luật theo quy định của pháp luật Quy định này nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt

của các bên có tranh chấp trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật Người làm

công tác hòa giải ở cơ sở UBND xã, phường thị trấn phải hiểu được tâm lý của

những người đang có mâu thuẫn, tranh chấp, giữa họ ai cũng có những lý lẽ cho

rằng mình đúng và không chấp nhận lý lẽ của bên kia Do đó, khi hòa giải, hòa giải

viên phải giúp họ bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận ra sự thật, thấy rõ cái đúng, cái

sai của cả hai bên Chỉ khi nào các bên hiểu đúng đắn và thông cảm với nhau thì họ

mới tự nguyện cùng nhau giải quyết mọi mâu thuẫn và trong mọi trường hợp hòa

giải viên phải dùng phương pháp thuyết phục để hai bên tự định đoạt đi đến thỏa

thuận mà không được tìm cách áp đặt

Ở UBND xã, phường, thị trấn các bên không hòa giải thành, không đạtđược sự thỏa thuận chung thì có quyền làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết Khi

yêu cầu tòa án giải quyết, các đương sự có quyền tự định đoạt về tranh chấp của

mình từ khi khởi kiện đến khi kết thúc vụ án theo quy định của pháp luật Quyền

tự định đoạt của các đương sự là quyền dân sự, do đương sự tự quyết định theo

quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự thì: Đương sự có quyền quyết định

việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án

chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của

đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong

quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi

các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái

pháp luật và đạo đức xã hội Như vậy, khi tham gia vào quan hệ giải quyết tranh

chấp đất đai tại tòa án, mọi hành vi của đương sự hoàn toàn thể hiện chí của họ,

như nguyên đơn có quyền khởi kiện, đưa ra yêu cầu, giữ nguyên, thay đổi, bổ

sung hoặc rút yêu cầu; tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia

hòa giải do Tòa án tiến hành; bị đơn có quyền chấp nhận một phần hoặc toàn bộ

yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; Đưa ra yêu

cầu phản tố đối với nguyên đơn

Trang 27

nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ

mà nguyên đơn yêu cầu; Được Toà án thông báo về việc bị khởi kiện Đối với

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia

tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn Đồng thời các đương sự còn có

quyền tham gia phiên tòa, quyền đề nghị thay đổi Thẩm phán, quyền hòa giải,

quyền đưa ra chứng cứ, cử người đại diện, nhờ luật sư hoặc nhờ người khác để

bảo vệ quyền lợi của họ theo quy định của pháp luật

Trong quá trình giải quyết vụ án, quyền tự thương lượng và hòa giải làquyền tố tụng quan trọng thể hiện quyền tự định đoạt của các đương sự Theo

quy định tại điểm g khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về quyền,

nghĩa vụ của đương sự thì đương sự có quyền “Tự thỏa thuận với nhau về việc

giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành” Như vậy đương sự là

chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, do đó chỉ có đương sự có quyền tự mình

tham gia dàn xếp, thương lượng với nhau thông qua sự giúp đỡ của tòa án để

giải quyết vụ án Tòa án chỉ có trách nhiệm hướng dẫn, phân tích, giúp đỡ các

đương sự hòa giải với nhau, không được cưỡng ép các đương sự thỏa thuận về

giải quyết vụ án cũng như để các đương sự biết về định hướng giải quyết vụ án

của tòa án Mọi thỏa thuận về giải quyết vụ án phải do chính các đương sự tự

quyết định theo quy định của pháp luật Trong trường hợp đương sự ủy quyền

cho người đại diện của mình tham gia hòa giải thì người đại diện cũng chỉ được

thỏa thuận việc giải quyết vụ án trong phạm vi được ủy quyền

Quyền tự định đoạt của các đương sự còn được thể hiện như các bên cóquyền thỏa thuận về phương án giải quyết tranh chấp và nếu các bên thống nhất,

thỏa thuận được với nhau thì tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận

của các đương sự Trong thời hạn luật định các bên đương sự vẫn có quyền thay

đổi thỏa thuận của mình Theo quy định tại Điều 187 thì hết thời hạn bảy ngày,

kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý

kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm

phán được Chánh án Toà án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận

của các đương sự Các đương sự có quyền thay đổi quyết định của mình trong

bảy ngày kể từ ngày tòa án lập biên bản hòa giải thành Trường hợp các bên

đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án thì tòa án lập

biên bản hòa giải không thành và vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết theo trình tự

tố tụng dân sự

Trang 28

Tuy nhiên, quyền tự định đoạt của đương sự về hòa giải trong giải quyếttranh chấp đất đai không phải là tuyệt đối, có những trường hợp không được

tiến hành hòa giải Theo quy định tại Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự thì những

vụ án dân sự không được hoà giải như: yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến

tài sản của Nhà nước; Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật

hoặc trái đạo đức xã hội Đồng thời có những vụ án không tiến hành hòa giải

được theo Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự như: Bị đơn đã được Toà án triệu

tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; Đương sự không thể tham

gia hoà giải được vì có lý do chính đáng

Pháp luật tố tụng dân sự một số nước cũng quy định về hòa giải trongtranh chấp dân sự (tranh chấp đất đai cũng là một trong những tranh chấp dân

sự), quy định này có vị trí rất quan trọng trong tố tụng dân sự và về bản chất là

hòa giải phải trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự định đoạt của các đương sự

