TÓM TẮT Đề tài được thực hiện tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai với mục đích chính là đánh giá đúng thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và thấy rõ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thanh Đức Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Hà
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài: “Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, các thầy, cô hướng
dẫn và các bạn đồng nghiệp Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
- PGS.TS Trần Thanh Đức, người Thầy hướng dẫn khoa học, đã tâm huyết tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian, định hướng và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn
- Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy giáo, cô giáo khoa Tài nguyên Đất và Môi trường Nông nghiệp, Phòng đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian tiến hành nghiên cứu luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban Nhân dân huyện Thống Nhất, phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Thống
kê, UBND xã Gia Tân 3, UBND xã Gia Kiệm và các đơn vị, cá nhân đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, nghiên cứu làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình của tôi Gia đình tôi thực sự
là nguồn động viên lớn lao và là những người truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn./
Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Hà
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai với mục đích chính
là đánh giá đúng thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và thấy rõ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính từ đó đề xuất được các giải pháp sử dụng đất hợp lý tại địa bàn nghiên cứu Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Điều tra thu thập số liệu tài liệu; Tổng hợp, phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng đất; minh họa bằng sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh và xử lý số liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy:
1 Huyện Thống Nhất là một huyện nằm ở vị trí trung tâm trong ranh giới hành chính của tỉnh Đồng Nai với tổng diện tích tự nhiên là 24.800,5ha (bằng 4,20% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Đồng Nai) Huyện có vị trí địa lý, điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp của huyện Thống Nhất đã có bước phát triển mạnh mẽ và đây là ngành kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
2 Huyện có diện tích đất nông nghiệp là 21.108,9 ha (chiếm 85,11% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện); trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 20.341,1 ha (chiếm 96,36% diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện) Bao gồm các loại hình sử dụng đất chính:
- Đất trồng cây hàng năm:
+ Loại hình sử dụng đất chuyên Lúa (lúa Đông xuân – Hè thu);
+ Loại hình sử dụng đất Lúa – màu (lúa – lạc – sắn; lúa – rau);
+ Loại hình sử dụng đất chuyên màu (lạc – sắn; chuyên rau);
- Đất trồng cây lâu năm:
+ Loại hình sử dụng đất trồng Chuối;
+ Loại hình sử dụng đất trồng Chôm chôm;
Đây là những loại hình sử dụng đất chính của huyện và có triển vọng sử dụng đất bền vững, vừa đảm bảo về giá trị sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu về an ninh lương thực và giải quyết việc làm cho nguồn lao động nông nghiệp nông thôn
3 Trong các loại hình sử dụng đất chính của huyện thì loại hình Chôm chôm (194 triệu đồng/ha) và loại hình Chuối (201,6 triệu đồng/ha) đạt hiệu quả kinh tế khá cao; thấp nhất là loại hình chuyên Lúa (24,9 triệu đồng/ha) Ngoài ra, loại hình chuyên Rau màu các loại cũng cho hiệu quả kinh tế tương đối cao (155,4 triệu đồng/ha)
Khả năng cung cấp sản phẩm, đảm bảo thị trường và thu hút lao động của loại hình Rau, Lạc và Sắn ở mức trung bình; trong khi đó loại hình Chôm chôm và Chuối
Trang 4đạt mức khá cao và khả năng che phủ trên 90% Ngoài việc có ý nghĩa bảo vệ đất, đây còn là diện tích góp phần làm tăng năng suất cây trồng
4 Dựa trên kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu, đề xuất hướng lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp cho huyện Thống Nhất như sau:
- Duy trì diện tích gieo trồng lúa 2 vụ (Đông xuân – Hè thu) nhằm góp phần ổn định an ninh lương thực
- Chuyển đổi diện tích kiểu sử dụng đất Lúa - Lạc – sắn sang kiểu sử dụng đất Lúa Đông xuân – Rau (2 vụ), có hiệu quả kinh tế cao hơn
- Duy trì và mở rộng diện tích trồng Rau và thâm canh tăng từ 3 vụ lên 5 vụ, đưa các giống mới có năng suất, phẩm chất cao vào gieo trồng
- Duy trì và tăng diện tích đối với loại hình chuyên cây lâu năm (cây ăn quả:
Chuối, chôm chôm…) đây là loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế khá cao
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TİÊU CỦA ĐỀ TÀİ 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Khái niệm về đất đai và đất nông nghiệp 4
1.1.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 7
1.1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 8
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 9
1.1.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 11
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất tại Việt Nam 13
1.2.2 Những thách thức đối với sử dụng đất bền vững ở Việt Nam 14
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15
1.3.1 Những nghiên cứu về thực trạng và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới 15
Trang 61.3.2 Những nghiên cứu về thực trạng và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở
Việt Nam 16
1.3.3 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp tại huyện Thống Nhất 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 19
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu tài liệu 20
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng đất 20
2.3.4 Phương pháp chuyên gia 21
2.3.5 Phương pháp minh họa bằng sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh 21
2.3.6 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN THỐNG NHẤT 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2012 - 2016 40
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 40
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 42
3.2.3 Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2012 - 2016 44
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHÍNH CỦA HUYỆN 45
3.3.1 Loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất nông nghiệp vùng nghiên cứu 46
3.3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế 53
Trang 73.3.3 Đánh giá hiệu quả xã hội 62
3.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN THỐNG NHẤT 69
3.4.1 Quan điểm và căn cứ đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp 69
3.4.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Thống Nhất trong thời gian tới 70
3.4.3 Một số giải pháp thực hiện 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
Kết luận 77
Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Phân nhóm các loại đất chính của huyện Thống Nhất 25
Bảng 3.2: Thống kê các sông, suối trên địa bàn huyện Thống Nhất 26
Bảng 3.3: Tổng hợp tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành giai đoạn 2012-2016 của huyện Thống Nhất 30
Bảng 3.4: Hiện trạng các công trình thủy lợi huyện Thống Nhất 36
Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất huyện Thống Nhất năm 2016 40
Bảng 3.6: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Thống Nhất năm 2016 42
Bảng 3.7: Biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Thống Nhất giai đoạn 2012-2016 44
Bảng 3.8: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2016 của vùng nghiên cứu 46
Bảng 3.9: Các loại hình sử dụng đất vùng 1 (xã Gia Tân 3) 48
Bảng 3.10: Các loại hình sử dụng đất vùng 2 (xã Gia Kiệm) 49
Bảng 3.11: Các loại hình sử dụng đất của 02 vùng nghiên cứu 50
Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính tại Vùng 1 53
Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính tại Vùng 2 55
Bảng 3.14: Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất Vùng 1 58
Bảng 3.15: Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất Vùng 2 60
Bảng 3.16: Tổng hợp hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất trên vùng 1 và vùng 2 61
Bảng 3.17: Mức đầu tư lao động và thu nhập/ngày công lao động của 2 vùng 63
Bảng 3.18: Mức đầu tư phân bón cho các cây trồng vùng 1 65
Bảng 3.19: Mức đầu tư phân bón cho các cây trồng vùng 2 65
Bảng 3.20: So sánh mức đầu tư phân bón thực tế tại địa phương với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý 66
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Hệ thống sử dụng đất 6
Hình 1.2: Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững 8
Hình 3.1: Sơ đồ hành chính huyện Thống Nhất 22
Hình 3.2: Tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế của huyện Thống Nhất giai đoạn 2012-2016 31
Hình 3.3: Cơ cấu sử dụng đất năm 2016 huyện Thống Nhất 41
Hình 3.4: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Thống Nhất năm 2016 43
Hình 3.5: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của vùng nghiên cứu 47
Hình 3.6: Cơ cấu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của vùng nghiên cứu 47
Hình 3.7: Hiệu quả kinh tế của các LUT vùng 1 57
Hình 3.8: Hiệu quả kinh tế các LUT tại vùng 2 59
Trang 11MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác Trong điều kiện hiện nay, khi dân số ngày một gia tăng, nhu cầu về sử dụng đất của con người cũng không ngừng tăng theo, làm ảnh hưởng rất lớn đến diện tích và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho các mục tiêu phát triển và đáp ứng nhu cầu ở ngày càng tăng, cùng với nó là quá trình khai thác đất nông nghiệp quá mức, không quan tâm đến việc cải tạo, bồi bổ đất đã dẫn đến hiện tượng làm giảm sức sản xuất của đất như: xói mòn, rửa trôi, sa mạc hoá, nhiễm mặn, nhiễm phèn, chua hoá….Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững
Nguồn tài nguyên đất đai có hạn về diện tích, trong khi đó diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần do sức ép của gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hoá thì mục tiêu sử dụng đất có hiệu quả là hết sức cần thiết Chính vì vậy việc phát huy và mở rộng những loại hình sử dụng đất vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao vừa bền vững là vấn đề mang tính chiến lược lâu dài Hiện nay đã có những nghiên cứu sử dụng đất bền vững cho một số vùng sinh thái, phạm vi cấp tỉnh và một số vùng sản xuất đặc trưng Tuy nhiên, ở những phạm vi cấp huyện thì những nghiên cứu đánh giá mang tính ứng dụng thực tiễn nhằm xác định các loại hình sử dụng đất hiệu quả và bền vững còn hạn chế
Huyện Thống Nhất là một huyện nông nghiệp có tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 24.800,5 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 21.108,9 ha, chiếm 85,11% diện tích tự nhiên của toàn huyện Là một huyện thuần nông nên sản xuất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế ở địa phương Sản xuất nông nghiệp là mũi nhọn trong nền kinh tế của huyện nhưng còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nên sản lượng ngành nông nghiệp chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường hiện nay Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó là việc bố trí cơ cấu cây trồng chưa hợp lý, không tận dụng được lợi thế
về đất đai, khí hậu ở từng tiểu vùng của huyện Mặt khác, đất đai của huyện khá đa dạng về loại hình thổ nhưỡng, có những yếu tố thuận lợi nhưng cũng không ít khó
Trang 12khăn cho việc khai thác sử dụng đất Vì vậy, làm thế nào để có thể sử dụng hiệu quả diện tích đất nông nghiệp hiện có trên địa bàn huyện là vấn đề đang được các ngành, các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu để xây dựng cơ sở cho việc đưa ra các phương án chuyển dịch cơ cấu cây trồng một cách hợp lý nhất, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất
Từ những vấn đề trên, tác giả mong muốn nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai để lý giải những thuận lợi, khó khăn, hạn chế và đề xuất giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hiệu
quả và bền vững trên địa bàn huyện Đó là lý do tác giả quyết định chọn đề tài “Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai” làm Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành
Quản lý đất đai của mình
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và thấy rõ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất chính từ đó đề xuất được các giải pháp sử dụng đất hợp lý tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai;
- Đánh giá được hiệu quả của một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính
về mặt kinh tế, xã hội và môi trường tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai;
- Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả đề tài góp phần cung cấp cơ sở để đánh giá về thực trạng và hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp;
- Góp phần hoàn thiện việc ra quyết định trong lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao trên địa bàn huyện;
- Cung cấp nguồn thông tin làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 133.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch nông thôn mới Các đề xuất về loại hình sử dụng đất cung cấp cho cơ quan quản lý Nhà nước và người nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao
- Góp phần cung cấp luận chứng kinh tế kỹ thuật để lập quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và xây dựng các vùng chuyên canh trên địa bàn huyện
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Khái niệm về đất đai và đất nông nghiệp
1.1.1.1 Đất
Từ lâu, con người đã có những nhận thức về đất, tùy theo ngành, lĩnh vực nghiên cứu mà đất được xem với vai trò, đối tượng nghiên cứu khác nhau Trên phương diện thổ nhưỡng, nhà địa chất William (973-1048) cho rằng, đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng
Theo V.V.Dokuchaev (1846-1903), nhà khoa học người Nga tiền phong trong lĩnh vực khoa học đất: đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong nó Đất được coi là khác biệt với đá Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yếu tố tạo thành đất như sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người
Như vậy đất có nguồn gốc từ các loại đá mẹ nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dưới tác dụng của các yếu tố lý học, hóa học và sinh học Sự khác biệt giữa đá và đất là độ phì nhiêu Chính nhờ độ phì nhiêu của đất mà các hệ sinh thái và con người mới có thể tồn tại và phát triển được
Theo Karl Marx (1949), đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu của sản xuất nông nghiệp, điều kiên không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau
Theo quan điểm kinh tế học, đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản suất chủ yếu,
là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động Đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân
Đất đồng hành cùng con người qua các nền văn minh nông nghiệp khác nhau,
từ nông nghiệp thô sơ vào buổi bình minh của loài người đến nền nông nghiệp đầy ắp những tiến bộ về khoa học kỹ thuật như ngày nay Mọi hoạt động của con người đều gắn với bề mặt của đất và không gian quanh nó
1.1.1.2 Đất đai
Đất đai là tiền đề cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người Thông qua đất đai, con người sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình Tùy theo mục đích khác nhau mà con người có sự nhìn nhận và tiếp cận khác nhau về đất đai