Theo Luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định

việc hòa giải đi đến thỏa thuận phải do hai bên tự nguyện không được cưỡng

bức, nội dung của thỏa thuận không được trái với các quy định của pháp luật

Tuy nhiên quy định về hòa giải tranh chấp của Trung Quốc cũng khác so với

pháp luật của Việt Nam là ngay sau khi vụ án được thụ lý nếu các đương sự

không có nguyện vọng hòa giải thì tòa án không tiến hành hòa giải, thể hiện

quyền tự định đoạt của các đương sự luôn được tòa án tôn trọng

Tranh chấp đất đai một số nước cũng diễn ra khá phức tạp họ cũng quyđịnh để giải quyết tranh chấp đất đai thì hòa giải khâu đầu tiên các bên phải thực

hiện và trên cơ sở quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp, các tranh chấp đất

đai tác động tiêu cực đến việc khai thác đất đai và phát triển kinh tế của quốc gia

họ đã ban hành Đạo luật giải quyết tranh chấp đất đai Họ nhận thấy rằng ở

những xã hội dựa trên nền tảng quan hệ họ hàng thì một hệ thống pháp luật giải

quyết tranh chấp đất đai muốn thành công phải hội tụ đủ các yếu tố như: được

thiết lập tại địa phương, có sự tham gia của người dân địa phương, thuận tiện

và đơn giản trong việc quản lý, ít tốn kém về chi phí và được sự ủng hộ chung

của cộng đồng làng xã Do đó, hòa giải trên cơ sở tự nguyện của các bên tranh

chấp và sự ủng hộ của cộng đồng luôn mang lại kết quả cao

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta thể hiện sự tựnguyện, tự do ý chí và tự định đoạt của các bên tranh chấp ở mọi giai đoạn giải

quyết tranh chấp từ cơ sở đến UBND xã, phường, thị trấn hay ở tòa án các cấp

Sự tự nguyện và mọi thỏa thuận về giải quyết đều do các bên tự quyết định

Trang 29

người thực hiện công việc hòa giải chỉ hướng dẫn, gợi ý và công nhận sự thỏa

thuận đó theo quy định của pháp luật

Thứ hai, hòa giải luôn được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thực hiện cho các bên đương sự

Khi có tranh chấp đất đai xảy ra trong nội bộ nhân dân, cộng đồng dân cư,nhà nước khuyến khích các bên tự thỏa thuận với sự tham gia của tổ chức chính

trị - xã hội tại địa phương để ổn định các quan hệ đất đai Theo Luật Đất đai

2013, việc hoà giải trong giải quyết tranh chấp về đất đai được nhà nước

khuyến khích các bên thực hiện như là một thủ tục tiền tố tụng trước khi được

cơ quan tư pháp hoặc cơ quan hành chính nhà nước giải quyết theo thẩm quyền

Họ phải được hoà giải công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị

trấn có biên bản hoà giải ghi nhận ý kiến của các bên trước khi đề nghị cơ quan

có thẩm quyền giải quyết UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp

không ban hành quyết định giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất

nhưng có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức hòa giải, hướng dẫn, thuyết phục, để các

bên đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những tranh chấp về

quyền sử dụng đất mà các bên tranh chấp không tự hòa giải được Trường hợp

các bên không hòa giải được ở cấp xã, phường, thị trấn thì có quyền yêu cầu

Tòa án giải quyết tranh chấp

Khi các bên có yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp đất đai sau khi tòa ánthụ lý, lấy lời khai của các đương sự thì tòa án tổ chức hòa giải để các bên thỏa

thuận với nhau Việc hòa giải tại cấp tòa sơ thẩm là thủ tục bắt buộc trừ những

vụ án dân sự không được hoà giải ( Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tại giai

đoạn sơ thẩm và các giai đoạn tố tụng tiếp theo, nếu thấy có khả năng hòa giải

thì tòa án cũng tiến hành hòa giải để các đương sự có thể thỏa thuận về giải

quyết vụ án theo quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định trách

nhiệm của tòa án: Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện

thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự

theo quy định của Bộ luật này

Trách nhiệm của Nhà nước trong hòa giải các tranh chấp đất đai khôngchỉ thể hiện ở việc UBND cấp xã, phường, thị trấn và tòa án phải tổ chức hòa

giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án mà còn ở việc

bảo đảm thực hiện kết quả hòa giải Đối với trường hợp hoà giải thành mà có

thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã,

phường, thị trấn gửi biên bản hoà giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối

Trang 30

với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư

với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban

nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp

mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất (khoản 5 Điều 202 Luật Đất đai) Đối với thỏa thuận về giải

quyết vụ án của các đương sự tại tòa án trong các giai đoạn tố tụng dân sự phù

hợp với quy định của pháp luật được tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa

thuận của các đương sự Khi quyết định công nhận của tòa án có hiệu lực thì bắt

buộc các bên thực hiện những cam kết của mình Việc thực hiện các quyết định

này được bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước Bản án, quyết định phải được cơ

quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan

trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định

và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án

Thứ ba, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai mang đậm tính cộng đồng, dân cư làng xã

Nhiều nét đẹp truyền thống trong sinh hoạt cộng đồng được cha ông chắtlọc, gìn giữ qua bao nhiêu thế hệ từ xa xưa đến nay Hòa giải là một trong những

nét đẹp truyền thống đó, nó mang đậm tính làng xóm “ tối lửa tắt đèn có nhau”

nên “một điều nhịn, chín điều lành”, “chín bỏ làm mười”, “có lý, có tình” là

truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Về bản chất, hòa giải nhằm giữ gìn

tình làng, nghĩa xóm; tăng cường tình đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ

lẫn nhau trong cộng đồng; kịp thời giải quyết những xích mích, mâu thuẫn ở cơ

sở; ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật; góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã

hội

Việc tranh chấp đất đai chủ yếu phát sinh trong cộng đồng dân cư, làngxóm nếu được phát hiện và hòa giải kịp thời thì gắn kết được tình làng xóm

Người Việt Nam rất coi trọng tình thân xóm giềng “ bán anh em xa mua láng

giềng gần” nên không muốn xung đột với người cùng thôn xóm Việc mong

muốn được người thứ ba hòa giải là một trong những thói quen của người Việt

Trang 31

quyết các tranh chấp đất đai Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai còn thể

hiện truyền thống gắn bó, đoàn kết của dân tộc ta từ bao đời nay

1.1.4 Các nguyên tắc của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai phải tuân theo một số nguyêntắc nhất định, đó là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mà khi tiến hành hoạt

động hoà giải phải tuân thủ một cách đầy đủ và toàn diện Hòa giải trong giải

quyết tranh chấp đất đai phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương

sự, không bắt buộc hay áp đặt các bên tranh chấp trong hòa giải Đây là nguyên

tắc cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp đất đai vì bản chất của hoà

giải là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả

thuận trên cơ sở tự nguyện Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt

của các bên tranh chấp trong việc giải quyết tranh chấp đất đai Đối với hòa giải

ở cơ sở người làm công tác hoà giải phải hiểu được tâm lý của những người

đang có mâu thuẫn, tranh chấp, giữa họ ai cũng có những lý lẽ cho rằng mình

đúng và không chấp nhận lý lẽ của bên kia Nguyên tắc “Tôn trọng sự tự nguyện

của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở” là nguyên

tắc quan trọng và xuyên xuốt hoạt động hòa giải [32] Do đó, khi hoà giải, người

hoà giải phải giúp họ bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận ra sự thật, thấy rõ cái đúng,

cái sai của cả hai bên Chỉ khi nào họ hiểu đúng đắn và thông cảm với nhau thì

họ mới tự nguyện cùng nhau giải quyết mọi mâu thuẫn Tuy nhiên, có những

trường hợp nếu tiến hành hoà giải các bên có thể chưa chấp nhận ngay thì

người hoà giải phải dùng phương pháp thuyết phục để hai bên đi đến thoả thuận

mà không được tìm cách áp đặt ý chí của mình cho các bên hòa giải

Đối với hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án, nguyên tắctôn trọng quyền định đoạt, tự thỏa thuận của các bên đương sự thể hiện xuyên

suốt quá trình giải quyết vụ án như: quyền quyết định việc khởi kiện, quyền rút

đơn khởi kiện, thay đổi nội dung khởi kiện của các bên trong quá trình giải

quyết vụ án, tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hòa giải

do Tòa án tiến hành và trong quá trình hòa giải các đương sự có quyền chấm

dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự

nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội tòa án chỉ hướng dẫn để các bên

tự lựa chọn thỏa thuận mà không ép buộc hoặc chỉ ra đường lối giải quyết của

tòa để buộc các bên phải thỏa thuận, thương lượng với nhau (Điều 5 Bộ luật Tố

tụng dân sự) Khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định việc hoà

Trang 32

giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây: “Tôn trọng sự tự nguyện thoả

thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt

buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình” Vai trò

của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai vô cùng quan trọng nên Bộ luật

Tố tụng dân sự quy định trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, bắt buộc

Toà án phải tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải

quyết vụ án ( Khoản 1 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự)

Hai là, Nhà nước có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp.

Đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở xã, phường, thị trấn hòa giải viên phải hoà

giải kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn xung đột, hạn chế những hậu

quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hòa giải Từ những tranh chấp,

mâu thuẫn trong tranh chấp đất đai có thể chuyển thành vụ án hình sự, gây mất

đoàn kết, ảnh hưởng đến trật tự chung Vì vậy, các hoà giải viên cần chủ động,

kịp thời ngăn chặn hậu quả xấu, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm hình

sự có thể xảy ra để giữ gìn được tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết tương thân,

tương ái trong cộng đồng, tập thể

Để tạo cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc kịp thời, chủđộng trong hoạt động hoà giải ở cơ sở, Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà

giải ở cơ sở thì tổ viên tổ hoà giải có thể chủ động hoà giải hoặc tổ chức việc

hoà giải theo sáng kiến của mình (khoản 1 Điều 10) Nghị định số

160/1999/NĐ-CP quy định: “Việc hoà giải có thể được tiến hành theo sáng kiến

của tổ viên Tổ hoà giải ngay tại thời điểm xảy ra tranh chấp, nếu tổ viên Tổ hoà

giải là người chứng kiến và xét thấy cần thiết phải hoà giải ngay” (khoản 1 Điều

13) Theo quy định tại Điều 16 Luật Hòa giải cơ sở quy định cụ thể hơn là hòa

giải ở cơ sở tiến hành hòa giải khi có một trong các căn cứ sau đây:

1. Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải;

2. Hòa giải viên chứng kiến hoặc biết vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải;

3. Theo phân công của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan

Hòa giải trong các giai đoạn tố tụng tại tòa án thì toà án có trách nhiệmtiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với

nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này (Điều 10

Bộ luật Tố tụng dân sự) Đối với thỏa thuận về giải quyết vụ án của các đương

Trang 33

sự tại tòa án trong các giai đoạn tố tụng dân sự phù hợp với quy định của pháp

luật được tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Khi

quyết định công nhận của tòa án có hiệu lực thì bắt buộc các bên thực hiện

những cam kết của mình

Ba là, hoà giải phải bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh

thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình,

dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ

em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tu i Khi giải quyết các mâu thuẫn,

tranh chấp đất đai trong nhân dân nếu hoà giải viên, thẩm phán chỉ căn cứ vào

các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, phong tục tập quán của địa

phương, dòng họ để dàn xếp các mâu thuẫn, tranh chấp thì chưa đủ và không

hiệu quả Các vụ việc nếu chỉ dừng lại ở các quy phạm đạo đức để hoà giải thì

chưa hẳn đã mang lại kết quả tích cực và thoả đáng Một vụ việc chỉ được giải

quyết dứt điểm và có hiệu quả cao khi người hoà giải bên cạnh việc căn cứ vào

các chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán còn cần phải nắm vững và vận

dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là những

quy định pháp luật liên quan đến đất đai Bên cạnh việc hoà giải theo đường lối,

chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và

hoà giải viên ở cơ sở, xã, phường, thị trấn nhiều khi kết hợp với các quy phạm

đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân tại địa phương để tiến hành

hòa giải Pháp luật được thể hiện ở hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Phong tục, tập quán thường được

thể hiện hoặc bằng ngôn ngữ như luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số, các

hương ước, quy ước làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, tổ dân phố, hoặc bằng các

thói quen ứng xử dưới dạng các hành động cụ thể Phong tục, tập quán được áp

dụng phải là phong tục tập quán tốt đẹp, không trái với pháp luật

Bốn là, việc hoà giải tranh chấp đất đai phải đảm bảo tính khách quan, công minh, có lý, có tình, nội dung hòa giải không trái pháp luật, trái đạo đức

xã hội, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, không xâm phạm lợi ích

của Nhà nước, lợi ích công cộng Thông thường khi mâu thuẫn xảy ra, mỗi bên

tranh chấp đều đưa ra lý lẽ để tự bảo vệ mình cho mình là đúng, không nhìn

nhận được cái sai của mình đã gây ra cho người khác Do đó, người hoà giải

phải thực sự khách quan, vô tư, công minh, đề cao lẽ phải Hơn nữa sự công

minh, khách quan, vô tư của người hoà giải sẽ là yếu tố để hai bên đặt lòng tin

Trang 34

và cùng nhau giải quyết vụ việc Trong hoạt động tố tụng pháp luật yêu cầu chặt

chẽ về tính khách quan của Thẩm phán, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi

thẩm phán nếu có căn cứ cho rằng thẩm phán không khách quan trong vụ án

Phương thức hòa giải có đạt hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp đất

đai hay không còn phụ thuộc vào việc vận dụng nguyên tắc có lý, có tình là một

trong những nguyên tắc đặc trưng nhất đối với quá trình giải quyết tranh chấp

Hoà giải ở UBND xã, phường, thị trấn và ở tòa án cần tuân theo các quy phạm

đạo đức, đề cao yếu tố tình cảm, khuyên nhủ các bên ứng xử theo các chuẩn

mực đạo đức

Theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nội dungthoả thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã

hội Nội dung thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã

hội vừa là yêu cầu xuyên suốt quá trình hòa giải để giải quyết hài hòa lợi ích của