Trang 15“Đất đai” là thuật ngữ khoa học có thể được hiểu theo nghĩa rộng là một diện tích bề mặt của trái đất có giới hạn, có chiều thẳng đứng hướng lên không trung, có chiều sâu hướng xuống lòng đất, có chiều ngang kết nối mọi thành phần liên quan với nhau về các điều kiện tự nhiên và điều kiện sống của động thực vật
Muốn quy hoạch bố trí sử dụng đất hiệu quả trước mắt và lâu dài thì phải nắm vững cả hai mặt: phần đất (thổ nhưỡng) và phần đất đai (mặt bằng lãnh thổ)
Theo Luật Đất đai Việt Nam, đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh và quốc phòng
Tóm lại, đất đai là một vùng đất được xác định về mặt địa lý, có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực mà ảnh hưởng của những thuộc tính này có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất đó của con người hiện tại và trong tương lai
1.1.1.3 Đất nông nghiệp
Điều 10 Luật đất đai 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được chia làm
3 nhóm chính: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng [7]
* Đất nông nghiệp: Là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo
vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
* Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất
nông nghiệp Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm
Như vậy, đối với nông nghiệp, đất đai là yếu tố quan trọng và quyết định đến quá trình sản xuất vật chất của con người Tuy nhiên, tài nguyên đất đai tỷ lệ nghịch với sự gia tăng dân số làm cho áp lực lên ngành nông nghiệp càng tăng, thêm vào đó, quá trình công nghiệp hóa làm cho chất lượng đất nông nghiệp ngày càng suy giảm
Mặt khác, tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu đã tác động tiêu cực đến diện tích đất nông nghiệp, năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, việc sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm là một trong những điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội bền vững
1.1.1.4 Hệ thống sử dụng đất
Khái niệm hệ thống sử dụng đất được các nhà khoa học đất xây dựng trên cơ sở
lý thuyết về hệ thống do L.Vonbertanlanfy đề xướng vào đầu thế kỷ XX Khái niệm hệ
Trang 16thống được hiểu như sau: “Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống được xác định như một tập các đối tượng hay các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác [18]
Như vậy, một loại hình sử dụng đất được bố trí trong một điều kiện tự nhiên cụ thể, có thể là một đơn vị đất đai, nó bao hàm cả vấn đề đầu tư cải tạo và thu nhập có thể có thì là một hệ thống sử dụng đất
LUS = LMU + LUT
Hợp phần đất đai của LUS là đặc tính của LMU, ví dụ: loại đất, độ dốc, chế
độ ẩm của đất, lượng mưa, …
Hợp phần sử dụng đất của LUS là các thuộc tính mô tả LUT: Thuộc tính sinh học, thuộc tính kỹ thuật và quản lý sản xuất, thuộc tính kinh tế - xã hội,
LUS là một phần của Hệ thống canh tác và quan hệ chặt chẽ với Hệ thống nông nghiệp của vùng sản xuất
Vì vậy trong Trong đánh giá đất đai chúng ta không đánh giá loại hình sử dụng đất mà chúng ta đánh giá hệ thống sử dụng đất
Cấu trúc hệ thống sử dụng đất được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.1: Hệ thống sử dụng đất (Beck, 1978; Dent và Young, 1981) 1.1.1.5 Loại hình sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT) được mô tả hoặc được xác định chi tiết hơn loại sử dụng đất chính Một loại hình sử dụng đất có thể là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trồng trong một điều kiện kỹ thuật và kinh tế - xã hội nhất định Các thuộc tính của loại hình sử dụng đất bao gồm các thông tin về sản xuất; thị
HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT
Loại hình sử dụng đất Đơn vị bản đồ đất đai
Yêu cầu sử dụng đất Chất lượng đất đai
Cải tạo đất đai
Đầu tư
Năng suất, thu nhập
Trang 17trường tiêu thụ sản phẩm; đầu tư, lao động, biện pháp kỹ thuật, yêu cầu về cơ sở hạ
tầng; mức thu nhập v.v
1.1.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại, bởi nhiều lẽ:
Một là, tài nguyên đất vô cùng quý giá Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản
xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân, con ngưòi phải sinh sống và làm việc ở trên đất
Hai là, tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi Toàn lục địa
trừ diện tích đóng băng vĩnh cửu (1.360 triệu ha) chỉ có 13.340 triệu ha Trong đó phần lớn có nhiều hạn chế cho sản xuất do quá lạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng, hoặc quá mặn, quá phèn, bị ô nhiễm, bị phá hoại do hoạt động sản xuất hoặc do bom đạn chiến tranh Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu ha Hiện nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu ha đất canh tác
Ba là, diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng kỹ thuât
Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha,
ở nhiều quốc gia khu vực châu Á, Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha Theo tính toán của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần
có 0,4 ha đất canh tác [33]
Bốn là, do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người, hậu quả của chiến tranh nên diện tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái hóa, hoặc ô nhiễm dẫn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác Trên thế giới hiện có 2.000 triệu ha đất đã và đang bị thoái hóa, trong đó 1.260
triệu ha tập trung ở châu Á, Thái Bình Dương Ở Việt Nam hiện có 16,7 triệu ha bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu ha đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hóa, 1,9 triệu ha đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh
Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải
đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất, dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động Hoạt động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất,
Trang 18Năm là, lịch sử đã chứng minh sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên đất tốt mới có hiệu quả Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho
canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm Vì vậy, mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp cho các mục đích khác cần cân nhắc
kỹ để không rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt
Tóm lại, nông nghiệp bền vững không chỉ thu hẹp trong phạm vi nông nghiệp
mà còn phải tham gia vào việc giải quyết những vấn đề lớn toàn cầu và mở rộng ra cả lĩnh vực xã hội, văn hóa, đạo đức và cuộc sống Phát triển bền vững nông nghiệp phải đáp ứng được cả 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường
1.1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Hiện nay, khi nói đến hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, chúng ta thường đề cập đến 3 khía cạnh là kinh tế, xã hội và môi trường Sử dụng đất nông nghiệp bền vững là đảm bảo được cả 3 yếu tố đó
Hình 1.2: Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững 1.1.3.1 Hiệu quả kinh tế
Là hiệu quả do tổ chức bố trí sản xuất hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn Như vậy hiệu quả kinh tế của một hiện tượng hay một quá trình kinh tế
là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực
tự nhiên và phương thức quản lý Nó biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất phù hợp với yêu cầu của xã hội và được xác định bằng cách so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu
Hiệu quả kinh tế là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, là khâu trung tâm để đạt được các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế tài chính
Trang 191.1.3.2 Hiệu quả xã hội
Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác động tới mục tiêu kinh tế Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
1.1.3.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hóa học, sinh học, vật lý, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường là hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trường trong sản xuất và xã hội Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được nhân loại quan tâm, được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật
Tóm lại, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
1.1.4.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, khi xác định vùng nông nghiệp hoá cần đánh giá đúng điều kiện
tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
- Điều kiện khí hậu: Theo Lương Văn Hinh và cộng sự (2003), khí hậu là nhóm
yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt đô về thời gian và không gian, biên độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm…trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh yếu có
ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và ẩm độ của đất, cũng như khả năng đảm bảo khả năng cung cấp nước cho các cây, con sinh trưởng, phát triển [12]
- Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mực
nước biển, độ dốc hướng dốc…thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc lựa chọn
cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thủy lợi canh tác và cơ giới hóa
1.1.4.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và con người
Trong điều kiện kinh tế - chính trị, xã hội ổn định thì hiệu quả kinh tế sẽ đạt được cao, cho dù có một số yếu tố có thể không hoàn thiện Mặt khác các yếu tố khác
Trang 20đều hoàn thiện mà điều kiện kinh tế - chính trị xã hội không ổn định thì hiệu quả kinh
tế đạt được là không cao
- Con người có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, áp dụng các chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, chính sự áp dụng này đã làm ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của việc sử dụng đất nông lâm nghiệp
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp Trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất
Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất theo bề rộng và
bề sâu Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới
1.1.4.3 Nhóm các yếu tố môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh chịu sự chi phối bởi điều kiện kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng đến kết quả hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nông nghiệp và người nông dân
Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: Là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
1.1.4.4 Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác: Là các tác động của con người vào đất đai, cây
trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật (1994), thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con
Trang 21người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục
tiêu đề ra [6]
Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp
1.1.4.5 Nhóm yếu tố về vốn
Vốn là vấn đề cần thiết và quan trọng đối với hộ nông dân nhằm đầu tư cho sản xuất, thâm canh tăng năng suất nông lâm nghiệp Nếu thiếu vốn hiệu quả kinh tế sử dụng đất sẽ không được cải thiện Vì vậy, vốn là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất
1.1.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
1.1.5.1 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và có quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc
Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
1.1.5.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan hệ này
là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C hoặc H = K/C hoặc H = (K - C)/C hoặc H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó:
- H: Hiệu quả - C: Chi phí
- K: Kết quả - 1, 0: chi phí về thời gian
Trang 22* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp + Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê, mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,
là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH)
TNHH = GTGT - Thuế (T) - chi phí lao động thuê ngoài (L)
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ, TNHH/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
- Chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng nhỏ
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Theo Hội Khoa học đất Việt Nam (2000), hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
+ Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu [11]
Trang 23* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải (1999), chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất [8]
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp
là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của cây trồng đối với đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn nông hộ, nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất tại Việt Nam
Đất vừa là thành phần quan trọng của môi trường, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, sinh hoạt Do vị trí và địa hình của nước ta phức tạp làm cho tài nguyên đất rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây, có thể phân thành 14 nhóm đất chính và 31 loại Ba phần tư diện tích
đó thuộc về miền núi và trung du, chiếm khoảng 23,4 triệu ha Diện tích đất phù sa không nhiều, chỉ có khoảng 3,4 triệu ha, chiếm hơn 10% diện tích tự nhiên cả nước
Các loại đất sử dụng trong nông nghiệp hiện nay chủ yếu là đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất cát biển, đất mặn và đất phèn
Theo Niên giám thống kê (2014), tổng diện tích đất tự nhiên cả nước là 33,097 triệu ha, trong đó diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.068.100 ha (chiếm khoảng 3,32% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,1 triệu ha (chiếm khoảng 94,5%
diện tích tự nhiên) và là một trong những nước có diện tích tự nhiên nhỏ, xếp vào nhóm thứ năm trong nhóm nước có diện tích bình quân từ 0,3 - 0,5 ha/người, đứng thứ
203 trong số 218 nước trên thế giới Bình quân đất nông nghiệp 0,11 ha/người, thuộc nhóm 7 có mức bình quân diện tích đất từ 0,1 - 0,2 ha/người [25]
Trang 24Hiện trạng sử dụng đất đến năm 2014 cho thấy, với tổng diện tích đất tự nhiên
cả nước là 33,096 triệu ha, trong đó đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 81% tổng diện tích đất Cũng theo đánh giá thì tổng diện tích đất đưa vào sản xuất nông nghiệp từ 2010 đến nay có xu hướng tăng do việc chuyển đổi những diện tích đất hoang hóa, đất trống đồi núi trọc, đất bằng chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
Đây là một xu thế tích cực, tuy nhiên đất trồng lúa 2 vụ và có độ phì nhiêu cao, dễ đi lại và gần những nơi tập trung đông dân cư lại giảm sút do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, ước tính giảm khoảng 500.000 ha [5]
Tài nguyên đất được sử dụng ngày càng hiệu quả hơn, trong đó vẫn giữ vững 3,8 triệu ha đất trồng lúa theo Nghị quyết của Quốc hội và diện tích đất chưa sử dụng thu hẹp đáng kể, từ 7 triệu ha đất hoang hóa năm 1987, đến 2010 còn 4,5 triệu ha, đến
2014 còn 2,5 triệu ha và dự kiến đến 2020 chỉ còn khoảng 1,5 triệu ha Tuy nhiên, với
xu hướng tăng dân số nhanh thì áp lực đối với nhu cầu khai thác, sử dụng đất sẽ tiếp tục là vấn đề đáng lo ngại Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng gây ra nhiều sức ép đối với đất đai Quy hoạch sử dụng đất của nhiều địa phương bộc lộ hạn chế và bất hợp lý trong phân bổ quỹ đất cho các ngành, lĩnh vực
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia, Quốc hội cũng nhấn mạnh: Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn còn một số hạn chế như: chất lượng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa cao; tính kết nối liên vùng, liên tỉnh và quản