các bên tranh chấp, đồng thời không gây tổn hại đến lợi ích công, tôn trọng

quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà

nước, lợi ích công cộng Nguyên tắc này mang tính pháp lý cao và thường được

áp dụng cho mọi loại hình hoà giải các tranh chấp trong đó tranh chấp đất đai

được áp dụng rõ nét hơn cả Đối với hoà giải ở UBND xã, phường, thị trấn và

cả quá trình hòa giải ở tòa án các tranh chấp đất đai thường liên quan đến nhiều

người khác ngoài các bên tranh chấp, do đó người hoà giải không thể vì mục

đích đạt được hoà giải thành mà làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp

của người khác Việc hoà giải phải tuân thủ nguyên tắc không xâm phạm lợi ích

của Nhà nước, lợi ích công cộng

1.1.5 Quy trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

1.1.5.1 Quy trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở, xã,

phường, thị trấn

Hoà giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hoà giảihoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố

và các cụm dân cư khác.Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân

được thành lập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố cũng như các cụm dân cư khác

(chung cư, chợ tập trung ) để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc hoà giải

tranh chấp trong dân cư Tổ hoà giải có Tổ trưởng và các hòa giải viên Những

thành viên này được cộng đồng dân cư bầu qua cuộc họp Người được đề nghị

công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ

dân phố đồng ý; Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong

Trang 35

thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban

nhân dân cấp xã quyết định thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa

giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp (khoản 3 Điều 8 Luật Hòa

giải cơ sở) Sau đó một quyết định công nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp

xã sẽ làm họ chính thức trở thành một hòa giải viên (khoản 4 Điều 8 Luật Hòa

giải cơ sở)

Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 (trước đây được quyđịnh tại Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003) thì hòa giải tranh chấp đất đai là

thủ tục được Nhà nước khuyến khích và ưu tiên áp dụng để giải quyết tranh

chấp đất đai, UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với các tổ

chức xã hội và các đoàn thể để hòa giải Để hòa giải tranh chấp đất đai đạt được

hiệu quả, phát huy vai trò, tác dụng trong thực tế Nghị định 43/2014/NĐ-CP

hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 ( trước đây là Nghị định

181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003) đã quy định việc

hòa giải tranh chấp đất đai phải được tiến hành qua ba bước sau:

Thứ nhất, các bên tranh chấp đất đai phải chủ động gặp gỡ để tự thương lượng hoặc hòa giải ở cơ sở Trước tiên các bên tranh chấp tiến hành gặp gỡ,

trao đổi, thỏa thuận với nhau về các giải quyết vụ việc Đặc điểm của hình thức

này là chưa có sự tham gia của người thứ ba vì vậy tự hòa giải chỉ thành công

khi các bên có thiện chí, cùng hiểu và thông cảm lẫn nhau

Trong trường hợp nếu các bên tranh chấp không thoả thuận được thìthông qua hoà giải ở cơ sở để giải quyết tranh chấp đất đai Tổ hoà giải cơ sở ở

thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố cũng như các cụm dân cư khác (chung cư, chợ

tập trung ) sẽ có các hòa giải viên đứng ra hòa giải, hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết

phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau

nhằm giữ gìn sự đoàn kết và phát huy truyền thống tốt đẹp của địa phương

Thứ hai,hòa giải ở UBND xã, phường, thị trấn: Trường hợp các bên tranh

chấp không hoà giải được ở cơ sở thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường,

thị trấn nơi có đất tranh chấp để hoà giải UBND cấp xã sẽ thành lập Hội đồng

hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải Việc hoà giải phải được lập

thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hoà giải thành hoặc hoà

giải không thành của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Biên bản hoà giải

được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn

nơi có đất tranh chấp

Trang 36

Do đó, việc hòa giải tranh chấp đất đai được coi là kết thúc ở cơ sở và ởUBND xã, phường, thị trấn khi :

1. Các bên đạt được thỏa thuận

2. Một bên hoặc các bên yêu cầu chấm dứt hòa giải

3. Người tiến hành hòa giải quyết định kết thúc hòa giải khi các bênkhông thể đạt được thỏa thuận và việc tiếp tục hòa giải cũng không thể đạt

được kết quả (Điều 23 Luật Hòa giải cơ sở)

Ở một số nước trên thế giới mô hình hòa giải, quy trình hòa giải cơ sởcủa họ có nhiều điểm khác so với Việt Nam Ở một số nước phương thức hòa

giải cơ sở không có sự tham gia của chính quyền địa phương và dường như độc

lập và không bị hành chính hóa

Như vậy, quy trình hòa giải tranh chấp đất đai ở Việt Nam tại cơ sở xã,phường, thị trấn là một thủ tục có tính chất bắt buộc Đây có thể được coi là giai

đoạn tiền giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: “Hòa giải

tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân cấp xã là một trong những điều kiện để

cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý, xem xét, giải quyết vụ việc”

1.1.5.2 Quy trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án, với tính chất làmột thủ tục, một giai đoạn tố tụng, quy trình hòa giải đã được quy định trong Bộ

luật Tố tụng dân sự tại các Điều 180, Điều 181, Điều 182, Điều 183, Điều 184,

Điều 185, Điều 186, Điều 187, Điều 188 để các tòa án áp dụng thống nhất

Trình tự hòa giải tranh chấp đất đai được tòa án tiến hành theo các bướcsau đây:

1- Sau khi tòa án thụ lý hồ sơ sẽ phân công thẩm phán giải quyết vụ án,thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử, trên cơ sở xem xét hồ sơ, tiến hành thu thập

thêm chứng cứ, lấy lời khai của các đương sự;

2- Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử giải thích các quy định của pháp luật

về quyền và nghĩa vụ của các đương sự, của những người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan và làm rõ nội dung tranh chấp đất đai;

3- Tòa án hướng dẫn, giải thích cho các bên thấy những ưu điểm của việchòa giải trong việc giải quyết tranh chấp đất đai Tòa án để các bên tự thương

lượng về việc giải quyết tranh chấp, trong trường hợp các bên không tự mình

Trang 37

tìm được phương án giải quyết thì tòa án sẽ đưa ra một số phương án để các

bên lựa chọn, thống nhất

4- Trong trường hợp các bên thống nhất cách giải quyết vụ án tòa án sẽghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên vào biên bản hòa giải thành và

trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên

không thay đổi kiến ý kiến thì tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của

các đương sự (Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự) Nếu các bên không

thỏa thuận được với nhau về phương án giải quyết tranh chấp thì tòa án cũng

lập biên bản hòa giải không thành để tiếp tục các giai đoạn tiếp theo của tố tụng

dân sự Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án là một thủ tục tố

tụng dân sự được thực hiện ở nhiều giai đoạn, nhiều cấp xét xử trong suốt quá

trình giải quyết tranh chấp đất đai, từ khi tòa án thụ lý vụ án đến khi bản án có

hiệu lực cuối cùng

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ngoài cũng được quyđịnh là một giai đoạn trong tố tụng dân sự Trong Luật tố tụng dân sự của Cộng

hòa Pháp, các quy định về hòa giải giữ một vị trí quan trọng và là một nguyên

tắc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Các bên đương sự có thể tự hòa giải

với nhau hoặc hòa giải theo yêu cầu của Tòa án Mục 8 Điều 21 quy định Thẩm

phán có trách nhiệm hòa giải các bên đương sự Các Điều 127, 128, 129, 130,

131, 768, 829, 830, 831, 832, 833, 834, 835, 887,1093 và Điều 1108 quy định về

trình tự, thủ tục hòa giải tại Tòa án Theo đó, vụ kiện khởi đầu bằng việc gửi

giấy tống đạt mời ra tòa để hòa giải, nếu các bên đương sự không tự thỏa thuận,

thống nhất được cách giải quyết vụ án (tức vụ án hòa giải không thành) thì đưa

vụ án ra xét xử

1.1.6 Các yếu tố tác động đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Việc tìm hiểu các yếu tố tác động đến hòa giải trong giải quyết tranh chấpđất đai nhằm góp phần tìm ra cách giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường

hòa giải mang lại hiệu quả và có giá trị pháp lý Qua nghiên cứu, có thể xác định

một số yếu tố cơ bản tác động đến quá trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp

đất đai như sau:

Thứ nhất, do truyền thống, tập quán và lối mòn tư duy của nhân dân ta là

luôn coi trọng tình cảm và “chín bỏ làm mười” nên hòa giải luôn là biện pháp

đầu tiên được đưa ra khi các bên có xung đột đất đai Ví dụ như tranh chấp đất

đai ở địa phương bao giờ họ cũng nhờ đến UBND xã hoặc nhiều nơi họ gọi

Trang 38

trưởng thôn đến để phân giải đúng sai và mang tính chất hòa giải giữa các bên

tranh chấp Nên hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai luôn được áp dụng

do tác động yếu tố tâm lý và thói quen “ dĩ hòa vi quý” đã ăn sâu bám rễ vào

trong tiềm thức của nhân dân ta

Thứ hai, chính sách pháp luật về đất đai quy định thay đổi qua các thời kỳ là

yếu tố tác động không nhỏ đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Trước

đây, pháp luật đất đai quy định hình thức sở hữu tư nhân về đất đai nhưng sau đó

Hiến pháp 1980 và Luật Đất đai năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước thống nhất quản lý Việc thay đổi cơ bản hình thức sở hữu từ tư nhân

sang sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu đã kéo theo nhiều quy định

khác phải thay đổi như: quản lý nhà nước về đất đai; nguyên tắc sử dụng đất;

quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất… và không quy định hòa

giải khi giải quyết tranh chấp đất đai Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2003 và Luật

Đất đai năm 2013 có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn nhưng

chính những việc thay đổi nhiều lần và trong thời gian ngắn với nhiều văn bản

luật và văn bản hướng dẫn thi hành là những yếu tố tác động không nhỏ đến

công tác hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Người làm công tác hòa

giải và người dân không cập nhật văn bản quy phạm pháp luật mới sẽ không

hiểu được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình nên việc hòa giải không được

giải quyết nhanh chóng và triệt để

Thứ ba, việc thi hành pháp luật nói chung và kết quả hòa giải nói riêng là

yếu tố không thể thiếu được trong hoạt động hòa giải để giải quyết tranh chấp

đất đai Để nâng cao hiệu quả công tác hòa giải việc thi hành các quy định pháp

luật phải được các bên thực hiện để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên

Trong hoạt động hòa giải nếu các bên tranh chấp hòa giải thành và tự nguyện

thỏa thuận theo ý chí của họ thì được coi là hòa giải thành Tuy nhiên, trong

trường hợp các bên lại không thi hành kết quả hòa giải thành thì hoạt động hòa

giải vẫn chưa đạt được hiệu quả nên việc thi hành pháp luật nói chung và kết

quả hòa giải thành là vô cùng quan trọng

Thứ tư, trình độ, nghiệp vụ và kỹ năng của người làm công tác hòa giải cũng

là một trong những yếu tố tác động Người làm công tác hòa giải không chỉ nắm

vững pháp luật mà còn phải có kỹ năng hòa giải, hiểu biết xã hội và nắm bắt được

tâm lý thì mới có thể tạo dựng được lòng tin của các bên tranh chấp đất đai trong

quá trình hòa giải Người làm công tác hòa giải khi đã thuyết phục

Trang 39

được các bên tự nguyện hòa giải, tự nguyện thực hiện hòa giải thành chính là

kết quả để đánh giá về hiệu quả công tác hòa giải của họ

1.1.7 Ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Với hiệu quả thiết thực của mình, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đấtđai thực sự có vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân

Thứ nhất, việc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai đã góp phần

giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và

đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng, xây dựng tình làng,

nghĩa xóm đầm ấm, đùm bọc, giúp đỡ nhau, xây dựng xã hội bình yên, tăng

cường tình đoàn kết trong nhân dân phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo

đảm trật tự, an toàn xã hội

Thứ hai, hoạt động hoà giải góp phần tích cực trong việc hạn chế đơn thư

khiếu nại, tố cáo tràn lan, vượt cấp, kéo dài Mỗi vụ việc xảy ra ở UBND xã,

phường, thị trấn nếu được hoà giải, giải quyết kịp thời sẽ tiết kiệm được thời

gian, công sức, tiền bạc của chính các bên tranh chấp, cũng như của các cơ quan

nhà nước như chính quyền địa phương, toà án Nếu hòa giải thành ở tòa án thì

tòa án không phải mở phiên tòa xét xử, tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa

thuận của các đương sự và vụ án được giải quyết dứt điểm không bị khiếu nại,

kháng nghị (nếu có thì thực tế rất ít xảy ra) Thực tế nhiều trường hợp hòa giải

thành giúp các đương sự khắc phục được mâu thuẫn, hậu quả do tranh chấp gây

ra và củng cố tình tình đoàn kết tưởng đã mất đi khi tranh chấp xảy ra

Thứ ba, hòa giải giúp các bên đương sự giải quyết song nhanh chóng vụ

việc của mình Nếu ở xã, phường thị trấn hòa giải thành thì các đương sự sẽ tự

thực hiện giải quyết vụ việc tranh chấp của mình mà không cần có cơ quan nhà

nước cưỡng chế hay can thiệp Đối với những vụ việc tranh chấp đất đai phải

đưa ra tòa án giải quyết nếu hòa giải thành thì việc thực hiện các quyết định của

tòa án sẽ được các đương sự tự nguyện thực hiện mà không phải cưỡng chế thi

hành án

Thứ tư, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai có ý nghĩa quan trọng

đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân Bằng việc vận dụng

những quy định của pháp luật để giải thích, phân tích, thuyết phục các bên tranh

chấp, hoà giải viên (thẩm phán, hội đồng xét xử) góp phần nâng cao hiểu biết

pháp luật và quan trọng hơn là cảm hoá, giáo dục ý thức nghiêm chỉnh chấp

hành pháp luật cho các bên

Trang 40

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Tổng quan pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai của một số nước

1.2.1.1 Các cơ chế chính thức cho giải quyết tranh chấp đất đai tại Trung Quốc

Công tác giải quyết TCĐĐ được thể hiện theo cơ chế các đối tượng tranhchấp tự thương lượng với nhau thông qua hòa giải nhằm tìm ra một giải pháp

thích hợp (theo luật quản lý đất đai của Trung Quốc)