lý quy hoạch còn yếu; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch chưa nghiêm; tình trạng sử dụng đất sai mục đích, lãng phí, kém hiệu quả còn xảy ra ở nhiều nơi; chính sách, pháp luật, việc phân cấp trong quản lý quy hoạch còn bất cập; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đáp ứng được yêu cầu Bên cạnh sức ép diện tích đất nông nghiệp vừa thấp tính theo đầu người, vừa suy giảm do quá trình phát triển thì vấn đề ô nhiễm và suy thoái đất cũng là những thách thức lớn đối với nước ta
1.2.2 Những thách thức đối với sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
- Số lượng đất đai có hạn:
Nước ta về đất đai không rộng, diện tích tự nhiên 33.150.039ha; người đông, dân số 93,4 triệu người Tỷ lệ diện tích đất đai trên đầu người thấp: đất tự nhiên 3.800m2, đất sản xuất nông nghiệp: 1.100m2/người (đất trồng cây hàng năm 700m2/người, trong đó đất lúa 400m2/người; đất trồng cây lâu năm 400m2/người); đất lâm nghiệp 1.700m2/người; đất phi nông nghiệp: 300m2/người (đất chuyên dùng 100m2/người, đất ở: 73m2/người (thành thị 48m2/người, nông thôn 60m2/người); vị trí của Việt Nam so với các nước về dân số và đất đai (2014): diện tích tự nhiên: 66/217 nước trên thế giới, 5/10 nước Đông Nam Á; dân số: 13/217 nước trên thế giới, 8/10
Trang 25nước Đông Nam Á; Bình quân diện tích đầu người 170/217 nước trên thế giới, 8/10 nước Đông Nam Á) [5]
- Chất lượng đất suy giảm:
Thoái hóa là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất, nơi cân bằng sinh thái bị phá vỡ nghiêm trọng hơn
cả so với các vùng khác Những nỗ lực cải tạo đất mới đạt được trong phạm vi hẹp [5]
- Sử dụng đất chưa hiệu quả, bền vững:
Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bình quân 3 năm (2007-2009) diện tích đất trồng cây hàng năm giảm: - 20.112ha/năm; trong đó: Diện tích đất trồng lúa giảm - 19.810ha/năm; Diện tích đất trồng lúa giảm chủ yếu do chuyển sang đất phi nông nghiệp (đất ở, đất sản xuất kinh doanh, đất xây dựng công trình công cộng ); Đất trồng lúa giảm chủ yếu ở các vùng như Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Nam Trung Bộ Tình hình trên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Sử dụng đất lâm nghiệp: Bình quân 3 năm (2007-2009) diện tích đất rừng phòng hộ giảm:
202.57ha/năm; diện tích đất rừng đặc dụng giảm: 25.714ha/năm Tình hình trên ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt đối với mục tiêu bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường Sử dụng đất phi nông nghiệp: Đất công nghiệp và đất xây dựng đô thị phát triển mạnh ở vùng đồng bằng, gây sức ép lớn đối với sản xuất nông nghiệp và an toàn lương thực; gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; đất thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển tự phát, tập trung ở vùng đồng bằng, duyên hải (Sân golf, Công viên, Resort), tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và môi trường khu vực [5]
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.3.1 Những nghiên cứu về thực trạng và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt
và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó sắp xếp, bố trí lại
cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa
Trang 26Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới xác định : đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển
từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn
- Theo Vũ Ngọc Tuyên (1994), đất trồng trọt trên thế giới chiếm xấp xỉ 10%
tổng diện tích đất đai, trong đó: có 46% đất có khả năng trồng trọt, vậy còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác [16]
* Tình hình nghiên cứu ở một số nước
Thái Lan: Tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất
thông qua công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu thay thế lúa xuân trong công thức luân canh Kết quả là giá trị sản lượng tăng lên đáng
kể, hiệu quả kinh tế được nâng cao, độ phì nhiêu của đất được tăng lên rõ rệt Nhờ đó hiệu quả sử dụng đất được nâng cao
Philippin: Tình hình nghiên cứu sử dụng đất dốc được thực hiện bằng kỹ thuật
canh tác SALT SALT là hệ thống canh tác trồng nhiều băng cây thay đổi giữa cây lâu năm và cây hàng năm theo đường đồng mức Cây lâu năm chính là cây ca cao, cà phê, chuối, chanh và các loại cây ăn quả
Trung Quốc: Kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai
là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai ổn định như chế độ sở hữu giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn một cách toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.2 Những nghiên cứu về thực trạng và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu phân vùng, quy hoạch, đánh giá đất
- Nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995); kết quả cho thấy Việt Nam có 340 đơn vị đất đai trong đó miền Bắc có 144 đơn vị đất đai và miền Nam có 196 đơn vị đất đai [20]
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của Trần An Phong - Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (1995) [19];
Trang 27- Nghiên cứu đánh giá tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp của đất trống đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp phân loại đất thích hợp của FAO của Nguyễn Đình Bồng (1995); kết quả nghiên cứu cho thấy có 9 loại hình sử dụng đất chính với 32 loại sử dụng đất; 56 hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp (trong đó đã lựa chọn 38 hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp và xác định yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất chính) [1]
* Các công trình nghiên cứu hệ thống nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990); kết quả nghiên cứu cho thấy ĐBSH được phân chia thành 08 vùng và 13 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp có chung về đặc tính như đất đai, khí hậu, địa hình, cây trồng nông nghiệp [13]
- Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của Đào Thế Tuấn (1987); kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống nông nghiệp của vùng đồng bằng Sông Hồng chủ yếu là lúa và các cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày khác [14]
- Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hưng của Vũ Thị Bình (1993); kết quả nghiên cứu cho thấy
có nhiều mô hình luân canh 3 – 4 vụ trong một năm cho hiệu quả kinh tế cao Đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng, trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế như: hoa, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp [4]
- Đánh giá kinh tế đất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng của Quyền Đình Hà (1993); kết quả nghiên cứu cho thấy vị trí, vai trò giá trị kinh tế đất lúa 06 vùng đất chính của Đồng bằng Sông Hồng [10]
- Nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Châu Giang, Hưng Yên của Hà Học Ngô và các cộng sự (1999); kết quả nghiên cứu cho thấy trên đất vùng úng, trũng Phụng Công huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên có thể áp dụng mô hình trồng lúa, các loại cây rau màu [21]
* Các công trình nghiên cứu khác có liên quan
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện các biện pháp quản lý kinh tế sản xuất
tổ chức ngành hàng trong nông nghiệp cũng như trong nông hộ của: Đỗ Văn Viện, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức, Tô Dũng Tiến, Nguyễn Huy Cường, Hoàng Văn Khẩn
- Từ năm 1995 đến năm 2000, Nguyễn Ích Tân đã tiến hành nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác
Trang 28có hiệu quả kinh tế cao đối với vùng úng trũng xã Phụng Công, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên [15]
- Từ năm 1998, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI), nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế vì sự phát triển (CIRAD) và các thành viên khác như Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Viện Nghiên cứu vì sự phát triển (IRD) trong việc thực hiện dự án cho các hệ thống nông nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (dự
án SAM), dự án này đặc biệt chú trọng vào công tác nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trên đất dốc bền vững như biện pháp gieo ủ hạt trực tiếp trên mặt đất, bảo vệ lớp bề mặt đất, ruộng bậc thang có che phủ, biện pháp thâm canh, luân canh,
Các hoạt động chủ yếu tập trung vào nghiên cứu và đưa ra các mô hình nông lâm kết hợp gồm các loại cây ngắn ngày, cây lưu niên (cây ăn quả, cây lâm nghiệp) và
cỏ chăn nuôi nhằm phục vụ cho sự phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Một số giống cỏ như cỏ voi đã được công nhận đưa vào hệ thống nông lâm nghiệp nhằm phát triển ngành chăn nuôi đồng thời tránh được sự khai thác chồng chéo giữa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp [5]
1.3.3 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp tại huyện Thống Nhất
Nông nghiệp huyện Thống Nhất có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế, xã hội của huyện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn Nền nông nghiệp của huyện trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng, giá
trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện năm 2016 đạt 3.206,3 tỷ đồng (giá cố định năm 2010), trong đó trồng trọt đạt 1.418,1 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 1.749,4 tỷ đồng và
dịch vụ nông nghiệp đạt 38,8 tỷ đồng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã bắt đầu có sự chuyển biến theo hướng tích cực Ngành nông nghiệp đã giải quyết được căn bản lương thực cho nhu cầu tiêu dùng trong huyện và một phần cung cấp cho thị trường
Tỷ trọng cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả, hoa, các loại cây hoa, các loại cây cảnh hàng hoá đã bắt đầu có sự chuyển biến tích cực Chăn nuôi phát triển đều và
có tốc độ tăng cao
Huyện Thống Nhất có tiềm năng đất đai, lao động khá dồi dào Tuy nhiên, từ trước tới nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào có quy mô lớn và có ý nghĩa thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất; trong khi việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết nhằm phát triển nhanh hơn và bền vững hơn nền kinh
tế nông nghiệp của huyện Vì vậy, Thống Nhất cần phải nghiên cứu và triển khai có hiệu quả các giải pháp đất đai phù hợp, thiết thực với điều kiện cụ thể của huyện, nhằm nâng cao hiệu quả trước mắt và lâu dài
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Quỹ đất nông nghiệp Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Số liệu được thu thập, tổng hợp đánh giá từ năm 2012 – 2016
- Không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đặc biệt là 2 xã Gia Tân 3 và xã Gia Kiệm
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp của huyện Thống Nhất;
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động đất nông nghiệp của huyện Thống Nhất trong giai đoạn năm 2012 – 2016;
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính của huyện Thống Nhất;
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Thống Nhất
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát, điều tra các loại hình sử dụng đất tại địa bàn huyện cho thấy, các công thức luân canh cây trồng rất đa dạng và phong phú Qua thực
tế điều tra, có các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính đó là: Chuyên lúa; chuyên Lúa – màu; Chuyên màu; chuyên Cây lâu năm Trong đó, xã Gia Tân 3 (đại diện cho
vùng địa hình đồng bằng) và xã Gia Kiệm (đại diện cho vùng địa hình gò, đồi) có các loại hình sử dụng đất chính đại diện cho toàn bộ đặc trưng kinh tế nông nghiệp của huyện
Trang 302.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu tài liệu
- Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp từ các niên giám thống kê cấp huyện
và xã, các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội và các báo cáo liên quan khác tại các cơ quan như: Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Thống Nhất, Phòng thống kê huyện Thống Nhất, UBND các xã
- Số liệu sơ cấp: Tiến hành đi thực địa, điều tra nhanh và phương pháp điều tra
có sự tham gia của người dân: điều tra theo câu hỏi chuẩn bị sẵn, tổ chức thảo luận nhóm Đề tài sử dụng công thức chọn mẫu của Slovin (Estela, 1995) để tính số lượng mẫu điều tra dựa trên tổng số hộ dân làm ngành nghề nông nghiệp của 02 xã
n = N / (1 + N * e 2 )
Trong đó:
n: là cỡ mẫu N: là tổng số hộ làm nông nghiệp e: là sai số cho phép
Ở đây, ta lựa chọn độ tin cậy là 90%, vì vậy e = 10%
Qua thu thập số liệu, tổng số hộ dân của 02 xã nghiên cứu là 10.842 hộ, trong
đó có 75% số hộ làm nông nghiệp (tương đương với 8.131 hộ) Như vậy, tính theo công thức trên, tác giả tiến hành điều tra nông hộ theo phương pháp lấy mẫu với tổng số hộ điều tra là 100 hộ (mỗi xã 50 hộ)
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng đất
- Trên cơ sở số liệu tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tổ thành nhiều loại khác nhau: Loại cây trồng, các khoản chi phí, tình hình tiêu thụ Dựa trên cơ sở các chỉ tiêu:
- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế: Để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất
trên một ha đất của các loại hình sử dụng đất (LUT) sản xuất nông nghiệp đề tài sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất)
+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu,…)
Trang 31*Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:
+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là giá trị mới tạo ra trong qúa trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
GTGT = GTSX – CPTG + Hiệu quả kinh tế tính trên ngày công lao động: thực chất là đánh giá kết quả lao động sống cho từng loại hình sử dụng đất và từng loại cây trồng, để so sánh chi phí
cơ hội của từng người lao động
GTNC = GTGT/LĐ Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng bằng tiền theo thời gian, giá hiện hành Các chỉ tiêu đạt giá trị càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
* Hiệu quả xã hội: Chỉ tiêu về mặt xã hội là một chỉ tiêu khó định lượng được,
trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau: mức thu hút lao động giải quyết việc làm, giá trị ngày công lao động của từng kiểu sử dụng đất
* Hiệu quả môi trường trong sử dụng đất nông nghiệp:
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu ảnh hưởng về mặt môi trường sinh thái của các kiểu sử dụng đất hiện tại thông qua các chỉ tiêu như sau:
- Mức đầu tư phân bón và ảnh hưởng của nó đến môi trường
- Ý kiến chung của hộ dân về mức độ ảnh hưởng cây trồng hiện tại đối với đất
2.3.4 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo và những người nông dân sản xuất giỏi trong huyện nhằm đưa ra những đánh giá chung về tình hình phát triển nông nghiệp cũng như tình hình sử dụng đất hiện nay
2.3.5 Phương pháp minh họa bằng sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh
Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh minh họa các kết quả nghiên cứu
2.3.6 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp với dữ liệu thứ cấp
- Sử dụng phần mềm Excel để nhập và xử lý số liệu
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN THỐNG NHẤT
Hình 3.1: Sơ đồ hành chính huyện Thống Nhất
(Nguồn: Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Thống Nhất)
Trang 333.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
- Thống Nhất nằm ở vị trí trung tâm trong ranh giới hành chính của tỉnh Đồng Nai, địa giới hành chính được xác định như sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Định Quán;
+ Phía Đông giáp thị xã Long Khánh;
+ Phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ và huyện Long Thành;
+ Phía Tây giáp huyện Trảng Bom
- Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 24.800,5 ha (Thống kê đất đai huyện năm 2016) và tổng dân số là 163.809 ngàn người, mật độ dân số 661 người/km2 (Niên giám thống kê huyện Thống Nhất 2015) Được chia thành 10 xã: Gia Tân 1, Gia Tân
2, Gia Tân 3, Gia Kiệm, Quang Trung, Bàu Hàm 2, Xã Lộ 25, Hưng Lộc, Xuân Thiện, Xuân Thạnh
- Trung tâm hành chính của huyện nằm ở phía Đông Bắc ngã ba Dầu Giây, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 68km, thành phố Biên Hoà khoảng 30km và nằm cạnh giao điểm của các tuyến Quốc lộ 1 - Quốc lộ 20 - Cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây – Đà Lạt Những đặc điểm trên tạo cho Thống Nhất có lợi thế thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ, thương mại, mở rộng hợp tác phát triển, đào tạo và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nói chung, nông sản hàng hóa nói riêng Tuy nhiên, vị trí địa lý của Huyện cũng nảy sinh nhiều phức tạp trong quản lý trật tự xã hội và kiểm soát lây lan dịch bệnh từ bên ngoài, sức hút cạnh tranh thu hút đầu tư giai đoạn đầu có thể bị phân tán bởi nhiều khu công nghiệp tại các huyện lân cận như Trảng Bom, Long Thành, Long Khánh, nên cần phải tăng cường quan hệ hợp tác trong phát triển công, nông nghiệp, dịch vụ và thu hút đầu tư
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
- Toàn bộ huyện Thống Nhất nằm trong vùng địa hình đồi thấp xen kẽ với các trảng bằng, thoải và lượn sóng là một số ngọn đồi núi dốc ở khu vực phía bắc Địa hình được phân hoá khá rõ thành 2 tiểu vùng:
+ Tiểu vùng phía Bắc có độ dốc phổ biến từ 80-150, hầu hết các suối trong tiểu vùng này đều chảy về phía hồ Trị An và sông La Ngà;
+ Tiểu vùng phía Nam có độ dốc nhỏ, phổ biến từ 00-80, cao độ thấp dần theo hướng từ bắc xuống nam, hầu hết các suối trong tiểu vùng này đều đổ về phía huyện Long Thành và chảy xuống hạ lưu sông Đồng Nai
Trang 34- So với toàn tỉnh, địa hình của Huyện có độ dốc bình quân cao hơn: Diện tích đất có độ dốc từ 00-80 chiếm 61,2%, thấp hơn mức bình quân toàn tỉnh (77,8%); Diện tích đất có độ dốc từ 80-150 chiếm 24,2%, cao hơn 2 lần so với mức bình quân toàn tỉnh (10,5%) và diện tích đất có độ dốc trên 150 chiếm 10,1%, cũng cao hơn mức bình quân chung toàn tỉnh (8,7%)
- Hầu hết các khu vực đất bằng (00-80) được sử dụng cho trồng cây Điều, Hồ tiêu , chỉ còn khoảng 5.000 ha sử dụng cho trồng lúa và rau màu; khu vực đất sườn thoải (80-150) chủ yếu sử dụng cho trồng cây lâu năm; khu vực đất dốc (>150) bao gồm các núi Sóc Lu, Võ Dõng và Bình Lộc, phần lớn diện tích sử dụng cho trồng Chuối và các cây lâu năm khác như Chôm chôm, Điều
- Lượng mưa lớn (2.139 mm/năm), nhưng phân hoá sâu sắc theo mùa, trong đó:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa chiếm trên 85-90% tổng lượng mưa
cả năm; Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chỉ chiếm 10-15%
tổng lượng mưa cả năm
- Lượng bốc hơi trung bình 1.100-1.400 mm/năm, nhưng mùa khô lượng bốc hơi thường chiếm 64-67% tổng lượng bốc hơi cả năm, gây nên tình trạng mất cân đối
về chế độ ẩm trong mùa khô, nhất là các tháng cuối mùa
- Hầu như không có bão tố, giá lạnh và rất ít thiên tai, tạo lợi thế cho phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là với các loại cây lâu năm như cao su, điều, cây ăn quả, riêng với cây hàng năm thì bị hạn chế bởi nguồn tưới vào mùa khô; nhưng khi đã có nước tưới thì sản xuất trong mùa này thường cho năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn so với sản xuất vào mùa mưa
3.1.1.4 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên đất
Đất đai của Huyện có nguồn gốc phát sinh từ đá mẹ Bazan, được phân thành 4 nhóm đất với 6 loại đất, nhưng có 2 nhóm đất chiếm hầu hết diện tích là nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất đen (chiếm tới 95,41% tổng diện tích tự nhiên); 2 nhóm còn lại có diện tích rất nhỏ là nhóm đất tầng mỏng và nhóm đất đá bọt
Trang 35Theo bản đồ đất tỉnh Đồng Nai tỷ lệ 1/50.000 do Phân viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp miền Nam xây dựng theo phân loại của FAO-UNESCO, đất đai trên địa bàn huyện Thống Nhất được phân loại theo các nhóm như sau:
Bảng 3.1: Phân nhóm các loại đất chính của huyện Thống Nhất
Số
Ký hiệu
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam)
* Nhóm đất đá bọt (Andosols - AN): diện tích nhỏ nhất với 65,68 ha, chiếm
0,27% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố tập trung quanh miệng núi lửa Võ Dõng
Đất có thành phần cơ giới trung bình, đất ít chua (pHH2O= 6,5-7,0, pHKCL= 5,6); đạm, lân tổng số và mùn giàu, nhưng do phân bố trên địa hình dốc nên đất bị rửa trôi mạnh Mặt khác, loại đất này có tỷ lệ đá lẫn cao (60 - 90%) nên không có khả năng
5,5-cơ giới hóa khâu làm đất
* Nhóm đất đỏ vàng (Ferralsols - FR): diện tích cao nhất với 12.230,17 ha,
chiếm 49,31% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố chủ yếu trên địa hình gò, đồi núi thấp và lượn sóng của xã Xuân Thiện và Gia Kiệm Đất có thành phần cơ giới nặng, đất chua (pHH2O= 5-6, pHKCl= 4-5); đạm, lân tổng số và mùn khá giàu, nhưng nghèo
Trang 36kali Đây là loại đất đồi núi tốt nhất nước ta, thích hợp trồng cây công nghiệp dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu và các loại cây ăn quả lâu năm
* Nhóm đất tầng mỏng (Leptosols - LP): diện tích 170,65 ha, chiếm 0,69% diện
tích tự nhiên toàn huyện, phân bố tập trung ở đỉnh núi Sóc Lu, thảm thực vật che phủ kém, quá trình bào mòn bề mặt xảy ra mạnh, nên tầng đất canh tác mỏng < 30 cm, có nhiều kết von và đá lẫn, ít thích hợp cho sử dụng các mục đích nông nghiệp
* Nhóm đất đen (Luvisols - LV): diện tích 11.432,84 ha chiếm 46,10% diện tích
tự nhiên toàn huyện, phân bố tập trung ở khu vực các xã Gia Tân3, Quang Trung và một phần ở xã Hưng Lộc và xã Lộ 25 Đất có thành phần cơ giới trung bình, độ chua trong đất từ ít chua đến trung tính, pHKCL= 5,0 - 6,5; đạm, lân tổng số và mùn giàu
Hiện trạng trồng chuối, chôm chôm trên địa hình cao Ngoài ra một phần diện tích trồng các loại cây hàng năm như thuốc lá, bắp, bông vải, đậu đỗ các loại, Trên địa hình bằng thấp có thể sử dụng cho trồng lúa nước hoặc canh tác 1 vụ lúa và 2 vụ màu
Nhìn chung, đất đai trên địa bàn của huyện thuộc loại đất tốt, địa hình ít dốc, tầng đất dày, hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp với phát triển cây lâu năm cho hiệu quả kinh tế cao như cao su, tiêu, cà phê, cây ăn quả, số ít diện tích trên địa hình thấp cục bộ (khoảng 5-6 ngàn ha) thích hợp với trồng lúa nước vào mùa mưa và rau, màu vào mùa khô Tuy nhiên, bên cạnh các loại đất có độ phì nhiêu tốt rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp thì vẫn có một số diện tích đất không nhỏ ở vùng Kiệm Tân là
đất tầng mỏng, sỏi đá phân bố trên đồi núi, kém thích nghi cho sản xuất nông nghiệp
b Tài nguyên nước:
* Tài nguyên nước mặt
Địa bàn huyện Thống Nhất có mạng lưới suối khá dày và phân bố tương đối đều, nhưng đa phần là ngắn và có lưu vực hẹp, thống kê có 19 suối phân bố trên địa bàn các xã như sau:
Bảng 3.2: Thống kê các sông, suối trên địa bàn huyện Thống Nhất
Địa bàn (xã)
2 Suối Bí H Lộc, Lộ 25 12 Suối Đức Long Gia Tân 2
4 Suối Gia Đức X Thạnh, B Hàm 2 14 Suối Rút Xuân Thiện
Trang 37Số
TT Tên suối
Địa bàn (xã)
Số
TT
Tên suối
Địa bàn (xã)
5 Suối Gia Nhang B Hàm 2, Q Trung 15 Suối Đục Xuân Thiện
6 Suối Sông Nhạn X Thạnh, Lộ 25 16 Suối Cây Da Xuân Thiện
7 Suối Gia Rung Mẹ Quang Trung 17 Suối Ba Gió Xuân Thiện
8 Suối Tam Bung Quang Trung 18 Suối Cầu Rơm Gia Kiệm
9 Suối Hai Cô Q Trung, X Thạnh 19 Suối Ông Ngà Gia Kiệm
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thống Nhất)
- Nguồn nước sông suối:
+ Các suối này phần lớn chỉ có nước vào mùa mưa, đầu mùa khô và thường là cạn kiệt vào giữa đến cuối mùa khô Chỉ trừ một số suối như suối Sông Nhạn, suối Gia Rung, suối Gia Đức… có lưu lượng dòng chảy quanh năm, nhưng có sự chênh lệch rất lớn giữa mùa lũ và mùa kiệt (trung bình vào mùa lũ có thể đạt 30-35 l/s/km2, nhưng mùa kiệt chỉ còn 10-12 l/s/km2)