Quốc vụ viện thay mặt Nhà nước chỉ đạo thực hiện và tổ chức hòa giảiTCĐĐ, Bộ Đất đai và Tài nguyên là cơ quan thuộc Quốc vụ viện, được giao

trách nhiệm ban hành các văn bản pháp luật giải quyết các TCĐĐ Trường hợp

các vụ tranh chấp không thể hòa giải được thì vụ việc sẽ chuyển sang UBND

các cấp để giải quyết Đầu tiên, UBND sẽ đưa ra những khuyến nghị Nếu các

bên tranh chấp không đồng ý thì UBND có quyền đưa ra các quyết định Quyết

định giải quyết TCĐĐ có hiệu lực thi hành nếu các bên không có kháng cáo lên

UBND cấp trên trực tiếp Quyết định của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp có

hiệu lực thi hành Tuy nhiên, các tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Theo cơ chế giải quyết TCĐĐ ở Trung Quốc có nhiều nét tương đồng vớiViệt Nam, xem trọng công tác hòa giải và thẩm quyền giải quyết tranh chấp đầu

tiên thuộc về UBND các cấp, đối với các tranh chấp về tài sản gắn liền với đất,

thẩm quyền giải quyết thuộc về TAND

1.2.1.2 Các cơ chế chính thức cho giải quyết tranh chấp đất đai tại Cam-pu-chia

Luật Đất đai 2001 quy định ba cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai:

- Giải quyết theo sự vụ: Bộ có thể thành lập một hội đồng giải quyết một tranh

chấp đất đai phức tạp, quy mô lớn Hội đồng phải giải quyết tranh chấp thông qua

tham vấn, hòa giải Khi các bên không thể đi đến giải pháp hòa bình, tranh chấp

được chuyển lên Bộ Quản lý Đất đai, Quy hoạch Đô thị và Xây dựng

- Giải quyết bởi Hội đồng Địa chính: Những tranh chấp liên quan đến đất

chưa đăng ký sở hữu phải được chuyển đến Hội đồng Địa chính Quốc gia và Cơ

quan Quốc gia về Giải quyết Tranh chấp Đất đai tại Bộ Quản lý Đất đai, Quy

hoạch Đô thị và Xây dựng Điều 47 Luật Đất đai 2001 quy định rằng những

tranh chấp giữa những người chiếm hữu phải được điều tra và giải quyết theo

trình tự, thủ tục quy định Kết quả điều tra phải được trình lên Hội đồng Địa

chính tại Bộ Quản lý Đất đai, Quy hoạch Đô thị và Xây dựng Hội đồng Địa

Ngày đăng: 05/07/2021, 07:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Hùng Cường (2012), Hòa giải ở cơ sở và vấn đề hoàn thiện pháp luật về hòa giải cơ sở ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề pháp luật về hòa giải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải ở cơ sở và vấn đề hoàn thiện pháp luật vềhòa giải cơ sở ở Việt Nam
Tác giả: Hà Hùng Cường
Năm: 2012
2. Vũ Trung Hòa (2012), Một số vấn đề về chế độ và chính sách đối với hòa giải viên, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề pháp luật về hòa giải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chế độ và chính sách đối với hòa giải viên
Tác giả: Vũ Trung Hòa
Năm: 2012
3. Nguyễn Duy Lãm (2012), T chức và hoạt động hòa giải hòa giải cơ sở theo quy định của Pháp lệnh năm 1998 – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề pháp luật về hòa giải Sách, tạp chí
Tiêu đề: T chức và hoạt động hòa giải hòa giải cơ sở theoquy định của Pháp lệnh năm 1998 – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Duy Lãm
Năm: 2012
4. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đất đai
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
5. Mai Thị Tú Oanh năm (2013), Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án ở nước ta” , Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án ở nước ta
Tác giả: Mai Thị Tú Oanh năm
Năm: 2013
6. Nguyễn Phương Thảo (2012), Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề pháp luật về hòa giải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở
Tác giả: Nguyễn Phương Thảo
Năm: 2012
7. Nguyễn Xuân Trọng, Trần Hoài Nam (2010), Vướng mắc về pháp luật liên quan đến giải pháp tranh chấp, khiếu nại về đất đai, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vướng mắc về pháp luật liênquan đến giải pháp tranh chấp, khiếu nại về đất đai
Tác giả: Nguyễn Xuân Trọng, Trần Hoài Nam
Năm: 2010
13. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lƣợcxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướngđến năm 2020
14. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lƣợc cải cách tƣ phápđến năm 2020
33. Lưu Quốc Thái (2006) Bàn về khái niệm tranh chấp đất đai trong Luật Đất đai năm 2003”, Tạp chí Khoa học pháp luật số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm tranh chấp đất đai trong Luật Đất đai năm 2003”
34. Trần Quang Huy ( 2005), Pháp luật đất đai – Bình luận và giải quyết tình huống, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật đất đai – Bình luận và giải quyết tình huống
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
35. Hồ Xuân Hương (2004), Giải quyết tranh chấp đất đai (Qua thực tiễn ở Hà Nội), Luận văn thạc sĩ, Viện Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp đất đai (Qua thực tiễn ở Hà Nội)
Tác giả: Hồ Xuân Hương
Năm: 2004
36. Trần Văn Hà (2007), Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường toà án ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Viện Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường toà án ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Hà
Năm: 2007
38. Nguyễn Hoàng Hải ( 2009) "Giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật đất đai năm 2003” Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật đất đai năm 2003
8. Xuân Trường (2012), Vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong hoạt động hòa giải cơ sở, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề pháp luật về hòa giải Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Khác
15. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946 Khác
16. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1959 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w