+ Hiện nay, nhân dân trong Huyện đang tận dụng ở mức khá cao khả năng xây dựng các đập dâng và hồ nhỏ để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nhưng mức độ khai thác còn hạn chế
- Nguồn nước trong hồ chứa:
Nguồn nước trong hồ đập có thể cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn huyện gồm có nguồn nước hồ Trị An và 14 công trình hồ - đập nhỏ đã được xây dựng
+ Hồ Trị An: Nằm ở ranh giới phía tây bắc của huyện, lấy nước từ nguồn sông
chính Đồng Nai, với lưu lượng bình quân (tại Trị An) m3/s, lưu lượng cao nhất 1.083m3/s Hồ có diện tích khoảng 32.000 ha, dung tích chứa khoảng 2,542 tỷ m3 nước với chức năng chính là phát điện, cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất Hiện nay, hồ Trị
An chưa cấp nước cho địa bàn huyện, nhưng trong tương lai gần có thể cấp nước cho các khu công nghiệp ở phía nam của Huyện qua hệ thống cấp nước của nhà máy nước Thiện Tân (hiện có công suất 100.000m3/ngày-đêm, từ 2015-2020 sẽ nâng dần lên thành 600.000m3/ngày-đêm) hoặc xây dựng nhà máy trên địa phận Huyện
+ Các hồ đập nhỏ trên địa bàn Huyện: Theo số liệu quản lý của Ban quản lý
khai thác công trình thủy lợi huyện Thống Nhất thì hiện có 14 công trình, khả năng
Trang 38cấp nước tưới theo thiết kế khoảng 1.019ha đất nông nghiệp, trong đó chủ yếu là tưới cho địa bàn trồng lúa Nhưng diện tích tưới thực tế chỉ có 584ha, đạt 57% thiết kế
* Tài nguyên nước ngầm
- Nguồn nước ngầm tầng nông trên địa bàn Huyện khá hạn chế, đặc biệt là khu vực phía nam (lưu lượng khai thác nhỏ: Q= 0,5-20 lít/s), nhưng chất lượng nước khá tốt so với tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt Nguồn nước ngầm tầng sâu có lưu lượng khá hơn nhưng khai thác gặp khó khăn do nhiều nơi phải khoan qua tầng đá tảng xuất hiện nông Qua khảo sát các giếng khoan, độ sâu xuất hiện tầng nước ngầm ở khu vực thuận lợi là từ 30-40m, nơi kém thuận lợi là 50-60m
- Hiện nay, có 04 dự án khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất để cấp nước sinh hoạt tập trung ở Xuân Thạnh 02 dự án, Hưng Lộc và Xuân Thiện Ngoài ra, người dân trong Huyện đang khai thác nước ngầm để phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi trang trại,
số ít tưới cho rau và cây ăn quả Lưu lượng nước ngầm không thể cung cấp cho nhu cầu sản xuất của khu công nghiệp và tưới trên diện rộng
Nhìn chung, nguồn nước mặt hiện nay trên địa bàn huyện Thống Nhất sẽ khó đáp ứng nhu cầu cho thâm canh vụ, tăng năng suất trên địa bàn sản xuất cây hàng năm, các khu công nghiệp, cần có phương án xây dựng dựng thêm các công trình thủy lợi như hồ chứa, đập dâng trên địa bàn huyện kết hợp với đưa nước từ bên ngoài vào mới đáp ứng được nhu cầu nước cho phát triển công nghiệp và đô thị trong tương lai
c Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản trên địa bàn Huyện không phong phú về chủng loại, chủ yếu đá và đất sỏi sạn với trữ lượng lớn Trong đó, đất sỏi sạn được khai thác để làm nguyên vật liệu phục vụ cho xây dựng, giao thông, san lấp mặt bằng Đá ở khu vực núi Sóc Lu có trữ lượng khoảng 133 triệu m3, chất lượng đá trung bình, hiện đang được khai thác Dự báo nhu cầu sử dụng đá và đất trong thời gian tới sẽ còn tăng, nhất là đá sỏi sạn phục
vụ cho san lấp mặt bằng xây dựng các khu dân cư đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh và các công trình giao thông trong vùng
* Tài nguyên rừng
Diện tích và trữ lượng rừng của Huyện trong những năm qua có xu hướng giảm dần, đến nay chỉ còn 316 ha rừng trồng tập trung, phân bố chủ yếu ở xã Gia Tân 1 Các khu vực núi cao hầu như không còn rừng, thay vào đó là chuối, điều và một số cây lâu năm khác Tuy tỷ lệ che phủ rừng không đáng kể nhưng hiện có tới 72% diện tích của huyện được che phủ bằng cao su, cây ăn quả lâu năm và cây lâu năm khác đã có tác động tích cực đến việc hạn chế tình trạng rửa trôi, xói mòn đất, phục hồi nguồn nước ngầm tầng nông và cải thiện tiểu khí hậu
Trang 39* Tài nguyên du lịch
- Thống Nhất tuy không có nhiều cảnh quan đặc sắc để tạo nên thế mạnh về phát triển du lịch, nhưng cũng có thể phát huy thế mạnh về vị trí địa lý, sự đa dạng về cảnh quan, triển vọng phát triển các khu công nghiệp để khai thác vào phát triển du lịch, nhất là phát triển theo hướng thu hút khách du lịch vào các ngày nghỉ cuối tuần và dịch vụ phục vụ khách du lịch quá cảnh qua Huyện theo hướng sau:
+ Có thể khai thác một số cảnh quan như thác nước, hồ nước, rừng - núi kết hợp với khai thác các công trình kiến trúc và các hoạt động lễ hội truyền thống của các dân tộc, tôn giáo vào phát triển du lịch
+ Có thể liên kết với các trung tâm du lịch lớn của vùng và tỉnh để tổ chức các trạm dừng chân trên các tuyến du lịch từ các đô thị lớn như Tp Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu, các tỉnh – thành ở Đồng bằng sông Cửu Long để xây dựng các trạm dừng chân, dịch vụ ăn uống và mua sắm các sản vật địa phương
- Hiện nay, trên địa bàn huyện đang xây dựng một số dự án du lịch để thu hút đầu tư tại địa bàn các xã Hưng Lộc, Gia Tân 1; đây là những khởi động bước đầu cho đẩy mạnh phát triển hoạt động du lịch trong tương lai
* Tài nguyên nhân văn
Tỉnh Đồng Nai có lịch sử phát triển khá dài và từ lâu đã trở thành địa danh nổi tiếng trong cả nước Nhưng riêng địa bàn huyện Thống Nhất, dân cư mới phát triển nhanh từ sau năm 1954 khi tiếp nhận luồng di cư từ miền Bắc vào Đặc biệt là giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay, trên địa bàn huyện đã hội tụ được nhiều luồng dân cư đến từ mọi miền đất nước Đến năm 2016, với dân số toàn huyện là 163.809 người, nhưng có tới 17 dân tộc anh em như Kinh, Hoa, Chơ ro, Mạ, Nùng, Tày…, trong đó, người Kinh chiếm đa số, tới 95,8% tổng dân số toàn Huyện
Về tôn giáo, người dân theo đạo Thiên chúa chiếm 73%, Phật giáo chiếm 13,7%, các đạo khác chỉ chiếm 0,7%, người không theo đạo chiếm 12,6% Sự đa dạng
về tôn giáo và dân tộc đã hình thành nên tính đa dạng về kiến trúc nhà thờ, đền chùa và các hình thức lễ hội Trong quá trình phát triển, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã hình thành khối đoàn kết dân tộc vững chắc, giáo lương thuận hoà, tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở rộng giao thương, xây dựng thôn ấp theo hướng
văn minh, hiện đại, về lâu dài có thể khai thác nét đặc sắc này vào phát triển du lịch
d Thực trạng môi trường:
Trong giai đoạn đầu đổi mới trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các ngành kinh tế - xã hội chưa phát triển mạnh; các khu vực trung tâm kinh tế xã hội đang trên đà phát triển Do vậy mức độ ô nhiễm môi trường do các hoạt động công nghiệp chưa nghiêm trọng Tuy nhiên, những năm gần đây hoạt động của Khu công nghiệp
Trang 40Dầu Giây đã gây ra những tác động nhất định đến môi trường, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của nhân dân trong khu vực
Là huyện nằm dọc Quốc lộ 1A, do vậy dân cư sinh sống hai bên ven đường chịu ảnh hưởng của các phương tiện đi trên tuyến đường huyết mạch này: bụi bẩn, tiếng ồn,…
Hiện nay trên địa bàn huyện đã tổ chức thu gom, xử lý rác thải ở hầu hết các xã
Tạo môi trường thuận lợi cho nhân dân hoạt động, sản xuất
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn do tình hình kinh tế thế giới, trong nước có nhiều biến động, đồng thời do thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra Song dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện, cùng với lợi thế về tiềm năng thiên nhiên, nguồn lực con người, nền kinh tế của huyện Thống Nhất đã dần đi vào hướng phát triển ổn định
Bảng 3.3: Tổng hợp tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
giai đoạn 2012 – 2016 của huyện Thống Nhất